Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 27/3/2017

Điểm báo ngày 27/3/2017

Cập nhật ngày : 27/03/2017 1:26:12 CH

ĐIỂM BÁO

 LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 27 tháng 03 năm 2017)

 

Hiệu quả thực thi PFES và ý nghĩa của con số 1.300 tỷ

Trong ba năm từ 2014-2016, tiền thu từ dịch vụ môi trường rừng (PFES) trung bình đạt 1.300 tỷ đồng/năm – con số này lớn hơn tổng số ngân sách hàng năm đầu tư cho toàn ngành lâm nghiệp. Đây là con số đặc biệt ý nghĩa với ngành lâm nghiệp bởi từ tháng 6/2016 đến nay, ngành chưa nhận được tiền chi ngân sách cho hầu hết các hoạt động, đặc biệt năm 2017, tổng đầu tư cho lâm nghiệp chỉ bằng 30% năm 2016, tức chưa đầy 300 tỷ đồng. 

Thông tin này được Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn chia sẻ tại Hội nghị “Phát triển dịch vụ môi trường rừng bền vững” do Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp Bộ NN&PTNT tổ chức sáng 24/3/2017 tại Hà Nội. 

Cũng theo ông Tuấn, trong số 1.300 tỷ, 97% được thu từ dịch vụ cung cấp nước cho các nhà máy thủy điện, >20% thu từ các nhà máy nước sạch, còn lại phần nhỏ thu từ hoạt động du lịch. Tuy nhiên, 1.300 tỷ mới chỉ là con số “gián thu”, tức thu gián tiếp qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng theo hình thức ủy thác, ngoài ra, các chủ rừng còn có tổng thu trực tiếp từ PFES, đặc biệt là các trung tâm du lịch. Nếu tính gộp cả hai nguồn thu thì tác động của PFES còn lớn hơn nhiều. Dù đánh giá cao hiệu quả thực thi PFES, song ông Tuấn cũng còn một số băn khoăn khi PFES mới chỉ được áp dụng với ba loại hình dịch vụ (cung cấp nước sạch cho các nhà máy thủy điện, nhà máy nước và hoạt động du lịch) trong khi nhóm đối tượng phải chi trả PFES có thể được mở rộng hơn. Mặt khác, định mức PFES áp dụng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện và các cơ sở sản xuất, cung cấp nước sạch hiện chưa được nâng lên định mức 36 đồng/kWh và 52 đồng/m3 vì còn phải chờ… giá điện tăng (theo hiệu lực thực thi Nghị định 147/2016). 

Nhằm thúc đẩy hiệu quả thực thi PFES, Bộ NN&PTNT đề nghị cần tăng mức thu tiền PFES tiệm cận với giá trị dịch vụ môi trường do rừng tạo ra để tăng nguồn thu từ PFES, đồng thời thí điểm và ban hành chính sách thu PFES từ các loại hình dịch vụ nuôi trồng thủy sản có sử dụng nước từ rừng và dịch vụ hấp thu các-bon rừng. Ngoài ra, Bộ cũng kiến nghị Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi với các điều cụ thể liên quan đến PFES. (ThienNhien.Net 24/3; Kinh Tế & Đô Thị Online 24/3; Hải Quan Online 24/3) Về đầu trang

Thu hơn 6.510 tỷ đồng từ dịch vụ môi trường rừng đến hết năm 2016

Phát biểu tại Hội nghị “Phát triển dịch vụ môi trường rừng bền vững,” ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, cho biết tính đến hết năm 2016, tổng số tiền thu được từ dịch vụ môi trường rừng là trên 6.510 tỷ đồng, bình quân đạt trên 1.200 tỷ đồng/năm. 

Hội nghị do Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại Hà Nội ngày 24/3. 

Theo ông Nguyễn Bá Ngãi, số tiền dịch vụ môi trường rừng đã góp phần quản lý bảo vệ 5,8 triệu ha rừng, chiếm 42% tổng diện tích rừng toàn quốc; hỗ trợ cho chủ rừng có kinh phí quản lý bảo vệ rừng. Đồng thời hỗ trợ các công ty lâm nghiệp khi dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và người dân miền núi bảo vệ rừng có điều kiện nâng cao đời sống trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang khó khăn. 

Bên cạnh đó, từ khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, diện tích rừng bị thiệt hại trong giai đoạn 2011-2015 đã giảm lần lượt là 32,9% và 58,2% so với giai đoạn 2006-2010. 

Hiện tại đã có hơn 500.000 hộ gia đình, cộng đồng được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng với mức bình quân khoảng 2 triệu đồng/hộ/năm, góp phần nâng cao thu nhập cho đồng bào. 

Ngoài ra, đến nay, cả nước đã có 42 Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng từ trung ương đến địa phương. 

Đánh giá về hiệu quả của chính sách này, ông Võ Đình Thọ - Giám đốc Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Lâm Đồng - cho hay nhờ vận động tích cực nên các đối tượng chi trả môi trường rừng đã đồng thuận cao nên việc thu tiền dịch vụ môi trường rừng của địa phương rất thuận lợi. Tuy nhiên, vẫn còn một số đơn vị chưa nộp tiền hoặc nộp tiền chậm với số tiền khoảng 100 triệu đồng. 

Cũng theo ông Thọ, diện tích được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là 420.000ha trên tổng số diện tích đất lâm nghiệp có rừng của tỉnh là trên 513.000ha; trong đó trên 360.000ha đã được chi trả chiếm trên 84%. Với mức chi trả hiện nay bình quân một hộ được thụ hưởng từ 8-12 triệu đồng/năm, giúp người dân tăng thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống. 

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng của cả nước là 14 triệu ha (theo kết quả điều tra thống kê đến năm 2015). Từ khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đem lại hiệu quả bước đầu, nhiều người dân đã có thêm nhu nhập từ rừng. Bên cạnh đó, công tác bảo vệ rừng tốt hơn. 

“Địa phương làm tốt như Lai Châu, kể cả huyện xa nhất như Nậm Lùn, thượng nguồn của sông Đà triển khai chính sách chi trả tốt nên rừng ở đây rất tốt, nhiều người dân bước đầu yên tâm về kinh phí nhận được từ rừng,” Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đưa ra dẫn chứng. 

Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng chỉ ra những bất cập về rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn, đa dạng sinh học suy giảm, hệ sinh thái không còn như trước. Người làm rừng, người trồng rừng chưa thực sự sống được từ rừng tại một số khu vực. 

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhấn mạnh: “Để giải quyết vấn đề này cần sự đồng lòng của cả xã hội, cả hệ thống chính trị; phải theo nguyên tắc “lấy rừng nuôi rừng,” đó mới là bình đẳng, không thể lấy ngân sách nhà nước ra mãi được. Phải làm sao để người trồng rừng, người làm rừng sống được nhờ rừng”. (TTXVN/VIETNAM+ 24/3; Bnews 24/3; Nhân Dân 25/3, tr2; Sài Gòn Giải Phóng 25/3, tr1; Tiền Phong 25/3, tr4; Thời Báo Tài Chính Việt Nam 25/3, tr11; Đại Biểu Nhân Dân 25/3, tr5; Lao Động điện tử 26/3; Pháp Luật Việt Nam 27/3, tr8) Về đầu trang

Ngân hàng Thế giới: Nông nghiệp Việt Nam cần giảm chỉ đạo, tăng hỗ trợ

Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, nông nghiệp Việt Nam hiện đang đứng trước ngã ba đường, đang phải cạnh tranh về lao động, đất đai và nước với các đô thị, công nghiệp và dịch vụ. Chi phí lao động tăng làm giảm năng lực cạnh tranh toàn cầu của ngành.   

Nông nghiệp Việt Nam là “câu chuyện thành công” mà nhiều quốc gia khác muốn học tập. Từ một nước thiếu đói, sản lượng lương thực bình quân đầu người hiện đứng ở mức cao trong nhóm quốc gia thu nhập trung bình. Tuy nhiên, một báo cáo của Ngân hàng Thế giới cũng chỉ ra, thành tích về hiệu quả, phúc lợi nông dân và chất lượng sản phẩm của Việt Nam chưa được ấn tượng như thành tích về năng suất, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu nông sản. Việt Nam còn thua kém các quốc gia trong khu vực nếu xét về năng suất sử dụng nước, lao động và đất nông nghiệp. 

Thực tế, hầu hết nông sản của Việt Nam đều được bán dưới dạng thương phẩm thô, với giá thường thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh hàng đầu do thua kém về chất lượng và các nguyên nhân khác. Nông sản thô giá rẻ của Việt Nam thường được pha trộn với mặt hàng của các quốc gia khác để tạo ra thành phẩm được bán dưới các thương hiệu quốc tế. 

Điều nghịch lý là mặc dù ẩm thực Việt Nam đang trở nên ngày càng hấp dẫn ở các quốc gia thu nhập cao, nhưng hầu hết thành phần và thực phẩm do người Việt Nam cung cấp lại chưa được người tiêu dùng biết đến, một phần do quan niệm về rủi ro an toàn thực phẩm và/hoặc môi trường. Hiện tượng này cũng diễn ra ngay tại sân nhà, với những quan ngại ngày càng tăng về sự an toàn của vật nuôi, cây trồng, trà, các đồ uống và thực phẩm sản xuất trong nước khác. 

Tăng trưởng sản lượng nông nghiệp của Việt Nam chủ yếu nhờ vào thâm dụng đầu vào, đôi khi phải trả phí tổn lớn về môi trường. Chẳng hạn, quá trình mở rộng diện tích cà phê và cao su ở Tây Nguyên đã góp phần quan trọng gây phá rừng, mất đa dạng sinh học, và suy kiệt nguồn nước ngầm. Thâm canh lúa góp phần gây suy thoái đất, ô nhiễm nguồn nước, và phát thải khí nhà kính ở mức cao. Quá trình mở rộng nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long dẫn đến hủy hoại rừng ngập mặn ở quy mô lớn, là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm nước. 

Theo Ngân hàng Thế giới, nông nghiệp Việt Nam hiện đang đứng trước ngã ba đường, đang phải cạnh tranh về lao động, đất đai và nước với các đô thị, công nghiệp và dịch vụ. Chi phí lao động tăng làm giảm năng lực cạnh tranh toàn cầu của ngành. 

Trong thời gian tới, ngành nông nghiệp Việt Nam cần “tăng giá trị, giảm đầu vào”. Nghĩa là phải tạo thêm giá trị kinh tế - nâng cao phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng - nhưng sử dụng ít tài nguyên, nhân công và đầu vào trung gian độc hại hơn. Tăng trưởng sẽ chủ yếu dựa trên nâng cao hiệu suất, đổi mới sáng tạo, đa dạng hóa và nâng cao giá trị gia tăng. 

Các chuyên gia Ngân hàng Thế giới cho rằng Việt Nam cần có nhiều thay đổi về sử dụng đất nông nghiệp. Chẳng hạn, đất trồng lúa bị nhiễm mặn sẽ chuyển đổi để nuôi trồng thủy sản. Đất trồng lúa ở các vùng khác có thể được sử dụng để trồng rau hoặc trồng hoa, cây cảnh, hoặc du lịch sinh thái. Nhờ cải thiện về tưới tiêu, một số diện tích đất trồng lúa sẽ được chuyển sang trồng ngô... 

Mặt khác, người Việt sẽ ngày càng ăn ít gạo, trong khi tiêu dùng các sản phẩm chế biến, chăn nuôi, rau và hoa quả sẽ tăng lên. Thói quen ăn uống bên ngoài ngày càng trở nên quan trọng. Chuyển đổi về thói quen ăn uống và bữa ăn sẽ đặt ra nhu cầu cần cải thiện về quản lý rủi ro an toàn thực phẩm và thú y, cũng như vấn đề về dinh dưỡng sẽ được quan tâm nhiều hơn. 

Nhiều thách thức mà nông nghiệp Việt Nam phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi thành nông nghiệp dựa trên hiệu suất và đem lại giá trị gia tăng cao không thể xử lý chỉ bằng cách thay đổi chính sách nông nghiệp. 

Kiểm soát hành chính về đất đai và sự tham gia trực tiếp của Nhà nước trên cả thị trường đầu vào và đầu ra là những yếu tố quan trọng bảo đảm sự ổn định và phát triển đồng đều trong ngành trong những thập kỷ qua. Tuy nhiên, những chính sách đó nếu tiếp tục được duy trì, có thể làm chậm quá trình chuyển đổi ngành nông nghiệp theo những định hướng cần thiết để bắt nhịp với một nền kinh tế thu nhập trung bình trong quá trình hiện đại hóa. Những thay đổi về dân số và thay đổi khác trong nước, bên cạnh những thay đổi về môi trường bên ngoài, sẽ làm tăng áp lực và nâng cao tầm quan trọng của mục tiêu hiện đại hóa ngành. Quản lý tiểu tiết những quy trình thay đổi đó là việc rất khó và rốt cuộc sẽ làm cản trở khả năng vượt khó vươn lên vốn có của nông dân Việt Nam, đồng thời gây cản trở cho đầu tư vào hệ thống thực phẩm nông nghiệp. 

Điều đó cũng đòi hỏi Chính phủ cần đầu tư theo cách có lựa chọn hơn, tập trung vào các dịch vụ và hàng hóa công cơ bản. Ở Việt Nam, điều đó có nghĩa là tiếp tục đầu tư cho hạ tầng nông thôn, các hệ thống cảnh báo sớm về thời tiết, các dịch vụ địa chính, nghiên cứu nông nghiệp cơ bản, báo cáo và giám sát về sâu bệnh và dịch hại, tăng cường năng lực thể chế để thực thi hiệu lực các quy định về môi trường và đầu vào, hoặc hỗ trợ các hệ thống chứng nhận, thanh tra an toàn thực phẩm và các chức năng quản lý Nhà nước liên quan, cung cấp mạng lưới an sinh. Bên cạnh đó, bằng cách tập trung cải thiện môi trường thuận lợi, Chính phủ cần có khả năng sử dụng ngân sách làm đòn bẩy để khuyến khích nông dân và khu vực tư nhân đẩy mạnh đầu tư. 

