Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 31/3/2017

Điểm báo ngày 31/3/2017

Cập nhật ngày : 31/03/2017 1:15:04 CH

ĐIỂM BÁO

LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 31 tháng 03 năm 2017)

 Chính sách giao khoán bảo vệ rừng: Hiệu quả không như kỳ vọng

Nhằm tạo động lực kinh tế khuyến khích người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng, từ những năm 1990, Việt Nam đã ban hành một số chính sách liên quan đến khoán bảo vệ rừng.

Tuy nhiên, sau gần ba thập kỷ thực hiện, bên cạnh một số kết quả đạt được, chính sách khoán rừng vẫn tồn tại nhiều bất cập khiến hiệu quả thực thi không như kỳ vọng, đặc biệt nguồn hỗ trợ khoán bảo vệ rừng chỉ đóng góp một phần không đáng kể vào thu nhập kinh tế hộ gia đình và chưa được phân bổ công bằng khiến người dân chưa thực sự tin tưởng và an tâm khi nhận khoán.

Từ những năm 1980, khi các công ty lâm nghiệp nhà nước bắt đầu bộc lộ hạn chế trong quản lý tài nguyên rừng quốc gia, nhà nước đã chú ý đến phương thức huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế trong quản lý bảo vệ rừng. Nhằm thể chế hóa phương thức này, Luật BVPTR năm 1991 và Luật Đất đai năm 1993 đã thiết lập căn cứ pháp lý cho việc giao khoán rừng và đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức với mục tiêu tạo động lực kinh tế khuyến khích người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là các đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng. Tiếp đó, nhà nước và chính phủ ban hành nhiều chính sách để triển khai thực hiện việc khoán bảo vệ rừng, trong đó nhà nước vẫn nắm quyền sở hữu và quản lý rừng và đất rừng, cụ thể là Nghị định 01/CP năm 1995 và Quyết định 178/2001/QĐ-TTg. 

Trong giai đoạn đầu những năm 2000, Luật Đất đai 2003 và Luật BVPTR 2004 bắt đầu công nhận quyền sở hữu cộng đồng đối với đất đai và rừng cộng đồng, đồng thời Luật BVPTR cho phép khoán rừng đặc dụng cho các cá nhân/hộ gia đình sinh sống lâu đời tại địa phương. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, các văn bản dưới luật như Nghị định 135/2005/NĐ-CP và Nghị định 75/2015/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện khoán bảo vệ rừng cũng thay đổi các quyền, cơ chế hưởng lợi của các bên liên quan để phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn. Nhờ chính sách giao đất giao rừng và khoán bảo vệ rừng, cơ chế quản trị rừng của Việt Nam đã dần dần chuyển đổi từ bảo vệ nghiêm ngặt sang phát triển trồng rừng, từ cơ chế quản lý nhà nước tập trung sang phân quyền về địa phương và lấy con người là trung tâm (Nguyen et al., 2007).

Theo các chính sách khoán, các hộ gia đình, cá nhân tham gia nhận khoán để bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng trên các diện tích đất đã có rừng, đất chưa có rừng và đất đã có quy hoạch để trồng và phục hồi rừng thuộc các lâm trường quốc doanh và ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ được nhà nước giao đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp (Sunderlin & Ba, 2005). Đối tượng ưu tiên khoán bảo vệ rừng là các hộ gia đình, cá nhân là công nhân, viên chức đang hoặc đã làm việc cho bên giao khoán, các hộ cư trú hợp pháp tại địa phương và các hộ, tổ chức ở các địa phương khác có vốn đầu tư vào sản xuất và các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ có đời sống khó khăn. Cá nhân, hộ gia đình tham gia khoán bảo vệ rừng được nhận các khoản tiền mặt hỗ trợ bảo vệ rừng, từ 50.000đ/ha/năm lên 100.000 đồng/ha/năm (07/2012/QĐ-TTg và QĐ 24/2012/QĐ-TTg) và gần đây tăng lên 400.000đ/ha tại Nghị định 75/2015/NĐ-CP. Bắt đầu từ năm 2010, bên cạnh khoản tiền hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, những người tham gia khoán bảo vệ rừng được nhận thêm tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ngoài khoản tiền mặt hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, người dân được phép thu hái một số lâm sản phụ, lâm sản ngoài gỗ và lâm sản tỉa thưa trong giới hạn quy định. 

Tính đến nay, Chương trình 327 (bắt đầu năm 1992), Chương trình 556 (năm 1995) và Chương trình 5 triệu ha rừng là các chương trình điển hình triển khai khoán bảo vệ rừng. Rà soát nội dung chính của ba chương trình nói trên cho thấy mục tiêu ưu tiên của các chương trình là nhằm nâng cao diện tích và độ che phủ rừng toàn quốc, thứ đến là góp phần xóa đói giảm nghèo. Khác với chính sách giao đất giao rừng, chính sách khoán bảo vệ rừng khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế vào bảo vệ, phát triển rừng, trong đó nhà nước hỗ trợ nguồn lực cho việc bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, phục hồi và trồng mới rừng. Cơ chế khoán không đòi hỏi người dân phải đầu tư toàn bộ nguồn lực vào các diện tích đất nhận khoán mà vẫn được hưởng lợi từ diện tích nhận khoán. Trong khi đó, các chủ rừng, thông qua hợp đồng nhận khoán, có thể thực hiện các mục tiêu bảo vệ phát triển rừng theo mục đích của mình mà vẫn đảm bảo khả năng kiểm soát rừng và đất rừng trong phạm vi quản lý. 

Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách giao khoán rừng, đã có 730.324,2 ha rừng và đất lâm nghiệp được khoán cho hộ gia đình/cá nhân/cộng đồng , trong đó đất rừng sản xuất 306.765 ha, đất rừng phòng hộ 330.387,6 ha, đất rừng đặc dụng 93.171,6 ha. Phần lớn diện tích rừng và đất lâm nghiệp được khoán cho các hộ gia đình, các khu vực rừng tự nhiên gắn với đời sống cộng đồng được khoán cho cộng đồng và nhóm hộ gia đình. 

Có thể nhận thấy chính sách giao khoán đã góp phần cải thiện sinh kế và tạo nguồn thu nhập cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng kinh phí quản lý bảo vệ rừng đã góp phần cải thiện kinh tế địa phương, góp phần giảm nghèo và tác động tích cực đến tình trạng rừng (Sunderlin & Ba, 2005). 

Tính đến năm 2015, đã có 600.152 ha rừng và đất lâm nghiệp được khoán cho 112.581 hộ gia đình và cá nhân, ước tính tạo việc làm cho khoảng trên 300 nghìn lao động địa phương. Sau khi nhận khoán rừng sản xuất là rừng trồng, các hộ gia đình đã đầu tư thâm canh nâng cao năng suất rừng trồng nguyên liệu từ 7-10m3/ha/năm (2005) lên bình quân 15-20m3/ha/năm, rừng trồng nhiều loại cây của người dân đạt đến 30m3/ha/năm, chu kỳ kinh doanh cây nguyên liệu rút ngắn từ 8 năm còn 6 năm, nâng cao hiệu suất và giá trị kinh tế rừng trồng, tăng thu nhập bình quân từ rừng của cá nhân/hộ gia đình lên 33-52 triệu đồng/năm. Ngoài nâng cao hiệu quả kinh tế từ rừng, công tác giao khoán còn góp phần hình thành một số vùng nguyên liệu tập trung như vùng Đông Bắc, trung tâm Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ… nhằm cung cấp gỗ, nguyên liệu giấy, ván nhân tạo, dăm gỗ cho các cơ sở chế biến trong vùng và phục vụ xuất khẩu (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015). Tuy nhiên, so với mục tiêu đặt ra và những kỳ vọng trong hoạt động khoán bảo vệ rừng thì hiệu quả nêu trên còn khá khiêm tốn. 

Với mức hỗ trợ từ 200.000-400.000 đồng/ha/năm, mỗi hộ gia đình khi nhận khoán rừng có thể thu được tối đa 12 triệu đồng từ khoán bảo vệ rừng, chưa kể nguồn thu từ lâm sản phụ và lâm sản ngoài gỗ. Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách khoán rừng và đất lâm nghiệp cho hộ gia đình/cộng đồng tại các lâm trường quốc doanh, ban quản lý rừng cho thấy quá trình khoán bảo vệ rừng diễn ra rất chậm, chỉ chiếm khoảng 30%, có nơi chỉ chiếm 5-10% diện tích đất của công ty (Bộ NNPTNT, 2015). Điều đáng nói là nhiều người dân vẫn mơ hồ giữa khoán bảo vệ rừng và giao đất giao rừng (Nguyen et al., 2007), do đó người dân không nắm được các quyền lợi và trách nhiệm của mình trên diện tích đất được giao khoán. Một số nghiên cứu của các tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại cơ bản của chính sách khoán bảo vệ rừng, tuy nhiên, khuôn khổ bài viết chỉ xin đề cập 3 nội dung chính: (i) Thiếu công bằng trong quá trình tham gia và hưởng lợi khi nhận khoán bảo vệ rừng; (2) Tính phức tạp của chính sách và (3) Thiếu động lực kinh tế. 

Theo Nghị định 01/CP năm 1995, đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng bao gồm hộ gia đình, cá nhân là công nhân, viên chức đang hoặc đã làm việc cho bên giao khoán; các hộ cư trú hợp pháp tại địa phương và các hộ, tổ chức ở các địa phương khác có vốn đầu tư vào sản xuất. Năm 2005, Nghị định 01/CP được thay thế bằng Nghị định 135/2005/NĐ-CP và Nghị định 135 ưu tiên khoán rừng và đất lâm nghiệp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn. Điểm chung giữa các chính sách là đều nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế và đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gắn liền với bảo vệ phát triển rừng.

Tuy nhiên, việc gia tăng các quyền hưởng lợi từ rừng không đồng nghĩa với việc tăng nguồn lợi kinh tế từ rừng (Tan, 2005). Thông thường, các hộ nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn thường thiếu nguồn lực để khai thác và hưởng lợi từ diện tích rừng nhận khoán hoặc không có khả năng chuyển các lợi ích từ rừng và đất rừng thành lợi ích kinh tế. Thực tế xã hội cho thấy các hộ nghèo thường không nắm rõ quy định pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ phát triển rừng nói riêng, vấn đề nhãn tiền của họ chỉ là giải quyết nhu cầu kinh tế. Điều đáng nói là trong khi các nhu cầu về gỗ củi, cây thuốc và sản vật từ rừng ngày một gia tăng (Nguyen et al., 2007) và việc khai thác các lâm sản này mang lại cho hộ gia đình nguồn thu đáng kể thì tiền hỗ trợ khoán bảo vệ rừng lại ở mức rất khiêm tốn, từ 200.000 – 400.000 đồng/ha/năm, đặc biệt phụ thuộc nhiều vào khả năng chi trả của ngân sách địa phương. Con số này quá nhỏ so với lợi ích từ việc khai thác trái phép tài nguyên rừng và không đủ để nhóm nghèo từ bỏ việc xâm hại và phá rừng. 

Vấn đề không chỉ nằm ở câu chuyện kinh phí eo hẹp, thực tế cũng chứng minh không phải lúc nào các nhóm đối tượng được nhận khoán bảo vệ rừng cũng có cơ hội tiếp cận công bằng với các lợi ích của chính sách khoán bảo vệ rừng (Sunderlin & Ba, 2005) (To, Mahanty & Dressler, 2013) (Phúc & Nghị, 2014); các hộ có khả năng tiếp cận với các thông tin về chính sách khoán sớm hơn thường là các hộ có thành viên là cán bộ địa phương hoặc cán bộ ban quản lý rừng thường được nhận các diện tích rừng tốt hơn tại các vị trí thuận lợi hơn. Một vấn đề khác cũng được đặt ra liên quan đến đối tượng hưởng lợi từ rừng trồng và rừng khoanh nuôi tái sinh sau khi chấm dứt hợp đồng khoán với người dân. 

Theo quy định, người dân chỉ được hưởng 2/3 sản phẩm từ cây phụ trợ trên diện tích rừng trồng mới và một tỷ lệ hợp lý của giá trị tăng trưởng rừng trên diện tích rừng nhận khoán khoanh nuôi tái sinh. Điều này dẫn đến sự mơ hồ về quyền sở hữu đối với hoa lợi trên đất và quyền bề mặt đối với các sản phẩm từ rừng khoán. Người dân cho rằng các sản vật trên diện tích rừng do họ chăm sóc phải thuộc về họ, trong khi với các cán bộ nhà nước, cây gỗ bản địa và một phần cây phụ trợ thuộc về nhà nước. Sự khác nhau trong cách hiểu về vấn đề hưởng lợi đã dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột trong việc khai thác gỗ từ rừng trồng và rừng tái sinh tự nhiên. Do đó, có thể hiểu ngay cả khi được hỗ trợ về cây giống, phân bón và vật tư hỗ trợ trồng rừng, người dân, đặc biệt là người dân nghèo cũng thường không quan tâm tới việc chăm sóc các diện tích rừng trồng nói trên. Chưa kể, lợi nhuận thu được từ việc trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng thường không thể so sánh với việc canh tác nông nghiệp hoặc cây công nghiệp, do vậy khó có thể thu hút người dân cam kết phát triển và bảo vệ rừng. 

