Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 25/8/2017

Điểm báo ngày 25/8/2017

Cập nhật ngày : 25/08/2017 8:56:20 SA

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 25 tháng 8 năm 2017)

APEC họp bàn sử dụng có trách nhiệm các nguồn tài nguyên

Ngày 24/8, trong khuôn khổ các hoạt động của Tuần lễ An ninh lương thực và đối thoại chính sách cao cấp về an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu, Diễn đàn đối thoại chính sách giữa các Bộ trưởng APEC và Tổng giám đốc doanh nghiệp (CEO) về sử dụng có trách nhiệm nguồn lực thúc đẩy sản xuất và kinh doanh nông nghiệp bền vững, đã diễn ra tại thành phố Cần Thơ.

Phát biểu tại buổi làm việc, Bộ trưởng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, trong những năm gần đây, tác động của tình trạng gia tăng dân số, đô thị hóa, các hiện tượng thời tiết cực đoan cùng nhiều bát ổn khác đang khiến các tài nguyên đất, biển và rừng đang ngày càng khan hiếm, thách thức tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế toàn cầu, trong đó có các nền kinh tế thành viên APEC.

Đặc biệt, cộng đồng doanh nghiệp là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi có biến động diễn ra. Do vậy, cũng chính cộng đồng doanh nghiệp là đối tượng phù hợp nhất để tuyên truyền nhận thức về sự khan hiếm tài nguyên, thúc đẩy hành vi sản xuất và khai thác tài nguyên có trách nhiệm, đảm bảo nguồn lợi cho phát triển bền vững và thúc đẩy việc tối đa hoá lợi ích thu được từ tài nguyên, tái đầu tư nhằm tái tạo nguồn lợi tự nhiên; đồng thời, tham gia tích cực vào quá trình xây dựng chính sách của mỗi nền kinh tế khu vực.

Sự có mặt của 25 đoàn đại biểu với gần 150 đại biểu từ các nền kinh tế thành viên, các tổ chức quốc tế và các doanh nghiệp trong APEC tại diễn đàn đối thoại lần này, theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà đã khẳng định nhận thức chung về vai trò quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp khu vực trong nỗ lực ứng phó tác động của biến đổi khí hậu và tình trạng khan hiếm tài nguyên nhằm đảm bảo an ninh lương thực.

Ông Nathan M. Belete, Giám đốc Phụ trách Nông nghiệp vùng châu Á-Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới cho biết, mặc dù trong thời gian qua, các nền kinh tế trong khu vực đã chủ động thực hiện nhiều biện pháp ổn định sản lượng và chất lượng chuỗi thực phẩm của khu vực nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân nhưng thực tế cho thấy các nỗ lực này là chưa hiệu quả. Toàn thế giới có hơn 2 tỉ người không đủ dưỡng chất trong bữa ăn hàng ngày, trong đó gần 200 triệu trẻ em bị còi cọc, suy dinh dưỡng nặng; trong khi đó tình trạmg lãng phí lương thực, tài nguyên tại các nước phát triển vẫn chưa được cải thiện.

Như vậy, vấn đề đặt ra là mọi nỗ lực của các Chính phủ cũng như các tổ chức, doanh nghiệp nếu hoạt động riêng rẽ sẽ khó có thể tạo ra sức mạnh tổng thể và bền vững để tạo ra động lực thực hiện các mục tiêu chung hoặc tạo ra hiệu ứng xã hội cần thiết trong công tác bảo tồn tài nguyên khu vực.

Theo bà Anne Ruston - Thượng nghị sỹ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia, một trong những giải pháp điển hình cho vấn đề này chính là phát triển hình thức hợp tác công tư nhằm vận động sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp đồng hành cùng Chính phủ nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội bao gồm: nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao; nguồn tài chính dồi dào phục vụ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ, khoa học công nghệ trong sản xuất, quản lý giúp giảm thất thoát và lãng phí lương thực.

