Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 26/7/2017

Điểm báo ngày 26/7/2017

Cập nhật ngày : 26/07/2017 1:17:36 CH

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 26 tháng 7 năm 2017)

Gia Lai: 345 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng trong 6 tháng đầu năm

Thống kê của ngành chức năng tỉnh Gia Lai cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh phát hiện 345 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 15,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong số đó, phá rừng trái phép 32 vụ, vi phạm về vận chuyển, mua bán, cất giữ lâm sản trái phép 272 vụ, vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản khác 25 vụ, vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản khác 4 vụ, về mua bán động vật hoang dã 01 vụ, vi phạm khác 11 vụ.

Cơ quan chức năng đã xử lý 348 vụ (trong đó xử lý hình sự 15 vụ), tịch thu 670 m3 gỗ các loại, 90 phương tiện các loại (máy cưa, ô tô, xe máy, máy kéo…), thu nộp ngân sách gần 4,5 tỷ đồng.

Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai đã tổ chức ký kết hợp tác quản lý, bảo vệ rừng với các tỉnh giáp ranh. Song song với đó là tăng cường quản lý và bảo vệ, các đơn vị đã tích cực triển khai công tác tuyên truyền quản lý bảo vệ để rừng để nâng cao ý thức của người dân góp phần vào công tác bảo vệ rừng trên địa bàn. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 25/7) Về đầu trang

Nghệ An - Xiêng Khoảng phối hợp quản lý tài nguyên rừng và động vật rừng

Chiều 25/7, Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An và Sở Nông lâm tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) đã tổ chức hội nghị Trao đổi kinh nghiệm công tác quản lý và ngăn chặn hoạt động mua bán tài nguyên rừng tại khu vực biên giới giữa hai tỉnh.

Các đồng chí: Nguyễn Tiến Lâm - Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An; Dông Tia Lò - Phó giám đốc Sở Nông lâm tỉnh Xiêng Khoảng đồng chủ trì hội nghị.

Hội nghị được tổ chức lần này, bên cạnh để lập kế hoạch hợp tác trong việc bảo vệ tài nguyên rừng và động vật rừng giữa hai tỉnh Xiêng Khoảng - Nghệ An, còn nhằm trao đổi kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học dưới hình thức có sự tham gia của cộng đồng.

Tại hội nghị, đại diện lãnh đạo Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An đã trình bày về công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý động vật rừng, trồng dâu nuôi tằm và một số nội dung liên quan; đại diện Sở Nông lâm Xiêng Khoảng trình bày về kinh nghiệm quản lý tài nguyên rừng và động vật rừng (rừng bảo tồn và rừng phòng hộ); việc thực thi Luật Biên giới (những vấn đề phát hiện và biện pháp củng cố); lộ trình và phương pháp hợp tác.

Hội nghị đã đi đến thống nhất, giai đoạn 2018 - 2020, sẽ nhất trí đưa công tác quản lý tài nguyên rừng và động vật rừng tại khu vực biên giới giữa hai tỉnh vào vấn đề chung của hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng, nhằm làm cho tình hình rừng tại khu vực biên giới được phát triển bền vững, bảo đảm an ninh ngày càng cao.

Hai bên cần trao đổi kinh nghiệm về chuyên môn trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học đối với 3 loại rừng; tăng cường việc thực thi Luật Biên giới tại các cửa khẩu biên giới của hai tỉnh, trường hợp phát hiện vi phạm hai bên sẽ phối hợp giải quyết kịp thời; thiết lập mạng lưới, điểm phối hợp ở cấp bản, cấp huyện để thuận lợi cho việc báo cáo tình hình kịp thời. Đồng thời xây dựng dữ liệu chung, hợp tác trong bảo vệ rừng, không để xảy ra cháy rừng tại khu vực biên giới; thường xuyên phối hợp kiểm tra, giám sát và ngăn chặn các hành vi phá hoại rừng, mua bán lén lút tài nguyên, động vật rừng.

Kết luận hội nghị, hai bên thống nhất cần quy định việc lập kế hoạch hợp tác rõ ràng, cụ thể để cùng thực hiện, đảm bảo việc bảo vệ rừng và động vật rừng tại khu vực biên giới đạt hiệu quả cao. Đồng thời, để phát huy mối quan hệ hữu nghị, hợp tác phát triển giữa hai bên, nhất trí luân phiên tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm công tác quản lý tài nguyên rừng và động vật rừng tối thiểu 1 lần/năm để thông tin về tình hình tổ chức thực hiện, những vấn đề khó khăn, thách thức, cùng nhau tìm biện pháp giải quyết và ngăn chặn kịp thời. (Báo Nghệ An Online 25/7) Về đầu trang

Tây Ninh thu hồi trên 1.300 ha đất trồng cây sai quy định

UBND tỉnh Tây Ninh vừa ban hành kế hoạch xử lý các trường hợp trồng cây nông nghiệp sai quy định trên đất quy hoạch lâm nghiệp tại khu rừng văn hóa - lịch sử Chàng Riệc và khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng.

Theo đó, tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2018 sẽ giải quyết dứt điểm các trường hợp vi phạm, thu hồi và đưa toàn bộ 1.320,3 ha đất trồng cây nông nghiệp không đúng quy định tại 2 dự án rừng này để chuyển sang trồng rừng và khoanh nuôi, tái sinh lại cây rừng theo đúng quy định của pháp luật.

Để công việc xử lý các vi phạm đúng theo kế hoạch, đạt hiệu quả, tỉnh yêu cầu các đơn vị được giao nhiệm vụ xử lý các trường hợp vi phạm như Sở Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; UBND các huyện Tân Biên, Tân Châu phải kiên quyết xử lý các đối tượng vi phạm theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, công bằng, nghiêm minh.