 Ngoài các văn bản luật như Luật Đất đai, Luật BVPTR, một loạt các chính sách khác đã được triển khai để thực hiện chủ trương khoán bảo vệ rừng như: Quyết định 327-CT, Nghị định 01/CP, Quyết định 556/TTg, Quyết định 178/2001/QĐ-TTg, Nghị định 135/2005/NĐ-CP, Quyết định 07/2012/QĐ-TTg, Quyết định 24/2012/QĐ-TTg, Nghị định 75/2015/NĐ-CP và nhiều văn bản hỗ trợ khác. Có thể thấy trong hơn hai mươi năm triển khai chính sách khoán bảo vệ rừng, số lượng các văn bản chính sách về khoán bảo vệ rừng được ban hành với tốc độ khá nhanh. Sự thay đổi quá nhanh về các văn bản chính sách pháp luật đã gây ra sự lúng túng cho cả người thực thi chính sách và người nhận khoán (Sunderlin & Ba, 2005) dẫn đến mỗi địa phương thực hiện một kiểu, người dân các địa phương hưởng lợi từ chính sách khoán theo cơ chế khác nhau (World Agroforestry Centre Viet Nam, n.d.). 

Thậm chí, ngay cả trong Quyết định 178/2001/QĐ-TTg quy định quyền hưởng lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp, các chỉ tiêu kỹ thuật xác định tiêu chuẩn rừng khai thác, trạng thái, tỷ lệ hưởng lợi còn tương đối phức tạp đối với không chỉ hộ gia đình/cộng đồng mà cả với cán bộ địa phương (Huy, 2007). Điều này có nghĩa là người dân muốn khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ thì cần thực hiện nhiều thủ tục phức tạp vượt quá khả năng của họ. 

Thêm điểm đáng lưu ý là đối với chính sách khoán bảo vệ rừng, người dân thực hiện nghĩa vụ bảo vệ rừng và hưởng lợi từ việc nhận khoán theo các điều khoản quy định tại hợp đồng khoán với bên giao khoán. Tuy nhiên, hợp đồng khoán hiện tại rất ngắn gọn và thiếu chi tiết, khiến người dân không nắm rõ các quyền và trách nhiệm của mình (Long, 2012), thậm chí, người dân tại Hà Giang và Yên Bái còn không biết gì về quyền được hưởng lợi của mình (Sunderlin & Ba, 2005). 

 Hiện tại, mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng dao động trong khoảng 200.000 – 400.000 đồng/ha/năm, tùy thuộc vào khả năng chi trả của ngân sách địa phương. So với thu nhập hộ gia đình, khoản tiền này không đáng kể. Tuy nhiên, nếu tính tổng chi ngân sách cho hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, đây là một con số không nhỏ. Theo thống kê, trong giai đoạn 1998 – 2005, mỗi năm ngân sách nhà nước chi khoảng 100 tỉ đồng tiền hỗ trợ khoán bảo vệ rừng (Tan, 2005), chưa kể các khoản hỗ trợ cây giống, phân bón và vật tư. Trong khi đó, từ góc độ của người dân, cây giống và các khoản đầu tư được xem là những khoản “cho không” từ Nhà nước. Xét từ góc độ kinh tế, cách thức triển khai hỗ trợ của Nhà nước không những không tạo được động lực phát triển kinh tế của người dân địa phương mà còn có khả năng khiến người dân lầm tưởng diện tích nhận khoán và các khoản hỗ trợ là “hàng hóa công cộng”, có thể tự do hưởng lợi mà không cần thực hiện trách nhiệm đi kèm. Thêm vào đó, trong bối cảnh ngân sách nhà nước ngày càng eo hẹp như hiện nay, việc đảm bảo nguồn hỗ trợ khoán bảo vệ rừng trở nên ngày một khó khăn hơn. 

 Theo chủ trương Dự thảo Luật BVPTR sửa đổi 2016, đối với rừng trồng, các chủ rừng sẽ có các quyền định đoạt, quyền sử dụng và quyền sở hữu rừng. So với Luật BVPTR 2004, một số thay đổi của Luật sửa đổi sẽ giúp phần cởi trói cho các chủ rừng, đặc biệt là việc các ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ được chủ động xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và được ký hợp đồng khoán bảo vệ và phát triển rừng. Như vậy, khoán rừng và đất rừng tiếp tục là một hình thức bảo vệ phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. 

Kết quả hơn hai mươi năm triển khai khoán bảo vệ rừng cho thấy, hình thức khoán đại trà chưa thực sự mang lại hiệu quả bảo vệ rừng và giảm nghèo như mong muốn. Trên thực tế, các khu rừng khác nhau đòi hỏi các biện pháp quản lý khác nhau, tùy thuộc vào loại rừng, tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị tại địa phương (Liem & Bayrak, 2015). Những khu vực đòi hỏi bảo vệ nghiêm ngặt nên do Nhà nước tổ chức quản lý bảo vệ trong khi đó những rừng ít xung yếu, rừng sản xuất có thể giao khoán cho người dân/cộng đồng để đảm bảo quản lý rừng bền vững và xóa đói giảm nghèo (Tan, 2005). Như vậy, căn cứ vào tình hình thực tế, các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, các lâm trường quốc doanh và công ty lâm nghiệp xây dựng kế hoạch bảo vệ phát triển rừng và phương án giao khoán đất rừng phù hợp. Khi xây dựng các phương án khoán bảo vệ rừng, cần xem xét bối cảnh cụ thể tại địa phương để xác định khoán theo hộ gia đình hay khoán cho cộng đồng sẽ đạt hiệu quả cao hơn. (ThienNhien.Net 30/3) Về đầu trang

http://www.thiennhien.net/2017/03/30/chinh-sach-giao-khoan-bao-ve-rung-hieu-qua-khong-nhu-ky-vong/

BĐBP Nghệ An: Xử lý 124 vụ tìm kiếm cứu nạn, chữa cháy rừng

Sáng 29/3, Bộ Tư lệnh BĐBP tổ chức Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác phòng, chống thiên tai tìm kiếm cứu nạn năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017. Năm 2016, BĐBP Nghệ An đã xây dựng kế hoạch, hướng dẫn cụ thể từng cán bộ, chiến sỹ trong cơ quan, đơn vị làm tốt công tác nắm và dự báo tình hình, duy trì nghiêm các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực thông tin báo bão 24/24 h... 

Đã điều động 746 lượt CBCS, 18 l­ượt tàu, 07 xuồng, 08 ô tô, 171 xe máy phối hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng hiệp đồng tổ chức tìm kiếm cứu nạn, chữa cháy rừng và khắc phục lốc xoáy xảy ra trên địa bàn được 67 vụ. 

Trực tiếp tổ chức tìm kiếm cứu nạn, chữa cháy rừng và khắc phục lốc xoáy xảy ra trên địa bàn 57 vụ, điều động 1.094 lượt CBCS, 19 l­ượt tàu, 10 xuồng, 14 lượt ô tô tham gia. Cứu đ­ược 89 người, 11 phương tiện, sửa chữa 94 nhà dân, góp phần giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra. (Baonghean.vn 30/3) Về đầu trang

Yên Bái ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng

Ngày 27/3, UBND tỉnh Yên Bái đã ban hành Quyết định 490/QĐ-UBND về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh và thay thế Quyết định số 553/QĐ-UBND ngày 24 tháng 5 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh và bãi bỏ các Quy định trước đây trái với các Quy định tại Quyết định này. 

Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái (sau đây viết tắt là Quỹ) là một Tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi phí hoạt động trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có trụ sở làm việc tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. 

Quỹ hoạt động với mục tiêu huy động các nguồn lực của xã hội để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng; Nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng của những người được hưởng lợi từ rừng; Nâng cao năng lực quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ rừng, góp phần thực hiện có hiệu quả kế hoạch, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh và chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp. 

Nguyên tắc hoạt động của Quỹ không vì mục đích lợi nhuận, phải bảo toàn vốn điều lệ do nhà nước cấp ban đầu, tự bù đắp chi phí quản lý và hoạt động của Quỹ; hỗ trợ cho các chương trình, dự án, các hoạt động phi dự án mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư; đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả, sử dụng tiền hỗ trợ đúng mục đích và phù hợp với quy định của pháp luật... (Cổng thông tin điện tử Yên Bái 30/3) Về đầu trang

"Cuộc chiến" bảo vệ những cây Nghiến trăm năm tuổi

Tình trạng chống người thi hành công vụ có nhiều diễn biến phức tạp, với biểu hiện như kích động, lôi kéo nhiều người dân sở tại ngăn cản lực lượng chức năng thi hành nhiệm vụ, ném đá vào tổ công tác, đặt bẫy chông, rải đinh trên đường tuần tra... khiến công tác bảo vệ rừng (BVR) trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. 

Điều này cũng lý giải vì sao lực lượng chức năng ngày đêm bám rừng, nhưng những cây Nghiến hàng trăm năm tuổi vẫn bị lâm tặc đốn hạ - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bùi Văn Đông chia sẻ. 

Ba cây gỗ Nghiến hàng trăm năm tuổi trên rừng Hoàng Lỳ Pả, thuộc địa hạt của Ban quản lý Rừng đặc dụng Phong Quang vừa bị lâm tặc đốn hạ khiến nhiều người bàng hoàng, xót xa và lo lắng về tương lai xấu sẽ ập đến với những cây gỗ quý cuối cùng còn sót lại. Vụ việc được phát hiện vào chiều 15.3, trong quá trình tuần tra, BVR, cán bộ Trạm Kiểm lâm Hoàng Lỳ Pả phát hiện 3 cây Nghiến cổ thụ bị lâm tặc đốn hạ tại khu vực giáp ranh giữa 2 thôn Hoàng Lỳ Pả và Phìn Sảng, xã Minh Tân (Vị Xuyên). Quá trình xác minh cho thấy, một cây Nghiến nằm ở khoảnh 12, cách đường tuần tra, BVR 100 m bị sát hại có đường kính 1,2 m, khối lượng 22,6 m3; cây số 2 cách vị trí cây thứ nhất 300 m, thuộc khoảnh 15, đường kính trung bình 1 m, khối lượng khoảng15,6 m3; cây số 3 nằm cùng khoảnh 15, cách vị trí cây số 2 trên 300 m, đường kính 1,2 m, khối lượng gần 27 m3... Tính từ tháng 11.2016 đến hết tháng 2.2017, trên địa hạt rừng đặc dụng Phong Quang, tổ công tác liên ngành đã phát hiện, xử lý 28 vụ; lập biên bản bàn giao xử lý 10 người; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm gồm trên 4,6 m3 gỗ Nghiến, 15 chiếc xe máy, 5 cưa xăng. 

Nhằm bảo vệ những cây Nghiến trước sự nhòm ngó, tàn sát của lâm tặc, tỉnh ta đã triển khai nhiều giải pháp như thành lập các tổ công tác, trạm liên ngành...; nhưng cuộc đối đầu giữa lực lượng thi hành công vụ và lâm tặc vẫn chưa hết “nóng”. Các cán bộ Kiểm lâm cho biết, lâm tặc trực tiếp vào rừng cắt gỗ Nghiến không ai xa lạ, chính những người dân bản địa sống bên cạnh rừng, hàng ngày họ ra vào rừng cứ như vườn nhà, bước chân thoăn thoát, nhanh như con nai, con sóc, khi thấy “động”, họ nằm im chờ thời cơ. Những người này, bản chất hiền lành, vì miếng cơm manh áo nên phải vào rừng cắt gỗ. Nguy hiểm nhất trong liên minh phá rừng là các trùm sò, đứng sau dùng tiền sai khiến người dân vào rừng chặt hạ Nghiến, chống trả quyết liệt với lực lượng chức năng khi phát hiện. 

