Tổng cục lâm nghiệp - Thiết lập khung pháp lý điều chỉnh theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp

Tin tức

Thiết lập khung pháp lý điều chỉnh theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp

Cập nhật ngày : 15/06/2017 10:43:34 SA
Thiết lập khung pháp lý điều chỉnh theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp

Chiều 6.6, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Theo đánh giá của cơ quan thẩm tra, dự thảo Luật được xây dựng công phu, nhiều nội dung mới, các chương, mục, điều, khoản bảo đảm tính logic và khoa học hơn; góp phần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất các hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng.

Qua 12 năm thực hiện, Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV - PTR) 2004 đã tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để thực hiện những chuyển đổi mang tính chiến lược của ngành lâm nghiệp. Diện tích rừng từ 12.306 triệu ha với độ che phủ rừng 37% năm 2004 tăng lên 14.377 triệu ha với độ che phủ rừng 41,19% vào năm 2016; sản lượng gỗ rừng trồng hàng năm đạt khoảng 20 triệu m3, kim ngạch xuất khẩu lâm sản đạt 7 tỷ USD. Tuy nhiên, đến nay Luật BV - PTR đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế trong ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng trái pháp luật. Vấn đề đặt ra cần sửa đổi Luật BV - PTR nhằm thiết lập khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp. Cụ thể:

Liên kết theo chuỗi các hoạt động lâm nghiệp

Về phạm vi điều chỉnh: Dự thảo Luật BV - PTR (sửa đổi) đã mở rộng phạm vi điều chỉnh theo hướng liên kết theo chuỗi các hoạt động lâm nghiệp nhằm tạo ra rừng, sản xuất và cung ứng lâm sản đáp ứng cho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội, bảo đảm chế biến và xuất khẩu lâm sản có trách nhiệm. Quy định như vậy đã thể hiện rõ lâm nghiệp là ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù, gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa và dịch vụ liên quan đến rừng. 

Về chế biến và thương mại lâm sản: Dự thảo Luật đã tập trung quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước về quản lý, phát triển chế biến và thương mại lâm sản thông qua ban hành cơ chế, chính sách, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm lâm sản theo nguyên tắc thị trường; kiểm soát, đánh giá rủi ro; quản lý chế biến, thương mại lâm sản theo chuỗi theo quy định của pháp luật và các cam kết quốc tế; tổ chức thông tin thị trường, hội chợ, quảng bá sản phẩm và các hoạt động liên quan. Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng nhấn mạnh đến cơ chế, chính sách phát triển chế biến, thương mại lâm sản của Nhà nước thông qua cơ chế ưu đãi tín dụng, cơ chế đất đai, chính sách thuế, phí; ưu tiên hình thành những cơ sở chế biến lâm sản ứng dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường; khuyến khích hỗ trợ đầu tư phát triển doanh nghiệp sản xuất thiết bị, phương tiện, sản phẩm phụ trợ cho chế biến lâm sản; hỗ trợ hợp tác, liên kết với chủ rừng để tạo vùng nguyên liệu ổn định, tham gia vào chuỗi cung ứng lâm sản toàn cầu. Đây là một trong những điểm đối mới quan trọng nhất so với Luật BV - PTR 2004 và có liên quan đến toàn bộ nội dung cũng như cấu trúc của dự thảo Luật.

Mở rộng các hình thức tạo nguồn tài chính bền vững BV - PTR

Đặc biệt, trong bối cảnh khả năng khai thác gỗ bị hạn chế, Dự thảo Luật đã mở hướng mới trong việc khai thác lợi ích khác từ rừng, đó là quy định các loại dịch vụ môi trường rừng (dịch vụ điều tiết nước, bảo vệ đất, kinh doanh du lịch sinh thái, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon…); tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho người đã tạo ra dịch vụ, tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được chuyển vào quỹ BV - PTR và được phân phối cho những người tham gia trực tiếp BV - PTR. Dịch vụ môi trường rừng là loại hình sản phẩm phi lâm sản do rừng mang lại cho các nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống con người, trong cơ chế thị trường nhất là yêu cầu phát triển bền vững hiện nay các dịch vụ này được lượng hóa giá trị hàng hóa được trao đổi mua bán trên thị trường. Đây cũng là điểm mới tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho việc chuyển hướng khai thác lợi ích tiềm năng của rừng, từ sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ sang sản phẩm phi gỗ, tạo nguồn tài chính bền vững để đầu tư trực tiếp vào rừng.