Đối tượng vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức tỉnh, huyện, xã và viên chức, người lao động đang làm việc tại Ban quản lý các dự án rừng hoặc đã nghỉ hưu phải xử lý trước để làm gương; nếu không chấp hành sẽ thông báo cho đơn vị hoặc địa phương để kiểm điểm, xử lý.

Theo kết quả rà soát diện tích đất trồng cây nông nghiệp trái quy định trên đất trồng cây lâm nghiệp tại 2 khu rừng văn hóa - lịch sử Chàng Riệc và khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, tỉnh ghi nhận còn 1.320,3 ha của trên 800 đối tượng đang bao chiếm trồng các loại cây cao su, cây ăn quả, sắn, lúa... sai quy định.

Trong đó, khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng có gần 1.230 ha và khu rừng văn hóa - lịch sử Chàng Riệc 90,8 ha.

Phương thức xử lý được tỉnh đưa ra là xác định đối tượng vi phạm, vận động người đang sử dụng thu hoạch ngay sản phẩm, thanh lý vườn cây để chuyển đất sang hợp đồng nhận khoán trồng rừng theo mô hình phù hợp.

Nếu không chấp hành, củng cố hồ sơ, hoàn chỉnh thủ tục cưỡng chế, Ban quản lý rừng thu hồi lại đất, tổ chức giao khoán cho các hộ dân khác trồng rừng.

Đối với diện tích đất thuộc vùng trảng, trũng ngập nước theo mùa đang trồng lúa, sau khi xử lý tạm thời cho người dân tiếp tục sử dụng để sản xuất, ổn định cuộc sống, người sử dụng phải cam kết (được UBND xã xác nhận) không được phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, khi có mô hình trồng rừng phù hợp, phải chuyển sang trồng rừng theo quy định. (TTXVN/Bnews.vn 25/7) Về đầu trang

Các nhà khoa học tìm ra giải pháp ít tốn kém và hiệu quả để chống nạn phá rừng

Cứ mỗi này trôi qua, việc giảm thải carbon càng trở nên cấp bách hơn. Tin tốt là những sự nỗ lực của chúng ta dần có kết quả khá khả quan – đặc biệt là những kết quả tìm thấy trong rừng nhiệt đới.

Rừng là một bể chứa carbon tốt, vì chúng giữ nhiều carbon trong cây hơn là thải nó ra ngoài môi trường. Và cây xanh ở rừng nhiệt đới phát triển cực tốt, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với môi trường sống ngày càng ô nhiễm của chúng ta và cả với người dân sống xung quanh khu rừng. Vì với họ, việc chặt cây rừng làm cho cuộc sống họ tốt hơn: có gỗ để bán, và việc phá rừng sẽ có thêm đất để sử dụng cho nhiều mục đích khác. Việc này không có gì là bất ngờ, ở nhiều nơi trên thế giới, bảo vệ rừng là một việc hết sức khó khăn.

Và cách giải quyết vấn đề này là phải trả tiền cho người dân trong những khu vực như vậy để họ không chặt cây. Bạn phải cung cấp đủ để họ trang trải các khoản phí, có thể điều này không khả thi ở các khu vực giàu có hơn nhưng với những người nghèo, hỗ trợ tài chính có thể sẽ mang lại kết quả.

Một nhóm các nhà nghiên cứu từ Mỹ, Hà Lan và Bỉ gần đây đã thử nghiệm kế hoạch này trong một khu vực có rừng thuộc Uganda. Họ chia ngẫu nhiên 121 làng trong khu vực thành hai nhóm. Nhân viên từ tổ chức từ thiện địa phương Chimpanzee Sanctuary và Wildlife Conservation Trust đã đến các ngôi làng của một nhóm và cung cấp cho chủ đất một số tiền 28$ để đổi lấy 1 ha rừng. Sau khi kiểm tra để đảm bảo họ sẽ không chặt cây trong khu vực cam kết, những chủ hộ đồng ý sẽ nhận được khoản tiền. Các nhà nghiên cứu còn siết chặt việc kiểm tra bằng sự trợ giúp của hình ảnh vệ tinh để đảm bảo người dân không gian lận.

Các kết quả được công bố trên tạp chí Science cho thấy các làng thuộc nhóm không tham gia chương trình đổi tiền lấy rừng bị mất 9,1% diện tích cây trong giai đoạn nghiên cứu, trong khi những nơi đồng ý với hợp đồng chỉ mất 4,2%. Các nhà nghiên cứu đã tính rằng ở nơi họ trả tiền, hơn 180 tấn khí thải cacbon đã bị ngăn chặn, nếu chia ra, số tiền họ trả cho 1 tấn cacbon chỉ có 0,46$. Một mức giá rẻ hơn 10 đến 20 lần so với mức giảm cacbon mà bạn có thể mua từ các dịch vụ thương mại như Cool Effect hay Carbon Fund.

Có nhiều cách để lưu trữ carbon. Chủ yếu, chuyển đổi cacbon dioxit thành chất dinh dưỡng cho cây. Một số chất dinh dưỡng này sẽ được giữ trong vỏ và rễ, cho đến khi cây bị chặt đi. Một số khác lại đi vào các lá bị chôn trong đất và nó sẽ giữ cacbon lại. Khi cây bị chặt, cacbon sẽ giải phóng thông qua nhiên liệu đốt, suy thoái tự nhiên, và cacbon trong đất xung quanh cây bị chặt cũng sẽ được giải phóng.