“Tình trạng chống người thi hành công vụ có nhiều diễn biến phức tạp, với các biểu hiện như kích động, lôi kéo nhiều người dân sở tại ngăn cản lực lượng chức năng thi hành nhiệm vụ, ném đá vào tổ công tác, đặt bẫy chông, rải đinh trên đường tuần tra... khiến công tác BVR trở nên khó khăn hơn bao giờ hết” - Ông Đông cho biết. Điển hình trong số đó, vụ hơn 10 người dân thôn Khun, xã Bằng Lang (Quang Bình) ngăn cản, tước công cụ hỗ trợ của lực lượng Công an, cán bộ Lâm nghiệp xã; vụ hơn 20 người dân thôn Lùng Thiềng, xã Minh Tân (Vị Xuyên) ngăn cản, không cho lực lượng chức năng thu giữ gỗ Nghiến của đối tượng Phàn Sáo Tiến; vụ 40 người dân thôn Bản Xám, xã Ngọc Minh (Vị Xuyên) ngăn cản, đánh cán bộ Kiểm lâm đang tiến hành thu giữ hơn 3 m3 gỗ tập kết trái phép. Các vụ việc trên đều xảy ra trong năm 2016, khiến người dân, chính quyền địa phương, ngành chức năng rất bức xúc. 

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, năm 2016, toàn tỉnh phát hiện 328 vụ vi phạm công tác quản lý, BVR, trong đó có 10 vụ xử lý hình sự, 318 vụ xử phạt vi phạm hành chính, lâm sản tịch thu trên 161 m3 gỗ tròn các loại, giảm 94 vụ so với năm 2015. Tuy nhiên, trong những tháng đầu năm 2017, tình trạng khai thác, vận chuyển, mua bán, tập kết gỗ Nghiến trái phép có chiều hướng diễn biến phức tạp. Cụ thể, vào lúc 1h15, ngày 1.3, tổ công tác Phòng Cảnh sát môi trường (Công an tỉnh) phát hiện 60 khúc gỗ nghiến dạng thớt, tổng khối lượng 3,26 m3 còn mới tập kết, cất giấu trong nhà bà Lý Thị Mai, thôn Lũng Buông, xã Thuận Hòa (Vị Xuyên), chủ nhà không xuất trình được giấy tờ, thủ tục liên quan. 

Gần đây nhất, vào hồi 4h45, ngày 16.3, tại km 16 Quốc lộ 4C, tổ công tác Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng số I (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) phát hiện chiếc xe ô tô 16 chỗ, BKS 98B-010.79 chở gỗ nghiến. Qua đấu tranh, lái xe Lưu Văn Hoa, sinh năm 1974, trú thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang khai nhận trực tiếp điều khiển phương tiện và mua gỗ nghiến khai thác trái phép tại rừng đặc dụng Phong Quang. Khi bị phát hiện, trên xe chở theo 17 khúc gỗ nghiến, khối lượng gần 0,57 m3 không dấu búa Kiểm lâm. 

Lái xe Lưu Văn Hoa không xuất trình được giấy tờ liên quan đến nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp của số gỗ trên.Trước thực trạng phá rừng có biểu hiện gia tăng những tháng đầu năm, trong cuộc họp khẩn với các ngành chức năng mới đây, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến yêu cầu tiếp tục duy trì Đội công tác liên ngành, bàn giao nguyên trạng Hạt Kiểm lâm Rừng đặc dụng Phong Quang về Chi cục Kiểm lâm trực tiếp quản lý; giao Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm rà soát, bố trí, điều chuyển lực lượng cán bộ các đơn vị trực thuộc  đảm bảo chất lượng, đạo đức trách nhiệm và khả năng nghiệp vụ; di chuyển Trạm kiểm lâm cây số 7 đến địa điểm thích hợp. Đồng thời, tập trung tuyên truyền, giải quyết các vấn đề ở từng hộ gia đình, làm sao để mỗi người dân là một chiến sỹ giữ rừng...  (Báo Hà Giang Online 30/3) Về đầu trang

Ninh Thuận: Nguy cơ cháy rừng tăng cao

Nắng nóng và khô hanh kéo dài đang khiến nguy cơ xảy ra cháy rừng tại tỉnh Ninh Thuận tăng cao. 

Hiện tỉnh Ninh Thuận đang cảnh báo cháy rừng ở cấp III; riêng khu vực các huyện Ninh Sơn, Ninh Phước, Bác Ái đang cảnh báo cháy rừng ở cấp IV (cấp nguy hiểm, nguy cơ xảy ra cháy rừng cao). 

Tỉnh đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng theo dõi chặt chẽ diễn biến của thời tiết; theo dõi tin báo cháy từ vệ tinh, xác định vị trí đám cháy để kịp thời kiểm tra, dập lửa khi xảy ra sự cố, bố trí người trực 24/24h; giám sát chặt chẽ việc canh tác nương rẫy của đồng bào trong mùa khô hanh. (VTVNews 30/3) Về đầu trang

Tăng cường phòng chống cháy rừng tại Vườn chim Bạc Liêu

Theo Sở NN&PTNT, hiện nay thời tiết nóng khô nên dễ xảy ra cháy rừng. Qua theo dõi thời tiết thường xuyên tại Vườn chim Bạc Liêu, nhiệt độ trung bình trong tuần 350C, độ ẩm trung bình 60%, dự báo cấp cháy rừng vườn chim là cấp IV - cấp có khả năng cháy rừng lớn. 

Để phòng ngừa cháy rừng, Ban quản lý Vườn chim Bạc Liêu đưa ra phương án phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm 2017, phân công lực lượng trực 24/24; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng phương tiện, dụng cụ, nhiên liệu để chữa cháy, lấy nước theo triều cường dự trữ vào các kênh mương... Bên cạnh đó, ngành chức năng còn tập trung công tác tuyên truyền để người dân xung quanh vùng đệm Vườn chim Bạc Liêu nâng cao cảnh giác phòng chống cháy rừng. (Báo Bạc Liêu 30/3) Về đầu trang

Chậm thu tiền trồng rừng thay thế

Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) vừa có báo cáo tổng kết tình hình triển khai Đề án trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác theo Quyết định số 829/QĐ-BNN-TCLN ngày 23/4/2014 của Bộ NN-PTNT. 

Cụ thể theo đề án trồng rừng thay thế, đối với những dự án chuyển mục đích sử dụng rừng mà không có điều kiện trồng bù rừng thì chủ đầu tư dự án phải nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng các cấp để triển khai trồng thay thế.

Theo đó tính đến hết năm 2016, tổng cộng có 33 tỉnh thành trên cả nước có báo cáo tổng hợp, với tổng số tiền trồng rừng thay thế phải thu là 1.499 tỷ đồng, tuy nhiên số tiền đã thu mới chỉ đạt 956,5 tỷ đồng (đạt tỷ lệ 63,8%), số còn phải thu là 542,5 tỷ đồng. 

Trong đó tính đến hết năm 2016, 30 Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng các tỉnh mới chỉ giải ngân được 454,3 tỉ đồng để triển khai trồng rừng thay thế, chỉ đạt tỉ lệ 47,5% so với tổng số tiền trồng rừng thay thế đã thu được về Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng các tỉnh. 

Một số khu vực có tỉ lệ trồng bù thay thế chưa đạt chỉ tiêu như: 11 tỉnh vùng Đông Bắc Bộ theo tổng hợp phải trồng rừng thay thế với diện tích 2.192ha, tuy nhiên tới hết năm 2016 mới chỉ đạt 1.678ha (tổng số tiền đã giải ngân để trồng bù rừng chỉ đạt 22/93 tỉ đồng đã thu về Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng). Tương tự vùng Tây Nguyên chỉ đạt 6.126ha trên tổng số 8.708ha phải trồng. Con số này của vùng Nam Trung Bộ là 1.845/2.981ha phải trồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/3, tr6) Về đầu trang

Nguy cơ cháy rừng ở nhiều địa phương

Ngày 29/3, Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT) cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở nhiều địa phương trong cả nước. Theo đó, 11 tỉnh có nguy cơ cháy rừng cấp 5 – cấp cực kỳ nguy hiểm và 6 tỉnh có nguy cơ cháy rừng ở cấp 4 – cấp nguy hiểm. 

Ban Chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định. (Quân Đội Nhân Dân 30/3, tr4) Về đầu trang

Đề nghị dịch chuyển địa điểm xây dựng nhà làm việc BQL rừng phòng hộ Phú Ninh

Thường trực HĐND xã Tam Đại, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam vừa phát đi yêu cầu tới Thường trực HĐND huyện Phú Ninh và các cấp chức năng xem xét dịch chuyển địa điểm xây dựng mới nhà làm việc của Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Phú Ninh đang nằm sát với bờ đập hồ chứa nước thủy điện Phú Ninh, gây mất an toàn cho thủy điện Phú Ninh và công trình lân cận. 

Theo ông Thái Văn Dũng, Phó Chủ tịch HĐND xã Tam Đại, để xây dựng được nhà làm việc cho BQL rừng phòng hộ Phú Ninh, phải đào đi khối lượng đất rất lớn, tạo ra độ dốc có nguy cơ gây ra sạt lở vào mùa mưa, làm ảnh hưởng trực tiếp đến thủy điện Phú Ninh, đập Tư Yên và các công trình lân cận. 

Báo cáo của Phòng Tài nguyên Môi trường (TNMT) huyện Phú Ninh ngày 24/5 cho thấy, công trình nhà làm việc BQL rừng phòng hộ Phú Ninh đã triển khai hạ coste mặt bằng để chuẩn bị thi công xây dựng mà chưa lập hồ sơ kế hoạch bảo vệ môi trường trình cơ quan có thẩm quyền xác nhận. 

Theo Phòng TNMT huyện Phú Ninh, công trình này là công trình xây dựng trên diện tích đất rừng phòng hộ Phú Ninh. Theo quy định tại phụ lục 5.1, Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 thì công trình này thuộc trường hợp phải lập và xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường so Sở TNMT thẩm định và xác nhận. 

Theo một lãnh đạo huyện Phú Ninh, công trình nhà làm việc BQL rừng phòng hộ Phú Ninh là công trình dân dụng cấp III, 1 tầng, diện tích xây dựng là 396m2, diện tích san nền hơn 1.280m2 và đất thừa vận chuyển đi bãi thải, không ghi rõ số lượng bao nhiêu khối. 

Bên cạnh đó, tại Quyết số 4084/QĐ-UBND ngày 17/11/2016 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc thu hồi đất, giao đất cho Sở NN-PTNT để xây dựng nhà làm việc BQL rừng phòng hộ Phú Ninh nêu rõ: công trình phải được Sở Xây dựng cấp giấy phép xây dựng thì mới được tiến hành xây dựng. 

Tuy nhiên, theo kết quả kiểm tra của Thường trực HĐND huyện và Phòng TNMT huyện, công trình này chưa được cấp phép xây dựng, chưa có giấy phép khai thác tận thu khoáng sản và chưa có hồ sơ bảo vệ môi trường khi vận chuyển đất dư thừa ra khỏi công trình. 

Ông Bùi Văn Ba, Trưởng phòng Khoáng sản, Sở TNMT tỉnh Quảng Nam cho biết, đến thời điểm này, Sở chưa nhận được hồ sơ môi trường vận chuyển đất dư thừa tại công trình của Cty TNHH Thành Trí và UBND tỉnh Quảng Nam và cũng chưa có quyết định cấp phép khai thác tận thu khoáng sản tại công trình nhà làm việc BQL rừng phòng hộ Phú Ninh cho Cty TNHH Thành Trí, mặc dù UBND tỉnh Quảng Nam đã đồng ý về mặt chủ trương và chỉ đạo các Sở, ngành của tỉnh hỗ trợ Thành Trí hoàn thiện hồ sơ để cấp phép hoạt động theo quy định của pháp luật hiện hành. Chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Nam cũng nêu rõ, Thành Trí phải lập đầy đủ hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản theo đúng quy định pháp luật hiện hành và chỉ được phép tổ chức khai thác khoáng sản khi có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đã hoàn thành các nghĩa vụ có liên quan theo quy định. Nghiêm cấm việc khai thác khoáng sản trái quy định pháp luật. 

Một công trình xây dựng mới hoàn toàn, lại nằm trong khu vực, phạm vi rừng phòng hộ Phú Ninh và phạm vi công trình đại thủy nông Phú Ninh, trong đó có công trình hồ chứa nước “Đập cấp 1”, cần phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của pháp luật liên quan. 

Pháp lệnh số 32/2001/PL-UBTVQH10 ngày 04/4/2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nêu rõ: phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi bao gồm công trình và vùng phụ cận. Việc quy định phạm vi vùng phụ cận phải căn cứ vào tiêu chuẩn thiết kế, quy trình, quy phạm kỹ thuật nhằm bảo đảm an toàn công trình, thuận lợi cho việc khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi. 

Đối với đập của các hồ chứa nước, phạm vi vùng phụ cận bảo vệ đập từ chân đập trở ra, trong đó “Đập cấp I” tối thiểu là 300m, phạm vi không được xâm phạm là 100m sát chân đập, phạm vi còn lại được sử dụng cho các mục đích không gây mất an toàn đập. 

