CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP THỰC HIỆN NGHIÊM QUY ĐỊNH PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID – 19 THEO KHUYẾN CÁO CỦA BỘ Y TẾ               -               HƯỞNG ỨNG NGÀY QUỐC TẾ XÓA BỎ BẠO LỰC ĐỐI VỚI PHỤ NỮ 25/11/2021

Thách thức và nỗ lực trong quản lý buôn bán và bảo tồn rùa biển Việt Nam

Cập nhật ngày : 13/08/2013 11:32

 

Rùa biển là loài di cư, đóng vai trò quan trọng trong cân bằng hệ sinh thái biển với những giá trị bất biến, đồng thời cũng là chỉ số cho thấy sự nguyên vẹn của một khu vực nhất định.

Trên thế giới, với số lượng còn rất ít, 07 loài rùa biển đều thuộc Phụ lục I CITES (cấm buôn bán quốc tế vì mục đích thương mại) thì Việt Nam, có đến 5  loài được tìm thấy gồm Quản đồng Caretta caretta, Đồi mồi Eretmochelys imbricata, Đồi mồi dứa Lepidochelys olivacea, Vích Chelonia mydas, Rùa da Dermochelys coriacea.

Với sự gia tăng của hoạt động buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã trên phạm vi toàn cầu, các loài rùa biển đang bị đe dọa nghiêm trọng. Ở cấp độ khu vực Đông Nam Á, tình trạng buôn bán bất hợp pháp các loài rùa biển thường xuyên diễn ra với 36 vụ được phát hiện và bắt giữ gồm 71 cá thể rùa biển, 33.501 trứng. Ở cấp độ quốc gia, trong giai đoạn 2006-2012, các lực lượng chức năng đã tịch thu 1.335,5 kg vỏ đồi mồi, 900 kg mai vích và hàng tấn mai rùa biển nhập khẩu bất hợp pháp vào Việt Nam.

Bên cạnh đó, một số ngư dân Việt Nam bị các lực lượng chức năng Philippin, Indonesia bắt giữ do liên quan đến hoạt động đánh bắt trái phép rùa biển. Về khía cạnh bảo tồn, nhiều thách thức đặt ra khi chỉ có 3 loài hiện đang đẻ trứng tại Việt Nam và bị đe dọa nghiêm trọng. Việc ngẫu nhiên bắt được rùa biển vẫn cần phải được giám sát và có hệ thống cảnh báo. Các bãi đẻ, nơi rùa biển “vượt cạn”, cũng bị tác động bởi những hoạt động tham quan, du lịch nếu như không có kế hoạch bảo vệ phù hợp.

Nhận thức người dân, đặc biệt là ngư dân, người buôn bán và người tiêu thụ về vai trò của rùa biển cần được nâng cao khi các nhu cầu về thực phẩm và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương ngày càng tăng đồng thời tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt.

Tuy nhiên, với sự nỗ lực của các cơ quan quản lý và các cơ quan nghiên cứu cùng sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, hoạt động bảo tồn rùa biển tại Việt Nam đã đạt được những kết quả khích lệ. Một số bãi rùa đẻ ở Vườn quốc gia Núi Chúa, Côn Đảo, Phú Quốc được bảo vệ tốt, trở thành mô hình du lịch phát triển kinh tế địa phương. Các lực lượng thực thi pháp luật và chính quyền địa phương các cấp luôn đóng vai trò chủ lực trong việc tuần tra, khảo sát, cứu hộ và chăm sóc, bảo vệ rùa biển, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của rùa biển.

Dấu hiệu tích cực cũng đến từ việc gắn thẻ cho các thể rùa mẹ và tỷ lệ ấp nở trứng rùa tại hồ ấp của Vườn quốc gia Côn Đảo đạt trên 80%. Bên cạnh đó, chính sách pháp luật của Chính phủ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho bảo tồn rùa biển Việt Nam. Một loạt các kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn rùa biển đến năm 2010, 2020 và tầm nhìn đến 2050 đã được xây dựng và thực hiện.  

Trong một nỗ lực nhằm đánh giá thực trạng đồng thời đề xuất những giải pháp quản lý buôn bán và bảo tồn rùa biển Cơ quan quản lý CITES Việt Nam (Tổng cục Lâm nghiệp) đã phối hợp với Traffic tổ chức hội thảo “Kiểm soát buôn bán và bảo tồn rùa biển tại Việt Nam” trong 2 ngày 7 và 8/8/2013,  Hội thảo có sự tham gia của các nhà quản lý và chuyên gia nghiên cứu đầu ngành trong và ngoài nước.

Các đại biểu tham dự Hội thảo đã chia sẻ các thông tin hữu ích về quản lý buôn bán và bảo tồn các loài rùa biển, thống nhất đề xuất các hoạt động ưu tiên, trong đó chú trọng ban hành các quy định phù hợp để bảo tồn rùa biển, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng và các tổ chức quốc tế, bảo tồn và đấu tranh với các hành vi khai thác, buôn bán trái phép các loài rùa biển, góp phần bảo vệ hệ sinh thái biển Việt Nam.

Anh Tuấn – Cơ quan quản lý CITES Việt Nam