Nhưng ngay cả khi người dân tham gia nghiên cứu cuối cùng vẫn chặt cây mà trước đó đã cam kết không chặt, thì lượng cacbon được giải phóng vẫn chậm và ít hơn, hoàn toàn phù hợp với chi phí đưa ra. Là khí nhà kính, cacbon dioxit hấp thụ và giữ nhiệt từ mặt trời. Do đó, tác động của nó đến sự thay đổi khí hậu không chỉ được tính bởi lượng CO2 tuyệt đối trong bầu khí quyển và còn phải tính đến lượng nhiệt tích lũy trong khí. Con số trên được đưa ra để đo lường những ảnh hưởng tiêu cực của hiện tượng nóng lên trên toàn cầu do phát thải, hay nói cách khác, nó là chi phí xã hội của cacbon.

Trong nghiên cứu của Uganda, các nhà nghiên cứu đã tính toán rằng giá trị thu được từ việc trì hoãn giải phóng cacbon hơn khoảng 2,4 lần chi phí phải trả để giữ cacbon lại trong thời gian dài hơn. Như vậy, phải chăng chúng ta đã tìm ra một giải pháp toàn diện về lâu về dài để bảo vệ rừng? (Khoa Học & Phát Triến Online 25/7) Về đầu trang

Hà Giang: Giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc giữ rừng

UBND tỉnh Hà Giang vừa ban hành Kế hoạch số 205/KH – UBND về Hành động “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng các bon và quản lý bền vững tài nguyên rừng” đến năm 2030.

Kế hoạch nhằm góp phần thực hiện thành công Chương trình Quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng các bon và quản lý bền vững tài nguyên rừng (Chương trình REDD+) đến năm 2030; thực hiện mục tiêu Qui hoạch bảo vệ và phát triển rừng, giai đoạn 2011 – 2020; phát huy giá trị của đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen quý hiếm, nâng cao giá trị lâm sản, cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số và các hộ nghèo sống gần rừng, nâng cao giá trị phòng hộ của rừng, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn sạt lở đất, bảo vệ nguồn nước…

Theo Kế hoạch, trong giai đoạn 2017 - 2020, góp phần giảm phát thải khí nhà kính thông qua các hoạt động REDD+, đẩy nhanh tiến độ các dự án trồng rừng, trồng lại rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, nâng độ che phủ rừng từ 55,1% vào cuối năm 2016 lên 58% vào năm 2020; nâng cao chất lượng rừng tự nhiên 368.802,2 ha và 68.066,1 ha rừng trồng, nhằm gia tăng tích lũy các bon và dịch vụ môi trường rừng; nhân rộng các mô hình trồng rừng hiệu quả; nâng cao chất lượng và sử dụng bền vững rừng tự nhiên; khai thác có hiệu quả du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng tại các khu rừng đặc dụng.

Thực hiện hiệu quả các chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng, trồng rừng thay thế; chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2015 – 2020. Đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đưa các giống mới vào trồng rừng, khuyến khích thay thế một số diện tích rừng trồng loài cây không phù hợp với điều kiện lập địa kém hiệu quả bằng các giống có năng suất, chất lượng cao, đặc biệt quan tâm đến trồng rừng gỗ lớn góp phần nâng cao chất lượng rừng, tăng khả năng hấp thu khí CO2 của rừng, tăng sinh khối để tăng tích trữ các bon và đảm bảo cung cấp gỗ cho sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Khuyến khích thực hiện mô hình quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng. Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.

Trong giai đoạn 2021 – 2030, Hà Giang sẽ ổn định diện tích rừng tự nhiên đến năm 2030 ít nhất bằng diện tích đạt được tại năm 2020, góp phần định hướng tăng trưởng xanh của tỉnh; tiếp tục triển khai các dự án trồng rừng, trồng lại rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, nâng tỷ lệ che phủ của rừng đạt 60% vào năm 2030, trong đó của rừng tự nhiên là 48,9%. Nhân rộng các mô hình hiệu quả cao về REDD+ và quản lý rừng bền vững, lồng ghép REDD+ với trình phát triển lâm nghiệp bền vững. Hoàn thiện khung hành động của Chương trình REDD+ và tiếp cận các nguồn tài chính chi trả dựa vào kết quả phù hợp với các yêu cầu quốc tế.

Tỉnh Hà Giang sẽ tiến hành rà soát, điều chỉnh qui hoạch 03 loại rừng trên địa bàn tỉnh theo hướng quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng bền vững có hiệu quả. Cải thiện quản trị rừng và cải thiện sinh kế cho người dân sống trong và gần rừng. Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.

Bên cạnh đó, Hà Giang sẽ triển khai đánh giá và nhân rộng các mô hình kinh doanh rừng năng suất cao, xây dựng các mô hình chuyển hóa rừng, trồng rừng kinh doanh gỗ lớn; thí điểm đánh giá và nhân rộng mô hình quản lý rừng tự nhiên bền vững, bảo vệ, bảo tồn và phục hồi rừng; tranh thủ các nguồn vốn đầu tư tài chính cho lâm nghiệp… (Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 26/7; Nông Nghiệp Việt Nam 26/7, tr4)Về đầu trang

Chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng – Một chính sách, nhiều hiệu quả

Gần 10 năm qua, việc thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh miền núi Sơn La đã và đang góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ rừng, nâng cao thu nhập cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh, nhất là tại các xã đặc biệt khó khăn, khu vực vùng sâu, vùng xa...