Pháp lệnh 32 cũng quy định rõ là trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, các hoạt động sau đây chỉ được tiến hành khi có loại giấy phép: Một, xây dựng công trình mới trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi; Hai, xả nước thải vào công trình thủy lợi; Ba, các hoạt động khác liên quan đến an toàn của công trình thủy lợi theo quy định của Chính phủ. Bộ NN-PTNT quy định thẩm quyền và thủ tục cấp giấy phép. 

Tại Quyết định số 16/2015/QĐ-UBND ngày 18/6/2015 của UBND tỉnh Quảng Nam quy định phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đối với đập của các hồ chứa nước, phạm vi vùng phụ cận bảo vệ đập từ chân đập trở ra, thực hiện theo quy định tại Điểm a, Khoản 3, Điều 25 Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi. 

Thế nhưng, Cty TNHH Thành Trí đã cải tạo mặt bằng công trình trên diện tích hơn 750m2, khoảng cách từ vị trí đào đất đến chân đập Tư Yên, hồ chứa nước Phú Ninh khoảng 50m và đến công trình thủy điện Phú Ninh gần 100m, hạ coste và vận chuyển đất dư thừa ra khỏi công trình với khối lượng khoảng 2.000m3. Hành động này không chỉ vi phạm nghiêm trọng đến Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi mà còn vi phạm pháp luật về xây dựng và môi trường. (Xây dựng 30/3) Về đầu trang

Tây Sơn, Bình Định tăng cường công tác bảo vệ rừng

Trong 3 tháng đầu năm 2017, các ngành chức năng huyện Tây Sơn đã tổ chức 92 đợt tuần tra, kiểm tra rừng và kiểm soát lâm sản, với 335 lượt người tham gia. 

Kết quả, đã tiêu hủy tại rừng gần 0,12m3 gỗ các loại, 1.200kg than, phá bỏ 1,1 ha rừng trồng keo trái phép… Hạt Kiểm lâm huyện đã xử lý vi phạm hành chính 11/12 vụ vi phạm Lâm luật, tịch thu gần 7,22m3 gỗ các loại, thả về rừng 8 cá thể cầy vòi hương, tịch thu 2 xe ô tô, phạt tiền nộp ngân sách 20 triệu đồng. (Báo Bình Định 30/3) Về đầu trang

"Luật" giữ rừng nơi dốc mười hai tầng

Cộng đồng người Dao ở Sì Lở Lầu (dốc 12 tầng) đang bảo tồn một hương ước, được gọi là "Hương ước giữ rừng". Nó như một "bộ luật" riêng, nhằm bảo vệ những cánh rừng đầu nguồn, những cánh rừng cổ thụ nơi biên giới quốc gia. 

Từ thành phố Lai Châu muốn tới được xã Sì Lở Lầu, huyện Phong Thổ phải đi hơn 100km. Sì Lở Lầu nằm chót vót trên đỉnh núi cao, là xã cuối cùng của điểm cực Tây huyện Phong Thổ. Bắt đầu từ xã Dào San lên với Sì Lở Lầu chỉ có những khúc cua ngoằn ngoèo, dưới là vực sâu thăm thẳm, trên là những vách đá dựng đứng. Với người Dao đỏ nơi đây, Sì Lở Lầu nghĩa là "dốc 12 tầng" - muốn tới với Sì Lở Lầu phải vượt qua 12 tầng dốc quanh co uốn lượn. Xã Sì Lở Lầu có 6 bản: Gia Khâu, Lao Chải, Lả Nhì Thàng, Thà Giàng, Xín Chải và Phố Vây. Nhìn từ sau Đồn BP Sì Lở Lầu có thể bao quát được 6 bản của xã, bao quanh là những cánh rừng cổ thụ bát ngát xanh tươi. Nhưng điều khiến Sì Lở Lầu trở nên đặc biệt là nhờ độ che phủ rừng trong xã đạt 80,72% trên tổng diện tích 3.299,55ha rừng phòng hộ. Giữ rừng trở thành một bản sắc của người Dao đỏ từ nghìn đời nay. 

Ông Tẩn Lao San, 70 tuổi, là một trong số những người có uy tín của xã, từng là cán bộ địa chính xã và sau là Chủ tịch UBND xã từ những năm 1987, cho biết: "Người Dao đỏ nơi đây phần đa vẫn giữ được cốt cách, phong tục tập quán của mình và hương ước giữ rừng là một trong số đó. Hương ước giữ rừng quy định: Một năm chỉ có 1 ngày duy nhất được dân bản chọn làm ngày "mở cửa rừng". Thường thì ngày mở cửa rừng rơi vào ngày đầu năm hoặc ngày cuối cùng của năm cũ. Rừng chỉ được "mở cửa" khi bắt đầu vào mùa khô. Trước ngày mở cửa rừng, trưởng bản, người già nhất trong làng sẽ cho họp dân thông qua ngày mở cửa rừng. Vào ngày mở cửa rừng, từ sáng sớm tất cả các hộ trong bản đồng loạt vào rừng lấy củi. Điểm độc đáo là mọi người đều được lấy như nhau và chỉ được lấy củi khô, lấy tại những nơi mà bản quy định". 

Tập tục này có từ xa xưa nên người Dao đỏ ở đây rất tự giác chấp hành. Tuy nhiên, vẫn còn len lỏi đâu đó người của bản, hoặc người dân nơi khác tới vi phạm, nhưng đều bị xử phạt rất nghiêm. Ông Tẩn Lao San chia sẻ thêm: "Trong một năm có vài trường hợp vi phạm Hương ước giữ rừng những trường hợp này rơi vào một số người trong bản và ngoài xã tự ý vào rừng lấy củi. Trong hương ước cũng ghi rất rõ những hình thức phạt, nếu ai tự ý vào rừng chặt cây sẽ phạt theo hương ước, như phạt gà, phạt thịt lợn, phạt rượu… 

Hình thức phạt được gọi là "làm lý". Khi bị phát hiện sai phạm, lực lượng bảo lâm của bản và già làng sẽ đến tận nơi, kiểm tra xem chặt bao nhiêu cây, cây to hay cây nhỏ, độ tuổi của cây là bao nhiêu năm. Cây lâu năm tính bằng vòng tròn của lõi cây, chặt cây càng lâu năm phạt càng nặng, thậm chí vài tạ thịt lợn, vài chục con gà, chặt phá bao nhiêu cây phải trồng lại bằng số cây đã chặt. 

Sau khi đưa ra hình phạt, trưởng bản và bảo lâm cùng các ban, ngành sẽ mời cả bản khác tới "ăn phạt". Nét độc đáo là gia đình bị phạt cũng được ăn trong "lễ phạt" đó. Hình thức gọi cả bản bên cạnh tới ăn để nhằm "răn đe" những người khác, tránh tình trạng tự ý vào rừng chặt cây. Một điểm mang đầy tính nhân văn nữa của Hương ước giữ rừng là những gia đình neo đơn, người già yếu không vào rừng được thì người dân trong bản phải có trách nhiệm chặt cây giúp để họ có củi đun. Những gia đình có người ốm, yếu, người nhà phải chăm sóc thì trong "ngày mở rừng", bản sẽ chặt một số cây theo quy định và gia đình đó chỉ được đến lấy những cây đã được bản chặt cho, không được tự ý chặt sang nơi khác. Những hộ dân vi phạm bị bản bắt phạt mà không có tiền mua lễ phạt, bản sẽ ứng tiền cho vay, nếu đến thời hạn mà không trả nợ được hoặc cố tình không trả sẽ bị đuổi ra khỏi bản. Tuy nhiên, từ trước tới nay chưa có trường hợp nào bị đuổi ra khỏi bản". 

Thiếu tá Lê Văn Anh, cán bộ Đồn BP Sì Lở Lầu được tăng cường làm Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã Sì Lở Lầu chia sẻ: "Trong số 3.299,55ha rừng của toàn xã thì phần lớn nằm trong khu vực gần cột mốc biên giới, thuộc địa bàn Đồn BP Sì Lở Lầu quản lý. Trong nhiều năm qua, trên cương vị Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã Sì Lở Lầu, tôi đã tham mưu cho chính quyền địa phương cũng như tuyên truyền, vận động người dân chấp hành Hương ước bảo vệ rừng. Toàn xã chưa xảy ra bất cứ một vụ cháy rừng nào, cũng như rất ít cá nhân hay tổ chức nào vào rừng chặt cây khai thác gỗ trái phép. Đạt được những thành công đó đều nhờ vào sự nghiêm chỉnh chấp hành của bà con, đặc biệt Hương ước giữ rừng đóng vai trò rất quan trọng. 

Trên tinh thần đó, tháng 6-2014, Mặt trận Tổ quốc huyện Phong Thổ có công văn yêu cầu các xã chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện lại bản hương ước sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng bản. Là một người trực tiếp hoàn thiện bản hương ước giữ rừng của xã Sì Lở Lầu, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần bản hương ước đó. Sau khi nghiên cứu kỹ, tôi nhận thấy bản Hương ước rất chặt chẽ, những nội dung đều mang đậm nét văn hóa người Dao đỏ. Tôi chỉ cần chỉnh sửa một vài chi tiết nhỏ sao cho phù hợp với thực tế đời sống, cũng như văn hóa của bà con. 

Theo đó, Hương ước mới đã loại bỏ nhiều chi tiết chưa phù hợp như: Phạt người vi phạm rất nặng, đôi khi số thịt lợn, thịt gà, mà người bị phạt phải chịu lên tới cả vài chục tạ, vài trăm con gà, cùng với rất nhiều rượu. Nếu như không chỉnh sửa kịp thời, cũng như thích hợp thì sẽ dẫn tới tình trạng ăn uống linh đình, hộ dân bị bắt phạt phải lao đao đi vay nợ khắp nơi lo cho "lễ phạt". Trong lễ ăn phạt lại uống nhiều rượu dễ dẫn tới mất an ninh trật tự”. 

Chia tay vùng đất "dốc 12 tầng" và những cánh rừng xanh mướt kéo dài tít tắp tới tận cột mốc số 71 mà tôi thấy an lòng, bởi hằng ngày những người lính mang quân hàm xanh và người dân Sì Lở Lầu vẫn thường xuyên đi tuần tra bảo vệ đường biên, cột mốc dưới những tán lá xanh ngắt ấy. (Báo Biên Phòng Online 31/3) Về đầu trang

Việt-Mỹ nối lại đối thoại Hiệp định Khung về Thương mại và Đầu tư

Ngày 27 và 28/3, Mỹ và Việt Nam đã họp trong khuôn khổ Hiệp định Khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA) của hai nước để thảo luận về việc làm sâu sắc hơn quan hệ thương mại giữa hai nước cũng như giải quyết các vấn đề thương mại song phương còn tồn tại. 

Đáng lưu ý, phía Mỹ đã sử dụng cuộc gặp như một cơ hội để khẳng định lại cam kết của Chính phủ Tổng thống Donald Trump về mở rộng quan hệ với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. 

Trong cuộc họp này, các đại diện của Mỹ cũng kêu gọi Việt Nam nhanh chóng giải quyết các vấn đề song phương, bao gồm các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và an toàn thực phẩm, sở hữu trí tuệ, thương mại số, dịch vụ tài chính, hải quan, hàng công nghiệp, minh bạch và quản trị tốt, và buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp. Trong khi đó, phía Việt Nam cũng đã cập nhật cho đoàn của Mỹ về kế hoạch thực hiện cải cách lao động của mình. 

Hai bên nhất trí tiếp tục đối thoại về những vấn đề này và khởi động các nhóm công tác tập trung giải quyết các vấn đề song phương, bắt đầu với các nhóm về các vấn đề nông nghiệp và an toàn thực phẩm, hàng công nghiệp, các vấn đề sở hữu trí tuệ và thương mại số. 

Được biết, phía Mỹ đã xem xét việc Việt Nam thực hiện hiệp định thuận lợi hóa thương mại của WTO, cũng như sự tham gia của Việt Nam vào Hiệp định Công nghệ Thông tin mở rộng của WTO. Ngoài ra, các nhóm của Mỹ và Việt Nam đã thảo luận cách họ có thể làm việc cùng nhau để thúc đẩy lợi ích chung của họ trong việc xây dựng quan hệ Mỹ-ASEAN. 

Cuộc gặp TIFA này là cuộc gặp đầu tiên kể từ năm 2011 giữa Việt Nam và Mỹ. Nhân sự kiện này, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh hoan nghênh việc nối lại các cuộc thảo luận trong khuôn khổ TIFA và các nỗ lực để làm sâu sắc hơn nữa quan hệ thương mại song phương. 

