Tổng cục lâm nghiệp - Bám sát quan điểm về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Bám sát quan điểm về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Cập nhật ngày : 18/06/2017 11:01:13 CH
Bám sát quan điểm về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Ngày mai, 19.6, QH thảo luận ở hội trường về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Trao đổi với Báo Đại biểu Nhân dân, Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn HÀ CÔNG TUẤN cho biết: Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) đã bám sát quan điểm về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của Đảng, Nhà nước; thể chế hóa chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung và lĩnh vực lâm nghiệp nói riêng.

Thu khoảng 1.300 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng

- Ông đánh giá thế nào về kết quả  thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng hiện hành?

- Qua 12 năm thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, ngành lâm nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng (BV-PTR). Thể chế hóa quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước chuyển nền lâm nghiệp lấy quốc doanh là chủ yếu sang lâm nghiệp xã hội. Đa dạng hóa các thành phần kinh tế; cùng với coi trọng công tác bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đẩy mạnh thực hiện phát triển lâm nghiệp chủ yếu dựa vào khai thác rừng tự nhiên sang trồng rừng, phục hồi rừng tự nhiên trên nền tảng quy hoạch ba loại rừng. Tái cơ cấu nâng cao giá trị và sức cạnh tranh lâm sản theo chuỗi cả về sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng (DVMTR); tạo thu nhập mới, bền vững cho người làm nghề rừng. Chú trọng hơn về bảo vệ môi trường sinh thái; các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, an sinh.

Đặc biệt, DVMTR đã trở thành nguồn tài chính quan trọng, bền vững, với mức thu khoảng 1.300 tỷ đồng/năm, đã thực hiện chi trả cho trên 5,5 triệu hecta rừng, góp phần nâng cao hiệu quả BV-PTR, tăng thu nhập cho người dân làm nghề rừng; giảm áp lực chi ngân sách nhà nước. Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tăng từ bình quân 2,8 tỷ USD/năm giai đoạn 2006 - 2010 lên 6,52 tỷ USD/năm giai đoạn từ 2011 - 2015. Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt 7,3 tỷ USD với giá trị xuất siêu 5,4 tỷ USD.

Tuy vậy, trước yêu cầu đổi mới và thay đổi của tình hình quốc tế, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần thiết sửa đổi để ngăn chặn tình trạng phá rừng; suy giảm diện tích và chất lượng rừng tự nhiên, lấn chiếm đất rừng còn diễn ra phức tạp; sản xuất lâm nghiệp đang bị “cắt khúc”, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp; công nghiệp chế biến lâm sản chủ yếu nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, năng suất, giá trị gia tăng thấp; đóng góp của ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế của cả nước và thu nhập từ nghề rừng chưa tương xứng với tiềm năng.

Bảo đảm Nghị định có hiệu lực cùng thời điểm thi hành Luật

- Chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp. Vậy, những điểm mới cốt lõi trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) có giải quyết được vấn đề tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thưa ông?

- Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10.6.2013; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 8.7.2013 về tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. Với mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh. Trong đó tập trung vào nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm và DVMTR; tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm 4 - 4,5%; từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững.

Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) đã bám sát quan điểm về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của Đảng, Nhà nước; thể chế hóa chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung và lĩnh vực lâm nghiệp nói riêng, với những điểm mới cơ bản sau:

Một là, thể chế hóa sâu sắc hơn quan điểm quản lý, BV-PTR bền vững là nền tảng phát triển lâm nghiệp, chủ trương xã hội hóa, huy động nguồn lực xã hội cho BV-PTR. Làm rõ địa vị pháp lý, quyền, nghĩa vụ của chủ rừng. Cụ thể hóa trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng đối với chính quyền các cấp và tổ chức kiểm lâm.

Hai là, thể chế hóa quản trị lâm nghiệp theo chuỗi liên kết, gồm mở rộng đối tượng điều chỉnh của Luật đối với hoạt động chế biến lâm sản thương mại; lần đầu bổ sung chế định về DVMTR.

Ba là, thể chế hóa chế độ sở hữu rừng theo quy định của Hiến pháp năm 2013. Theo đó, rừng tự nhiên và rừng trồng do Nhà nước đầu tư vốn thuộc sở hữu toàn dân, đa dạng hóa các hình thức sở hữu đối với rừng trồng là rừng sản xuất.

Bốn là, thể chế hóa các quy định về quản lý rừng bền vững, cơ chế, chính sách phát triển giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao, trồng cây gỗ lớn, bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài, liên tục; tối ưu hóa hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường.

Năm là, quy định mới so với Luật hiện hành về điều chỉnh quan hệ xã hội trong chế biến và thương mại lâm sản; giá rừng, đầu tư và tài chính  lâm nghiệp.

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có giải pháp tổ chức thực hiện như thế nào nếu như Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) được QH thông qua, thưa ông?

- Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, cùng với quá trình xây dựng, hoàn thiện dự thảo Luật; ngay từ bây giờ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang nghiên cứu, dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về những nội dung QH dự kiến giao Chính phủ ban hành, bảo đảm Nghị định có hiệu lực cùng với thời điểm Luật có hiệu lực thi hành.

Ngay sau khi QH thông qua Luật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ đề xuất và chủ động tuyên truyền, phổ biến Luật đến tổ chức, công dân, nhất là những người làm nghề rừng và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của Luật. Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới để bảo đảm tính phù hợp, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực lâm nghiệp.