Bà Anne Ruston nhấn mạnh, không có sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, mọi nỗ lực của các Chính phủ sẽ trở nên đơn độc, không phát huy được sức mạnh lan truyền, cổ vũ và tạo động lực huy động nguồn lực xã hội. Australia chủ trương đẩy mạnh hợp tác giữa khu vực tư nhân, doanh nghiệp và các tập đoàn kinh tế thành đối tác chính của Chính phủ trong công tác bảo tồn, phục hồi tài nguyên thiên nhiên thích ứng biến đổi khí hậu và mong muốn được hỗ trợ, đồng hành cùng các nền kinh tế khu vực phát triển hình thức hợp tác này.

Một giải pháp triển vọng khác, theo ông Phạm Ngô Quốc Thắng - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Lavifood (Việt Nam) chính là ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ cao vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để tạo ra các cơ sở trồng trọt chăn nuôi hiện đại, không phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu, giúp nông dân chủ động được kế hoạch sản xuất của mình cũng như khắc phục được tính mùa vụ trong canh tác; qua đó cho ra đời các sản phẩm nông nghiệp trái vụ có giá bán cao hơn và đạt lợi nhuận cao hơn các sản phẩm chính vụ. Không những vậy, hiệu ứng nhà kính với các môi trường nhân tạo được tạo ra còn có thể giúp nông dân tránh được các rủi ro thời tiết, sâu bệnh và tăng năng suất cây trồng, vật nuôi trên một đơn vị đất đai, thị trường được mở rộng.

Mặt khác, môi trường nhân tạo thích hợp với các giống cây trồng mới có sức chịu đựng sự bất lợi của thời tiết cao hơn đồng thời cũng sẽ chống chịu sâu bệnh tốt hơn. Điều này thích hợp với các vùng đất khô cằn không thuận với sản xuất nông nghiệp như vùng trung du, miền núi, vùng bị sa mạc hoá ở Việt Nam. Ông Phạm Ngô Quốc Thắng chia sẻ: Công ty cổ phần Lavifood trong những năm qua đã xây dựng nhiều mô hình điểm nông nghiệp công nghệ cao cùng các nhà máy chế biến, đóng hộp sản phẩm trái cây áp dụng kỹ thuật hiện đại tại các tỉnh khu vực miền Nam như Long An, Đồng Tháp, Tây Ninh với tổng năng suất tăng gần gấp đôi và công suất thành phẩm lên đến hàng trăm nghìn tấn sản phẩm/năm và đang xuất khẩu ổn định ra thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp nông nghiệp cũng đề xuất phương hướng vận hành sản xuất nông nghiệp lấy thị trường làm chuẩn, bởi mỗi thị trường lại hướng đến một tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm khác nhau. Nắm bắt được thị trường mình muốn hướng đến, doanh nghiệp và các nhà đầu tư có thể tạo ra giá thu mua tốt nhất cho nông dân, đồng thời đàm phán hiệu quả với các nhà cung cấp để hỗ trợ nông dân về giống, công nghệ, tài chính, phân bón và quan trọng nhất là các mô hình sản xuất tiêu chuẩn quốc tế về tiết kiệm nước và năng lượng; qua đó, đẩy mạnh hoạt động sản xuất mà vẫn đảm bảo công tác bảo vệ môi trường.

Trao đổi về định hướng của nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn hoàn toàn thống nhất với chia sẻ, đề xuất, đóng góp của các đại biểu tham dự diễn đàn. (VietnamPlus.vn 24/8; VOVNews 24/8; Công An Nhân Dân Online 24/8; Moitruong.net.vn 24/8; Tài Nguyên & Môi Trường Online 24/8; Moitruong.net.vn 24/8) Về đầu trang

Giám sát việc giao đất giao rừng: Rõ trách nhiệm từng bộ, ngành, địa phương

Phó Chủ tịch Hội đồng  dân tộc Cao Thị Xuân cho biết, thời gian tới, sẽ có 4 đoàn giám sát thực tế ở các địa phương về việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 – 2016.

Cũng theo bà Xuân, qua giám sát sẽ chỉ rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương. Sự phối hợp giữa Bộ NN&PTNT, Bộ TN&MT, Sở NN&PTNT, Sở TN&MT trong việc thực hiện giao đất, giao rừng như thế nào.