Năm 2016, Việt Nam là đối tác thương mại hàng hoá lớn thứ 16 của Mỹ, với thương mại hàng hoá hai chiều đạt 52,3 tỷ USD. Cũng trong năm 2016, Việt Nam là thị trường xuất khẩu nông nghiệp lớn thứ 10 của Mỹ với xuất khẩu đạt 2,7 tỷ USD. (VietnamPlus.vn 30/3) Về đầu trang

Xử lý nghiêm các đối tượng hủy hoại rừng quy mô lớn tại Đắk Nông

Theo báo cáo nhanh của Ủy ban Nhân dân huyện Đắk G’Long ngày 28/3, một ngày sau khi TTXVN đưa tin về tình trạng phá rừng tại tiểu khu 1685, thuộc địa phận xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long, tổng diện tích rừng bị tàn phá, đốt trụi tại khu vực này là 46,1ha.

Hiện cơ quan chứa năng của huyện, của tỉnh đang phối hợp với chính quyền địa phương củng cố hồ sơ, xử lý vụ việc theo quy định. 

Trao đổi với phóng viên TTXVN ngày 30/3, ông Lê Quang Dần, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Đắk G’Long khẳng định để xảy ra tình trạng phá rừng, trách nhiệm trước hết thuộc về kiểm lâm địa bàn, Ủy ban Nhân dân xã Quảng Sơn và Hạt kiểm lâm huyện Đắk G’Long. 

Ủy ban Nhân dân huyện Đắk G’Long đánh giá đây là sự việc nghiêm trọng. Trước mắt, Ủy ban Nhân dân huyện phê bình ông Lê Văn Hà, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk G’Long; ông Đỗ Ngọc Hiếu, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Quảng Sơn do để xảy ra tình trạng phá rừng với diện tích lớn, trong thời gian dài nhưng không phát hiện, xử lý, ngăn chặn và báo cáo kịp thời. 

Đồng thời, Ủy ban Nhân dân huyện sẽ xem xét xử lý trách nhiệm và kiến nghị cấp thẩm quyền xử lý trách nhiệm sau khi có kết quả xác minh cụ thể. 

Ủy ban Nhân dân huyện Đắk G’Long cũng chỉ đạo các đơn vị chức năng, chính quyền địa phương phối hợp với các đơn vị chức năng của tỉnh bảo vệ diện tích rừng bị phá, không để tình trạng tái chiếm, lấn chiếm và lập kế hoạch trồng lại rừng ngay trong năm 2017. 

Trước đó, trao đổi với phóng viên TTXVN về tình trạng rừng bị phá tại tiểu khu 1685, ông Tôn Thất Hoàng, Hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Đắk G’Long cho biết tổng diện tích rừng bị phá tại tiểu khu 1685 mà đơn vị này đo đạc được là 36ha, nhưng khi ghi biên bản bị nhầm thành hơn 46ha (?!). 

Ông Hoàng cho rằng rừng khu vực này bao gồm rừng keo được trồng từ năm 2008, rừng lồ ô, cây tạp tự tái sinh và một diện tích nhỏ rừng tự nhiên. 

Thêm nữa, ông Hoàng cho rằng việc phát dọn, đốt trụi toàn bộ khu vực này là để... trồng lại rừng keo vào mùa mưa năm tới. 

Ông Lê Quang Dần, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Đắk G’Long cho biết theo quy định của pháp luật, việc thay đổi hiện trạng rừng chỉ được thực hiện khi cơ quan chức năng cấp phép. Trong trường hợp này, các đối tượng phá rừng, chủ rừng đã vi phạm các quy định pháp luật khi tùy tiện thực hiện việc chặt phá, phát dọn. 

Cũng theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân huyện Đắk G’Long, rừng một số khu vực lân cận cũng đang bị tàn phá. Cụ thể, tại khoảnh 8, tiểu khu 1696 có gần 7ha bị phá trụi. Ngoài ra còn có một số khu vực trong tiểu khu này rừng bị phá nhưng chưa xác định được diện tích. 

Như TTXVN đã thông tin ngày 27/3, hàng chục hecta rừng thuộc vùng lõi tiểu khu 1685 (xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông) đã bị tàn phá, đốt trụi. Thậm chí, các đối tượng còn sử dụng phương tiện cơ giới vào san ủi đường đi, ngăn đập để chứa nước. Việc hủy hoại rừng tại đây diễn ra trên quy mô lớn, trong thời gian dài nhưng không được cơ quan chức năng xử lý, ngăn chặn kịp thời. (TTXVN/VIETNAM+  30/3; Báo Đắk Nông 30/3; Zing.vn 30/3; Nguoiduatin.vn 30/3; Người Lao Động Online 30/3; VietnamPlus.vn 30/3; Dân Trí 30/3; Đại Đoàn Kết Online 30/3; Chinhphu.vn 31/3; Vietnamnet.vn 30/3; Nhân Dân điện tử 30/3; VOVNews 30/3; Thanh Tra Online 30/3; Dân Trí 30/3; Tiền Phong Online 30/3; Tin Tức Online 30/3; Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 30/3; Lao Động 31/3, tr3; Nhân Dân 31/3, tr8; Công An Nhân Dân 31/3, tr5; Tiền Phong 31/3, tr11; Thanh Niên 31/3, tr2) Về đầu trang

http://www.vietnamplus.vn/xu-ly-nghiem-cac-doi-tuong-huy-hoai-rung-quy-mo-lon-tai-dak-nong/438535.vnp  

Kon Tum thu giữ khối lượng lớn gỗ vô chủ

Những tháng đầu năm 2017, tình trạng vi phạm luật bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Chỉ 3 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã phát hiện và bắt giữ 163 vụ (tăng 39 vụ so với cùng kỳ năm ngoái), thu giữ hơn 644 m3 các loại với tổng số tiền xử phạt hơn 1,6 tỷ đồng. Nằm ở vị trí ngã 3 Đông Dương với địa bàn phức tạp, có đường biên giới tiếp giáp với hai nước bạn Lào và Campuchia, tình hình vận chuyện, cất giấu lâm sản tại huyện Ngọc Hồi diễn ra phức tạp và tăng mạnh. 

Đặc biệt, sau khi phía Lào cấm vận chuyển gỗ tròn về Việt Nam, tình hình buôn bán, vận chuyển lâm sản trên khu vực giáp ranh này càng trở nên nóng bỏng. 

Trong quý I/2017, lực lượng kiểm lâm của huyện Ngọc Hồi đã phát hiện và bắt giữ 24 vụ, với khối lượng hơn 315 m3 gỗ tròn, 159 m3 gỗ xẻ (tăng 2 vụ, 297m3 gỗ tròn, 87m3 gỗ xẻ so với cùng kỳ năm 2016). Điều đáng nói là hầu hết các vụ bắt giữ được đều nằm trong tình trạng vô chủ. 

Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi cho biết, trước tình hình vi phạm lâm luật có chiều hướng gia tăng, đơn vị đã thực hiện cao điểm các đợt truy quét “lâm tặc”, tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên diện rộng tại tất cả các khu vực có rừng, khu vực giáp ranh… nên đã phát hiện, bắt giữ nhiều vụ vi phạm, chủ yếu là cất giấu lâm sản trái pháp luật và tang vật gỗ vô chủ. Bên cạnh đó, địa hình phức tạp nên công tác tuần tra kiểm soát cũng gặp rất nhiều khó khăn, các đối tượng vận chuyển lâm sản lợi dụng hoạt động. 

Các huyện như Kon Plông, Sa Thầy, Đăk Glei… có số vụ vi phạm luật bảo vệ rừng cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2016. Điển hình như huyện Kon Plông - nơi được xem là “lá phổi xanh” của tỉnh Kon Tum, tình hình vi phạm luật bảo vệ rừng diễn ra phức tạp với 45 vụ vi phạm (tăng 37 vụ so với năm 2016). 

Trước tình hình vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép gia tăng, tình trạng xâm lấn đất rừng, khai thác rừng giáp ranh ngày càng diễn ra phức tạp và quy mô, Kon Tum đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm bảo vệ những diện tích rừng còn lại. 

Theo đó, các ngành chức năng của tỉnh tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên tất các các địa bàn có rừng, rừng giáp ranh; mở các đợt cao điểm tổng kiểm tra, truy quét các khu vực có tình trạng vi phạm luật bảo vệ rừng diễn ra phức tạp, nóng bỏng… Bên cạnh đó, tổ chức các đợt tuyên truyền, sử dụng các nguồn kinh phí tiến hành giao đất, giao rừng cho cộng đồng thôn làng bảo vệ… (TTXVN/Tin Tức Online 30/3; VTV1- Bản tin thời sự lúc 6h ngày 30/3; Nhandantv.vn 30/3) Về đầu trang

Sơn Trà, Sơn Trà...

Sơn Trà - tên một bán đảo rừng được ví là “lá phổi xanh” của thành phố Đà Nẵng. Sơn Trà - tên một khu bảo tồn thiên nhiên nổi tiếng là nơi cư trú của loài vọoc chà vá chân nâu nằm trong Sách đỏ Việt Nam và vào Danh sách các loài động vật cần được bảo vệ vô điều kiện của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới. Sơn Trà - tên một khu du lịch quốc gia với nhiều dự án xây dựng lớn, trong đó riêng cơ sở lưu trú dự kiến đã lên đến 1.600 phòng. Suốt hai tuần nay, cái tên Sơn Trà ấy xuất hiện dày đặc trên các mặt báo và mạng xã hội. 

Dư luận, nhất là người dân Đà Nẵng, cùng với nỗi bất bình về việc một công ty du lịch ngang nhiên cày xới rừng Sơn Trà để xây 40 nền móng biệt thự trái phép mà chính quyền chỉ giật mình đi kiểm tra sau khi người dân phát hiện, là nỗi thổn thức cho tương lai Sơn Trà. Ấy là khi các dự án khai thác du lịch được triển khai một cách... hợp pháp theo Quy hoạch phát triển tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 11-2016. 

Với quy hoạch này, diện tích khu vực tập trung phát triển trở thành khu du lịch quốc gia chiếm tới 1.056 héc ta trong tổng diện tích của bán đảo Sơn Trà là 4.439 héc ta. 

Ngay sau khi nó ra đời, không phải không có những lo lắng làm sao để cân bằng giữa phát triển kinh tế du lịch với bảo tồn cảnh quan, môi trường sinh thái của Sơn Trà, những lời kêu gọi “Đừng để Sơn Trà bị băm nát và thu hẹp” cũng đã xuất hiện trên mặt báo. Nhưng chỉ đến những ngày tháng 3 này, khi khối u khổng lồ - 40 nền móng biệt thự nói trên - mọc lên ngay “lá phổi xanh” thì số đông mới cuống cuồng lo sợ khối u ấy di căn khắp nơi. 

Trong một diễn biến liên quan đáng chờ đợi, sau cuộc họp báo thường kỳ quí 1-2017 của Đà Nẵng vào chiều 27-3-2017, các báo đồng loạt đưa tin theo hướng Đà Nẵng sẽ đề nghị Thủ tướng điều chỉnh quy hoạch Sơn Trà. Cụ thể, Phó chủ tịch UBND Đà Nẵng cho biết sau khi lắng nghe dư luận và xin ý kiến các bộ, ngành trung ương, UBND thành phố thống nhất báo cáo, tham mưu Thường vụ Thành ủy xem xét, rà soát quy hoạch bán đảo Sơn Trà theo hướng  bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng, một phần nào đó là phát triển kinh tế... Nếu phát hiện các dự án có nguy cơ xâm hại nghiêm trọng đến “lá phổi xanh” của thành phố thì đề nghị Chính phủ điều chỉnh quy hoạch du lịch Sơn Trà. 

Đầu tiên là hai bức ảnh do hai người dân Đà Nẵng chụp cho thấy một mảng xanh lớn của Sơn Trà bị vạt trụi, chỉ còn trơ đất đá, đăng trên trang Facebook “Quản lý đô thị Đà Nẵng: tiện nghi-Xanh-Sạch-Đẹp” với những dấu chấm hỏi. Rồi từ đó, báo chí thúc ép cơ quan chức năng của thành phố vào cuộc, phát hiện ra 40 nền móng biệt thự xây trái phép. Rồi Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng kiến nghị Thủ tướng xem xét điều chỉnh lại Quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà theo hướng giữ nguyên hiện trạng, không xây mới các cơ sở lưu trú ở Sơn Trà, chỉ làm nơi tham quan giải trí để bảo tồn cảnh quan tự nhiên...  Rồi hàng loạt bài viết trên báo và mạng xã hội kêu gọi “Giữ lấy Sơn Trà” ra đời. Cuộc đi bộ lên núi Sơn Trà vì... Sơn Trà được tổ chức. Thiết kế những chú vọoc chà vá chân nâu lọt thỏm giữa rừng... cọc thép, bê tông được cộng đồng Facebook chọn làm avatar. Dày công hơn, báo chí khảo sát và làm phóng sự ảnh về hàng loạt dự án du lịch nghỉ dưỡng trên bán đảo Sơn Trà đang nằm đắp chiếu, để lại những dãy biệt thự hoang phế, nhếch nhác và mảng đất trống, núi trọc. 