Chính phủ cần thoái lui khỏi một số lĩnh vực đã và đang chủ động đảm nhiệm, như nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo bằng các giúp chỉ ra những thành phần tốt nhất trong đa số các bên được coi là quan trọng trong đổi mới sáng tạo. 

Chính phủ có thể giảm đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp nếu hỗ trợ hiệu quả để tư nhân đầu tư, bao gồm cả qua các quan hệ hợp tác công-tư. Qua đó Chính phủ có thể dành nguồn lực để thực hiện tốt các chức năng quản lý Nhà nước quan trọng, như về an toàn thực phẩm, sức khoẻ cây trồng vật nuôi, môi trường. Chính phủ sẽ tiếp tục có vai trò trong việc nâng cao hiệu suất và bền vững trong sử dụng nước và đất đai, duy tu bảo dưỡng hạ tầng nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động tập thể, và một số yếu tố khác nhằm giúp giảm thiểu rủi ro và chi phí giao dịch cho người nông dân và các doanh nghiệp thực phẩm nông nghiệp. 

Trên thực tế, hỗ trợ hiện đại hóa nông nghiệp luôn nhận được sự quan tâm của Chính phủ. Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2/2017 đã có quyết sách đột phá, đó là giao Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp rà soát, đề xuất sửa đổi chính sách đất đai, tạo thuận lợi cho tích tụ, tập trung ruộng đất, mở rộng hạn điền cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn trong quý III năm 2017; nghiên cứu sửa đổi quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất, hướng dẫn chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất nông nghiệp, trong đó bao gồm tài sản hình thành trên đất của các dự án nông nghiệp công nghệ cao, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm vay vốn ngân hàng trong tháng 3/2017. 

Tại Hội nghị “Giải pháp phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long” tổ chức tại An Giang ngày 15-3, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng tái khẳng định, phải đổi mới trong canh tác, sản xuất, chế biến lúa gạo bằng thể chế chính sách, mô hình phát triển, mở rộng hạn điền phù hợp. Cần những cánh đồng mẫu lớn được hình thành bằng mô hình liên kết, hợp đồng thuê đất lâu dài, hài hòa lợi ích. (Danviet.vn 24/3) Về đầu trang

“Bảo hộ quyền” để thu hút đầu tư tư nhân vào lâm nghiệp

Dự thảo Luật BVPTR sửa đổi đã có những thay đổi đáng chú ý, đặc biệt là về thu hút đầu tư tư nhân vào rừng và lâm nghiệp. Tuy nhiên, để thu hút đầu tư tư nhân vào hai lĩnh vực đặc biệt quan trọng này, điều cần thiết nhất là cần bảo hộ quyền cho các nhà đầu tư. Để làm được điều này, các quy định cụ thể của Luật sửa đổi nên được xây dựng theo hướng ghi nhận cơ bản quyền của chủ rừng và hạn chế sự can thiệp của Nhà nước vào các quyết định của chủ rừng. 

Điều 7 Dự thảo quy định về sở hữu rừng với 2 hình thức là sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Việc quy định rừng tự nhiên (kể cả nguyên sinh và thứ sinh đều thuộc sở hữu Nhà nước là hợp lý, phù hợp với Hiến pháp. Tuy nhiên, cần thống nhất cách hiểu quy định này. Theo đó, đây chỉ là quy định nhằm xác lập quyền sở hữu ban đầu đối với rừng chưa có chủ. Giả sử rừng tự nhiên đã được Nhà nước xác lập quyền sở hữu, sau đó Nhà nước chuyển giao quyền sở hữu cho cá nhân, tổ chức khác thì rừng đó chuyển thành sở hữu tư nhân. Cá nhân, tổ chức này có toàn quyền của chủ sở hữu tương tự như rừng trồng chứ không có bất kỳ hạn chế nào vì lý do đó là rừng có nguồn gốc tự nhiên. 

Cách tiếp cận này cũng tương tự như các tài nguyên khác như khoáng sản hay tài nguyên nước. Đối với khoáng sản, khi còn ở trong lòng đất thì thuộc sở hữu Nhà nước nhưng khi Nhà nước đã cấp phép và doanh nghiệp khai thác thì chuyển thành sở hữu của doanh nghiệp. Nước thiên nhiên thuộc sở hữu của Nhà nước nhưng khi Nhà nước đã cấp phép và doanh nghiệp đã đóng chai, bán nước đó thì thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Điều này cần được minh định trong toàn bộ nội dung của luật.

Dự thảo hiện nay đang yêu cầu phải lập quy hoạch phát triển bền vững đối với cả ba loại rừng: phòng hộ, đặc dụng và sản xuất, kể cả rừng thuộc sở hữu Nhà nước và thuộc sở hữu tư nhân. Điều này chỉ nên áp dụng đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng thuộc sở hữu Nhà nước. Riêng đối với rừng sản xuất thuộc sở hữu tư nhân thì không lập quy hoạch bởi rừng sản xuất thuộc sở hữu tư nhân (không có chức năng phòng hộ hay đặc dụng) thì được hiểu rằng không có ảnh hưởng đến lợi ích công cộng, vì vậy tư nhân có toàn quyền trong việc trồng, phát triển, bảo vệ, khai thác mà không phụ thuộc vào quy hoạch Nhà nước. Quy hoạch chỉ nên dừng lại ở những nội dung có liên quan đến (1) tài sản nhà nước và (2) lợi ích công cộng. Lợi ích công cộng được thể hiện thông qua việc phân loại rừng theo chức năng phòng hộ và đặc dụng. Nằm ngoài hai yếu tố này thì nên để xã hội tự do, Nhà nước không nên can thiệp. 

Mặc dù các quyền của chủ rừng đối với rừng sản xuất hiện nay đã được Dự thảo ghi nhận, song rất nhiều các quyền này vẫn ghi “theo quy chế quản lý rừng”. Mặc dù tinh thần chung của Dự thảo và Quyết định 49/2016/QĐ-TTg về quy chế quản lý rừng sản xuất là khuyến khích mạnh mẽ việc đầu tư vào rừng sản xuất, tuy nhiên, các quy định cụ thể lại không thể hiện được điều này. Đặc biệt, tại Quyết định 49 vẫn có quy định yêu cầu chủ rừng sản xuất phải có hồ sơ thiết kế khai thác rừng được Sở NNPTNT phê duyệt hàng năm trước khi được khai thác rừng của chính mình. Quy định này cần được xóa bỏ và việc ghi nhận quyền tự chủ quyết định khai thác gỗ trên rừng sản xuất thuộc sở hữu tư nhân cần được ghi nhận trong Luật.

Có thể sẽ có ý kiến cho rằng việc trao quyền quá lớn cho chủ rừng là sự buông lỏng quản lý của Nhà nước. Ví dụ, trao quyền khai thác gỗ cho chủ rừng sản xuất mà không có sự kiểm soát của Nhà nước sẽ dẫn đến tình trạng chủ rừng chặt phá rừng quá mức để khai thác lấy gỗ, làm suy giảm diện tích rừng của Việt Nam. Tuy nhiên, cần thống nhất quan điểm rõ ràng rằng, chỉ khi nào Nhà nước trao toàn bộ quyền sở hữu, hưởng dụng mới có thể khiến chủ rừng yên tâm đầu tư. 

Một trong những yếu tố quan trọng để nhà đầu tư quyết định bỏ vốn là họ phải nhìn ra cơ hội rút lui khỏi thị trường khi cần thiết. Đơn cử như việc gửi tiền vào ngân hàng, nếu người dân biết rằng rút tiền ra có thể sẽ gặp khó khăn thì họ sẽ hạn chế gửi tiền. Hay như trước đây Nhà nước có quy định muốn mổ trâu, mổ bò phải xin phép với lý do bảo vệ sức kéo. Tuy nhiên, chính quy định này làm giảm động lực đầu tư nuôi trâu bò của người dân và doanh nghiệp bởi họ không thể chắc chắn rằng khi cần tiền gấp họ có thể bán con trâu, con bò đó để mổ thịt. Đầu tư vào rừng cũng vậy, nếu các quyền của chủ rừng như bán lại, sang nhượng, quyền thế chấp để vay vốn, quyền khai thác lâm sản (cả gỗ và lâm sản ngoài gỗ), quyền cho thuê lại phục vụ du lịch, nghiên cứu khoa học… không được pháp luật ghi nhận và bảo vệ thì chính là sự cản trở nhà đầu tư bỏ tiền vào lâm nghiệp. 

Việc ghi nhận vững chắc quyền tự quyết định việc khai thác gỗ của chủ rừng sản xuất không chỉ có ý nghĩa thu hút đầu tư mà còn giúp cung cấp thêm gỗ cho các hoạt động chế biến, thị trường gỗ từ các khu rừng sản xuất. Điều này làm giảm áp lực lên hoạt động khai thác gỗ trái phép tại các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, nơi mà cây gỗ có ý nghĩa cho lợi ích công cộng. 

Thực tế nhiều doanh nghiệp phản ánh là việc xin Sở NNPTNT phê duyệt kế hoạch khai thác gỗ rừng sản xuất hàng năm rất khó khăn. Do chỉ tiêu độ che phủ rừng là một trong những chỉ tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương nên các Sở NNPTNT thường tìm cách gây khó khăn khi doanh nghiệp có nhu cầu khai thác tài sản của chính mình. Chính sách này những tưởng theo hướng “khuyến khích trồng, hạn chế chặt” rừng sản xuất sẽ có tác dụng tăng độ che phủ rừng. Nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp và người dân đã chuyển hướng đầu tư sang lĩnh vực khác thay vì đầu tư vào rừng vì quyền rút lui khỏi thị trường của họ bị gây khó dễ. 

Như đã đề cập trong phần quan điểm tiếp cận, chỉ khi nào các quyền tài sản của chủ rừng được bảo đảm thì cá nhân, tổ chức mới có thể yên tâm đầu tư vào rừng. Dự thảo đã cho phép giao rừng cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình cá nhân (Điều 21.2), tuy nhiên, kể cả khi đã được giao thì quyền của chủ sở hữu rừng vẫn bị hạn chế rất nhiều, chưa thực sự thông thoáng để thu hút đầu tư. 

Cần thống nhất cách tiếp cận rằng rừng phòng hộ là rừng có mục đích chính là để phòng hộ chống lũ lụt, chắn gió, chắn cát, chắn sóng, bảo vệ môi trường… Xuất phát từ mục đích đó, cách thức tốt nhất để quản lý loại rừng này là dựa vào quy chuẩn kỹ thuật áp dụng cho từng khu rừng phòng hộ. Cụ thể: 

Mỗi khu rừng phòng hộ để đáp ứng chức năng của mình (chắn gió, chắn cát…) thì cần trồng loại cây nào, chiều cao tối thiểu bao nhiêu, mật độ cây tối thiểu là bao nhiêu… Các quy chuẩn mang tính tối thiểu này sẽ do Nhà nước ban hành áp dụng cho từng khu rừng, phù hợp với nhu cầu phòng hộ của khu vực xung quanh. 

Mỗi khu rừng phòng hộ sẽ được tổ chức đấu giá/đấu thầu để giao cho tổ chức, cá nhân làm chủ sở hữu, hoặc giao cho cộng đồng dân cư địa phương. Đối với cánh rừng nào không có tổ chức, cá nhân nhận đấu giá/đấu thầu hoặc rừng phòng hộ đặc biệt quan trọng không thể giao cho tư nhân (được cụ thể hóa bằng các tiêu chí rõ ràng) thì chính quyền địa phương tổ chức việc bảo vệ. 

Tổ chức, cá nhân làm chủ rừng lúc này có toàn quyền (không phải xin phép cơ quan nhà nước) thực hiện các hoạt động bảo vệ, phát triển, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê môi trường, thế chấp, góp vốn, khai thác lâm sản (kể cả gỗ), hưởng dụng, thụ hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng từ khu rừng đó… miễn là luôn duy trì điều kiện của khu rừng cao hơn so với quy chuẩn tối thiểu được ban hành bởi cơ quan nhà nước. 

Quy định này được bảo đảm thực thi bằng các biện pháp thanh tra, kiểm tra thường xuyên của chính quyền địa phương và các chế tài hành chính, hình sự. Có thể gia cố thêm các biện pháp bảo đảm thực thi thông qua điều kiện của người được giao hoặc các quy định về ký quỹ, mua bảo hiểm bắt buộc…

Một cơ chế như vậy sẽ cho phép tối đa hóa quyền của chủ rừng đối với tài sản mình được giao quản lý, đồng thời vẫn gắn chặt trách nhiệm của chủ rừng trong việc duy trì chức năng phòng hộ của rừng. Như vậy, người dân và doanh nghiệp có thể yên tâm nhận giao rừng phòng hộ của Nhà nước để khai thác mà chỉ cần bảo đảm các mục tiêu phòng hộ đã được đề ra trong quy chuẩn kỹ thuật. 

Quy định về thu hồi rừng trong Dự thảo hiện nay được thiết kế tương tự như quy định về thu hồi đất trong Luật Đất đai. Mặc dù rừng luôn gắn liền với đất, song cách tiếp cận này không hợp lý xuất phát từ sự khác biệt căn bản giữa hai loại tài nguyên là đất đai và rừng. 

Thứ nhất, về bản chất, đất đai là tài nguyên bề mặt, nên toàn bộ đất đai là tài nguyên thiên nhiên, kể cả đất do con người chủ động lấn biển thì cũng là tài nguyên thiên nhiên, nên toàn bộ đều thuộc sở hữu toàn dân, không có sở hữu tư nhân. Còn rừng có thể là rừng tự nhiên, hoặc rừng trồng, do đó, tồn tại rừng thuần túy thuộc sở hữu tư nhân. 

Thứ hai, đất đai có đặc tính không tiêu hao, việc khai thác sử dụng đất không làm suy chuyển diện tích bề mặt của tài nguyên đất đai. Ngược lại, rừng là tài sản tiêu hao, một số hình thức khai thác rừng như tham quan du lịch, nghiên cứu khoa học, khai thác lâm sản ngoài gỗ không làm tiêu hao rừng, nhưng việc khai thác gỗ hoặc sự cố cháy rừng sẽ làm tiêu hao tài sản. Nếu rừng đã bị khai thác lấy gỗ thì không thể thu hồi. 