Đó là những kết quả nổi bật trong thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La. Thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng và hộ nhận khoán rừng từng bước được nâng cao. Cơ bản người dân đã có ý thức hơn trong thực hiện công tác bảo vệ, phát triển rừng trên cơ sở hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mình. Ngay từ khi bắt đầu triển khai thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, chính quyền cơ sở ở Sơn La đã thực sự vào cuộc một cách tích cực. Từ công tác vận động, tuyên truyền đến tổ chức, điều hành quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, phòng chống chữa cháy rừng đã dần được quan tâm thực hiện tốt hơn. Qua đó giúp giảm đáng kể tình hình phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh về cả số vụ và mức độ thiệt hại. Theo thống kê, so với năm 2010, số vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép ở Sơn La đã giảm trên 700 vụ. Trên địa bàn tỉnh không có các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản trái phép. Đồng chí Bùi Mạnh Cường - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mường La (Sơn La) cho biết: “Thành công lớn nhất của chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là tác động đến nhận thức của người dân về công tác bảo vệ, phát triển rừng. Từ khi thực hiện chính sách, người dân đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng; tích cực trồng, chăm sóc các diện tích rừng được giao”.

Tìm hiểu được biết, bắt đầu triển khai từ năm 2009, đến nay việc thực hiện chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh Sơn La đã và đang trở thành bước đột phá trong việc giải quyết nhiều vấn đề gắn với công tác nhiệm vụ phát triển rừng theo hướng bền vững. Không chỉ góp phần giảm thiểu suy thoái rừng mà còn góp phần nâng cao chất lượng rừng, làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái giảm thiểu biến đổi khí hậu, hạn chế hạn hán, lũ lụt; chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng còn giúp các chủ rừng và hộ nhận khoán rừng có thêm điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Qua 8 năm triển khai, bình quân mỗi năm đã có khoảng trên 100 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng được chi trả cho các đối tượng. Riêng trong giai đoạn 2011-2015, tổng nguồn thu tiền ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đạt hơn 437 tỷ đồng. Năm 2016, Sơn La đã chi trả hơn 114 tỷ đồng cho gần 47.000 chủ rừng, với diện tích 609.483ha trên địa bàn 12 huyện, thành phố. Kinh phí chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đồng thời cũng đã tạo nguồn tài chính lớn, ổn định phục vụ có hiệu quả cho công tác bảo vệ, phát triển rừng. Anh Lò A Sông ở bản Nậm Nghiệp, xã Ngọc Chiến, huyện Mường La (Sơn La) vui vẻ cho biết: “Từ khi được chi trả tiền dịch vụ bảo vệ rừng, người dân trong bản ai cũng phấn khởi. Những hộ có rừng đều tự bảo nhau tích cực chăm sóc, bảo vệ rừng vì rừng đã mang lại nguồn thu nhập ổn định hơn trước rồi”.

Thực tế thời gian qua ở Sơn La cho thấy, kinh phí chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng có vai trò quan trọng trong kết hợp với nguồn vốn ngân sách góp phần đảm bảo nhu cầu công tác quản lý, bảo vệ rừng tại các địa phương. Theo đó, việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đã trực tiếp giúp nhiều địa phương có kinh phí để triển khai công tác bảo vệ rừng; các chủ rừng và các hộ nhận khoán rừng có thêm thu nhập cải thiện đời sống. Các chủ rừng là hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn và hộ nhận khoán bảo vệ rừng cũng được hưởng toàn bộ tiền dịch vụ môi trường rừng chi trả. Việc thực hiện chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng vì vậy về cơ bản đã có những tác động tích cực đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên phạm vi toàn tỉnh nói chung và ở các khu vực, địa phương có cung ứng dịch vụ môi trường rừng nói riêng.

Một điểm nổi bật góp phần khẳng định rõ hiệu quả chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng ở Sơn La đó là cấp uỷ, chính quyền các cấp đã thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận động gom các chủ rừng có diện tích nhỏ lẻ thành quản lý theo cộng đồng. Tại những mô hình quản lý rừng theo cộng đồng, nguồn kinh phí thanh toán chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng sẽ được sử dụng để bảo đảm cho hoạt động của các tổ, đội quản lý, bảo vệ rừng; đồng thời được sử dụng cho các nội dung hoạt động chung của cộng đồng dân cư. Với cách làm này, những năm qua trên địa bàn tỉnh Sơn La đã có hàng nghìn công trình nông thôn như nhà văn hóa, vệ sinh môi trường nông thôn, đường giao thông, công trình nước sạch... được triển khai xây dựng mới hoặc tu sửa trên cơ sở kinh phí chi trả trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Các công trình này đã vừa đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngày của nhân dân, vừa góp phần giúp các địa phương đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới. Đồng chí Nguyễn Thị Hoa - Phó Chủ tịch UBND huyện Mộc Châu (Sơn La) chia sẻ: “Thực hiện gom các chủ rừng có diện tích nhỏ lẻ thành quản lý theo cộng đồng đã góp phần tăng cường mối quan hệ đoàn kết trong cộng đồng dân cư, vừa giúp bảo vệ rừng tốt hơn vừa có thêm nguồn lực để xây dựng, duy tu các công trình phúc lợi xã hội. Tại nhiều địa phương, một phần nguồn tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được sử dụng phục vụ phát triển giao thông nông thôn đã giúp việc tiêu thụ nông sản của người dân dễ hơn, thu nhập cao hơn, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt”.