Sau thảm họa môi trường biển miền Trung do Formosa gây ra, dường như người dân, các tổ chức xã hội, báo chí đã thức tỉnh và cảnh giác nhiều hơn trước các nguy cơ môi trường thiên nhiên bị tàn phá. Và dường như, cũng đã có sự trưởng thành một bước trong việc làm sao để tiếng nói của mình được lắng nghe. Xuất phát từ ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm và việc tạo các sợi dây liên kết. 

Facebooker Nguyễn Thiện bình luận về việc này: “Ý thức cộng đồng về bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường ngày càng cao, cộng với sức mạnh của dư luận xã hội qua Facebook đã điều chỉnh hành vi của chính quyền theo hướng tích cực”. 

Dù gì thì thông tin từ cuộc họp báo ngày 27-3-2017 của UBND Đà Nẵng cũng là... tích cực. Hy vọng thái độ “lắng nghe” của chính quyền sẽ được chuyển hóa thành những điều chỉnh “Giữ lấy Sơn Trà” hợp lòng dân. 

Cũng trong ngày 27-3, sau khi đọc bài báo Đo hài lòng, chỉnh chất lượng nói về việc ngày càng có nhiều cơ quan nhà nước đo chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với mình, mà trong đó tác giả cho rằng vấn đề quan trọng là phải làm sao cho các chỉ số đó trở thành cơ sở để điều chỉnh thái độ, chất lượng phục vụ, thì người viết bài này có một mong ước.  Mong ước ngày nào đó nước mình có bộ tiêu chí đo mức độ lắng nghe và thể theo nguyện vọng của người dân, trong mọi mặt đời sống, hoặc chí ít nó cũng là một chỉ số thành phần thể hiện mức độ hài lòng của người dân với chính quyền. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn Online 30/3) Về đầu trang

Rừng Hòa Bắc bị triệt hạ: Không có biện pháp ngăn chặn kịp thời

Hàng trăm cây gỗ rừng tự nhiên, trong đó có những cây đường kính to bằng vòng tay người ôm đã bị người dân xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang) chặt hạ không thương tiếc để... lấy đất sản xuất. Trong khi đó, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng không có giải pháp ngăn chặn kịp thời thực trạng này. 

Theo nguồn tin của người dân, ngày 28-3, chúng tôi tìm đến khu vực đèo Mũi Trâu, xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang) và không khỏi bàng hoàng trước cảnh hàng trăm cây rừng tự nhiên bị chặt hạ nằm ngổn ngang. Ngay từ dưới lưng đèo Mũi Trâu, một vạt rừng lớn bị đốt cháy nham nhở hiện rõ màu đen kịt, trơ lại những gốc cây rừng cháy sém. Dọc đường đèo, từng lóng gỗ to được chất thành đống. Lúc này, có một nhóm thanh niên người dân tộc Cơtu đang ngồi nghỉ ven đường, bên cạnh là những chiếc cưa lốc dùng để hạ cây rừng. 

Chỉ tay xuống cánh rừng trơ trụi cháy sém, anh Tr.V.Tr, người dân tộc Cơtu ở thôn Giàn Bí cho biết, nhóm người của anh được thuê đốn hạ cây rừng để lấy đất trồng keo lá tràm gần 10 ngày nay. Sao lại đốn hạ cây rừng tự nhiên? Nghe chúng tôi hỏi, anh Tr. cười bảo: Rừng này của ông Tr.N.N đã được Nhà nước cấp sổ đỏ, nên ổng thuê đốn thì chúng tôi đốn thôi. Dứt lời, anh Tr. mách thêm: Các anh lên chỗ đỉnh đèo, nhiều cây rừng to bằng vòng tay người ôm, họ vẫn cứ đốn hạ nhưng có sao đâu. 

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi đến khu vực đỉnh đèo Mũi Trâu và không khỏi xót xa khi chứng kiến cả vạt rừng lớn bị chặt hạ, cây đổ la liệt trên diện tích rộng cả héc-ta. Ngoài những cây to bằng bắp vế người lớn còn có hàng chục cây rừng tự nhiên to bằng vòng tay người ôm, ước tính tuổi đời hàng chục năm. Theo khảo sát, ở khu vực đèo Mũi Trâu có một vùng đất rộng gần chục hécta đã bị chặt phá nham nhở, với hàng trăm cây rừng lớn nhỏ bị triệt hạ. 

Sau khi được hỏi nguyên nhân vì sao đốn hạ cây rừng tự nhiên, một người dân trú thôn Giàn Bí, có đất được giao ở khu vực đèo Mũi Trâu trả lời “tỉnh rụi”: Nhà nước giao đất rừng cho mình thì mình có quyền đốn hạ cây để trồng keo lá tràm chứ (!). 

Đem chuyện người dân chặt phá cây rừng tự nhiên trao đổi với lãnh đạo địa phương, bà Lê Thị Thu Hà, Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc cho biết, khu vực người dân đang phát dọn thuộc diện tích đất được giao cho người dân hai thôn Tà Lang và Giàn Bí phát triển kinh tế. Cụ thể, vừa qua có 442 héc-ta đất rừng được giao cho hơn 140 hộ dân để phát triển kinh tế. Trước khi cho phép người dân phát dọn thực bì, UBND xã Hòa Bắc đã phối hợp các cơ quan chức năng yêu cầu người dân không được chặt phá cây rừng tự nhiên trên diện tích đất được giao khoán.  

Ngoài ra, UBND xã Hòa Bắc cũng yêu cầu kiểm lâm địa bàn kiểm tra, giám sát việc phát thực bì của người dân; bởi cây rừng thuộc lĩnh vực lâm nghiệp, nên chính quyền địa phương không có chuyên môn. “Sau khi xảy ra sự việc người dân đốn hạ cây rừng tự nhiên, chúng tôi đã kiểm tra hiện trường và yêu cầu người dân không được chặt hạ tùy tiện, mà phải hỏi ý kiến của cơ quan chức năng”, bà Hà nói thêm.

Trong khi đó, ông Lê Đình Thám, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hòa Vang nói rằng, trước khi người dân phát thực bì, Hạt Kiểm lâm đã có văn bản yêu cầu UBND xã Hòa Bắc kiểm tra, giám sát, tránh tình trạng người dân lạm dụng chặt hạ cây rừng tự nhiên. Vì thế, xảy ra việc người dân chặt hạ cây rừng tự nhiên ở đèo Mũi Trâu trách nhiệm trước hết thuộc về UBND xã Hòa Bắc. Cũng theo ông Thám, ngay chiều 28-3, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang sẽ tổ chức kiểm tra hiện trường để có hướng chỉ đạo xử lý. 

Trao đổi với phóng viên Báo Đà Nẵng qua điện thoại sáng 29-3, ông Đặng Phú Hành, Phó Chủ tịch UBND huyện Hòa Vang cho biết, đã chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng Hạt Kiểm lâm Hòa Vang tiến hành kiểm tra hiện trường và báo cáo kết quả để lãnh đạo huyện có hướng xử lý; trước mắt, yêu cầu các lực lượng chức năng vào cuộc, dừng ngay việc phát dọn thực bì của người dân. “Sau khi có báo cáo cụ thể từ các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương, chúng tôi sẽ xử lý trách nhiệm cụ thể”, ông Hành nhấn mạnh.  

Chiều cùng ngày, khi nghe phóng viên phản ánh tình trạng chặt phá cây rừng tự nhiên ở đèo Mũi Trâu, xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang), ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đà Nẵng, kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố cho biết, đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Hòa Vang vào cuộc ngay để xử lý vụ việc; đồng thời bố trí lực lượng kiểm tra, giám sát thường xuyên, có phương án phòng chống cháy rừng ở nơi đây. Theo ông Trần Viết Phương, khu vực đất rừng người dân ở hai thôn Tà Lang và Giàn Bí được giao để phát triển kinh tế là rừng nghèo kiệt, trạng thái 1C. Tuy nhiên, việc chặt hạ những cây rừng tự nhiên có đường kính từ 25cm trở lên là không nên. Để xảy ra vụ việc này, trách nhiệm trước hết thuộc về UBND huyện Hòa Vang và UBND xã Hòa Bắc, tiếp đó là Hạt Kiểm lâm Hòa Vang. 

Trước thực trạng người dân chặt hạ cây rừng nguyên sinh trên phần đất được giao phát triển kinh tế, ngày 20-3-2017, ông Đặng Phú Hành, Phó Chủ tịch UBND huyện Hòa Vang đã ký Văn bản số 398 gửi Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, UBND xã Hòa Bắc yêu cầu tăng cường giám sát xử lý thực bì, tận thu củi của đồng bào dân tộc hai thôn Tà Lang và Giàn Bí. Công văn nêu rõ: 

Qua kiểm tra theo dõi tình hình, thời gian qua, UBND xã Hòa Bắc, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang chưa thực hiện nghiêm túc các nội dung chỉ đạo của UBND huyện về việc kiểm tra, hướng dẫn cho đồng bào dân tộc xử lý thực bì, tận thu củi, để tình trạng chặt cây, khai thác cây rừng tự nhiên nhưng thiếu kiểm soát, không bảo đảm quy trình theo quy định Nhà nước. 

Để chấn chỉnh tình trạng trên, yêu cầu từ nay trở đi, việc xử lý thực bì của đồng bào dân tộc phải được giám sát, kiểm tra chặt chẽ… Tuyên truyền, không cho phép người dân chặt hạ cây rừng tự nhiên có phẩm chất, đang sinh trưởng và phát triển tốt. Xử lý nghiêm những trường hợp tự ý chặt hạ, xử lý thực bì, tận thu củi nhưng chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền, các đối tượng khác lợi dụng chặt hạ cây rừng để làm gỗ, làm củi theo quy định của pháp luật. (Báo Đà Nẵng điện tử 30/3) Về đầu trang

http://www.baodanang.vn/channel/5399/201703/rung-hoa-bac-bi-triet-ha-khong-co-bien-phap-ngan-chan-kip-thoi-2546189/index.htm

Phá rừng để nuôi bò là phi lý!

Hai cựu lãnh đạo tỉnh Phú Yên đã kiến nghị như thế khi trực tiếp thị sát cảnh phá rừng để giao đất cho dự án nuôi bò. 

Ngày 30-3, ông Lê Văn Hữu, cựu Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, cùng cựu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Nguyễn Văn Chín dù tuổi cao sức yếu nhưng đã trực tiếp đến hiện trường vụ phá rừng để giao đất cho dự án nuôi bò tại hai tiểu khu 310, 311 (huyện Sông Hinh, Phú Yên). Sự vụ này báo Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh liên tiếp mấy ngày qua. 

Chứng kiến cảnh hàng trăm hecta rừng tự nhiên đang bị tàn sát, hai vị cựu lãnh đạo tỉnh không giấu được nỗi đau xót. Ông Hữu bức xúc nói: “Rừng già thế này mà chặt phá không thương tiếc! Tôi đã đề nghị với bí thư Tỉnh ủy nên chỉ đạo tạm dừng ngay dự án này”. 

Trước thực tế rành rành, ông Hữu khẳng định đây không phải là rừng nghèo mà là rừng tái sinh, phát triển rất tốt, phần nhiều là cây gỗ lớn. “Không thể chặt phá rừng này để trồng cỏ! Tôi từng công tác lâu năm ở miền núi, đây là lần đầu tiên tôi thấy việc phá rừng để trồng cỏ nuôi bò vì chưa bao giờ có. Phá rừng thế này là không thể chấp nhận”. Ông Hữu nói thế và cho hay ông sẽ có buổi làm việc chính thức với lãnh đạo tỉnh. “Nếu lãnh đạo tỉnh không dừng lại dự án này thì chúng tôi sẽ kiến nghị lên Thủ tướng” - ông Hữu nhất quyết nói. 

Cùng lúc đó, ông Chín cũng gọi điện thoại cho ông Hoàng Văn Trà, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, để phản ánh thực tế đau lòng này. “Tôi đã nói với chủ tịch UBND tỉnh rằng các anh nghe cấp dưới báo cáo lại khu rừng đó 80% diện tích là cỏ tranh là sai rồi. Thực tế rừng này dày, còn tốt lắm! Lãnh đạo nào của tỉnh nói 80% diện tích là cỏ tranh là càng tầm bậy” - ông Chín bức xúc. 