Do đó, việc giao, cho thuê và thu hồi rừng có nhiều nét giống với việc quản lý công sản là công trình xây dựng hơn là so với đất đai. Vì vậy, các quy định về giao rừng, cho thuê rừng và thu hồi rừng cần được chỉnh sửa như sau: Nếu việc chuyển sở hữu từ nhà nước sang tư nhân không xác định thời hạn mà không cho phép khai thác gỗ rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng) thì cần được gọi là giao rừng. Nếu việc chuyển sở hữu từ nhà nước sang tư nhân có xác định thời hạn mà không cho phép khai thác gỗ thì gọi là cho thuê rừng. Nếu việc chuyển sở hữu từ nhà nước sang tư nhân mà cho phép khai thác toàn bộ gỗ rừng (rừng sản xuất), kể cả có thời hạn hay không có thời hạn thì phải được gọi là bán rừng. Thời hạn ở đây chỉ có ý nghĩa là thời hạn giao đất, cho thuê đất với mục đích sử dụng đất là trồng rừng chứ không thể hiểu là thời hạn cho thuê rừng. Các hợp đồng/quyết định giao, cho thuê, bán rừng này cần được thể hiện đúng bản chất của các giao dịch giao, cho thuê, bán tương ứng. 

Tương tự, đối với việc thu hồi rừng, cũng cần xác định chính xác bản chất của việc này. Nếu việc chuyển sở hữu từ tư nhân sang nhà nước đối với rừng đã được giao, cho thuê như trên thì được gọi là thu hồi rừng. Nếu việc chuyển sở hữu từ tư nhân sang nhà nước đối với rừng không thuộc trường hợp trên thì phải được gọi là trưng mua rừng, và thực hiện theo pháp luật về trưng mua tài sản. 

Rõ ràng, đối với trường hợp rừng thuộc sở hữu của tư nhân thuộc hai trường hợp (1) do tư nhân đầu tư phát triển hoặc (2) tư nhân đã nhận chuyển nhượng từ Nhà nước mà được phép khai thác gỗ thì đây thuần túy là tài sản của tư nhân và chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài sản của mình. Việc Nhà nước muốn lấy lại vì bất kỳ lý do gì thì đều phải được coi là trưng mua tài sản. (ThienNhien.Net  26/3, tác giả Nguyễn Minh Đức – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) Về đầu trang

Tây Ninh tăng cường công tác phòng, chống cháy rừng tại các khu vực trọng điểm

Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh cho biết, để chủ động phòng chống cháy rừng trong mùa khô năm 2017, các Ban quản lý rừng trên địa bàn tỉnh đã xây dựng trên 100km đường băng cản lửa, 12 biển cấp dự báo cháy rừng, 100 biển báo cấm lửa, 12 máy cày chuyên dụng chữa cháy, 36 bồn nước và trên 200 máy cắt cỏ, bình xịt phun nước các loại . Theo Kiểm lâm Tây Ninh, từ đầu mùa khô đến nay, toàn tỉnh chưa có vụ cháy rừng nào xảy ra. Tây Ninh hiện có trên 63.500 ha rừng các loại gồm trên 45.700ha rừng tự nhiên và gần 17.800ha rừng trồng. Hiện nay bắt đầu mùa khô, ít mưa, nắng nóng kéo dài, nguy cơ cháy rừng được xác định đang ở cấp VI. (Đại Biểu Nhân Dân Online 26/3) Về đầu trang

Phát huy vai trò của các chủ rừng trong công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng

Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Sông Lò (Quan Sơn) được giao quản lý, bảo vệ gần 10.428 ha rừng và đất rừng; trong đó có trên 6.695 ha rừng phòng hộ, 3.727,59 ha rừng sản xuất, nằm trên địa bàn của 4 xã, 1 thị trấn của huyện Quan Sơn và 1 xã của huyện Lang Chánh. 

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về giao khoán rừng đến từng hộ gia đình, tất cả diện tích rừng thuộc BQL đều được giao khoán cho 361 hộ gia đình và hộ công nhân của BQL để chăm sóc, bảo vệ rừng, phát triển kinh tế từ nghề rừng đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Việc phát huy vai trò của chủ rừng (hộ nhận khoán) đã giúp cho BQL rừng phòng hộ Sông Lò triển khai có hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng (BVR&PTR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR). Ngoài ra, hằng năm BQL rừng phòng hộ Sông Lò phối hợp với hạt kiểm lâm các huyện Quan Sơn, Lang Chánh và chính quyền địa phương mở các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật về trồng rừng, PCCCR cho các chủ rừng là hộ gia đình; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các hộ nhận khoán ký cam kết thực hiện nghiêm các quy định BVR, PCCCR. Cùng với đó, lãnh đạo BQL chỉ đạo các trạm quản lý BVR trực thuộc kiểm tra diện tích giao khoán đồng thời phối hợp với các hộ nhận khoán xử lý vật liệu cháy ở diện tích có nguy cơ cháy cao, tra dặm một số diện tích rừng trồng. 

Ông Ninh Văn Sơn ở xã Trung Tiến, một hộ nhận khoán, cho biết: Gia đình ông nhận khoán hơn 180 ha đất rừng của BQL rừng phòng hộ Sông Lò, trong đó có 120 ha trồng các loại cây theo Dự án 661. Hiện nay, gia đình ông có 148 ha luồng hỗn giao với keo, tận dụng dưới tán rừng, gia đình ông đầu tư chăn nuôi thêm bò, dê, lợn, gà. Năm 2016, doanh thu từ kinh tế rừng mang lại cho gia đình hơn 500 triệu đồng, trừ chi phí thu lãi trên 200 triệu đồng. Ông Sơn khẳng định, việc giao đất giao rừng đã tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Mặt khác, tạo được thói quen định canh định cư, giảm được hiện tượng phá rừng làm rẫy, vì vậy công tác BVR, PCCCR cũng được nâng cao. 

Ông Nguyễn Hoàng Anh, Giám đốc BQL rừng phòng hộ Sông Lò, cho biết: Qua các chính sách và chủ trương giao đất, giao rừng của Nhà nước đã tạo điều kiện cho người dân phát huy được vai trò của mình trong phát triển kinh tế hộ gia đình, góp phần nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng, tạo ra sản phẩm hàng hóa góp phần xóa đói, giảm nghèo. Vì vậy, những năm qua diện tích rừng do BQL rừng phòng hộ Sông Lò quản lý không xảy ra cháy rừng, an ninh rừng được đảm bảo, tỷ lệ che phủ rừng thuộc BQL đạt 89%. (Báo Thanh Hóa 25/3) Về đầu trang

Quảng Ngãi: Gần 17.000 ha ứng dịch vụ môi trường rừng

Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Trần Ngọc Căng vừa có Quyết định số 225/QĐ-UBND phê duyệt với tổng diện tích gần 17.000 ha diện tích rừng tham gia cung ứng dịch vụ môi trường rừng năm 2017 trên địa bàn tỉnh. 

Theo đó, có 7 lưu vực tham gia cung ứng dịch vụ môi trường rừng  gồm: Lưu vực thủy điện Định Bình 1.877 ha; Hà Nang 768,60 ha; Cà Đú 1.464,07 ha; Đăkđrinh 1.877,83 ha; Huy Măng 696,46 ha; Nước Trong 9.816,94 ha; Sông Riềng 357,95 ha. 

Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng triển khai thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2017 theo quy định hiện hành. 

Ngày 24/9/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có hiệu lực. Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện là 20 đồng/kWh điện thương phẩm. Nghị định số 147/2016/NĐ-CP ngày 02/11/2016 của Chính Phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, theo đó, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện từ 20 đồng/kWh tăng lên mức 36 đồng/kWh điện thương phẩm. Sản lượng điện để tính tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là sản lượng điện của các cơ sở sản xuất thủy điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện. Số tiền phải chi trả DVMTR trong kỳ hạn thanh toán được xác định bằng sản lượng điện trong kỳ hạn thanh toán (kWh) nhân với mức chi trả DVMTR tính trên 1kWh (36 đồng/kWh). 

Việc chi trả DVMTR có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác bảo vệ rừng và bảo vệ môi trường sống, mang lại lợi ích cho các hộ dân sinh sống trong khu vực có các công trình thủy điện để họ tham gia giữ rừng, tăng thêm nguồn thu cho các địa phương, bảo vệ tốt hơn các cánh rừng phòng hộ trên lưu vực các nhà máy thủy điện, giữ nguồn nước để sản xuất điện. (Tài Nguyên & Môi Trường 26/3) Về đầu trang

Hiệu quả từ chương trình cho vay trồng rừng

Năm 2005, Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam đã hỗ trợ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) triển khai dự án phát triển ngành lâm nghiệp nhằm giúp những hộ gia đình ở các tỉnh miền Trung vay vốn và hỗ trợ kỹ thuật để trồng rừng. Sau 12 năm, tổng dư nợ cho vay dự án đạt gần 500 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt hơn 323 tỷ đồng với hơn 103 nghìn lượt khách hàng vay vốn; giúp phủ kín hơn 76 nghìn héc-ta rừng trồng sản xuất. 

Hơn chục năm trước, gia đình ông Cao Dựa, ở xã Xuân Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế thuộc diện hộ nghèo, quanh năm đi làm thuê mà cuộc sống vẫn rất khó khăn. Năm 2005, gia đình ông được tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách của Chính phủ thông qua NHCSXH, cụ thể là chương trình cho vay Dự án phát triển ngành lâm nghiệp để trồng 4,2ha rừng. Sau 5 năm kể từ khi vay vốn của dự án, gia đình đã có thu nhập 90-100 triệu đồng mỗi héc-ta sau khi trừ chi phí cây giống, phân bón, lãi suất. Gia đình ông đã trả hết nợ cho NHCSXH và còn đủ tiền xây nhà mới, mua sắm đồ dùng thiết yếu, bảo đảm học hành cho con cái... 

Chương trình cho vay trồng rừng của NHCSXH là một trong những kênh tín dụng xanh, tạo điều kiện cho hàng chục nghìn hộ dân tiếp cận vốn vay lãi suất thấp và hỗ trợ kỹ thuật để trồng rừng góp phần bảo tồn thiên nhiên, chống biến đổi khí hậu, cải thiện sinh kế, giúp thoát nghèo bền vững. Đây là dự án cho vay trồng rừng thương mại đầu tiên tại Việt Nam do WB tài trợ, với hai trọng tâm chính là: Phát triển trồng rừng sản xuất ở một số tỉnh miền Trung Việt Nam và bảo tồn thiên nhiên. Dự án được triển khai tại 6 tỉnh: Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Thanh Hóa, Nghệ An từ năm 2005. Dự án đã có tác động tích cực về nhiều mặt, gồm: Phát triển kinh tế-xã hội, môi trường, phát triển ngành lâm nghiệp. Hoạt động của dự án cũng đã đóng góp tích cực vào thực hiện chiến lược tăng trưởng toàn diện, giảm nghèo của Việt Nam. Mặt khác, dự án đã tạo ra mô hình quản lý phát triển rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, qua đó đẩy mạnh bảo vệ môi trường, cải thiện sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng, đẩy mạnh đóng góp của lâm nghiệp vào nền kinh tế đất nước... 

Bà Vích-to-ri-a Qua-qua (Victoria Kwakwa), cựu Giám đốc Quốc gia của WB tại Việt Nam nhấn mạnh: Chúng tôi hy vọng rằng, những bài học kinh nghiệm hay của dự án này sẽ được nhân rộng, nhờ thế nhiều hộ gia đình Việt Nam sẽ được tiếp cận đến tín dụng cũng như những phương pháp trồng rừng hiện đại. Mặc dù dự án kết thúc vào tháng 3-2015 nhưng quỹ quay vòng do NHCSXH quản lý sẽ tiếp tục vận hành thêm 20 năm nữa. Rất nhiều hộ gia đình sẽ còn được tiếp cận nguồn tín dụng này. 

Hiện tại, NHCSXH đang bắt đầu triển khai chương trình cho vay hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 9-9-2015 của Chính phủ nhằm mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020. Theo đó, đối tượng vay vốn trồng rừng sản xuất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số (không phân biệt giàu nghèo), hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ có thực hiện một trong các hoạt động bảo vệ rừng và phát triển rừng được vay vốn từ NHCSXH để trồng rừng, chăn nuôi với lãi suất 1,2%/năm. Chương trình này sẽ tạo ra bước đột phá giúp hộ đồng bào dân tộc thiểu số vay vốn, phát triển ngành nghề dịch vụ nông-lâm trường; trong đó ngoài phần vốn vay, các hộ còn được Nhà nước hỗ trợ phương thức đầu tư, cấp đất để đầu tư và có đầu ra cho sản phẩm. Điều này sẽ mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế hộ gia đình nói chung và hộ đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, nâng cao chất lượng cuộc sống, làm chuyển biến nhận thức, cách thức làm ăn cho hộ dân tộc thiểu số, đặc biệt là đối với các địa bàn của huyện nghèo, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa. 

Tuy nhiên, theo ông Dương Quyết Thắng, Tổng giám đốc NHCSXH, khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu nguồn vốn để thực hiện chương trình này. Do ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, trong năm 2015 và 2016, một số chương trình tín dụng chính sách dành cho hộ dân tộc thiểu số do NHCSXH thực hiện chưa được cấp vốn đủ và kịp thời. Thời gian tới, kỳ vọng các cấp chính quyền, bộ, ngành, địa phương quan tâm hỗ trợ nguồn vốn cho NHCSXH để kịp thời cho vay, từ đó đáp ứng mong mỏi của hộ vay, giúp hộ đồng bào dân tộc thiểu số an tâm vay vốn làm ăn, phát triển sản xuất, làm giàu trên chính quê hương của mình; góp phần hạn chế tình trạng di dân hay người dân bỏ làng, bỏ thôn đi làm ăn xa và các tệ nạn xã hội khác. (Quân Đội Nhân Dân Online 26/3) Về đầu trang

Khánh Hòa: Cần phục hồi rừng ngập mặn Tuần Lễ

Rừng ngập mặn Tuần Lễ (xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa) với khu rừng bần cổ thụ thuộc loại quý hiếm ở nước ta. Thế nhưng, những năm gần đây, tình trạng người dân chặt phá rừng làm nhà, trồng dừa và làm đìa nuôi tôm đã khiến nhiều diện tích rừng bị tàn phá, đòi hỏi các cấp chính quyền phải vào cuộc để bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái rừng. 

