CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP THỰC HIỆN NGHIÊM QUY ĐỊNH PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID – 19 THEO KHUYẾN CÁO CỦA BỘ Y TẾ.    

Kỷ niệm 76 năm ngành Lâm nghiệp Việt Nam: Phát triển lâm nghiệp thành ngành kinh tế - kỹ thuật theo hướng hiện đại

Cập nhật ngày : 26/11/2021 06:23

Ngành lâm nghiệp đã sẵn sàng cho những kế hoạch, hành động theo hướng bền vững, tích hợp đa giá trị, và nâng cao hàm lượng công nghệ.

Nhân kỷ niệm ngày Lâm nghiệp Việt Nam (28/11) và 76 năm ngày thành lập ngành Lâm nghiệp (1/12/1945 - 1/12/2021), ông Nguyễn Quốc Trị, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) đã chia sẻ về những thành tựu và định hướng của ngành trong giai đoạn toàn ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đang chuyển mình sang một nền nông nghiệp đa giá trị, bền vững, hội nhập quốc tế.

Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Quốc Trị

Thành tựu quan trọng

Thực hiện Sắc lệnh số 69 ngày 01/12/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngành Lâm nghiệp đã được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn thăng trầm cùng lịch sử đất nước. Xin ông điểm lại những dấu mốc quan trọng trong quãng thời gian khó khăn nhưng cũng đầy tự hào này?

Ngành lâm nghiệp trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm cùng lịch sử đất nước, khái quát qua ba giai đoạn chính.

Thứ nhất, từ 1945 đến 1975, là giai đoạn lâm nghiệp phục vụ kháng chiến, kiến quốc với ba nhiệm vụ chủ yếu.

Một là, xây dựng hệ thống chính sách và thể lệ lâm nghiệp, tập trung vào xóa bỏ luật lệ có tính hà khắc, độc quyền của thực dân Pháp và chế độ phong kiến; xây dựng tổ chức chính sách và thể chế dưới chế độ mới. Cải tiến chế độ thu tiền bán lâm sản; chính sách phát triển trồng cây gây rừng; các thể chế về bảo vệ rừng. Đặc biệt, ngay từ thời điểm đó, ngành đã có những chính sách khuyến khích sản xuất, lưu thông và xuất nhập khẩu lâm sản.

Hai là, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng; vận động phát triển rừng, trồng cây nhân dân; khai thác gỗ và lâm sản phục vụ yêu cầu của kháng chiến, xây dựng đất nước, giao thông liên lạc, phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp lâm sản trong và giữa các vùng tự do.

Ba là, góp nguồn thu từ lâm nghiệp vào ngân sách; đào tạo cán bộ lâm nghiệp và nghiên cứu khoa học lâm nghiệp.

Giai đoạn thứ hai, từ 1976 đến 1991, là giai đoạn lâm nghiệp phục vụ hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế đất nước. Đây là giai đoạn lâm nghiệp tiếp tục phát triển theo mô hình lâm nghiệp nhà nước, tập trung hóa cao độ trong tổ chức sản xuất kinh doanh, thành lập thêm nhiều lâm trường quốc doanh và hàng chục liên hiệp nông - lâm - công nghiệp như Đông Bắc bộ, Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Tây Nguyên. Phong trào công nhân hóa lâm dân được thực hiện trên diện rộng cùng với việc hình thành các làng lâm nghiệp, thị tứ lâm nghiệp.

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh (giữa) kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại tỉnh Thanh Hóa. Ảnh Vũ Ngọc Luật

Mặc dù có đóng góp lớn vào việc ổn định đời sống dân sinh, giải quyết nạn đói, nhưng đây cũng là giai đoạn chúng ta phải đánh đổi, chứng kiến việc đẩy mạnh khai thác gỗ, những khu rừng phải nhường chỗ cho phát triển kinh tế, chuyển đổi đất rừng sang sản xuất lương thực và thực phẩm, phục vụ di dân thông qua chương trình định canh, định cư.

Diện tích rừng tự nhiên bị mất nhiều, suy giảm tài nguyên rừng, vốn rừng nghiêm trọng và độ che phủ xuống tới mức rất thấp. Sản xuất lâm nghiệp quốc doanh sau một thời gian phát triển đã đi vào thoái trào, hệ thống tổ chức quản lý lâm nghiệp không còn thích ứng với nhiệm vụ mới, yêu cầu của thực tiễn, và nền kinh tế nhiều thành phần. Điều này đặt ra những yêu cầu của sự đổi mới trong nhận thức và hành động.

Giai đoạn thứ ba, từ 1991 đến nay có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ hướng tới phát triển bền vững trong bối cảnh cả nước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Ngành lâm nghiệp chuyển hướng từ lâm nghiệp quốc doanh sang lâm nghiệp có nhiều thành phần kinh tế.

Lâm nghiệp thời kỳ này được thực hiện theo ba Luật quan trọng đó là: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, và Luật Lâm nghiệp năm 2017.

Tất cả từng bước điều chỉnh ngành lâm nghiệp theo hướng kinh tế - kỹ thuật, bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản.

Thời kỳ này, ngành lâm nghiệp hội nhập quốc tế sâu rộng, tham gia và là thành viên trách nhiệm trong việc thực hiện các công ước quốc tế và các văn kiện thương mại tự do, mở đường cho sự phát triển của ngành lâm nghiệp phát triển ổn định trên cả ba trụ cột Kinh tế - Xã hội – Môi trường.

Dù trong hoàn cảnh nào, ngành lâm nghiệp cũng luôn phát huy sự chủ động, sáng tạo, góp phần đưa ngành nông nghiệp trở thành trụ đỡ của nền kinh tế. Những thành tựu ấy, cụ thể là gì?

Ngành Lâm nghiệp kịp thời tham mưu Bộ NN-PTNT ban hành và trình Chính phủ nhiều văn bản, cụ thể hóa các quy định của pháp luật về lâm nghiệp. Các văn bản luôn đảm bảo tính kịp thời, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu bảo vệ, phát triển rừng. Qua đó đã góp phần quan trọng đạt được các thành tựu đó là:

Về nghiên cứu khoa học, từ năm 1994 đến nay, ngành lâm nghiệp được công nhận 216 giống mới và vườn trồng các loài cây chủ lực như keo, bạch đàn, tràm, thông, mắc ca, sa nhân. Ngành cũng nghiên cứu, chế tạo công cụ, thiết bị cơ giới hóa các khâu sản xuất của lâm nghiệp, nghiên cứu công nghệ biến tính gỗ, tạo vật liệu mới từ gỗ rừng trồng thành các vật liệu phụ trợ phục vụ chế biến, nghiên cứu công nghệ bảo quản gỗ, chế biến gỗ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng.

Ứng dụng ảnh vệ tinh có độ phân giải cao cũng được ngành lâm nghiệp triển khai trong công tác điều tra, quy hoạch rừng. Việc sử dụng ảnh vệ tinh và ứng dụng công nghệ GIS giúp việc giám sát công tác giao đất, giao rừng đạt hiệu quả cao.