Ông Chín cũng đặt vấn đề với chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên vì sao chưa có phương án trồng rừng thay thế mà tỉnh lại cho đi chặt phá rừng. “Có gì mà nôn nóng vậy! Hãy tạm dừng dự án này, kiểm tra lại rồi tìm vị trí khác mà làm sau cũng đâu có muộn!” - ông Chín nói. 

Giữa tiếng ầm ầm của hàng chục cưa lốc đang thi nhau triệt hạ rừng, ông Chín tiếp: “Rừng dày như thế này mà phá bỏ đi để trồng cỏ là hết sức khó hiểu! Có lẽ chỉ có tỉnh Phú Yên làm kiểu lạ đời này chứ không ai đi làm như vậy. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc chính thức với lãnh đạo tỉnh. Nếu lãnh đạo tỉnh không chịu nghe, vẫn khăng khăng cho làm thì buộc chúng tôi sẽ tiếp tục phản ánh lên cấp cao hơn với trách nhiệm là những đảng viên, nguyên lãnh đạo tỉnh…”. 

Sau khi trực tiếp đi thị sát hai tiểu khu rừng được giao cho doanh nghiệp nuôi bò, ông Lê Văn Hữu khẳng định: “Tôi rất am hiểu khu vực rừng này. Đây chính là đầu nguồn của thủy điện Sông Hinh, giáp với mấy con sông. Khu vực này trước đây chính là rừng phòng hộ đầu nguồn. Nếu ai chuyển đổi diện tích rừng này sang rừng sản xuất là không đúng. Vì khu rừng này cách lòng hồ thủy điện Sông Hinh chỉ 20 m, độ dốc cao, lại là rừng già, hoàn toàn không có cỏ tranh, cây bụi gì như lãnh đạo tỉnh nói”. 

Ông Chín nói: “Có dự án đầu tư vào tỉnh, chúng tôi mừng lắm! Nhưng đem rừng này đi đổi trồng cỏ thì chỉ có Phú Yên. Làm như thế chúng tôi bức xúc quá!”. 

Hai vị nguyên lãnh đạo tỉnh Phú Yên đều cho rằng hết sức khó hiểu về quyết định của tỉnh cho làm dự án nuôi bò tại khu vực rừng trên. “Phú Yên còn rất nhiều nơi để làm đồng cỏ nhưng vì sao chủ đầu tư chỉ chọn khu vực hai tiểu khu rừng phòng hộ đầu nguồn này?” - ông Hữu bức xúc. 

Ông Chín tiếp lời: “Dự án này có thể tiếp tục nhưng nhất quyết phải chọn vị trí khác. Chúng ta không thể để chặt phá rừng già, tốt như thế này để trồng cỏ được!”. 

80% diện tích là cỏ tranh? 

Trước đó, ngày 28-3, trao đổi với báo chí về việc xóa hàng trăm hecta rừng tự nhiên tại hai tiểu khu 310, 311 để giao đất cho dự án nuôi bò, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên Trần Hữu Thế nói: “Chúng ta đang đổi giữa một mảnh đất rừng trên 80% diện tích là cỏ tranh để đổi lấy những đồng cỏ xen lẫn rừng thì việc chúng tôi nói là xứng đáng. Mặt khác, hai tiểu khu 310, 311 vốn đã khai thác trắng để làm lòng hồ thủy điện Sông Hinh và nó được tái sinh”. 

Ông Thế cũng cho rằng: “Nhìn tổng quan, hơn 70% diện tích tự nhiên của Phú Yên là đất rừng, đồi. Nếu muốn lựa chọn vị trí khác thì không có”. 

Theo ông Thế, việc đổi một rừng thưa với cỏ tranh, cây bụi để lấy một băng rừng cộng với đồng cỏ thì việc đánh đổi là phù hợp. (Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh Online 31/3) Về đầu trang

Vấn nạn phá rừng Thái Nguyên và trách nhiệm ngành nông nghiệp?

Gần đây, sau vụ phá rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc, đến lượt rừng phòng hộ đặc dụng Khuôn Mánh của tỉnh Thái Nguyên bị hủy hoại. Mới nhất là vụ xẻ thịt rừng Sảng Mộc, rừng Vũ Chấn, đốn hạ những cây sấu hàng trăm, hàng ngàn năm tuổi đã gây nhức nhối dư luận tại địa phương. 

Rừng phòng hộ thuộc xóm Khe Rịa, xã Vũ Chấn là nơi một cây sấu rừng cổ thụ đã bị khai thác trộm từ nhiều tháng trước. Hiện trường tại chân đồi là điểm tập kết gỗ có khối lượng khá lớn. Phần lớn nhất của thân cây đã bị lâm tặc xẻ thành các tấm gỗ có chiều dài khoảng 3m, dày gần 30cm và rộng hơn 2m. Gốc cây bị chặt cách đó khoảng 100m trên lưng chừng núi. Dọc đường lên, còn khá nhiều đoạn thân, cành cây lớn nằm rải rác. 

Theo nhiều người dân sống trong vùng, cây sấu rừng này có hàng trăm năm tuổi, đường kính chỗ lớn nhất lên tới hơn 2m. Anh Phan Đức Cường, trưởng xóm Khe Rịa nói: Đây là cây cổ thụ lớn nhất xã, trước khi bị chặt hạ, cây vẫn luôn xanh tốt và ra quả đều đặn. Vì vậy, việc cây bị chặt trộm khiến nhiều người cảm thấy xót xa, tiếc nuối. 

Cây sấu này nằm trong diện tích hơn 11ha rừng phòng hộ do gia đình anh Đặng Hữu Thuận (SN 1981) quản lý, bảo vệ. Theo hồ sơ của Hạt Kiểm lâm huyện Võ Nhai, ngày 8/8/2016, sau khi phát hiện cây sấu bị chặt trộm, anh Thuận đã làm đơn trình báo cơ quan Kiểm lâm. Tổng khối lượng cây gỗ theo số liệu đo đạc của cán bộ kiểm lâm là 13,436m3. 

Anh Đặng Hữu Thuận khẳng định gia đình không biết kẻ gian đã chặt trộm cây từ bao giờ, ngay khi biết đã làm đơn trình báo gửi Hạt Kiểm lâm. Hạt Kiểm lâm huyện đã cử cán bộ phối hợp với xã Vũ Chấn tiến hành xác minh, lập biên bản tạm giữ toàn bộ số gỗ. 

Tiếp đó, ngày 21/9/2016, Hạt Kiểm lâm đã gửi công văn báo cáo và đề nghị Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho ý kiến chỉ đạo về phương án xử lý số gỗ này. Căn cứ vào đó, Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Võ Nhai thiết lập hồ sơ vụ việc để xử lý theo thẩm quyền; thành lập hội đồng định giá để xác định giá trị gỗ, tịch thu sung công quỹ. 

Thực hiện quy trình, Hạt Kiểm lâm Võ Nhai đã ra quyết định tịch thu gỗ, thành lập tổ công tác và xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc sơ chế, vận chuyển, nghiệm thu đóng dấu búa để bán gỗ sung công quỹ. Ngày 25/10/2016, Hội đồng định giá tài sản huyện Võ Nhai tại Hạt Kiểm lâm huyện do ông Vũ Thế Cường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện làm chủ tịch đã định giá số gỗ cây sấu là 8.791.794 đồng. 

Trong kết luận của Hội đồng có ghi rõ: “Hội đồng thống nhất cho Hạt Kiểm lâm bán số gỗ trên tại rừng thuộc khu vực xóm Khe Rịa, xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, nộp ngân sách Nhà nước số tiền là 8.791.794 đồng”. Đến ngày 7/11/2016, số gỗ đã được hoàn tất thủ tục bán cho ông Phan Văn Khánh (trú tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn), tiền sung công quỹ Nhà nước. 

Toàn bộ quá trình này, Hạt Kiểm lâm Võ Nhai không báo cáo UBND huyện, UBND xã Vũ Chấn cũng không báo cáo huyện. Ngày 12/11/2016, khi nắm được thông tin, lãnh đạo huyện Võ Nhai đã cử đoàn công tác đến hiện trường xác minh, lập biên bản, chỉ đạo xã Vũ Chấn giữ nguyên hiện trạng; yêu cầu Hạt Kiểm lâm báo cáo Huyện ủy, UBND huyện. 

Đến ngày 14/11/2016, Hạt Kiểm lâm mới có văn bản báo cáo về vụ việc gửi tới UBND huyện. Giải thích về điều này, ông Vũ Thế Cường thừa nhận sai sót và cho rằng đã “sơ suất vì nghĩ đây là vụ việc đơn giản, chỉ báo cáo ngành dọc là đủ”. 

Ngoài ra, nội dung của biên bản họp Hội đồng định giá tài sản cây gỗ sấu này có điểm đáng ngờ và những dấu hiệu sai phạm. 

Cụ thể, biên bản ghi đoạn thân cây gỗ dài 10m bị rỗng giữa, khối lượng gỗ thực tế chỉ còn 50%. Điều này không phản ánh chính xác thực trạng số gỗ tại hiện trường. Việc bán lô gỗ với số tiền trên 8,7 triệu đồng cũng khiến dư luận đặt dấu hỏi, vì theo nhiều người am hiểu thị trường lâm sản, riêng một mét khối gỗ sấu rừng lớn đã xẻ như vậy có giá gấp rất nhiều lần. 

Mặt khác, theo quy định thì việc thanh lý số tài sản này phải qua đấu giá, mức giá mà Hội đồng định giá đưa ra chỉ là cơ sở chứ chưa được coi là giá bán. Hội đồng cũng không có thẩm quyền “cho Hạt Kiểm lâm bán số gỗ trên” theo như biên bản đã ghi. 

Ông Bùi Thanh Sơn, Trưởng Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Võ Nhai, Phó Chủ tịch Hội đồng định giá tài sản tại Hạt Kiểm lâm huyện, cũng nhận trách nhiệm vì đã “không đọc kỹ trước khi ký vào biên bản họp Hội đồng định giá lô gỗ”.  

Trước những bất thường trên, UBND huyện Võ Nhai đã thành lập đoàn công tác kiểm tra lại toàn bộ quy trình thủ tục xử lý vụ việc của cơ quan chuyên môn. Nhiều sai phạm đã bị lật tẩy. Cụ thể, khối lượng gỗ của cây sấu mà đoàn kiểm tra đo được lên đến 21,784m3 (chênh lệch giảm 62%, khối lượng do Hạt Kiểm lâm đo là 13,436m3). 

Thêm nữa, theo xác định của hội đồng đấu giá thì số gỗ được bán có khối lượng là 8,569m3. Tuy nhiên, đoàn kiểm tra lại xác định lô gỗ sấu sau khi bán đã được người mua sơ chế và được hạt kiểm lâm huyện Võ Nhai kiểm tra, giám sát rồi nghiệm thu để đóng dấu búa lại có khối lượng lên tới 15,622m3 (chênh lệch tăng 82%). 

Theo quy định, sai số cho phép đối với việc đo khối lượng gỗ tròn là 10%, gỗ xẻ là 5%. Việc đưa tổng khối lượng cây gỗ bị xẻ dưới 15m3 giúp cho sự việc chỉ ở mức xử phạt vi phạm hành chính (13,436m3). Việc xác định gỗ bị mọt rỗng và chỉ còn 50% sẽ làm giảm giá trị thật của lô gỗ. Chính vì vậy thì mới “lồi” ra được một khối lượng lớn gỗ ngoài vòng pháp luật. Thế nên, số lượng gỗ được đóng dấu búa để lưu hành lại vượt số lượng bán đấu giá. Cách xử lý đo đạc tăng giảm mềm mại, uyển chuyển như vậy có thể sẽ mang lại “lợi ích nhóm” vì việc xử lý là của cả hội đồng. 

Từ những sai phạm nói trên, ngày 20/2/2017, ông Dương Văn Tiến (Chủ tịch UBND huyện Võ Nhai) đã ký Quyết định yêu cầu chuyển toàn bộ hồ sơ, tang vật của vụ việc sang cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai để tiến hành điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.  (Nông Nghiệp Việt Nam 30/3, tr1+19) Về đầu trang

4.000 m2 rừng đước vườn quốc gia Mũi Cà Mau bị chặt phá

Kiểm tra hiện trạng rừng đước tại Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau bằng camera flycam, Kiểm lâm phát hiện hàng chục m3 gỗ bị đốn hạ. 

Kiểm tra định kỳ rừng bằng máy camera flycam kết hợp với kiểm tra thực tế 3 điểm rừng phức tạp trong vườn quốc gia Mũi Cà Mau gồm khu vực Cồn Cát, Cái Mòi, Rạch Cái Đôi, kiểm lâm phát hiện rừng tại khu vực Cồn Cát bị chặt phá ở vị trí khoảnh 2, tiểu khu Cồn Cát. Hình thức chặt chọn trên diện tích 4.000 m2, trữ lượng khoảng 17 m3 gỗ là cây mắm, cây đước. 

Ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Cà Mau cho biết đã có báo cáo về tình hình chặt phá cây rừng tại Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau về UBND tỉnh và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. 

“Anh em kiểm lâm địa phương cũng đã phát hiện, bắt giữ trên 5 vụ chặt phá, xử lý”, ông Hải nói và cho biết cây rừng bị chặt phá theo từng thời điểm khác nhau. 

Bốn năm trước, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau chính thức nhận bằng công nhận là khu Ramsar thứ 2.088 của thế giới. Vườn quốc gia nằm trên địa bàn xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) có diện tích hơn 41.800ha. Đây là vùng đất ngập mặn ven biển, tuy không đa dạng về chủng loài nhưng có những đặc thù riêng về hệ động, thực vật. 

Đối với Việt Nam, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là khu Ramsar thứ 5 sau Vườn Quốc gia Xuân Thủy (Nam Định), Bàu Sấu thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), hồ Ba Bể ở Bắc Cạn và Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp). (Phunuonline.com.vn 30/3; Thanh Niên Online 30/3) Về đầu trang

Ba tháng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 7,6 tỷ USD

Theo tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 3 ước đạt 2,9 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu ba tháng đầu năm đạt 7,6 tỷ USD, tăng 7,6% so cùng kỳ năm 2016. 

Cụ thể, giá trị xuất khẩu thủy sản ước đạt 1,5 tỷ USD, tăng 3,6%; các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 1,8 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2016. Trong ba tháng qua, ngành hàng cao-su và cà-phê có sự tăng trưởng rất ấn tượng về giá trị: Ước tính khối lượng xuất khẩu cao-su đạt 249 nghìn tấn và giá trị 510 triệu USD, tăng 1,9% về khối lượng và tăng 90,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016; xuất khẩu cà-phê ba tháng ước đạt 449 nghìn tấn và 1 tỷ USD, giảm 5,4% về khối lượng nhưng tăng 25,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. (Nhân Dân điện tử 31/3) Về đầu trang

 

Đàn hổ quý hiếm lần đầu xuất hiện tại Thái Lan

Camera tự động ở vườn quốc gia phía đông Thái Lan thu được hình ảnh quần thể hổ Đông Dương mới với ít nhất 6 con non trong rừng. Các nhà bảo tồn cho biết sự xuất hiện của đàn hổ mới này là kết quả của nỗ lực chống săn trộm ở Thái Lan, BBC ngày 28/3 đưa tin. 

Nạn săn trộm và mất môi trường sống khiến quần thể hổ Đông Dương trên thế giới giảm xuống chỉ còn chưa tới 250 con. Trước đây chỉ có một quần thể hổ Đông Dương được biết đến tại khu vườn quốc gia này. 

"Sự phục hồi phi thường của loài hổ phía đông Thái Lan là một điều kỳ diệu", John Goodrich, giám đốc chương trình bảo tồn hổ của tổ chức Panthera, nói. 

Số lượng hổ ở Thái Lan những năm 2000 đã giảm đến mức các chuyên gia cho rằng chúng còn lại rất ít và bị phân tán. Chiến lược bảo tồn mới cho phép hổ Đông Dương hồi phục số lượng ở một số khu vực tại Thái Lan, mặc dù loài này đã biến mất ở nhiều vùng khác. (Giáo Dục & Thời Đại Online 31/3) Về đầu trang

http://giaoducthoidai.vn/khoa-hoc/dan-ho-quy-hiem-lan-dau-xuat-hien-tai-thai-lan-3105200-l.html

Phú Yên dẫn đầu về giảm diện tích rừng tự nhiên

Ngày 15.3.2017, Chi cục kiểm lâm Vùng IV (Tổng cục Lâm nghiệp) có báo cáo về cập nhật diễn biến rừng năm 2016 tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. 

Theo đó, qua phân tích kết quả hiện trạng rừng năm 2016 của 5 tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ so với kết quả công bố hiện trạng rừng năm 2015, Chi cục Kiểm lâm vùng IV nhận thấy diện tích rừng tự nhiên ở các tỉnh này có sự thay đổi đáng kể, đặc biệt là Phú Yên giảm đến 3.715 ha và Ninh Thuận giảm 277 ha. Trong khi đó, tỉnh Khánh Hòa tăng 1.003 ha và Quảng Ngãi tăng 142 ha. Đồng thời, diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp (3 loại rừng) tại 5 tỉnh này cũng biến động mạnh. Riêng tỉnh Phú Yên, năm 2015 có 254.248 ha (3 loại rừng) thì năm 2016 còn 249.475 ha (giảm 4.773 ha). (Lao Động Online 30/3) Về đầu trang

Vụ chết rừng phòng hộ của doanh nghiệp tặng xe Lexus: Doanh nghiệp phải trồng lại rừng

Liên quan đến vụ rừng phòng hộ bị chết của doanh nghiệp từng tặng xe Lexus cho tỉnh Cà Mau, tin từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Cà Mau cho biết, UBND tỉnh này vừa có công văn yêu cầu công ty phải khắc phục ngay... 

Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau yêu cầu Sở NN&PTNT tỉnh hướng dẫn Công ty TNHH Xây dựng - Thương mại - Du lịch Công Lý (Công ty Công Lý) trồng lại cây đước tại diện tích cây mắm bị chết. Nguồn kinh phí thực hiện bằng nguồn vốn của công ty này. 

Việc Công ty Công Lý đề nghị cho khai thác diện tích rừng còn lại để trồng cây đước, UBND tỉnh yêu cầu Sở NN&PTNT cần phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện theo quy định, tham mưu UBND tỉnh xem xét quyết định. 

Như Dân trí đã đưa tin, năm 2015, Công ty Công Lý được UBND tỉnh Cà Mau cho thuê gần 325.000 m2 đất và hơn 193.000 m2 rừng phòng hộ xung yếu tại ấp Khai Long, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển. 

Từ cuối năm 2016 đến đầu năm 2017, một phần không nhỏ cây rừng (chủ yếu là mắm) trong diện tích rừng mà Công ty Công Lý thuê bất ngờ bị chết. 

Qua kiểm tra của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau, trong khu vực này, diện tích cây mắm có khả năng chết từng vệt, từng đám, chiếm khoảng 60% so với tổng diện tích cây rừng trong khu vực. 

Nguyên nhân cây rừng chết được các ngành chức năng tỉnh Cà Mau đưa ra là do thời điểm cuối năm 2016 đầu năm 2017, lượng mưa lớn kéo dài, triều cường dâng cao nên hệ thống cống của khu du lịch Khai Long (Công ty Công Lý đầu tư) thoát nước không triệt để, làm ứ đọng nước lâu ngày dẫn đến cây rừng bị ngập úng và chết cục bộ. 

Tỉnh Cà Mau cũng xác định, một trong những nguyên nhân nữa là phía Công ty Công Lý chưa thường xuyên theo dõi, báo cáo kịp thời cho cơ quan chức năng hiện tượng cây rừng chết để có biện pháp hỗ trợ, khắc phục. 

Cũng liên quan đến diện tích rừng phòng hộ bị chết, 2 cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Đất Mũi đã bị kiểm điểm. Lý do trong thời gian phụ trách địa bàn, 2 cán bộ này tuy đã phát hiện rừng mắm có dấu hiệu chết, nhưng không kịp thời kiểm tra, báo cáo, dẫn đến thiệt hại rừng khá lớn. 

Công ty Công Lý chính là doanh nghiệp gây xôn xao dư luận khi vào tháng 3/2016 tặng 2 xe Lexus trị giá hơn 6 tỷ đồng cho tỉnh Cà Mau. Sau đó, vào cuối năm 2016, công ty này đã xin tạm ứng 30 tỷ đồng và được tỉnh Cà Mau chấp nhận cho ứng 25 tỷ đồng để sửa chữa máy móc thiết bị nhà máy xử lý rác. 

Sau khi báo chí phản ánh vụ việc vào tháng 2/2017 và có ý kiến từ Trung ương, tỉnh Cà Mau đã trả lại 2 xe Lexus cho công ty này. (Dân trí 30/3) Về đầu trang

Bình Định: Khởi tố vụ phá hơn 16 ha rừng phòng hộ

Chiều 30-3, ông Nguyễn Thế Dũng, Phó Chi cục trưởng Phụ trách Chi cục Kiểm lâm (thuộc Sở NN&PTNT Bình Định), cho biết: Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước - Quy Nhơn đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Hủy hoại rừng”, quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự, xảy ra tại khoảnh 1 và khoảnh 2, tiểu khu 363B, thuộc xã Phước Mỹ (TP Quy Nhơn, Bình Định). 

Theo ông Nguyễn Hồng Kháng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước - Quy Nhơn, sau thời gian tiến hành điều tra và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Hạt thấy rằng vụ phá rừng có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT), Công an TP Quy Nhơn. Vì vậy, ngày 23.2, Hạt đã làm văn bản gửi Viện kiểm sát nhân dân TP Quy Nhơn đề nghị chuyển vụ án này đến Cơ quan CSĐT, Công an TP Quy Nhơn. Đến ngày 23-2, Viện kiểm sát nhân dân TP Quy Nhơn đã có quyết định số 01/QĐ-VKS chuyển vụ án đến Cơ quan CSĐT, Công an TP Quy Nhơn để điều tra theo thẩm quyền. 

Chiều cùng ngày (30-3), trao đổi qua điện thoại, Thượng tá Huỳnh Dư Phi Long, Phó Trưởng Công an TP Quy Nhơn, xác nhận đơn vị đã tiếp nhận toàn bộ hồ sơ vụ án phá rừng xảy ra tại khoảnh 1 và khoảnh 2, tiểu khu 363B. Hiện nay, Cơ quan CSĐT, Công an TP Quy Nhơn đang tiến hành điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. 

Theo nguồn tin riêng, sau khi nhận được tin từ quần chúng nhân dân phản ánh tình trạng phá rừng xảy ra tại tiểu khu 363B, thuộc địa bàn xã Phước Mỹ (TP Quy Nhơn), trong 2 ngày 13 và 14-5-2016, các thành viên của tổ số 2 đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước - TP Quy Nhơn và Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn tổ chức vào rừng để kiểm tra. Kết quả cho thấy, có 16,1 ha rừng tự nhiên trạng thái 2A ở 13 lô thuộc khoảnh 1 và khoảnh 2, tiểu khu 363B thuộc địa bàn xã Phước Mỹ có chức năng quy hoạch phòng hộ do UBND xã Phước Mỹ quản lý bị chặt phá. Đường kính cây trong toàn bộ 13 lô từ 6-15 cm, có một số cây đường kính gốc từ 20-30 cm đã bị đốn hạ, trong đó có 3 lô diện tích trên 6,5 ha cây rừng đã bị đối tượng phá rừng đốt cháy. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 30/3) Về đầu trang

Rừng tự nhiên cạnh trạm kiểm lâm bị đốn hạ

Một vụ chạt phá rừng xảy ra tại bản Cao Vều 4, xã Phúc Sơn, Anh Sơn, Nghệ An vừa được cơ quan chức năng phát hiện, đang nói địa điểm khai thác chỉ cách Trạm Kiểm lâm địa bàn Hạt Kiểm lâm huyện chưa đến 2km. 

Nguồn tin quần chúng cho biết, vụ việc chặt phá rừng đã xảy ra từ trung tuần tháng 3, điều này hoàn toàn có cơ sở vì theo quan sát của PV tại hiện trường nơi phóng viên tới, dấu vết lát cắt  không quá cũ, nhiều cây ngã xuống lá vẫn còn nguyên vẹn trên cành. 

Một lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Nghệ An khẳng định: Đây là trường hợp an hem kiểm lâm chủ động phát hiện và ngăn chặn. Thế nhưng điều kỳ lạ là, nếu chủ động phát hiện thì tại sao điểm phá rừng cách Trạm Kiểm lâm địa bàn chỉ vài km với diện tích lớn bị đốn hạ trong thời gian dài. 

Khi được hỏi về vị trí, tổng diện tích và khối lượng bị đốn hạ là bao nhiêu. Vị này cho biết, vụ việc đang trong quá trình điều tra nên không thể cung cấp thông tin. Quan điểm của chúng tôi là có kết quả điều tra sẽ xử lý nghiêm. 

Dù cơ quan chức năng chưa tiết lộ thông tin nhưng theo nguồn tin riêng của Nông Nghiệp Việt Nam, khối lượng gỗ bị chặt hạ khoảng trên dưới 30m2. (Nông Nghiệp Việt Nam 31/3, tr3) Về đầu trang