Ông Huỳnh Ngọc Liêm - Chủ tịch UBND xã Vạn Thọ cho biết: “Rừng ngập mặn tại thôn Tuần Lễ đang ở mức báo động từ môi trường sinh thái cho đến sự sinh trưởng của các loại cây. Hiện nay, số cây bần lâu năm còn sống trong rừng ngập mặn là 127 cây, giảm gần 3/4 tổng số lượng cây đã được kiểm kê vào năm 2002. Trong khi đó, diện tích rừng cũng bị thu hẹp, còn lại khoảng 11,8ha, giảm 1,7 lần so với trước đây”. 

Theo chỉ dẫn của người dân địa phương, chúng tôi đã có chuyến thực tế tại khu rừng ngập mặn này. Đi dọc theo tuyến đường Cổ Mã - Đầm Môn, không khó để bắt gặp những căn nhà kiên cố, những vườn dừa xiêm nằm xen lẫn trong những vạt rừng. Đi theo những đoạn đường xuyên qua rừng ngập mặn để ra đìa tôm, trước mắt chúng tôi có không ít cây bần cổ thụ bị ngã đổ, chết khô từ bao giờ; dưới chân rừng đước nước tù đọng, các loại túi ni lông và rất nhiều rác thải vương vãi khắp nơi. 

Bà Phạm Thị Trin - người dân thôn Tuần Lễ cho hay: “Nguyên nhân khiến rừng bần, đước bị chết dần là do các đìa tôm phát triển tự phát ở bên ngoài, khiến cho rừng ngập mặn bị “bao vây”, không còn nước thủy triều ra vào nên trở thành những ao tù đọng, các đìa tôm xả thải, rác thải đổ vào rừng bần. Ngoài ra, việc người dân lấn chiếm đất rừng ngập mặn để cơi nới nhà cửa, trồng dừa xiêm cũng khiến cho diện tích rừng bị thu hẹp đáng kể”. Theo bà Trin, hiện nay, hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, do nơi trú ngụ bị thu hẹp nên nguồn lợi thủy sản dưới tán rừng ngập mặn cũng không còn, các loài chim, cò không tìm về đây nữa. Điều này còn ảnh hưởng đến sinh kế của một số hộ dân địa phương vốn trước đây sống dựa vào khai thác tôm, cua trong rừng ngập mặn. Trong khi đó, lãnh đạo UBND xã Vạn Thọ nhận định, nguyên nhân chủ yếu khiến các cây bần cổ thụ chết, gãy là do mưa bão. 

Được biết, khoảng năm 2001 - 2002, UBND tỉnh đã giao trách nhiệm cho huyện Vạn Ninh và xã Vạn Thọ tiến hành trồng và bảo vệ khu rừng ngập mặn tại thôn Tuần Lễ. UBND huyện Vạn Ninh cũng đã lập bản đồ quy hoạch hơn 20ha, phân vùng, kiểm kê số cây còn sống và treo biển để quản lý. Ngày ấy, UBND huyện chỉ đạo phá bỏ các đường ngang để nước thủy triều vào trong rừng và giao cho các hộ trong thôn quản lý rừng, dưới hình thức mỗi hộ 0,5ha với mức hỗ trợ chăm sóc 40.000 đồng/tháng. Thế nhưng, việc làm trên chỉ được duy trì vài năm rồi không ai còn mặn mà nữa. UBND xã Vạn Thọ cũng đã thành lập 6 tổ bảo vệ rừng với hơn 30 người (chủ yếu là người dân), mỗi năm cấp 18 triệu đồng cho các tổ hoạt động. Thời gian đầu, các thành viên tổ bảo vệ rừng hoạt động tích cực nhưng sau đó thưa dần. 

Theo ông Huỳnh Ngọc Liêm, UBND xã Vạn Thọ đã xử lý hơn 20 trường hợp vi phạm lấn chiếm rừng để trồng dừa, cơi nới nhà cửa. Trong bảo vệ rừng ngập mặn, ngoài trách nhiệm của các tổ quản lý, bảo vệ, UBND xã còn phân công các thành viên UBND xã phải thường xuyên kiểm tra, quản lý để bảo vệ rừng ngập mặn. Đến thời điểm này, các cây bần cổ thụ không còn chết, không phát sinh thêm trường hợp lấn chiếm nào. Để bảo vệ, khôi phục rừng ngập mặn Tuần Lễ, bên cạnh trách nhiệm quản lý, bảo vệ của địa phương, ông Liêm đề nghị: “Nhân việc mở rộng đường Cổ Mã - Đầm Môn, UBND tỉnh nên có chính sách hỗ trợ, di dời các hộ sống trong rừng ngập mặn. Sau đó sẽ tiến hành khôi phục, bảo vệ rừng”. 

Trong lần khảo sát rừng ngập mặn Tuần Lễ mới đây, ông Lê Xuân Thân - Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh nhận định: “Cơ chế bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn Tuần Lễ hiện nay, huyện giao cho xã, xã khoán cho các hộ dân nhưng không quản lý được, kinh phí cũng ít nên không hiệu quả. Do đó, hệ sinh thái rừng ngập mặn tại đây đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vấn đề quan trọng nhất để bảo vệ rừng ngập mặn trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay là chính quyền và người dân phải cùng vào cuộc. Qua thực tế, việc đìa tôm phát triển bên ngoài, bên trong là rừng ngập mặn, bên trong nữa là khu dân cư là rất bất cập, phát sinh nhiều vấn đề khiến hệ sinh thái rừng ngập mặn bị tổn hại nghiêm trọng. Về vấn đề quy hoạch, cần xác định lại, khu vực nào dành cho bảo vệ, phục hồi rừng ngập mặn, khu vực nào nuôi tôm, khu vực nào trồng dừa, có như thế mới có thể bảo vệ được rừng ngập mặn Tuần Lễ”. Cũng theo ông Lê Xuân Thân, sau khi khảo sát, Thường trực HĐND tỉnh sẽ có văn bản đề nghị UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo việc bảo vệ và khôi phục rừng ngập mặn trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó có Vạn Ninh. (Báo Khánh Hòa 26/3) Về đầu trang

Thanh Hóa: Quan Sơn tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng

Hiện nay, thời tiết đang bước vào thời kỳ khô hanh tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra cháy rừng. 

Trước thực trạng trên, Hạt Kiểm lâm huyện Quan Sơn đã tham mưu cho UBND huyện xác định vùng trọng điểm cháy rừng với tổng diện tích trên 4.220 ha thuộc các xã Sơn Hà, Sơn Điện, Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Thủy, Mường Mìn, Na Mèo; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các chủ rừng, người dân trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) ở 13/13 xã, thị trấn; tham mưu cho chính quyền địa phương cách thức phối hợp, huy động lực lượng chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”; tổ chức quản lý việc xử lý thực bì trong canh tác trên đất dốc của người dân. Bên cạnh đó, tổ chức cho 254 hộ đồng bào Mông ở các bản Xía Nọi, Mùa Xuân (xã Sơn Thủy), Ché Lầu (xã Na Mèo) ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR; tăng cường phối hợp với các cụm bản 2 huyện Sầm Tớ, Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn (Lào) trong việc PCCCR. 

Do làm tốt công tác bảo vệ, PCCCR nên nhiều năm gần đây, trên địa bàn huyện Quan Sơn không xảy ra cháy rừng, an ninh rừng luôn ổn định và giữ vững. (Báo Thanh Hóa 26/3) Về đầu trang

Lột da thú rừng ngay cạnh… trạm kiểm lâm

Từ thú rừng thông thường đến các loài quý hiếm nằm trong sách đỏ, khi qua tay cơ sở chuyên lột da này đã “biến” thành những con thú nhồi bông bắt mắt. Điều kỳ quặc là cơ sở này hoạt động ngay cạnh một trạm kiểm lâm nhưng không bị phát giác. 

Những ngày giữa tháng 3, tôi có dịp theo chân Đ. (25 tuổi, trú tại huyện Hướng Hóa, Quảng Trị)- một người mê chơi thú rừng nhồi bông- tiếp cận một cơ sở chuyên lột da, nhồi bông thú rừng. Quá bất ngờ vì bên trong cơ sở trá hình này, chưng bày rất nhiều động vật quý hiếm, cấm săn bắt, tàng trữ. 

Cơ sở chuyên lột da, nhồi bông thú rừng trên nằm ở xã Hướng Tân, huyện Hướng Hóa. Trước lúc đến đây, Đ. có giới thiệu qua về cơ sở này, rằng bất kể con gì từ 0 chân đến 4 chân, ông chủ L. đều lột da, nhồi bông được và đảm bảo rất chất lượng. Rằng ở huyện Hướng Hóa đây là cơ sở duy nhất lột da thú rừng uy tín, rẻ và tồn tại nhiều năm nay. “Từ trăn, rắn cho đến chồn, hươu, voọc, khỉ… cơ sở này đều lột da, nhồi bông được tất, giá cả dao động từ 300- 1000000 đồng/con. Muốn đặt thú rừng đã nhồi bông thì đến cơ sở này, ông L. sẽ thu xếp nếu có thể”, Đ nói. 

Trong cơ sở của ông L. chưng rất nhiều thú rừng đã được lột da, nhồi bông. Đáng nói là, ngay cả những động vật thuộc loại quý hiếm như: Voọc chà vá chân nâu, mang, chồn hương, mèo rừng… cũng được ông L. nhận làm cho khách. Ông L. giải thích giá cả để lột da, nhồi bông một con thú rừng còn tươi tùy thuộc vào cân nặng và chủng loại. Ví như loài mang rừng, tùy theo cân nặng sẽ được nhận thuộc với giá từ 600- 1000000 đồng/con; chồn, mèo rừng từ 300- 500 ngàn/con; trăn, rắn từ 400- 800 ngàn/con… Thời gian để hoàn thành một thú rừng đã nhồi bông khoảng từ 1- 4 tháng, tùy theo kích cỡ và độ khó trong quá trình “giải phẩu”. Ông L. Cho biết thêm, ở huyện Hướng Hóa chỉ có gia đình ông làm nghề này. Ngoài ra, có một số cơ sở hành nghề này ở các huyện miền xuôi Quảng Trị. Hôm đó, ông L. giao cho Đ. một bao gai chứa 1 con mang, 2 con chồn và 1 con mèo rừng (số thú rừng này Đ. mang đến) đã lột da, nhồi bông với giá một triệu rưỡi, không thêm bớt. 

Theo Đ., loại thú rừng mang đi lột da, nhồi bông thường trong tình trạng bị thương, chết do mắc bẫy và quá trình vận chuyển. Loại thú như vậy được các thương lái, thợ săn bán với giá rất rẻ so với lúc chúng còn sống. Đ. thường mua thú rừng mang đi lột da, nhồi bông từ các thương lái đường rừng và những thợ săn thú trên đỉnh Trường Sơn. “Đa số những người mang động vật rừng đi lột da, nhồi bông đều đem về chưng cất ở nhà hoặc biếu xén, chứ không bày bán. Từ khâu mua động vật rừng cho đến lúc mang đến cơ sở này đều phải kín đáo, không thì sẽ bị lực lượng chức năng tịch thu, xử phạt. Đối với những động vật quý hiếm nếu bị lộ thì vào tù “bốc lịch” như chơi”, Đ. nói một cách từng trải. 

Điều làm chúng tôi băn khoăn là cơ sở chuyên lột da, nhồi bông động vật  rừng này lại nằm cách Trạm kiểm lâm Hướng Tân, huyện Hướng Hóa khoảng... 70 mét. Qua tiếp xúc, nhiều người dân tỏ ra bức xúc đặt câu hỏi liệu có sự tiếp tay của cán bộ kiểm lâm trong việc này hay không? Nếu không có thì tại sao cơ sở này lại tồn tại, hoạt động ngay sát nách trạm kiểm lâm lâu nay nhưng không bị phát hiện? 

Chúng tôi mang theo những câu hỏi của người dân để đặt lên bàn làm việc của ông Võ Văn Sử, Trưởng Hạt Kiểm lâm Hướng Hoá. Ông Sử cho hay, trên địa bàn hiện không có tình trạng này, trước kia thì có nghe anh em báo cáo có một người nhận làm thuê việc này (tức lột da, nhồi bông thú rừng), nhưng do không có nguồn hàng, nên đã nghỉ nghề hơn 3 năm nay. Sau khi tiếp nhận thông tin phản ánh từ chúng tôi, ông Sử nói: “Trước tình hình này, tôi sẽ yêu cầu đơn vị tăng cường kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện những hành vi tàng trữ, mua bán động vật trái phép chúng tôi sẽ kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Còn nếu phát hiện có tình trạng tiếp tay, sẽ xử lý kỷ luật ngay”. (Phununews 24/3) Về đầu trang

http://phununews.vn/doi-song/lot-da-thu-rung-ngay-canh-tram-kiem-lam-148513/

Vụ "lâm tặc" chống người thi hành công vụ ở Cà Mau: Đủ cơ sở để khởi tố vụ án

Theo báo cáo kết quả điều tra của Công an tỉnh Cà Mau đã đủ cơ sở ra quyết định khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” để điều tra làm rõ hành vi của những người liên quan.

Liên quan đến vụ việc “lâm tặc” chống đối người thi hành công vụ khiến một cán bộ quản lý rừng bị thương xảy ra ngày 7/3 tại xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau như TTXVN đã đưa tin. Đến nay, theo báo cáo kết quả điều tra của Công an tỉnh Cà Mau đã đủ cơ sở ra quyết định khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” để điều tra làm rõ hành vi của những người liên quan. 

Theo đó, ngay khi UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo, Giám đốc Công an tỉnh đã yêu cầu Công an huyện Ngọc Hiển phối hợp với các lực lượng chức năng, tiến hành điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm. Đến thời điểm này, lực lượng chức năng đã xác định được 8 đối tượng có liên quan trong vụ “chống người thi hành công vụ”. 