Tuy nhiên, việc thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng ở Sơn La hiện nay cũng đang đứng trước một số vấn đề khó khăn. Theo thống kê, đến nay kinh phí bảo đảm trả tiền dịch vụ môi trường rừng ở Sơn La đang được duy trì trên cơ sở nguồn thu theo quy định từ các nhà máy thủy điện và nhà máy sản xuất nước sinh hoạt, với khoảng 100-120 tỷ đồng/năm. Trong khi toàn tỉnh đang có tới hơn 600 nghìn ha rừng nên thực tế đơn giá chi trả còn thấp, người dân tuy đã được hưởng lợi nhưng nguồn thu nhập từ rừng cũng chỉ giúp bảo đảm một phần cuộc sống. Cùng với đó, mức chi trả giữa các khu vực còn có sự chênh lệch khá lớn. Cụ thể, trong khi mức chi trả cho các chủ rừng thuộc lưu vực sông Đà là 269.000 đồng/ha/năm thì lưu vực sông Mã chỉ được chi trả 38.800 đồng/ha/năm. Điều này ít nhiều đang gây tâm lý thắc mắc, so bì giữa các chủ rừng, các hộ nhận giao khoán rừng, nhất là tại những khu vực có đơn giá chi trả thấp.

 Được biết hiện nay, để tạo thêm nguồn thu, tỉnh Sơn La đang triển khai thực hiện dự án nghiên cứu, đề xuất đối tượng phải chi trả, mức chi trả, phương thức chi trả. Theo đó, sẽ đề xuất bổ sung thêm vào danh sách chủ thể phải đóng góp phí dịch vụ môi trường rừng là những những đối tượng như: Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước; các cơ sở nuôi trồng thủy sản; các đối tượng kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng... Đây sẽ là điều kiện để Sơn La tăng cường thêm nguồn lực, góp phần tăng thu nhập cho các chủ rừng và các hộ nhận khoán rừng.

Có thể thấy, việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Sơn La đã và đang mang lại nhiều hiệu quả tích cực. Để tiếp tục phát huy hơn nữa những kết quả này, cùng với việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với những đối tượng có nghĩa vụ đóng phí dịch vụ môi trường rừng, các địa phương cần chú trọng đẩy mạnh việc tuyên truyền, vận động người dân trong tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng từ đó có điều kiện được hưởng lợi ngày càng nhiều từ rừng. Đây vừa là cơ sở để Sơn La tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng; vừa là điều kiện để phát huy vai trò của tích cực của người dân trong tham gia công tác bảo vệ và phát triển rừng theo hướng thiết thực, bền vững. (Cpv.org.vn 26/7) Về đầu trang

Nghệ An: Thả cá thể cu li quý hiếm về với tự nhiên

Sáng 25/7, UBND xã Mỹ Thành (Yên Thành) phối hợp với gia đình anh Nguyễn Đình Dũng, xóm 10 đã bàn giao cá thể cu li nhỏ cho Hạt kiểm lâm huyện Yên Thành.

Trước đó, vào ngày 21/7, trong lúc đang làm vườn, gia đình anh Dũng bắt được 1 cá thể cu li nhỏ, có trọng lượng khoảng 350 gam nhưng không biết được là loài gì.

Sau khi  nuôi  nhốt, chăm sóc một thời gian, gia đình anh Dũng tra cứu trên mạng và biết được đây là loài động vật quý hiếm, thuộc nhóm I, cần được bảo vệ khẩn cấp. Gia đình anh Dũng đã báo ngay cho các cơ quan chức năng.

Sau khi tiếp nhận được thông tin, Hạt Kiểm lâm Yên Thành đã phối hợp với chính quyền địa phương sở tại làm thủ tục tiếp nhận và thả cá thể cu li về với tự nhiên theo đúng quy định. (Báo Nghệ An Online 25/7; Truyenhinhnghean.vn 25/7) Về đầu trang

Bình Thuận : Xử lý vụ việc đào hố, đắp đường vào rừng đặc dụng để sản xuất thanh long

Theo Công văn số 2032/SNN-KHTC ngày 07 tháng 7 năm 2017 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc báo cáo kết quả kiểm tra, xác minh thông tin bài báo “đào hồ, đắp đường vào rừng đặc dụng để sản xuất thanh long”; Chủ tịch UBND tỉnh đã có công văn yêu cầu UBND huyện Hàm Thuận Nam chỉ đạo UBND xã Tân Thành, Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp chặt chẽ cùng Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu, Hạt Kiểm lâm Hàm Thuận Nam tiến hành xác lập hồ sơ vi phạm hành chính và xử lý đối với các trường hợp nêu trên theo đúng quy định; trường hợp có vướng mắc, khó khăn trong quá trình xử lý, có văn bản báo cáo và đề nghị Sở Tư pháp hướng dẫn. Đồng thời, tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn theo phân cấp, phân công tại Quyết định số 47/2014/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2014 của UBND tỉnh.

Công văn cũng yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm phối hợp với Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu tăng cường lực lượng, thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tại khu vực này, tránh lây lan và phát sinh thành điểm nóng; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân, giữ nguyên hiện trạng, không nới ranh, đào ao, đắp đường, xây dựng nhà ở, trồng thanh long… trong lâm phận quy hoạch cho phát triển rừng đặc dụng của Khu bảo tồn. (Báo Bình Thuận Online 25/7) Về đầu trang

Đồng Nai : Thấy voọc Chà Vá chân đen quý hiếm ở núi Chứa Chan

Hạt kiểm lâm liên huyện Xuân Lộc và TX Long Khánh (tỉnh Đồng Nai) vừa có công văn đề nghị, xin ý kiến chỉ đạo của UBND huyện Xuân Lộc (tỉnh Đồng Nai) và Chi cục kiểm lâm Đồng Nai về công tác bảo tồn đàn voọc Chà Vá chân đen tại khu vực núi Chứa Chan.

