CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP THỰC HIỆN NGHIÊM QUY ĐỊNH PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID – 19 THEO KHUYẾN CÁO CỦA BỘ Y TẾ.    

Bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển – giải pháp giảm phát thải và phát triển kinh tế

Cập nhật ngày : 11/03/2022 03:04

Ngày 10/3/2022, Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với Đại sứ quán Anh tổ chức Hội thảo “Bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển – giải pháp giảm phát thải và phát triển kinh tế”.

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Trần Quang Bảo đồng chủ trì Hội nghị

Nước ta có trên 3.260 km bờ biển, trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Theo số liệu số liệu theo dõi diễn biến tài nguyên rừng đến năm  2019, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp ven biển là 709.013 ha  thuộc địa bàn 600 xã, phường, thị trấn của 130 quận, huyện, thị xã, thuộc 28 tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương. Trong đó diện tích đất có rừng là 454.337ha. Mặc dù diện tích rừng ven biển chỉ chiếm khoảng 3% tổng diện tích rừng quốc gia (rừng ngập mặn chiếm khoảng 1%); nhưng rừng ven biển đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, ngăn chặn sóng, gió, hạn chế xói lở bờ biển, bảo vệ đê biển, bảo vệ sinh kế của người dân.

Thực hiện Quyết định số 120/QĐ-TTg ngày 22/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với BĐKH giai đoạn 2015 - 2020; cả nước đã thực hiện 140 dự án bảo vệ và phát triển rừng ven biển từ nhiều chương trình, nguồn vốn khác nhau. Bảo vệ được 295.164 ha rừng ven biển. Tổng diện tích trồng rừng 22.390 ha, trong đó có gần 72% là rừng trồng mới.

Trồng rừng ngập mặn

Ngoài trồng rừng, các địa phương đã thực hiện nhiều hạng mục công trình bảo vệ bờ biển, hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng như: tu bổ đê, kè, xây dựng tường mềm chắn sóng, giữ bùn để gây bồi, tạo bãi trồng rừng và các công trình lâm sinh khác như trạm, chốt, tháp canh bảo vệ rừng, đường ranh cản lửa, đường tuần tra, bảo vệ rừng,… Tuy nhiên, theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Trần Quang Bảo, một trong số những khó khăn là chi phí trồng rừng. Dựa trên dự toán của các địa phương có rừng, chi phí trồng 1 ha rừng phòng hộ trên đất liền khoảng 60 triệu đồng, nhưng rừng ngập mặn lên tới 200 triệu đồng, thậm chí hơn.

Thời gian qua, một số dự án có hợp phần phát triển sinh kế liên quan đến rừng ven biển bước đầu thực hiện có hiệu quả ở các địa phương. Đối với rừng ngập mặn, đã có một số mô hình phát triển sinh kế dựa trên các hình thức đồng quản lý rừng được thực hiện tại Đồng Rui (tỉnh Quảng Ninh); Xuân Thủy (tỉnh Nam Định); Âu Thọ B (tỉnh Sóc Trăng); Đất Mũi, Tam Giang (Cà Mau); các mô hình nông lâm ngư kết hợp như: nuôi ong, nuôi gà, vịt biển, tôm, cua, cá trong rừng ngập mặn do Dự án GCF thực hiện tại các tỉnh Nam Định, Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Cà Mau. Đặc biệt là mô hình nuôi tôm sinh thái trong rừng ngập mặn của dự án MAM tại tỉnh Cà Mau,… Đối với rừng trên vùng đất, cát ven biển: đã xuất hiện một số hoạt động sinh kế có triển vọng như du lịch sinh thái, nuôi gia cầm, trồng cây dược liệu dưới tán rừng; trồng rừng gắn với trồng cây hoa màu và nuôi trồng thủy sản (tại tỉnh Quảng Bình); kết hợp du lịch sinh thái với bảo tồn, phát triển rừng Dừa nước tại TP Hội An (Quảng Nam); trồng cây lâm nghiệp xen cây dược liệu và cây ăn quả (tại Đà Nẵng); giao khoán bảo vệ rừng gắn với phát triển chăn nuôi, cải tạo, nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng cây điều, mô hình làm dịch vụ du lịch (tại tỉnh Ninh Thuận),…

Nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng tại Cà Mau

Theo đánh giá, trong số các loại rừng, rừng ngập mặn có khả năng tích trữ khí cacbonic tốt nhất. Chúng có thể hấp thụ lượng các bon nhiều gấp 4 lần so với rừng nhiệt đới truyền thống trên đất liền. Dù vậy, việc phát triển rừng ven biển, rừng ngập mặn hiện gặp nhiều khó khăn.

Tháng 10/2021, Chính phủ phê duyệt Đề án Bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030". Trong số những mục tiêu của Đề án, có: Chống sa mạc hóa, suy thoái đất; bảo tồn đa dạng sinh học, giảm phát thải khí nhà kính; tạo việc làm, thu nhập cho người dân vùng ven biển, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Giải pháp chính trong Đề án, là xây dựng rừng giống, vườn ươm sản xuất cây giống phục vụ trồng rừng vùng ven biển. Một số loài cây như mắm, đước, vẹt, bần, dà... đã được ngành lâm nghiệp đưa vào trồng tại nhiều địa phương.

Tuy nhiên, phát triển bền vững rừng ven biển nói riêng và rừng ngập mặn nói chung vẫn là bài toán khó. Bên cạnh nguyên nhân về chi phí, như Phó Tổng cục trưởng Trần Quang Bảo nêu trên, còn những vấn đề như: Phát triển rừng ven biển rủi ro hơn nhiều lần so với rừng trên cạn; quỹ đất của rừng ven biển thường biến động do chịu sức ép từ quy hoạch của địa phương; tình trạng xâm lấn, phá rừng, nuôi trồng thủy sản diễn ra ở nhiều nơi bởi người dân mưu sinh; một số mô hình hay như nuôi tôm trong rừng ngập mặn ở ĐBSCL chưa có điều kiện phổ biến, nhân rộng. 

Trên tinh thần đó, Tổng cục Lâm nghiệp đề ra 3 nhiệm vụ chính để thực hiện Đề án. Một là tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các đối tượng liên quan tới rừng ven biển. Hai là xây dựng, phát triển, nâng cao giá trị của các mô hình kinh tế trong rừng ven biển, đảm bảo sinh kế cho người dân. Ba là thu hút hơn nữa nguồn lực xã hội hóa, nguồn lực quốc tế để bảo vệ, phát triển rừng ven biển.

"Qua hội thảo, ngành lâm nghiệp cam kết lắng nghe, ghi nhận các ý kiến từ chuyên gia, địa phương và các tổ chức quốc tế. Trước mắt, chúng tôi sẽ rà soát, xác định chính xác quỹ đất cho rừng ven biển, nghiên cứu thêm nhiều giống cây trồng phù hợp với thổ nhưỡng của từng vùng ven biển", Phó Tổng cục trưởng Trần Quang Bảo kết luận./.

Văn phòng Tổng cục