Qua đó, đã đủ căn cứ chứng minh được 2 đối tượng trực tiếp điều khiển phương tiện vận chuyển lâm sản trái phép đâm vào phương tiện của Tổ tuần tra Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I. Theo kết quả khám nghiệm hiện trường, lực lượng đã tiến hành thu giữ 3 cây cưa dùng để cưa cây rừng và 4 khúc đước do các đối tượng cưa được trong lâm phần quản lý của Tiểu khu 141. 

Theo điều tra ban đầu, khoảng 12 giờ ngày 7/3, các đối tượng là Danh Dương, Lê Văn Lên, Lê Thái Ngọc, Lê Quốc Báo, Lê Ấu Vân, Trần Văn Thạnh, Nguyễn Văn Tâm và 1 người chưa xác định được tên đi trên 5 phương tiện đến tiểu khu 141 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang 1 (có trụ sở ở xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn) chặt cây rừng. 

Nhóm đối tượng này cưa được 6 cây đước cắt ra làm nhiều khúc, mang xuống phương tiện để chở về Chợ Thủ B, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển. 

Nhưng khi chạy đến cửa biển Bồ Đề thì phát hiện Tổ tuần tra bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I đang đi tuần tra. Dù Tổ tuần tra ra hiệu dừng các phương tiện trên để tiến hành kiểm tra, nhưng nhóm đối tượng trên liền tăng ga, bỏ chạy. 

Tổ tuần tra đuổi theo đến đoạn cách vàm Xẻo Ngang khoảng 200 mét (ấp Chợ Thủ B, xã Tam Giang Tây) thì Dương và Tâm điều khiển 2 phương tiện quay ngược lại, sau đó đâm thẳng vào mé trái phương tiện của Tổ tuần tra, khiến anh Hồng Văn Minh đang điều khiển phương tiện bị thương. Đến khi Tổ tuần tra chạy đến Trạm Biên phòng Bồ Đề xin lực lượng hỗ trợ thì nhóm đối tượng mới bỏ chạy. 

Làm việc với Cơ quan điều tra, các đối tượng Dương, Lên, Thạnh thừa nhận hành vi của mình nhưng hiện Tâm và Dương đã đi khỏi địa phương. 

Hiện vụ việc đang được tiếp tục làm rõ. (BNEWS.VN 25/3) Về đầu trang

Hạ cây sưa 200 tuổi giá 50 tỷ: Bán sang Trung Quốc?

''Trước hết cứ để ở kho, xưởng, sau đó tính toán theo lượng tiền khách đặt hàng, nếu họ chịu được thì mình mới làm'' 

Trao đổi với báo chí ngày 26/3, ông Nguyễn Văn Hùy, một đại gia ở làng gỗ nổi tiếng Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh) - người vừa mua thành công cây sưa 200 tuổi tại xã Hà Mãn (Thuận Thành) với giá 24,5 tỷ đồng cho biết, sau những rắc rối liên quan, để có được gỗ cây sưa, ngoài số tiền đã đấu giá thì ông đã hỗ trợ nhân dân thêm 1,5 tỷ đồng. 

''Trước Tết, tôi cũng làm công tác tư tưởng, xuống họp, động viên và sau đó hỗ trợ nhân dân 1,5 tỷ đồng để ăn Tết. Thời gian trước, địa phương không động viên, giải thích cho người dân cặn kẽ nên nảy sinh mâu thuẫn'', ông Hùy nói trên VTC. 

Vị đại gia gỗ Đồng Kỵ cho biết thêm, chất lượng gỗ của cây sưa 200 tuổi tốt. Ngoài ra, việc khai thác gỗ ngày 25/3 cũng không gặp khó khăn. 

''Chất lượng gỗ bình thường, không thối, không hà gì cả cũng như mình nhận định trước đó. Thậm chí lượng gỗ còn hụt với khối lượng mình tính toán nhưng vì còn cành ngọn nên cũng không có vấn đề gì'', ông Hùy chia sẻ. 

Ông Huỳ cho biết đang sợ lỗ vì thời gian đấu giá đã lâu sau đó cây mới được chặt hạ. 

Đại gia gỗ Đồng Kỵ cũng khẳng định, việc mua bán cây sưa 200 tuổi ở Bắc Ninh được thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Ông cũng không thường mua gỗ sưa mà chỉ mua những cây gỗ được phép khai thác bán. 

Trước việc dư luận cho rằng gỗ của cây sưa này sẽ được bán đi Trung Quốc, ông Hùy cho biết: ''Trước hết cứ để ở kho, xưởng, sau đó tính toán theo lượng tiền khách đặt hàng, nếu họ chịu được thì mình mới làm''. 

Như đã thông tin trước đó, sáng 25/3, hàng chục người với cưa máy, máy xúc và ô tô đã tiến hành chặt hạ cây sưa 200 tuổi ở đình làng Đông Cốc dưới sự chứng kiến của chính quyền xã Hà Mãn cùng người dân trong thôn.

 Một người dân địa phương cho biết, khi việc chặt hạ bắt đầu được tiến hành ở đình làng, một số người dân ra bày tỏ sự không đồng tình vì giá bán 24,5 tỷ đối với cây sưa 200 năm này là thấp hơn nhiều so với mức 49 tỷ mà một người đã mua trước đó.

 Đây cũng là nguyên nhân gây ra vụ xô xát trong cuộc họp tiếp dân ngày 7/12/2016, tại đình thôn Đông Cốc, xã Hà Mãn (Thuận Thành, Bắc Ninh) khiến một thanh niên bị đánh chảy máu ở đầu. 

Sau đó, UBND huyện Thuận Thành, đã quyết định tạm dừng khai thác cây gỗ sưa tại đình làng Đông Cốc, xã Hà Mãn nhằm đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. 

Trong khi đó, lãnh đạo xã Hà Mãn khẳng định, việc chặt hạ cây sưa đã nhận được sự đồng thuận của cấp trên. Số tiền bán cây sưa này sẽ được đưa riêng cho thôn dùng để tu bổ di tích đình làng Đông Cốc, xây dựng các công trình, cơ sở của thôn.

 Trao đổi với Đất Việt,  ông Nguyễn Hữu Mạo - Giám đốc Ban Quản lý Di tích tỉnh Bắc Ninh khẳng định rằng, việc bán cây sưa 200 tuổi ở Đình Đông Cốc đã được Bộ VH-TT&DL và UBND tỉnh Bắc Ninh đồng ý cho địa phương đấu giá. Chi cục kiểm lâm cũng đã có văn bản xác định rằng cây sưa 200 tuổi này đã chết. 

Theo Ban quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh, cây sưa đỏ 200 tuổi nằm trong khuôn viên Đình Đông Cốc, đây là một di tích đã được xếp hạng, hơn nữa đây là loại cây nằm trong sách đỏ muốn khai thác và sử dụng phải được sự đồng thuận, cho phép của các cấp có thẩm quyền. Nếu được khai thác thì phải sử dụng nguồn tài chính trên đúng mục đích. (Đất Việt Online 26/3) Về đầu trang

Rừng Đắk Nông bị phá nghiêm trọng, chính quyền chậm vào cuộc

Tiếp nhận mẫu tượng Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Sinh Sắc Hàng chục hecta rừng (chủ yếu là rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 1685, địa phận xã Quảng Sơn và Đắk Ha, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông) vừa mới bị phá trắng, đốt trụi. 

Các đối tượng phá rừng còn sử dụng sử dụng phương tiện cơ giới đắp đập lớn để tích trữ nước tại khu vực rừng bị phá. Đáng nói là lực lượng có trách nhiệm ở địa phương lại chậm trễ trong việc ngăn chặn, xử lý. 

Ghi nhận tại hiện trường của phóng viên TTXVN tại Đắk Nông cho thấy, khu vực rừng bị phá nằm cách Quốc lộ 28, đoạn qua xã Đắk Ha, khoảng 7km và nằm trong vùng lõi rừng, khuất sau nhiều ngọn đồi. Hình ảnh tại hiện trường còn nguyên dấu vết tro tàn cho thấy rừng mới vừa bị đốt; một số khoảng rừng chưa bị chặt phá cũng bị ảnh hưởng bởi việc đốt rừng của lâm tặc. 

Theo một số hộ dân sống xung quanh khu vực, các đối tượng phá rừng đã “triển khai” hai đợt chặt phá, phát dọn. Đợt một là thời điểm trước Tết Nguyên đán 2017 vừa qua, tức thời điểm khu vực này vừa dứt hẳn mưa. 

Đợt hai là cách đây khoảng hơn 20 ngày. Lần nào họ cũng triển khai hàng chục người, chia làm nhiều nhóm khác nhau, mỗi nhóm “phụ trách” một quả đồi để chặt phá, phát dọn. 

Bên cạnh đó, tại khu vực nằm giữa 2 quả đồi lớn nhất, các đối tượng đã đưa xe cơ giới vào tận hiện trường để làm một con đập thủy lợi với diện tích khá lớn, được xây dựng kiên cố và đã tích được hàng trăm khối nước. 

 Theo một số người dân xung quanh khu vực này, việc chặt phá, đốt rừng và xây dựng đập thủy lợi kéo dài hàng tháng liền. Tuy nhiên, do nằm khuất sau những quả đồi nên khi các đối tượng đốt trụi rừng thì nhiều hộ dân mới phát hiện.

 Bà H (xin được giấu tên), một người dân sống cách khu vực rừng vừa bị phá khoảng 2 km cho biết rừng mới bị đốt trong các ngày 22 - 23/3. Người dân xung quanh ai cũng biết vì mù mịt khói. 

Lúc đầu ai cũng tưởng cháy rừng nhưng khi hỏi ra mới biết là không phải. Còn ông M. (cũng xin được giấu tên) cũng cho biết do nhiều người dân ở đây không biết rừng bị chặt phá do bị khuất bởi các ngọn đồi; việc phá rừng được tổ chức khá bài bản, trên quy mô lớn, từ việc chặt phá đến việc vạt cả ngọn đồi để đắp đập nước. 

Theo Hạt Kiểm lâm huyện Đắk G’Long, diện tích rừng bị phá nằm ở khoảnh 6, khoảnh 8, tiểu khu 1685, thuộc địa phận xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông. Đơn vị này đang tiến hành việc kiểm tra, đo đếm diện tích, thực trạng rừng bị phá. 

Ông Lê Văn Hà, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đắk G’Long cho biết trước đây mới xác định được tọa độ rừng bị phá, do rừng này nằm xen giữa rừng trồng, đất trống (ý nói rừng đã bị phá trắng - PV), hiện trạng thì lại không còn gì do đã bị đốt trụi nên việc xác định rất khó khăn. Ông Hà cũng thông tin thêm là cán bộ Hạt Kiểm lâm Đắk G’Long đang kiểm tra, đo đạc tại hiện trường... (TTXVN/Tin Tức Online 27/3; Bnews 27/3; Dân Trí 26/3) Về đầu trang

http://baotintuc.vn/thoi-su/rung-dak-nong-bi-pha-nghiem-trong-chinh-quyen-cham-vao-cuoc-20170327070634546.htm

Xử lý nghiêm việc tùy tiện phá rừng phòng hộ ở Bến Tre

Bến Tre có khoảng 7.833 ha rừng phòng hộ, tập trung ở ba huyện ven biển Thạnh Phú, Ba Tri và Bình Ðại; trong đó, có 2.584 ha rừng đặc dụng phòng hộ. Tuy nhiên, nhiều bạn đọc phản ánh, việc quản lý và khai thác rừng trên địa bàn tỉnh còn lỏng lẻo, tùy tiện, khiến nhiều cán bộ bị kỷ luật. 

Thực hiện kiến nghị của Ðoàn công tác Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; căn cứ chỉ đạo của Tỉnh ủy và những tài liệu, chứng cứ trong vụ án vi phạm các quy định về bảo vệ rừng xảy ra tại Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre, vừa qua, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bến Tre đã ra quyết định phục hồi điều tra vụ án. Theo đó, tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với năm đối tượng, gồm: Trần Văn Hùng, nguyên Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, hiện là chuyên viên Văn phòng Ðiều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Võ Văn Ngàn, nguyên Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre, đã về hưu; Nguyễn Văn Ðoàn, Chi cục trưởng Kiểm lâm Bến Tre; Tiết Kim Chiêu, nguyên Phó Trưởng phòng Khoa học - Kỹ thuật (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre), hiện là Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Bến Tre và Nguyễn Ðức Dục, nguyên chuyên viên Phòng Khoa học - Kỹ thuật (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre), hiện là Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Bến Tre để điều tra, xử lý hành vi vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Ngày 3-3-2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã tống đạt quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bị can đối với Trần Văn Hùng và Võ Văn Ngàn; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với ba bị can còn lại là Nguyễn Văn Ðoàn, Tiết Kim Chiêu, Nguyễn Ðức Dục. 

Tháng 4-2012, Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre đã có tờ trình gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre xin được khai thác tận thu khoảng 2.000 m3 gỗ đước ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập mặn xã Thạnh Hải (Thạnh Phú, Bến Tre) với lý do "rừng bị sâu bệnh tiến công". Vào thời điểm đó, ông Võ Văn Ngàn là Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre. 

Sau đó, Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre đã chỉ định đơn vị khai thác là doanh nghiệp tư nhân gỗ Tuấn An, xã Thạnh Phong (Thạnh Phú, Bến Tre) đốn hạ khoảng 2.000m3 gỗ, trị giá 1,5 tỷ đồng, nộp vào ngân sách nhà nước. Lúc đó, ông Trần Văn Hùng giữ chức Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre ký phê duyệt thiết kế khai thác tận thu và ban hành công văn cho phép Ban Quản lý rừng Bến Tre chỉ định doanh nghiệp gỗ Tuấn An đốn hạ rừng đước. 

Trong quá trình khai thác có đơn tố cáo Ban quản lý rừng có dấu hiệu tiêu cực, không minh bạch khi chỉ định đơn vị khai thác và các cơ quan chức năng vào cuộc. Vào thời điểm đó, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bến Tre khẳng định: Khu vực Ban Quản lý rừng Bến Tre chỉ định doanh nghiệp gỗ Tuấn An đốn hạ rừng đước "không thấy có dấu hiệu của sâu bệnh". 