Theo thông tin từ hạt kiểm lâm liên huyện (HKLH), trong quá trình HKLLH Xuân Lộc và TX Long Khánh phối hợp cùng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban quản lý di tích Quốc gia danh lam thắng cảnh núi Chứa Chan tiến hành khảo sát phát triển du lịch, đoàn liên ngành đã phát hiện 9 cá thể voọc tại khu vực Láng Da (thuộc núi Chứa Chan, qua 2 xã Suối Cát và Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc). Bước đầu qua mắt thường, đoàn công tác nhận định đây là loài voọc Chà Vá chân đen (thuộc loài động vật quý hiếm nhóm IB).

Trước sự việc nói trên, HKLLH đã báo cáo với các ngành chức năng tỉnh Đồng Nai và sau đó, giữa năm 2017, nhiều đơn vị có liên quan đã phối hợp ghi hình, chụp ảnh để xác định về phát hiện nói trên.

Đoàn khảo sát tiếp tục phát hiện và ghi hình rõ nét được nhiều đàn voọc Chà Vá chân đen tại khu vực núi Chứa Chan có diện tích khoản 24ha, ở địa hình đá lộ thiên có dây leo, độ dốc cao, thảm thực vật rừng tự nhiên, phía dưới đá có nguồn nước chảy ngầm.

Đến nay (tháng 7/2017), tại khu vực núi Chứa Chan, HKLLH đã phát hiện 2 quần thể voọc Chà Vá chân đen với số lượng trên 30 cá thể.

Đoàn liên ngành đã tổ chức tuyên truyền đến nhân dân đang có các hoạt động sản xuất gần khu vực voọc xuất hiện nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã.

Đồng thời, HKLLH đang phối hợp với lực lượng Công an, UBND, dân phòng các xã liên tục, thường xuyên tuần tra bảo vệ rừng, bảo vệ đàn voọc.

Ngoài ra, trong quá trình tuần tra, các ngành chức năng sẽ tiếp tục ghi nhận các loài khác hiện có tại núi Chứa Chan.

"HKLLH cũng đã xin ý kiến của lãnh đạo UBND huyện Xuân Lộc và Chi cục Kiểm lâm về công tác bảo tồn đàn voọc Chà Vá chân đen tại khu vực núi Chứa Chan nói trên", đại diện HKLLH Xuân lộc - TX Long Khánh cho biết. Kienthuc.net.vn 26/7) Về đầu trang

Phát hiện rùa nặng 100 kg dạt vào bờ biển Khánh Hòa

Theo VnExpress, ngày 24/7, người dân huyện Vạn Ninh thấy rùa biển dài hơn một mét, nặng khoảng 100 kg dạt vào bãi biển Vạn Giã. Nhiều người tìm cách dẫn rùa trở lại biển nhưng nó yếu dần, rồi chết.

Ngay sau đó, đan làng đã dừng công vệc và đưa rùa vào bờ.chuyển đến lăng ông tổ chức an táng trang nghiêm. Đây là lần đầu ngư dân vùng này thấy rùa xuất hiện tại cửa biển.

Rùa biển là loại động vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng, có tên trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới cần được bảo vệ nghiêm ngặt. (Nguoiduatin.vn 25/7) Về đầu trang

Tập đoàn cao su Việt Nam: 420.000 ha rừng chưa đạt chứng chỉ FSC

Ông Trương Minh Trung, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam thừa nhận, Tập đoàn có khoảng 420.000 ha rừng trồng cao su (trong đó 300.000 ha trong nước và 120.000 ha ở nước ngoài) nhưng hiện vẫn chưa đạt được chứng chỉ FSC.

Ông Trung cho rằng, chứng chỉ FSC với rừng cao su là xu hướng chung toàn cầu, nhiều đối tác nhập khẩu cao su thiên nhiên cũng đã yêu cầu về chứng chỉ FSC. Tập đoàn nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này nên đang đẩy mạnh hợp tác với Hiệp hội cao su và đang tìm đơn vị tư vấn để cuối năm nay hoặc trong năm 2018 sẽ có ít nhất một đơn vị trong tập đoàn có rừng trồng đạt chứng chỉ FSC. (Nông Thôn Ngày Nay 26/7, tr10) Về đầu trang

Ðẩy mạnh công tác bảo tồn và nhân nuôi những loài rùa quý hiếm

Cách Hà Nội 120 km về phía Tây Nam, Trung tâm Bảo tồn Rùa (TCC) thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương, có diện tích 7.000 m2, được thành lập bởi Tổ chức Bảo tồn động, thực vật hoang dã quốc tế (FFI) vào năm 1998. Hiện nay, TCC đang nỗ lực bảo tồn các loài rùa cạn, rùa nước ngọt và đẩy mạnh hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ các loài rùa tại Việt Nam.

Hiện TCC đang chăm sóc hơn 900 cá thể thuộc 22 loài trong tổng số 25 loài rùa bản địa của Việt Nam. Hầu hết các cá thể được cứu hộ từ những vụ buôn bán động vật hoang dã trái phép hoặc được nhân nuôi sinh sản thành công tại TCC. Các loài rùa đang được chăm sóc, cứu hộ tại TCC bao gồm nhiều loài khác nhau như: Rùa Trung bộ, rùa hộp trán vàng miền Trung, rùa sa nhân và rùa bốn mắt..., đặc biệt, có loài rùa hộp trán vàng miền Bắc thuộc loài cực kỳ nguy cấp (CR) theo Danh lục Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Phụ lục II, Công ước quốc tế về buôn bán các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng (CITES), và được bảo vệ bởi Nghị định số 160/2013/NĐ-CP. Trong những năm qua, TCC đã tiếp nhận, cứu hộ và tái thả về tự nhiên hàng nghìn cá thể rùa cạn và rùa nước ngọt khác nhau. Gần đây, 30 cá thể rùa sa nhân được TCC tái thả về tự nhiên. Đây là loại rùa quý hiếm, đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Do có nhiều loài rùa khác nhau được chuyển giao cho TCC nên việc xác định loài ưu tiên để nhân giống phục vụ cho công tác bảo tồn là vô cùng cần thiết. Vì thế, TCC chú trọng nhân nuôi bảo tồn các loài rùa bản địa tại Cúc Phương như rùa sa nhân và nuôi các loài rùa nguy cấp, quý hiếm như rùa hộp trán vàng miền Bắc, rùa Trung bộ…