Dự thảo Luật đã quy định rõ về thuê rừng, mở rộng các hình thức liên kết, liên doanh, hợp tác quản lý rừng nhằm huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế, góp phần tạo nguồn tài chính bền vững cho BV - PTR. Dự thảo Luật quy định hai nhóm hình thức sở hữu rừng: Rừng sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu gồm rừng tự nhiên, rừng trồng do Nhà nước đầu tư đã giao hoặc chưa giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; Rừng sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư gồm rừng trồng do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đầu tư; nhận chuyển nhượng, tặng cho, nhận thừa kế rừng từ chủ rừng khác theo quy định của pháp luật. Trong dự thảo Luật, cũng đã mở rộng hơn quyền hưởng lợi của chủ rừng đối với rừng tự nhiên phục hồi, rừng nghèo. Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái sinh nên việc quy định rõ các hình thức sở hữu rừng nhằm thừa nhận thành quả lao động, kết quả đầu tư của người làm nghề rừng; tạo động lực khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào rừng nghèo và hưởng lợi từ rừng; bảo đảm quản lý rừng tốt hơn, hiệu quả hơn.

Đổi mới tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp

Ngoài ra, dự thảo Luật còn sửa đổi một số quy định như: Định nghĩa về rừng được xác định theo 3 tiêu chí: Diện tích, chiều cao cây, độ tàn che để phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đáp ứng yêu cầu chung của quốc tế; quy định rõ chỉ các cộng đồng dân cư có cùng phong tục, tập quán, văn hóa, tín ngưỡng và có quy ước, hương ước phù hợp với quy định của pháp luật mới được giao rừng và trở thành chủ rừng; thay thế quy hoạch BV - PTR rừng ở 4 cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) bằng quy hoạch cấp quốc gia để phù hợp với dự thảo Luật quy hoạch; không quy định giao rừng có thu tiền sử dụng rừng mà thay thế bằng hình thức cho thuê rừng; Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng cho tổ chức kinh tế trong nước thực hiện nhiệm vụ công ích đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên để khuyến khích các tổ chức nhận quản lý, đầu tư vào rừng tự nhiên nghèo; Nhà nước cho các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân thuê rừng sản xuất.

Đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ chỉ áp dụng hình thức cho thuê môi trường rừng và thuộc quyền của chủ rừng; quy định rõ thẩm quyền giải quyết chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng của QH, Thủ tướng chính phủ, HĐND cấp tỉnh. Tổ chức, cá nhân, chủ dự án được giao, thuê đất từ chuyển mục đích sử dụng rừng phải trồng rừng thay thế ít nhất bằng diện tích rừng được chuyển mục đích sử dụng theo quy định của pháp luật; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng được sửa đổi theo hướng tăng nhiều quyền hơn cho chủ rừng gắn với trách nhiệm của họ; bổ sung quy định về thành lập tổ chức bảo vệ rừng chuyên trách; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản trong quá trình khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, gây nuôi, cất giữ, lưu thông lâm sản; phối hợp trong kiểm tra, kiểm soát lâm sản và xử lý vi phạm giữa các cơ quan có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình.

Một vấn đề mới quan trọng khác đó là đổi mới tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp. Lâm nghiệp là ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù, gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa và dịch vụ liên quan đến rừng, nên trong dự thảo Luật đã quy định khung về cơ quan có chức năng tham mưu quản lý nhà nước chuyên ngành về lâm nghiệp và tổ chức kiểm lâm. Trên cơ sở đó Chính phủ quy định chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan này. Quy định như vậy sẽ linh hoạt và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hoạt động lâm nghiệp.

Nguồn: Báo đại biểu Nhân dân