Khi sự việc xảy ra và có đơn tố cáo thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre phối hợp với Phòng PC46, Công an Bến Tre và các cơ quan chức năng vào cuộc tiến hành điều tra. Khi đó, Sở Tài chính Bến Tre xác định chủ trương bán tài sản của Nhà nước tại Ban Quản lý rừng Bến Tre không qua đấu giá là không đúng các quy định của pháp luật. Hội đồng Thẩm định giá và bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre còn phát hiện Ban Quản lý rừng Bến Tre bán chỉ định cho doanh nghiệp tư nhân gỗ Tuấn An khai thác 25,2 ha rừng đước có tổng giá trị thiệt hại gần 2,1 tỷ đồng. Vụ việc sau đó dừng lại ở mức kiểm điểm, xử lý về mặt Ðảng và chính quyền với những cán bộ, viên chức và cá nhân liên quan. Ðến năm 2015, ngành nông nghiệp tiến hành khắc phục hậu quả bằng cách tổ chức trồng lại cây đước trên diện tích rừng bị đốn hạ và đến nay đang phát triển tốt. 

Tháng 5-2016, khi Ðoàn công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng về kiểm tra, giám sát các vụ án, sai phạm nổi cộm tại Bến Tre, vụ việc một lần nữa được lật lại và công an đã khởi tố, bắt giam những người liên quan để điều tra. Sự việc đang được các cơ quan chức năng điều tra. 

"Sự việc này để lại bài học về việc kiểm tra, tăng cường trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu; về xác định trách nhiệm, kỷ cương và tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực thi công vụ. Vì vậy, trong thực hiện Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy, chúng tôi chỉ đạo tập trung thực hiện nội dung này trong toàn Ðảng bộ" – Ông Phan Văn Mãi -  Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Bến Tre). (Nhân Dân điện tử 27/3; Nhân Dân 27/3, tr4) Về đầu trang

http://nhandan.com.vn/bandoc/item/32428002-xu-ly-nghiem-viec-tuy-tien-pha-rung-phong-ho-o-ben-tre.html

Rừng Sơn Trà chết oan!

Trong vài ngày giữa tháng 3, Đà Nẵng liên tiếp phát hiện ba vụ xây dựng không phép “khủng” mà dư luận gọi đúng tên “con voi chui lọt lỗ kim”. 

Đầu tiên là dãy nhà diện tích đến hơn 1.500m2 được xây trên đất kho Viet May thuộc Tập đoàn Hoàng Anh - Gia Lai; tiếp đến một tổ hợp khách sạn, nhà ở cao đến 10 tầng lừng lững mọc lên không phép ngay mặt tiền thành phố; và cuối cùng là 40 nền biệt thự ngang nhiên phá tan cả một khoảnh rừng nhiều hecta trong Khu bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN) Sơn Trà. Lạ lùng thay, cả ba “con voi” bất hợp pháp này gần như đều do người dân phát hiện, sau đó các cơ quan chức năng mới vội vã đến lập biên bản, xử phạt… 

Đặc biệt vụ xây dựng 40 nền móng nhà trong Khu BTTN Sơn Trà đã gây “sốc” nặng nề trong lòng “thành phố đáng sống”. Chủ tịch UBND thành phố Huỳnh Đức Thơ trực tiếp đưa một đoàn gồm các cơ quan liên quan cùng gần 80 nhà báo trung ương địa phương đến tận hiện trường, đếm từng cái móng bê tông; báo chí thì ào ào quay phim, chụp ảnh… 

Có thể nói rằng trong lịch sử hoạt động kiểm tra xây dựng ở Đà Nẵng, chưa bao giờ có một lực lượng hùng hậu đa ngành như vậy tham gia. Tuy vậy kết quả của cuộc kiểm tra thì dường như ngược lại mong đợi của người dân - 40 nền móng xây dựng không phép đã không có quyết định tháo dỡ, mà chỉ được UBND cấp quận “đuổi gà qua đám” bằng quyết định xử phạt vi phạm hành chính 40 triệu đồng (bình quân 1 nền móng 1 triệu đồng). 

Tiếp theo đó, ngày 22 - 23.3, người dân lại một phen mừng, rồi lại khá hụt hẵng khi Thường vụ Thành uỷ Đà Nẵng yêu cầu Ban Cán sự Đảng UBND thành phố báo cáo các vụ việc xây dựng trái phép “khủng” mới phát hiện. Và sau buổi báo cáo này, một thông báo được phát đi: “Kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân đã để xảy ra vụ việc liên quan đến xây dựng không phép, trái phép trên địa bàn thành phố trong thời gian qua…”. Làm rõ rồi, liệu Thành uỷ Đà Nẵng có đủ oai “ra roi” không, hay lại để chính quyền thành phố “phạt cho tồn tại” như nhiều vụ việc xây dựng trái phép khác đã từng diễn ra trên địa bàn ? 

Đó là mối băn khoăn lớn của người dân thành phố. Điều quan trọng hơn hết, cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một thông tin nào từ phía chính quyền Đà Nẵng cho biết, tổng diện tích rừng khu bảo tồn, trong khu vực Cty biển Tiên Sa đã phá để xây dựng 40/86 biệt thự là bao nhiêu; chế tài xử lý trả lại số cây rừng đã mất như thế nào và tác động đến môi trường khu bảo tồn thiên nhiên ra sao… 

“Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển Khu Du lịch quốc gia Sơn Trà, TP. Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, theo đó, diện tích khu vực tập trung phát triển khu du lịch quốc gia là 1.056ha. So với 3.871 ha trong phạm vi bảo tồn mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2014 thì quy hoạch mới năm 2016 đã lấy thêm của khu bảo tồn 488 ha. Điều đó có nghĩa gần ¼ diện tích rừng Sơn Trà - lá phổi xanh của Đà Nẵng, tương lai sẽ tiếp tục chết oan với sự phát triển của ngành du lịch. Và hơn hết, với 3,5 triệu lượt khách đến Khu BTTN Sơn Trà /năm (đến 2025), nhiều loài thú đặc hữu có danh sách trong sách Đỏ thế giới như voọc chà vá chân nâu sẽ không còn đất sống. (Lao Động điện tử 27/3; Lao Động 27/3, tr3) Về đầu trang

Bắc Kạn: Nhiều cây gỗ nghiến liên tiếp bị chặt hạ tại Vườn Quốc gia Ba Bể

Trong thời gian gần đây, tại Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể đã liên tiếp xảy ra các vụ cây gỗ nghiến hàng trăm năm tuổi bị đốn hạ trong khi lực lượng chức năng không hề hay biết cho tới khi có sự phản ánh của báo chí và người dân. 

VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là 1 trong 3 khu Ramsa của Việt Nam, Khu Di sản của ASEAN với hệ thực vật phong phú, trong đó có một số loài gỗ quý hiếm như nghiến, đinh, kim giao... được bảo vệ nghiêm ngặt. Tuy nhiên, hiện nay, tình trạng rừng cấm bị lâm tặc tàn phá đang diễn ra phổ biến và đặc biệt nghiêm trọng. Nhiều cây nghiến hàng trăm năm tuổi bị đốn hạ không thương tiếc với khối lượng hàng 100m3, đã gây nhiều bức xúc cho người dân địa phương. 

 Sau khi có phản ánh của người dân và báo chí, ngày 22/3/2017, Tổ kiểm tra (Tổ công tác) tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Ba Bể và Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn dưới sự phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn và Chi cục Kiểm lâm vùng I cùng đại diện Kiểm lâm VQG Ba Bể đã tiến hành lập biên bản làm việc có nội dung: Vào hồi 14 giờ ngày 16/3/2017, qua kiểm tra tại hiện trường khu vực bị khai thác trái phép thuộc khu vực Lùng Mấu, xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, Tổ Công tác đã xác định có 01 gỗ nghiến (nhóm IIA) mới bị chặt hạ, lá vẫn còn tươi theo đúng như báo chí phản ánh, khối lượng bị thiệt hại là 4,09m3 (khối lượng thiệt hại theo hồ sơ của Hạt Kiểm lâm VQG xác định ngày 26/12/2016) vị trí cây chặt hạ có tọa độ… Căn cứ kết quả kiểm tra thì báo chí phản ánh có một cây gỗ nghiến mới bị chặt hạ gần lòng hồ là đúng sự thật nhưng thời điểm chặt hạ không đúng ngày 5/3/2017. 

Vào hồi 11 giờ ngày 17/3/2017 tại hiện trường khu vực thuộc thôn Khuổi Hao, xã Cao Thượng, huyện Ba Bể (Lô ơ, K1, TK61 bản đồ giao khoán bảo vệ rừng), Tổ Công tác đã kiểm tra và phát hiện có 01 cây gỗ nghiến (nhóm IIA) mới bị chặt hạ, lá còn tươi, thời điểm chặt hạ khoảng giữa tháng 2/2017 với khối lượng thiệt hại là 24,88m3. Cây gỗ nghiến này đã được Hạt Kiểm lâm VQG Ba Bể lập hồ sơ chuyển giao cho Công an huyện Ba Bể xử lý theo quy định của pháp luật. 

9 giờ ngày 20/3/2017, tại hiện trường khu vực Lũng Duốc, thôn Pác Ngòi, xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, Tổ Công tác đã tiến hành kiểm tra theo hồ sơ do Hạt kiểm lâm VQG Ba Bể lập ngày 22/10/2016 có 01 cây gỗ nghiến bị chặt hạ với khối lượng 61,026m3. Hiện đã tổ chức khám nghiệm hiện trường và ra quyết định khởi tố vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật. 

Tiếp đó, lúc 9 giờ 30 phút ngày 21/3/2017, tại hiện trường khu vực Ao Tiên, thuộc thôn Bản Cám, xã Nam Mẫu, Tổ Công tác tiếp tục phát hiện có 3 cây gỗ nghiến đã bị chặt hạ trái phép với tổng khối lượng là 20,252m3 (thời điểm chặt hạ là vào ngày 20/3/2016) chưa được lập hồ sơ báo cáo theo quy định. 

Tuy nhiên, theo xác minh thực tiễn của PV Báo Thanh tra ngày 25/3/2017 tại hiện trường 3 cây gỗ nghiến bị chặt hạ cho thấy: Vết nhựa từ gốc cây vẫn đang chảy, lá cây nghiến còn xanh. Quan sát bằng mắt thường có thể thấy cây gỗ nghiến mới bị lâm tặc đốn hạ khoảng một tháng trở lại đây vì lá cây còn xanh và bám trên cành. Trong khi đó, theo biên bản của Kiểm lâm VQG lập, 3 cây gỗ này bị chặt hạ từ tháng 3/2016, đến nay đã 1 năm trôi qua lá cây phải rụng hết trơ trụi, gốc cây bắt đầu phải bị mục do nắng mưa? 

Ngoài những vết nhựa vẫn đang rỉ chảy ra từ gốc cây, một điều quan trọng cho nhất do cây có đường kính lớn hàng mét nên khi bị chặt đổ đã làm vỡ những khối đá tai mèo tại đây. Những mảnh đá vỡ này vẫn còn sáng nguyên thể hiện cây mới bị chặt hạ chứ không phải được chặt từ một năm trước đó. 

Vị trí cây nghiến bị chặt hạ chỉ cách mặt hồ Ao Tiên khoảng mấy chục mét rất gần nơi người dân bán hàng rong tại khu vực thắng cảnh du lịch này và 3 thân cây nghiến bị đổ xuống tạo thành một khoảng rừng xơ xác rất dễ phát hiện thế nhưng không hiểu sao lực lượng Kiểm lâm VQG Ba Bể không hề hay biết cho tới khi có Tổ Công tác vào kiểm tra, (trong khi rất nhiều người dân lại biết?). 

Trước đó, trả lời báo chí về việc có hay không việc VQG Ba Bể vẫn để xảy ra tình trạng lâm tặc chặt phá rừng, ông Bùi Văn Quang, quyền Giám đốc kiêm Hạt trưởng Kiểm lâm Ba Bể thừa nhận: "Tình trạng chặt phá rừng mà đặc biệt chặt hạ cây nghiến vẫn diễn ra và không có dấu hiệu thuyên giảm. Từ Tết Nguyên đán Đinh Dậu cho đến nay (tháng 3/2017), chúng tôi đã xác định đã có 6 cây nghiến bị đốn hạ. Sau khi phát hiện ra sự việc, Ban Quản lý đã làm báo cáo gửi UBND tỉnh”. 

Theo báo cáo của Ban Quản lý VQG Ba Bể (tính đến tháng 11/2016), có 13 cây bị chặt hạ. Tổng số lượng lên tới 107,8m3, trong đó có 9 cây nghiến thuộc nhóm IIA và 4 cây thuộc nhóm gỗ thông thường. 

Cụ thể trong tháng 9/2016, có 3 cây gỗ nghiến bị chặt hạ với 10,98m3 gỗ. Đến ngày 20/10/2016, quá trình kiểm tra lại phát hiện tại khu vực Lùng Duốc có 1 cây nghiến bị chặt hạ với tổng khối lượng lên tới 61,026m3 gỗ. Theo lời ông Quang thì cây nghiến ở khu vực Lùng Duốc có tuổi đời trên 200 năm. 

Báo Thanh tra sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc. (Thanh Tra 26/3) Về đầu trang

http://thanhtra.com.vn/xa-hoi/moi-truong/nhieu-cay-go-nghien-lien-tiep-bi-chat-ha-tai-vuon-quoc-gia-ba-be_t114c1143n116811

 

Tràn lan lấn chiếm đất rừng ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu

Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu là khu rừng tự nhiên hiếm có còn lại của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, với tính đa dạng sinh học cao. Về môi trường, đây là khu rừng nằm sát biển với lợi ích lớn trong chắn gió bão, đảm bảo bình yên cho cuộc sống của hàng chục nghìn người dân các xã ven biển huyện Xuyên Mộc. 

Tuy nhiên, nhiều năm trở lại đây, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu bị tàn phá nghiêm trọng do người dân phá rừng lấy gỗ, tự ý lấn chiếm đất rừng để canh tác trồng trái phép các loại cây nông nghiệp. Điều đáng nói là tình trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ đã diễn ra trong nhiều năm liền, nhưng chính quyền địa phương, cơ quan chức năng của huyện, tỉnh vẫn chưa xử lý được dứt điểm. 