Năm 2015, TCC đã chế tạo và sử dụng máy ấp trứng đặc biệt với sự giúp đỡ của Chương trình bảo tồn rùa châu Á (ATP), máy ấp trứng này được cải tiến từ tủ lạnh đựng đồ uống. Chiếc máy với ba lồng ấp trứng có thể điều chỉnh nhiệt độ ấp phù hợp, cho phép ấp trứng với các nhiệt độ khác nhau (từ 26oC - 32oC) ngay cả trong mùa hè. Trước đây, TCC gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì nhiệt độ ấp trong mùa hè nóng bức, khi môi trường xung quanh có thể lên đến 40oC, quá cao cho một số loài nhạy cảm như rùa hộp trán vàng miền Trung hay rùa sa nhân. Với máy ấp mới này, trứng của các loài rùa sẽ được duy trì trong điều kiện nhiệt độ mát hơn. Đặc biệt, hệ thống điện năng lượng mặt trời được lắp đặt tại TCC sẽ cung cấp điện cho máy ấp trứng hoạt động vào những ngày bị cắt điện kéo dài.

Mặt khác, với sự hỗ trợ của Vườn thú Bristol (Vương quốc Anh), TCC tiến hành cải thiện cơ sở vật chất cho phòng nuôi rùa non trong môi trường nước ngọt và xây dựng chuồng mới cho rùa sa nhân ghép đôi sinh sản. Khu nuôi rùa Trung bộ cũng được trang bị thêm một chuồng mới, các bể nuôi rùa non ngoài trời được lắp cửa che bên trên, tăng cường bảo vệ và chắn các loài ăn thịt xâm nhập.

Bên cạnh công tác bảo tồn và nhân nuôi sinh sản, từ năm 2010, Trung tâm đã mở cửa cho khách tới tham quan nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng. Tại đây, du khách có thể quan sát các cá thể rùa trong sinh cảnh tự nhiên của chúng và được giới thiệu thông tin về đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố, mức độ nguy cấp của từng loài. Đây là bước khởi đầu quan trọng trong công tác bảo vệ các loài rùa cạn và rùa nước ngọt tại Việt Nam.

Trong thời gian qua, TCC đã phối hợp với Chương trình Bảo tồn rùa châu Á (ATP) tổ chức các khóa tập huấn thường niên về kỹ năng nghiên cứu thực địa các loài rùa cạn và rùa nước ngọt Việt Nam cho các sinh viên, nghiên cứu viên và kiểm lâm viên nhằm cung cấp cho học viên kiến thức về đặc điểm sinh thái và phương pháp định loại các loài rùa bản địa của Việt Nam. Bên cạnh đó, TCC cũng có các chương trình hợp tác nghiên cứu ngắn hạn và hoạt động tình nguyện nhằm nhằm chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm trong công tác bảo tồn.

Để khôi phục quần thể rùa và bảo tồn đa dạng loài ở Việt Nam, trong thời gian tới, Trung tâm sẽ tiếp tục tập trung vào các hoạt động cứu hộ, chăm sóc và tái thả các cá thể rùa đủ điều kiện về với tư nhiên; nghiên cứu và triển khai nhân nuôi sinh sản với các nhóm loài ưu tiên. Đồng thời, tổ chức các khóa tập huấn cho các cơ sở bảo tồn, lực lượng thực thi pháp luật nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn các loài rùa tại Việt Nam. (Tapchimoitruong.vn 25/7; Vtr.org.vn 25/7) Về đầu trang

Quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô: Giảm cả số vụ và diện tích rừng bị xâm hại

Thời gian qua, bên cạnh việc tuyên truyền phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR), ngành chức năng và chính quyền các địa phương đã huy động lực lượng, tổ chức kiểm tra tại các điểm “nóng” phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, đồng thời xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm Luật BV&PTR. Nhờ vậy, tình trạng cháy rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, phá rừng đã giảm đáng kể.

Theo ngành Nông nghiệp tỉnh, để hạn chế tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép và cháy rừng trong mùa khô, Chi cục Kiểm lâm (KL) tỉnh đã hướng dẫn Hạt KL các địa phương rà soát, xác định diện tích trên 150.887 ha rừng trồng, đất chưa có rừng trạng thái Ia, Ib, Ic có nguy cơ cháy rừng cao và hơn 175.407 ha rừng, đất lâm nghiệp thường xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép.

Diện tích rừng có nguy cơ cháy cao và diện tích rừng thường bị xâm hại đều đã được thể hiện rõ trên bản đồ phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) của các địa phương và các chủ rừng. Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục phó phụ trách Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: “Sau khi xác định các khu vực rừng cần phải tăng cường kiểm tra, giám sát, chúng tôi đã phân công cán bộ đứng chân địa bàn, phối hợp với chính quyền các địa phương, các hội-đoàn thể hướng dẫn, giám sát các chủ rừng trong quản lý BVR&PCCCR; huy động lực lượng tổ chức kiểm tra, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm Luật BV&PTR; đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của KL địa bàn, tạo điều kiện cho lực lượng này thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đơn vị cũng thường xuyên kiểm tra và đôn đốc 28 Ban chỉ huy BVR&PCCCR của các huyện, thị xã, thành phố và các chủ rừng triển khai các biện pháp cấp bách trong quản lý BVR&PCCCR”.