Báo cáo với Hội đồng dân tộc về tình hình, kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 – 2016, đại diện Bộ NN&PTNT cho biết, tinshd dén 31/12/2016, đã có khoảng 78% (11.258.730ha) diện tích rừng của cả nước được giao. Số 22% còn lại chưa được giao mà đang được quản lý bởi UBND cấp xã. (Thời Báo Kinh Tế Việt Nam 25/8, tr4) Về đầu trang

Làm trái quy định, tùy tiện phá rừng phòng hộ ở Phú Yên

Từ năm 2012 đến nay, hàng chục héc-ta rừng phòng hộ đã được UBND tỉnh Phú Yên chuyển đổi mục đích sử dụng để phục vụ phát triển các dự án trái với quy định. Những sai phạm này mới đây đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) chỉ rõ trong kết luận thanh tra.

Ngày 14-7-2017, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT ban hành Kết luận thanh tra số 1083/KL-TCLN-KL về việc thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp sang mục đích khác trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Theo kết luận, trên địa bàn tỉnh Phú Yên (giai đoạn từ ngày 1-1-2012 đến 31-3-2017) có 41 dự án đã thực hiện hoặc có nhu cầu phải thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng, với tổng diện tích đất cần thu hồi là 1.341,55ha. Hiện có 4 dự án chưa triển khai, 37 dự án đã và đang triển khai thu hồi, chuyển mục đích sử dụng 725ha rừng (rừng đặc dụng 53,34ha; rừng phòng hộ 201,57ha; rừng sản xuất 470,09ha). Theo Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Quốc Trị, việc chấp hành quy định pháp luật đất đai về chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở Phú Yên sang thực hiện dự án tồn tại nhiều sai phạm. Tại thời điểm thanh tra, một số dự án chưa được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang thực hiện dự án. Ví như, Dự án hầm đường bộ Đèo Cả chưa có quyết định thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, nhưng trên thực tế, nhà đầu tư đã chuyển hơn 37ha rừng đặc dụng. “Như vậy, UBND tỉnh Phú Yên chưa chấp hành chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 178/TTg-KTN ngày 28-1-2013”-ông Nguyễn Quốc Trị khẳng định.

Hoặc vụ việc khiến dư luận đang bức xúc và chưa được giải quyết dứt điểm là Dự án Khu du lịch cao cấp New City Việt Nam do Công ty TNHH New City Việt Nam triển khai tại xã An Phú, TP Tuy Hòa. Dự án này đã được UBND tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận đầu tư ngày 9-9-2014 với tổng diện tích 122,5ha, trong đó, đất rừng phòng hộ khoảng 115ha. Tuy nhiên, khi triển khai dự án, chủ đầu tư đã khai thác rừng phòng hộ phi lao ven biển (khoảng 2,7ha) để xây dựng sân golf khi chưa có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.

Theo Kết luận thanh tra số 1083/KL-TCLN-KL, trong 37 dự án đã triển khai trên địa bàn tỉnh Phú Yên thì có 28 dự án chưa chấp hành nghĩa vụ trồng rừng thay thế với tổng diện tích là hơn 171ha nhưng vẫn thực hiện thu hồi đất, cho thuê đất, giao đất và chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác. Các đơn vị không chấp hành quy định trồng rừng thay thế, nổi bật là Công ty Cổ phần Tập đoàn Hải Thạch có địa chỉ tại 44 Trần Hưng Đạo, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, không thực hiện hoàn thổ đúng thời hạn để trồng lại rừng trên diện tích sau khai thác khoáng sản. Công ty này cũng chậm trễ trồng rừng thay thế trên diện tích đã khai thác khoáng sản theo quyết định của UBND tỉnh. Mặc dù tình trạng nêu trên đã kéo dài, nhưng chưa được các cơ quan chức năng của tỉnh Phú Yên phát hiện và xử lý.