Theo báo cáo của Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đơn vị này hiện quản lý bảo vệ là hơn 10.880 ha, nằm trên phạm vi hành chính của 5 xã, thị trấn thuộc huyện Xuyên Mộc. Tổng trữ lượng rừng bảo tồn có trên 590.530 m3; trong đó rừng tự nhiên chiếm trên 581.300 m3. 

Ông Nguyễn Đăng Quan - Phó Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu cho biết, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phá rừng tuy đã giảm so với những năm trước nhưng vẫn diễn biến phức tạp. Các hộ dân đã sử dụng đất lấn chiếm trồng các loại cây nông nghiệp, công nghiệp, cây ăn trái… từ trước năm 1978 đến trước ngày 1/7/2014 là hơn 1.570 ha chiếm 15,08% diện tích của Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu. Trong số đó, diện tích đã xác định được người sản xuất, canh tác là hơn 1.274 ha/583 hộ, chiếm 81,14% tổng diện tích đất các hộ đã sử dụng ổn định và lấn chiếm đất rừng, còn lại hơn 296 ha là diện tích chưa xác định được người canh tác, chiếm 18,86%. Đa số người lấn chiếm đất rừng cư ngụ tại xã Bình Châu. 

Cũng theo ông Quan, vì có rất nhiều đường ra vào Khu Bảo tồn nên khó quản lý. Việc lấn chiếm đất rừng đã được Khu bảo tồn tiến hành nhiều biện pháp ngăn chặn, lập biên bản xử lý song vẫn không ngăn chặn được do thực tế nhu cầu cần đất sản xuất của người dân. Ngoài ra, công tác xử lý của các ngành chức năng không triệt để, chưa có vụ lấn chiếm đất rừng nào bị xử lý đến nơi đến chốn, mang tính răn đe, làm gương nên thời gian gần đây việc lấn chiếm xảy ra phổ biến hơn. 

Qua tìm hiểu, thời gian qua mặc dù chính quyền địa phương cũng như ngành chức năng đã nhiều lần làm việc với các hộ vi phạm, song những hộ dân lấn chiếm không chịu nhận khoán rừng mà khẳng định đây là đất của họ do cha, ông đã khai phá từ trước giải phóng. 

Trường hợp của ông Nguyễn Văn Thành, ấp Thèo Nèo, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc là một ví dụ. Gia đình ông Thành hiện đang canh tác trên diện tích khoảng hơn 1 ha đất rừng của Khu Bảo tồn để trồng sắn. Theo ông Thành, đây là đất của cha ông khai phá từ năm 1985, sau đó kiểm lâm lấy để trồng tràm. Sau cơn bão năm 2006 tràm bị chết, gia đình ông trở lại trồng sắn trên mảnh đất này, vì cho rằng đây là đất của cha ông khai phá. 

Còn hơn 3 ha đất rừng thuộc khoảng 10, tiểu khu 23 của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu do hộ ông Lê Văn Hùng ở ấp Khu 1, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc lấn chiếm để ở và trồng cây ăn quả. Theo ông Hùng, mảnh đất này vào những năm trước giải phóng do ông Nguyễn Hữu Hóa, người dân địa phương khai phá, trồng trọt. Đến năm 2009 thì bán lại cho một người ở tỉnh Bình Dương, sau đó người này dùng mảnh đất đó để cúng dường cho Thiền viện Tuệ Quang ở Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh. Sau này, cha ông Hùng được Thiền viện giao phụ trách quản lý mảnh đất, đến đời ông Hùng thì cất nhà và tiếp tục sản xuất trồng trọt. 

Còn tại khoảnh 9, tiểu khu 24 của Khu bảo tồn (thuộc địa phận xã Bình Châu) từ năm 2015 cũng đã bị gia đình ông Phan Văn Trung tự ý dùng lưới B40 làm hàng rào lấn chiếm với diện tích hơn 4.300 m2 đất rừng. Khoảng 10 năm trước gia đình ông Trung cũng đã tự ý lấn chiếm đất rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu để trồng điều. Năm 2016, UBND xã Bình Châu đã nhiều lần vận động hộ này rời đi nơi khác nhưng không được. Sau đó UBND xã đã ra quyết định cưỡng chế, các cơ quan chức năng của huyện Xuyên Mộc cũng đã nhiều lần vào cuộc nhưng vẫn chưa xử lý được hộ lấn chiếm đất rừng này. 

Việc lấn chiếm đất rừng canh tác trái phép cho thấy một bộ phận người dân chưa ý thức được vai trò quan trọng của việc bảo vệ và phát triển rừng, mà chỉ thấy lợi trước mắt khi khai phá rừng để trồng cây nông nghiệp. 

Nhằm khắc phục thực trạng lấn chiếm đất rừng, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu đã xây dựng Đề án “Ngăn chặn, khắc phục tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu giai đoạn 2015 - 2020”. 

Mục tiêu của dự án là ngăn chặn, khắc phục cơ bản hiện trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu. Đồng thời, phát huy chức năng phòng hộ của đất rừng tự nhiên ven biển, ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực. 

Cũng theo ông Nguyễn Đăng Quan, với mục tiêu trên, giải pháp mà đề án đưa ra để thực hiện di dời hết số hộ dân lấn chiếm đất rừng phòng hộ là sẽ tiến hành hỗ trợ, đền bù tùy theo đối tượng, tùy theo thời gian canh tác của người dân. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương sẽ có chính sách đào tạo nghề, chính sách về khuyến nông, hỗ trợ đất canh tác, cây trồng, nhà ở phù hợp với thực tế của từng đối tượng. Cách làm này nhằm đảm bảo đời sống của người dân đang lấn chiếm đất rừng, để họ có cuộc sống ổn định không còn quay lại lấn chiếm đất rừng để canh tác. 

Bên cạnh đó, Ban Quản lý Khu Bảo tồn cũng đề xuất xây dựng hàng rào bảo vệ rừng. Vì qua thực tế, một số khu vực phía Nam quốc lộ 55 gồm các tiểu khu 25, 26, 27, 28, 29 và 30 đã được xây dựng hàng rào bảo vệ rừng đã phát huy hiệu quả, ngăn chặn được tình trạng xâm nhập trái phép. Theo đó, Ban Quản lý khi bảo tồn đề xuất xây dựng hàng rào bảo vệ rừng bao quanh phần còn lại phía Bắc gồm các tiểu khu 22, 23, 24 với chiều dài khoảng 32 km. 

Ngoài ra, đề án này cũng nêu rõ để bảo vệ rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, ngoài những việc tiến hành như trên, quan trọng nữa là tiến hành khoán bảo vệ rừng và trông lại rừng trên diện tích đã bị lấn chiếm… 

Hy vọng đề án này sẽ sớm được triển khai, để Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu sớm được khôi phục, phát huy chức năng phòng hộ của đất rừng tự nhiên ven biển, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực. (Tin Tức 24/3; TTXVN 24/3) Về đầu trang

http://baotintuc.vn/van-de-quan-tam/tran-lan-lan-chiem-dat-rung-o-khu-bao-ton-thien-nhien-binh-chau-phuoc-buu-20170324095330616.htm

Nghệ An: Cắt chức trạm trưởng trạm kiểm lâm vì mất 36 cây sa mu

Ông Trịnh Văn Thành, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nghệ An cho biết, đơn vị đã cách chức ông Phạm Văn Tình, Trạm trưởng trạm Quản lý bảo vệ rừng Na Ngoi – Nậm Càn (thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Kỳ Sơn) vì để xảy ra chặt trộm 36 cây sa mu dầu. 

Ngày 22/2/2017, cơ quan chức năng phát hiện có 36 cây sa mu dầu tại bản Huồi Nhao, xã Nậm Càn bị chặt hạ, tương đương 139m3 gỗ. 

Sau khi sự việc xảy ra, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn đã họp hội đồng xem xét trách nhiệm của các cá nhân liên quan và đi đến quyết định cách chức Phạm Văn Tình,Trạm trưởng trạm quản lý bảo vệ rừng Na Ngoi – Nậm Càn. 

Đồng thời, cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương và chậm thời hạn nâng lương 3 tháng đối với hai nhân viên của trạm là Trương Văn Sáng và Lương Vĩnh Phúc. (Giadinhvietnam.com 25/3; An Ninh Thủ Đô 25/3; Giao Thông Online 25/3; Phapluatplus.vn 25/3; Infonet.vn 24/3; Pháp Luật Việt Nam Online 24/3; Thanh Tra Online 24/3; Tiền Phong Online 24/3; Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh Online; 24/3; Vietnamnet.vn 24/3; An Ninh Thủ Đô 25/3, tr2) Về đầu trang

Công ty An Phúc Viên sẽ “nuốt” hơn 100ha đất nông lâm để làm siêu nghĩa trang

Người dân huyện Lục Nam đang bàng hoàng trước thông tin, Công ty cổ phần đầu tư An Phúc Viên sẽ lấy khoảng 150 héc ta đất rừng, nông nghiệp… 

Đầu năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh tỉnh Bắc Giang bất ngờ ban hành Quyết định số 02/QĐ-UBND phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng công viên nghĩa trang An Phúc Viên (tỷ lệ 1/500) trên địa bàn 2 xã Cương Sơn, Nghĩa Phương (thuộc huyện Lục Nam) với quy mô khảo sát, nghiên cứu lập quy hoạch trên diện tích khoảng 150 héc ta đất rừng và đất nông nghiệp. 

Theo tìm hiểu của phóng viên, trước đó, ngày 20/8/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ban hành Công văn số 3310/UBND-ĐT cho phép Công ty cổ phần đầu tư An Phúc Viên thực hiện dự án đầu tư công viên nghĩa trang An Phúc Viên. 

Đến ngày 18/12/2016, Công ty cổ phần đầu tư An Phúc Viên có Tờ trình số 02/TTr-APV gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, Sở Xây dựng Bắc Giang đề nghị xem xét, phê duyệt Nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng (1/500) công viên nghĩa trang An Phúc Viên. 

Theo nội dung tờ trình thì quy mô diện tích khảo sát địa hình khoảng 150 hecta, quy mô lập quy hoạch khoảng 103 hecta chủ yếu là đất nông nghiệp, đất rừng và mặt nước. 

Dự án có vị trí phía Bắc giáp sông Lục Nam, phía Nam giáp thôn Kỳ Sơn, phía Đông giáp xóm mới Ninh Hải, xã Nghĩa Phương và phía Tây giáp thôn Lợi, xã Cương Sơn. 

Dự án được chia thành các khu chức năng như khu địa táng (cát táng, an táng 1 lần); khu lưu tro, khu tâm linh, công trình hỏa táng. 

Ngoài ra, dự án còn có các dịch vụ như khu siêu thị tâm linh, cà phê, nhà hàng cơm chay.... Dự kiến quy mô an táng số lượng mộ phần của công viên nghĩa trang khoảng 60 ha. 

Trên cơ sở đó, sau khi thẩm định quy hoạch chi tiết hồ sơ dự án, ngày 29/12/2016, ông Phạm Giang, Giám đốc sở Xây dựng Bắc Giang có Báo cáo số 356/BC-SXD trình Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả thẩm định quy hoạch chi tiết xây dựng công viên nghĩa trang An Phúc Viên đồng thời đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt để làm cơ sở cho các bước tiếp theo. 

Chỉ vọn vẹn 5 ngày sau, tức ngày 03/1/2017, ông Lại Thanh Sơn, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ký Quyết định số 02/QĐ-UBND phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng công viên nghĩa trang An Phúc Viên tỷ lệ 1/500. 

Trong lúc các cơ quan chức năng tỉnh Bắc Giang đang xem xét hồ sơ dự án thì phía Công ty Cổ phần đầu tư An Phúc Viên đã tiến hành xin ý kiến của người dân, tuy nhiên việc thông báo này chỉ đến với các cán bộ thôn, xã và một số người dân có rừng nằm trong dự án. 

Cụ thể, ngày 29/12/2016, đơn vị tư vấn là công ty Cổ phần tư vấn LIGI phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Cương Sơn đã họp với những hộ dân có rừng để xin ý kiến. Theo nội dung biên bản thì những hộ dân có rừng thì đều nhất trí, còn những hộ dân khác ở thôn Vườn sau khi họp bàn thì 100% phản đối dự án. 

Không những vậy, ngày 17/1/2017, Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang đã tổ chức hội nghị cùng đại diện tất cả các sở, ban ngành từ tỉnh, huyện cho tới xã thẩm định đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng công viên nghĩa trang An Phúc Viên. 

Kết quả, 100% đại biểu tham dự đều nhất trí những nội dung của đồ án nhưng không hề đả động tới ý kiến phản đối cương quyết của người dân về dự án theo khảo sát của đơn vị tư vấn. 

Trao đổi với phóng viên, ông Phùng Văn Thanh, Bí thư thôn An Thịnh, xã Cương Sơn sau khi biết thông tin về dự án xây dựng công viên nghĩa trang An Phúc Viên, ông và người dân trong thôn đã kiên quyết phản đối bởi ông cho rằng, khi nghĩa trang đi vào hoạt động thì vấn đề môi trường nước và không khí quanh khu vực chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. Về lâu về dài thì đời con, đời cháu sẽ phải gánh chịu hậu quả. 

Còn anh Nguyễn Văn Đức ở thôn An Phú, xã Cương Sơn nhà chỉ cách chân núi Niêng không xa sau khi biết thông tin cũng cương quyết phản đối việc xây dựng nghĩa trang ở khu vực này vì lo sợ sau này vấn đề môi trường sẽ bị ảnh hưởng bởi hoạt động của việc hỏa táng. 

Tại xã Nghĩa Phương, theo tìm hiểu của phóng viên thì sau khi người dân nhận được thông báo về thông tin dự án thì rất nhiều người phản đối thực hiện dự án. 

Một số người dân khác thì bày tỏ băn khoăn và không hình dung được nếu sau này nghĩa trang đi vào hoạt động thì hàng ngày, những đoàn xe tang lễ, kèn trống ing ỏi đi qua sẽ ảnh hưởng như thế nào tới cuộc sống của họ. 