- Xin cảm ơn ông!

PHÓ CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG DÂN TỘC NGUYỄN LÂM THÀNH: Xác định rõ quyền lợi và trách nhiệm

Trước hết, phải khẳng định Ban soạn thảo đã nghiên cứu rất kỹ những phát sinh từ thực tế để đưa vào nhiều nội dung mới trong Luật nhằm tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo vệ và phát triển rừng được tốt hơn, đồng thời hình thành ngành sản xuất lâm nghiệp một cách đồng bộ trong tương lai.

Về các quy định liên quan đến phạm vi điều chỉnh của các đối tượng, theo chủ trương xã hội hóa nghề rừng và tăng cường trách nhiệm người dân và các cộng đồng dân cư trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên, dự thảo Luật đã mở rộng khái niệm, định dạng rõ hơn khái niệm cộng đồng dân cư là một trong các đối tượng được xem xét trong bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó, dự thảo cũng đã đề cập đến quyền lợi, trách nhiệm cộng đồng dân cư, đặc biệt cộng đồng dân tộc thiểu số trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Hơn ai hết, chính những người này trực tiếp gắn với rừng, gắn với đời sống lâu đời của đồng bào qua nhiều thế hệ. Vì vậy, việc xác định quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng dân cư cũng như đồng bào dân tộc thiểu số đối với bảo vệ và phát triển rừng rất quan trọng.

Ngoài ra, để tăng cường công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng được tốt hơn thì việc phân loại rừng phải rõ ràng. Mặc dù dự thảo Luật đã phân thành ba loại rừng gồm rừng đặc dụng, phòng hộ và rừng sản xuất, tuy nhiên trong mỗi loại cũng cần có những quy định cụ thể để xác định rõ phạm vi quản lý cũng như các chủ thể, chủ rừng và quyền, trách nhiệm. Đơn cử, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, rừng cộng đồng có vị trí rất quan trọng trong đời sống văn hóa, kinh tế của đồng bào, là nơi lưu giữ giá trị bản sắc dân tộc. Do đó rừng cộng đồng cần được bổ sung vào chế định trong các nội dung. Hay về phân loại rừng đặc dụng cũng nên xác lập thêm ranh giới đối với rừng khu vực biên giới để quản lý sâu hơn, bởi bên cạnh chức năng phòng hộ, còn có chức năng bảo vệ quốc phòng, an ninh.

PHÓ CHỦ NHIỆM ỦY BAN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG LÊ HỒNG TỊNH: Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên bền vững

Sau khi nghiên cứu dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) và thông qua những cuộc giám sát, tiếp xúc cử tri, tôi đánh giá rất cao Ban soạn thảo, cơ quan thẩm tra dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên bền vững. Cụ thể về quy định chủ rừng phải xây dựng, thực hiện phương án quản lý rừng bền vững; tổ chức thực hiện việc cấp chứng chỉ rừng - đây là điểm mới rất quan trọng trong dự thảo Luật, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc gỗ theo quy định quốc tế; gắn kết chuỗi giá trị cung ứng lâm sản; từ tạo rừng, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản.

Quy định chặt chẽ việc khai thác rừng tự nhiên: Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ hầu như không được khai thác gỗ, trừ khai thác tận thu, tận dụng trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như chặt tỉa thưa, chặt nuôi dưỡng, chặt cây sâu bệnh, cây chết...; rừng sản xuất là rừng tự nhiên được khai khác theo phương án quản lý rừng bền vững. Trong dự thảo Luật cũng đã được quy định rõ Nhà nước có chính sách đầu tư về bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên.

PHÓ TRƯỞNG ĐOÀN ĐBQH TỈNH QUẢNG BÌNH NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG: Quy định rõ trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng

Tôi cho rằng việc đưa Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) trình tại Kỳ họp thứ 3, QH Khóa XIV rất phù hợp với tình hình thực tế nhằm điều chỉnh vướng mắc, bất cập trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Mỗi năm để xảy ra hàng nghìn hécta rừng bị chặt phá trái phép, thế nhưng việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật cũng như trách nhiệm trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng chưa rõ ràng, chưa nghiêm minh. Để ngăn chặn kịp thời và xử lý dứt điểm tình trạng trên, đồng thời, khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) đã quy định trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thiếu trách nhiệm để xảy ra tình trạng phá rừng, chiếm đất, khai thác lâm sản trái pháp luật, hoặc xử lý trách nhiệm hình sự đối với trường hợp để rừng bị cháy.

Bên cạnh đó, có các chính sách hỗ trợ phù hợp cho bà con ở những địa phương có rừng nhất là ở những vùng sâu, vùng xa như hỗ trợ về cây giống, vốn vay, khoán bảo vệ rừng và trợ cấp gạo trồng rừng thay thế nương rẫy…; tạo cho người dân thói quen sử dụng các sản phẩm thay thế các sản phẩm truyền thống lâu nay vẫn lấy từ rừng, đồng thời tạo sự phát triển bền vững cả về mặt sinh thái môi trường cũng như về kinh tế, giúp người dân hưởng lợi từ rừng một cách lâu dài.

Trích nguồn Báo đại biểu nhân dân