Liên quan tới việc phê duyệt dự án nhưng UBND tỉnh Phú Yên “bỏ qua” việc trồng rừng thay thế, qua thanh tra, Bộ NN&PTNT còn chỉ rõ sai phạm của dự án chăn nuôi bò thịt chất lượng cao của Công ty Cổ phần Chăn nuôi Thảo Nguyên Phú Yên. Kết luận nêu rõ: "Địa điểm thực hiện dự án “ôm trọn” vành đai bán ngập bảo vệ lòng hồ thủy điện Sông Hinh. Vì vậy, việc thực hiện dự án sẽ có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến bảo đảm an toàn, an ninh hồ thủy điện Sông Hinh, nhưng UBND tỉnh Phú Yên chưa rà soát, đánh giá hiệu quả thực hiện và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Bên cạnh đó, UBND tỉnh còn “phớt lờ” chỉ thị của Thủ tướng khi thẩm định, phê duyệt dự án cho công ty khi chưa có phương án trồng rừng thay thế được phê duyệt".

Trước những sai phạm trên, Bộ NN&PTNT đã có nhiều kiến nghị gửi UBND tỉnh Phú Yên, trong đó nêu rõ UBND tỉnh và Sở NN&PTNT Phú Yên phải tổ chức kiểm điểm làm rõ trách nhiệm cũng như xử lý nghiêm đối với các tập thể, cá nhân để xảy ra những sai phạm, đồng thời thực hiện nghiêm túc kết luận.

Để tìm hiểu rõ những sai phạm và việc khắc phục các khuyết điểm, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã liên hệ với ông Đào Mỹ, Chánh văn phòng UBND tỉnh Phú Yên. Tuy nhiên, ông Đào Mỹ lấy lý do bận họp và không hề có hồi âm lại. Phóng viên lại tiếp tục liên hệ với ông Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN&PTNT Phú Yên. Sau khi vừa giới thiệu là phóng viên thì ông Tùng vội vàng lấy lý do... đang họp rồi lập tức tắt máy.

Xác định phát triển kinh tế là trung tâm, nhưng không vì thế mà đánh đổi môi trường. Đó chính là quyết tâm và hành động của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Song, UBND tỉnh Phú Yên và các cơ quan chức năng lại thực hiện chưa nghiêm túc chủ trương này khi cho phép các công ty chặt phá hàng chục héc-ta rừng để phát triển các dự án kinh tế. (Quân Đội Nhân Dân 25/8, tr1+6; Quân Đội Nhân Dân Online 24/8) Về đầu trang

Quần thể chim thú rừng nhiệt đới suy giảm do săn bắt nghiêm trọng hơn dự đoán

Với sự phát triển của các động cơ, xe máy giá rẻ và công nghệ phục vụ săn bắt như súng săn, lưới và bẫy thòng lọng, con người ngày càng dễ dàng vào rừng săn bắt mà không cần kỹ năng. Trong khi đó, nhu cầu thịt thú rừng, động vật hoang dã làm cảnh và làm thuốc cũng không ngừng tăng, gây ra cuộc khủng hoảng trong thế giới động vật hoang dã ở nhiều vùng trên thế giới, đặc biệt là tại các vùng rừng nhiệt đới.

Một nghiên cứu được thực hiện năm 2016 đã chỉ ra rằng không phải mất môi trường sống hay phá rừng, săn bắt chính là mối đe dọa lớn nhất đến đa dạng sinh học ở Đông Nam Á. Nhận thấy hiện chưa có ước tính quy mô lớn, mang tính hệ thống nào về sự suy giảm số lượng động vật hoang dã do săn bắt, nhóm các nhà sinh thái học và môi trường Đại học Radboud (Hà Lan) đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề này. Nghiên cứu được xuất bản trên Tạp chí Science hồi giữa tháng này.

Nhóm các nhà khoa học đã thực hiện 176 nghiên cứu, trong đó có nhiều nghiên cứu ở cấp địa phương, để có cái nhìn tổng thể về mức độ suy giảm các quần thể các loài động vật có vú và chim do nạn săn bắt ở các vùng rừng nhiệt đới.

Ana Benítez-López, nhà môi trường học, Đại học Radboud (Hà Lan), trưởng nhóm nghiên cứu chia sẻ rằng nạn phá rừng hay mất môi trường sống còn có thể được giám sát bằng viễn thám, nhưng hoạt động săn bắt chỉ có thể theo dõi trên mặt đất. Do vậy, cần có một phương pháp có hệ thống và nhất quán để ước tính tác động của nạn săn bắt ở các khu rừng nhiệt đới.