Đáng nói hơn, theo tìm hiểu của phóng viên, thì hiện nay mới chỉ có một số ít người dân (có đất nằm trong phạm vi bị thu hồi) ở hai xã trên biết được thông tin dự án. 

Trong khi đó, những người dân ở xã Cương Sơn sống gần khu vực chân núi Niêng khi được hỏi có biết sắp tới ở đây sẽ có một công viên nghĩa trang mọc lên với quy mô hơn 100 ha không thì hầu hết đều “giật mình” vì không thấy thôn hay xã thông báo gì. 

Liệu rằng, tỉnh Bắc Giang có cần thiết phải thực hiện dự án nghĩa trang mà phải lấy đi hơn 100 héc ta đất rừng và đất nông nghiệp? Việc thực hiện dự án sẽ ảnh hưởng đến đời sống, kế sinh nhai, môi trường, tập quán văn hóa của hàng nghìn hộ dân, chính quyền có biết không? Việc không xin ý kiến rộng rãi, vấp phải sự phản đối quyết liệt của người dân nhưng Công ty An Phúc Viên vẫn quyết tâm thực hiện dự án, có phải là hành vi bất chấp đạo lý để đạt mục đích? (Giaoduc.net.vn 25/3) Về đầu trang

Tàn sát rừng biên giới Việt - Lào

Theo chỉ đạo của UBND tỉnh Nghệ An, công an tỉnh này đang vào cuộc điều tra, làm rõ vụ phá rừng quy mô lớn xảy ra ở khu vực rừng giáp biên với Lào. 

Cơ quan chức năng tại Nghệ An đang mở rộng điều tra vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trong suốt thời gian dài ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, thu giữ khoảng 130 m3 gỗ quý sa mu. 

Theo thông tin ban đầu, ngày 22-2-2017, lực lượng kiểm lâm huyện Kỳ Sơn phát hiện một diện tích rừng phòng hộ lớn thuộc tiểu khu 500A ở xã biên giới Nậm Càn, huyện Kỳ Sơn bị chặt hạ. Qua kiểm tra hiện trường, lực lượng chức năng phát hiện có khoảng 36 cây gỗ sa mu, đường kính trung bình trên 50 cm bị chặt hạ. Khối lượng gỗ bị cưa xẻ ước tính 140 m3. 

Được biết, khu vực rừng bị chặt phá nằm sát biên giới Việt - Lào, thuộc quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn. Ông Nguyễn Quốc Minh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kỳ Sơn, xác nhận rừng bị chặt phá diễn ra trong thời gian từ 1-2 tháng. “Hạt kiểm lâm không phải là chủ rừng nhưng để xảy ra tình trạng phá rừng trong thời gian dài như vậy có một phần trách nhiệm của chúng tôi, sắp tới, đơn vị sẽ họp kiểm điểm để rút kinh nghiệm” - ông Minh thừa nhận. 

Ông Cao Văn Quỳnh, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn, cũng nhận lỗi buông lỏng kiểm tra, quản lý bảo về rừng. Ông Quỳnh phân trần thêm: “Khu vực rừng bị chặt là rừng phòng hộ thuộc quản lý của ban, địa điểm rừng bị chặt sát biên giới, để tiếp cận phải đi bộ 4-5 giờ. Do ở xa, anh em đi kiểm tra không đến nơi đến chốn nên không phát hiện việc rừng bị chặt phá”. 

Được biết, đến ngày 24-3, các lực lượng chức năng mới đưa được khoảng 30 m3 gỗ ra khỏi rừng, số còn lại trên 100 m3 vẫn còn nằm rải rác ở hiện trường. 

Xác định đây là vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn vừa có quyết định kỷ luật cách chức ông Phạm Văn Tình, Trạm trưởng quản lý bảo vệ rừng Na Ngoi - Nậm Càn; khiển trách ông Trương Văn Sáng và Lương Vĩnh Phúc, nhân viên của trạm này. 

Ông Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Sơn, cho biết sau khi nhận được thông tin về vụ chặt phá rừng quy mô lớn nói trên, huyện đã chỉ đạo các đơn vị liên quan có mặt bảo vệ hiện trường, không để các đối tượng tẩu tán gỗ vật chứng, đồng thời báo cáo vụ việc cho tỉnh để có hướng xử lý. Còn theo thượng tá Tô Văn Hậu, Trưởng Công an huyện Kỳ Sơn, sau khi sự việc xảy ra, công an huyện tập trung lực lượng vào hiện trường điều tra gần 2 tháng nay. 

Chiều 24-3, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Đinh Viết Hồng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, khẳng định lãnh đạo tỉnh đã nhận được thông tin về vụ phá rừng và đã giao Công an tỉnh Nghệ an điều tra, làm rõ trách nhiệm của chủ rừng, kiểm lâm và chính quyền địa phương. 

Đây không phải lần đầu khu vực rừng ở Nghệ An giáp biên giới với Lào bị tàn phá. Vào năm 2015, lực lượng chức năng bắt giữ một nhóm lâm tặc vào Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, huyện Quế Phong, chặt nhiều cây sa mu hàng trăm tuổi để lấy hơn 200 m3 gỗ. 

Cây sa mu dầu hay còn gọi là sa mộc dầu (tên khoa học: Cunninghamia konishii Hayata) thuộc họ bụt mọc (taxodiaceae), phân bố chủ yếu ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa và Sơn La. Sa mu dầu là nguồn gien quý hiếm được phân hạng ở cấp VU A1adC1 trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và xếp nhóm 2 trong danh lục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm của Nghị định số 32/NĐ-CP của Chính phủ. Loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất cao. (Người Lao Động Online 24/3; Người Lao Động 25/3, tr1+5) Về đầu trang

Vụ đất nông nghiệp bị “hô biến” thành đất rừng phòng hộ ở Bà Rịa - Vũng Tàu: Rừng giao khoán sau 1 năm gần như biến mất?

Để có căn cứ đền bù giải phóng mặt bằng dự án KCN Phú Mỹ II và III (huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu), Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng huyện Tân Thành (Ban BTGPMB huyện Tân Thành) đã tiến hành kiểm kê đất và tài sản trên đất của người dân. 

Thế nhưng, trong những bản kiểm kê này lại thể hiện nhiều điều bất thường. Dư luận đang nghi vấn, đây có phải là những hợp đồng giao khoán khống để nhận tiền đền bù thời điểm giải phóng mặt bằng làm dự án KCN Phú Mỹ II và III hay không. 

Theo hồ sơ vụ việc, ngày 10/6/2009, Ban Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng (BTGPMB) huyện Tân Thành tiếp tục lập các biên bản kiểm kê đất đai, nhà cửa, cây trái hoa màu và vật kiến trúc (dự án KCN Phú Mỹ II mở rộng) đối với ba hộ nhận khoán là bà Ngô Thị Ngọc, ông Nguyễn Ngọc Tuấn và ông Trần Nam Anh. Theo đó, trong các biên bản kiểm kê có thể hiện hiện trạng phần đất chủ yếu là cây trái, hoa màu, ruộng muối cùng vật kiến trúc nhà cửa bờ bao của hộ bà Võ Thị Minh. 

Theo hồ sơ hợp đồng giao khoán của ông Tuấn thì tháng 5/2008, ông được giao 5ha đất rừng trong đó có 2,5ha rừng đước bỏ từ năm 1995 với mật độ 3300 cây/ha (khoảng 8250 cây đước) và 2,5ha rừng chà là. Thế nhưng, tại biên bản kiểm kê đất đai nhà cửa cây hoa màu kiến trúc dự án KCN Phú Mỹ II mở rộng ngày 16/6/2009, của Ban BTGPMB huyện Tân Thành thì hiện trạng ghi nhận, trên phần đất của ông Tuấn lại có nhiều thay đổi bất thường. 

Cụ thể, cây trái hoa màu trên đất của ông Tuấn được ghi nhận chỉ còn lại 1895 cây đước, 23.650m2 ruộng muối, 3781m2 mặt nước nuôi tôm cá quản canh và hệ thống bờ bao chòi tạm vật kiến trúc của hộ bà Võ Thị Minh. 

Tương tự như trường hợp của ông Tuấn, đối với các diện tích rừng của hộ bà Ngọc và ông Nam Anh, khi Ban BTGPMB huyện Tân Thành kiểm kê thì đều có sự bất thường tương tự như trên. Không hiểu vì lý do gì chỉ sau hơn một năm nhận khoán, những diện tích rừng phòng hộ của ba hộ này lại thâm hụt một cách khó hiểu như vậy? 

Tiếp đến, trường hợp phần đất của ông Bùi Văn Riêm thì toàn bộ diện tích ruộng muối được ông cho biết là gia đình đã canh tác nhiều năm lại được ghi nhận trong biên bản kiểm kê có chủ hộ là bà Trần Thị Tý vào ngày 16/9/2009. 

Theo đó, phần đất của gia đình ông Riêm là thuộc phần diện tích 4ha rừng nhận khoán của bà Tý đã được Ban quản lý rừng phòng hộ Bà Rịa- Vũng Tàu (BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu) bàn giao vào ngày 17/3/2008. Căn cứ biên bản kiêm kê thì gia đình ông Riêm chỉ được đề nghị hỗ trợ sản lượng muối và giá trị nền muối là gần 40 triệu đồng. 

Điều lạ là, theo ghi nhận hồ sơ hợp đồng khoán của bà Tý thì ngày 17/3/2008, bà được giao 4ha đất rừng trong đó gồm 4ha rừng trồng năm 1998 với mật độ 3300 cây/ha. Thế nhưng, chỉ sau hơn một năm nhận khoán, không hiểu bằng cách nào một phần rừng của bà đã “biến hóa” thành ruộng muối của gia đình ông Riêm. 

Còn đối với hợp đồng khoán của bà Nguyễn Thị Hằng, ngày 25/5/2009, Ban GPMB huyện Tân Thành đã lập biên bản kiểm kê đất đai, nhà cửa, cây trái hoa màu và vật kiến trúc (dự án KCN Phú Mỹ II mở rộng) đối với phần đất của bà Hằng. 

Theo biên bản kiểm kê hiện trạng phần đất mà bà Hằng nhận khoán được ghi nhận gồm có 3194m2 mặt nước nuôi trồng tự nhiên, 31.727m2 ruộng muối gồm của hộ ông Ngô Trọng Hiếu đi cùng với đó còn phần bờ bao, nhà cửa, vật kiến trúc của ông Hiếu. Theo đó, diện tích 2,3 ha rừng mà bà Hằng nhận khoán từ năm 1995 cũng đã không còn xuất hiện. 

Nhằm làm rõ những điều khó hiểu trong hợp đồng giao khoán rừng phòng hộ và biên bản kiểm kê của Ban BTGPMB huyện Tân Thành, phóng viên Pháp luật Plus đã liên hệ làm việc với BQL Rừng phòng hộ (RPH) Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi đề cập tới việc hiện trạng rừng giao cho các hộ trên có sự thay đổi bất thường, BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết, hiện các trường hợp này không biết có hay không, nhưng nếu có thì sẽ bị xử phạt bồi thường theo quy định của pháp luật. 

Tuy nhiên, do vụ việc trải qua nhiều thời kỳ biến động khác nhau nên BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu cũng găp nhiều khó khăn trong việc việc thu thập hồ sơ. Vì vậy BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu cũng cần thời gian để rà soát lại. Một vị lãnh đạo BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết: “Một hai năm nay, những cái nào đã bị thu hồi thì không quan tâm tới nữa mà chỉ quan tâm tới những cái mới, giờ lục lại đôi khi cũng khó khăn”. 

Tiếp đó, phóng viên tiếp tục liên hệ làm việc với Hạt kiểm lâm huyện Tân Thành (HKL Tân Thành). Theo chia sẻ từ phía lãnh đạo HKL Tân Thành thì trách nhiệm của việc quản lý bảo vệ rừng là của BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu, còn HKL Tân Thành là cơ quan thừa hành pháp luật giúp UBND huyện Tân Thành thực hiện công tác bảo vệ rừng, trường hợp phát hiện người vi phạm thì tiến hành xử lý. Đối với các diện tích rừng đã được giao khoán mà rừng bị mất, bị phá thì chủ rừng phải chịu trách nhiệm. 

Như vậy, liên tiếp các cánh rừng phòng hộ mà BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu cùng với chính quyền địa phương giao khoán cho các hộ nhận khoán đã gần như "bốc hơi" chỉ sau ít thời gian nhận khoán. Điều này khiến dư luận hoài nghi về giá trị của những hợp đồng giao khoán trên. Có hay không việc lập hợp đồng giao khoán khống nhằm chiếm dụng đất của người dân, lấy tiền đền bù giải phóng mặt bằng tại dự án KCN Phú Mỹ? 

Với những gì nêu trên, Pháp luật Plus đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Thanh tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, UBND huyện Tân Thành vào cuộc xác minh làm rõ nguồn gốc đất tại những bản hợp đồng giao khoán “chồng lấn” lên đất của người dân địa phương đang canh tác. (Phapluatplus.vn 24/3) Về đầu trang

Nghệ An: Bắt giữ đối tượng vận chuyển gỗ trái phép trên sông Lam

Sáng 26/3, Phòng Cảnh sát đường thủy (PC68), Công an tỉnh cho biết đơn vị này vừa bắt giữ đối tượng Hoàng Nghĩa Trinh về hành vi vận chuyển gỗ trái phép. 

Trước đó, vào khoảng 4h30 phút sáng 25/3, tại khu vực sông Lam, đoạn chảy qua xã Hưng Lĩnh, huyện Hưng Nguyên, tổ công tác Phòng Cảnh sát đường thủy (PC68), Công an tỉnh do Thượng úy Nguyễn Đình Thông làm tổ trưởng đã phát hiện, bắt quả tang đối tượng Hoàng Nghĩa Trinh (thường trú tại xã Hưng Lĩnh, huyện Hưng Nguyên) đang có hành vi vận chuyển 4,5 m3 gỗ. 

Tại thời điểm kiểm tra, đối tượng không xuất trình được các giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của lô gỗ nói trên. 

Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, sau đó bàn giao cho cơ quan Kiểm lâm huyện Hưng Nguyên tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. (Baonghean.vn 26/3) Về đầu trang./.