Từ đầu năm đến nay, Hạt KL các địa phương đã tổ chức 153 đợt tuyên truyền, phổ biến Luật BV&PTR cho 14.677 người dân và tổ chức cho 1.436 người ký cam kết không vi phạm Luật BV&PTR. Hạt KL các địa phương cũng đã tổ chức 724 đợt tuần tra, kiểm soát các khu vực rừng dễ xảy ra cháy rừng và các “điểm nóng” phá rừng, qua đó đã phá hủy tại rừng 0,38 m3 gỗ các loại, 125 lò than, 33.800 kg than hầm, 31 ster củi, 35 lán trại…

Chi cục KL tỉnh cũng tiến hành kiểm tra các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản tại các địa phương và các cụm, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm truy xuất nguồn gốc lâm sản; kiểm tra, giám sát các cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã. Bên cạnh đó, rà soát, đánh giá thực trạng công tác giao rừng, cho thuê đất lâm nghiệp và cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp tại các địa phương, các công ty lâm nghiệp.

Công tác tuần tra, truy quét các tụ điểm khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép và xử lý các đối tượng vi phạm Luật BV&PTR cũng được tăng cường. Từ đầu năm đến nay, Hạt KL các huyện cùng Đội KL cơ động và PCCCR của tỉnh đã lập biên bản 170 vụ vi phạm Luật BV&PTR, trong đó đã xử lý vi phạm hành chính 139 vụ và xử lý hình sự 6 vụ (KL trực tiếp khởi tố hình sự 3 vụ, Công an khởi tố 3 vụ). Các địa phương cũng đã phát hiện và xử lý 3 vụ cháy rừng, 25 vụ phá rừng; phá nhổ 159,36 ha cây trồng trên diện tích đất lâm nghiệp bị lấm chiếm trái phép.

Nhờ thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý BVR&PCCCR nên đã hạn chế được tình trạng cháy rừng, phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại các địa phương. So với cùng kỳ năm 2016, số vụ cháy rừng giảm 17 vụ, diện tích rừng bị cháy giảm 93,97 ha; số vụ phá rừng giảm 49 vụ, diện tích rừng bị phá giảm 66,68 ha; diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm giảm 13,45 ha.

Ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết: Hiện đang là mùa khô, cháy rừng, phá rừng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, khó khăn thách thức trong công tác quản lý BVR&PCCCR vẫn còn nhiều. Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, Sở NN&PTNT sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Luật BV&PTR cho người dân sống gần rừng và vận động bà con cùng tham gia BVR&PCCCR. Bên cạnh đó, đôn đốc các chủ rừng (các Công ty TNHH lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng, doanh nghiệp, cá nhân trồng rừng) tăng cường trách nhiệm bảo vệ tốt diện tích rừng được Nhà nước giao, ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác lâm sản trái phép. Phối hợp với ngành chức năng điều tra truy tìm đối tượng, củng cố hồ sơ các vụ phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp còn tồn đọng để xử lý.

Sở NN&PTNT chỉ đạo Hạt KL các địa phương, Đội KL cơ động và PCCCR phối hợp với các chủ rừng thường xuyên kiểm tra, truy quét tại các “điểm nóng” khai thác, vận chuyển lâm sản và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép. Chủ động bố trí lực lượng triển khai các phương án PCCCR, kịp thời xử lý các tình huống có thể xảy ra.

Cũng theo ông Phan Trọng Hổ, bên cạnh sự nỗ lực của ngành Nông nghiệp, UBND các huyện, thị xã, thành phố cũng cần chủ động triển khai các biện pháp PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ (lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ). Chỉ đạo các tổ chức, hội-đoàn thể cùng chung tay phối hợp với ngành chức năng và các xã, phường, thị trấn vận động, tuyên truyền hội viên của mình tham gia tích cực công tác BVR&PCCCR. Các chủ rừng cũng cần tăng cường trách nhiệm bảo vệ tốt diện tích rừng được Nhà nước giao, phối hợp chặt chẽ với ngành chức năng ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác trái phép lâm sản trong các khu rừng phòng hộ, đặc dụng, đầu nguồn. (Baobinhdinh.com.vn 25/7) Về đầu trang

Thái Lan xét xử 2 người Việt Nam vận chuyển ngà voi trái phép

Ngày 24/7, Tòa án tỉnh Samut Prakan của Thái Lan đã tiến hành xét xử hai người Việt Nam bị bắt quả tang vận chuyển gần 75kg ngà voi ở sân bay quốc tế Suvarnabhumi.

Hai bị can này có tên là Dinh Van Hon và Nguyen Tuan Da đã bị kết tội xuất nhập khẩu và tàng trữ ngà voi trái phép, vi phạm Công ước quốc tế về cấm mua bán các loại động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng (CITES) và Luật cấm mua bán tàng trữ ngà voi năm 2015 của Thái Lan.

Khi bị bắt, trong túi xách của hai đối tượng này chứa nhiều sản phẩm ngà voi chạm khắc và còn thô.

Hai đối tượng trên khai nhận là được một người ở Angola thuê để đem túi đựng ngà voi từ Etiopia về Lào. (Kienthuc.net.vn 25/7; Thanh Niên Online 25/7; Đại Đoàn Kết Online 25/7) Về đầu trang