CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2022.                                                                               CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP THỰC HIỆN NGHIÊM QUY ĐỊNH PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID – 19 THEO KHUYẾN CÁO CỦA BỘ Y TẾ.

Cân bằng là gốc của phát triển lâm nghiệp bền vững

Cập nhật ngày : 13/05/2021 10:38

Là ngành kinh tế-kỹ thuật có giá trị xuất khẩu kỳ vọng đạt 20 tỷ USD trong những năm tới đây, bài toán tổng thể của ngành lâm nghiệp là phải phát triển bền vững.

GS.TS. Phạm Văn Điển - Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Lâm nghiệp - ẢnAh: VGP/Đỗ Hương

Với sự tăng trưởng mạnh mẽ của chế biến và xuất khẩu gỗ hiện nay, nhiều chính sách phát triển nguồn nguyên liệu đang được ngành lâm nghiệp thực hiện. Tuy nhiên, làm sao để đảm bảo sự bền vững cả về lượng và chất của nguyên liệu, thưa ông?

GS.TS. Phạm Văn Điển: Nguyên liệu gỗ trong nước được khai thác từ rừng trồng là rừng sản xuất, cây phân tán, gỗ cao su... đã đáp ứng trên 75% nhu cầu nguyên liệu cho chế biến đồ gỗ xuất khẩu. Chúng ta đã đóng cửa rừng tự nhiên. Nhu cầu gỗ còn lại được nhập khẩu (khoảng 8-9 triệu m3/năm).

"Lượng" ở đây là chủng loại và số lượng gỗ cung ứng, là đầu vào cho chế biến đồ gỗ xuất khẩu. "Chất" trước hết là tính hợp pháp, là uy tín, thương hiệu, là nguồn gốc từ rừng có chứng chỉ; tiếp đó là có giá trị, tạo thuận lợi cho gia công, chế biến, hợp thị hiếu, được ưa chuộng. Việc đảm bảo lượng và chất đi đôi với nhau, chính là một khía cạnh của sự cân bằng giữa lượng và chất.

Về việc đảm bảo cho sự cân bằng này, từ khía cạnh chính sách có thể thấy rằng, cả hiện tại và tương lai, những chính sách hỗ trợ phát triển giống cây, kỹ thuật thâm canh, hướng vào sản phẩm gỗ lớn, hỗ trợ cấp chứng chỉ rừng, phát triển hạ tầng lâm sinh, công trình bảo vệ rừng, trồng cây phân tán, trồng rừng thay thế nương rẫy, ưu đãi doanh nghiệp, hỗ trợ hợp tác, liên kết, vận chuyển lâm sản, phát triển lâm nghiệp công nghệ cao đều quan tâm đến cả lượng và chất của nguyên liệu gỗ. Việc thực thi các công ước cũng như các hiệp định có liên quan, như CITES, UNCCD, VPA-FLEGT là biểu hiện rõ nét về sự phát triển bền vững và tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam.

Nói đến sự cân bằng, theo ông, với tốc độ phát triển hiện nay của ngành lâm nghiệp, làm thế nào để hài hòa giữa bảo tồn và phát triển của một lĩnh vực liên quan trực tiếp đến môi trường và sinh kế của những người dân ở vùng còn nhiều khó khăn?

GS.TS. Phạm Văn Điển: Bản thân ngành lâm nghiệp chứa đựng sự hội tụ đặc biệt giữa bảo tồn và phát triển. Đây là một lợi thế lớn. Lâm nghiệp phát triển bền vững sẽ làm giảm chi phí môi trường cho phát triển kinh tế-xã hội, vì rừng chính là một nhân tố môi trường quan trọng, có tác động sinh thái không biên giới, lại là nơi cư trú, sinh sống của khoảng 28 triệu người dân ở vùng núi, trung du, vùng ven biển nước ta. Giải được bài toán "rừng là vàng" chính là sự cân bằng trên diện rộng giữa bảo tồn với phát triển.   

Trên thực tiễn, chúng ta đã và đang giải bài toán tổng thể này. Chẳng hạn, mối quan hệ giữa bảo tồn với phát triển đã được giải quyết thông qua việc xác lập cơ cấu rừng hợp lý. Đến nay, diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng lần lượt là 10,3 triệu và 4,3 triệu ha, tương đương cơ cấu 70% diện tích rừng tự nhiên và 30% diện tích rừng trồng; hiện đang bố trí 50% diện tích đất rừng phòng hộ và đặc dụng, còn lại 50% là diện tích đất rừng sản xuất. Những chỉ tiêu này nói lên sự "cân bằng" khá hợp lý giữa tự nhiên với nhân tạo, giữa bảo tồn với sản xuất. Đối với rừng trồng, chúng ta chủ trương phát triển rừng gỗ lớn, vừa cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với rừng gỗ nhỏ, vừa mang lại hiệu quả sinh thái mong đợi là làm cho độ phì của đất tăng dần và bền lâu sau mỗi chu kỳ kinh doanh. 

Chúng ta đã và đang thực hiện tốt các cam kết quốc tế có liên quan đến bảo tồn rừng, bảo vệ tính đa dạng sinh học, chống biến đổi khí hậu trong khi vẫn đưa được dòng gỗ xuất khẩu có giá trị cao ra thị trường quốc tế, thu về lợi nhuận hàng tỷ USD cho ngành gỗ trong nước. Có thể khái quát đường hướng phấn đấu của chúng ta là xây dựng một nền kinh tế lâm nghiệp vì môi trường cùng với một nền lâm nghiệp môi trường có đóng góp thiết thực về kinh tế-xã hội. Nhãn quan của chúng ta là phát triển lâm nghiệp giống như phát triển một hệ sinh thái và cân bằng chính là gốc rễ của phát triển lâm nghiệp bền vững.