Trong nghiên cứu này, TS. Ana Benítez-López và các cộng sự đưa ra giả thuyết rằng nạn săn bắt diễn ra nghiêm trọng hơn ở các khu vực gần làng mạc và các địa điểm dễ tiếp cận như đường xá và lựa chọn các điểm này là điểm xuất phát tiến hành nghiên cứu.

Song trên thực tế, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng, càng đi xa các điểm dễ tiếp cận, mật độ loài ưa thích của các thợ săn sẽ tăng theo và tới các khu vực không bị tác động của săn bắt nữa. TS. Ana Benítez-López gọi đây là các khoảng cách suy giảm loài (species depletion distances) và cùng các đồng nghiệp của mình định lượng các khoảng cách. Xác định được khoảng cách suy giảm loài sẽ dễ dàng xây dựng bản đồ về suy giảm động vật do săn bắt tại các vùng nhiệt đới.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các quần thể chim và thú chịu tác động từ nạn săn bắt lớn hơn so với dự đoán, đặc biệt tại các vùng nhiệt đới ở châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ. Nghiên cứu cho hay, độ phong phú của các loài chim đã giảm trung bình 58%, quần thể thú giảm trung bình 83% tại các vùng bị do săn bắt so với những khu vực không bị tác động.

Nghiên cứu chỉ ra rằng các quần thể chim và thú sẽ bị suy giảm trong bán kính 7 đến 40km từ các điểm dễ tiếp cận (đường xá và hay các khu dân cư). Hơn nữa, áp lực săn bắt tại các khu vực dễ tiếp cận là các thị trấn lớn thường cao hơn do hoạt động buôn bán thịt thú rừng.

Benítez-López cho hay sự khác nhau trong khoảng cách suy giảm loài giữa chim và thú – cụ thể là 7km từ các điểm tiếp cận với chim, còn với các loài thú là 40km – chủ yếu do các loài thú có kích thước lớn hơn, cho nhiều thịt hơn nên chúng trở thành đối tượng đáng giá bỏ công sức săn lùng hơn. Con thú càng lớn, thợ săn sẽ càng cố đi xa để bắt được chúng. Khi nhu cầu thịt thú rừng tại các vùng nông thôn và đô thị tăng lên, các loài lớn hơn bị săn bắt tới mức sắp tuyệt chủng tại các vùng gần các làng mạc. Các cuộc khảo sát gần đây cho thấy thậm chí người dân còn mang một số lượng thịt thú rừng đáng kể từ châu Phi tới châu Âu để tiêu thụ.

Cũng theo nghiên cứu, các thợ săn với mục đích thương mại thường tác động lớn hơn tới động vật hoang dã so với các thợ săn vì mục đích sinh tồn, săn bắt chỉ để phục vụ nhu cầu gia đình. Mật độ quần thể thú bên ngoài khu bảo tồn giảm xuống thấp hơn so với bên trong có nguyên nhân chính từ các hoạt động săn bắt nhằm mục đích thương mại này. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng chỉ cần thành lập các khu bảo tồn thì động vật hoang dã nghiễm nhiên sẽ được an toàn. Thực tế, nghiên cứu cho hay quần thể chim thú trong các khu bảo tồn cũng bị suy giảm.

Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, hiện chỉ còn 17% loài thú và 42% loài chim so với ban đầu còn lại trong các khu vực bị săn bắt. Do đó, nhóm nghiên cứu khuyến nghị cần có các chiến lược quản lý hoạt động săn bắt thú rừng bền vững cho cả các hệ sinh thái nhiệt đới được bảo tồn và không được bảo tồn. (Thiennhien.net 25/8) Về đầu trang

Hà Tĩnh: Thiếu vốn, nhiều hoạt động lâm sinh bị đình trệ

Không chỉ gần 1.000 ha rừng phòng hộ đã trồng có nguy cơ mất, thiếu kinh phí cũng khiến các hoạt động lâm sinh trên địa bàn Hà Tĩnh như: Bảo vệ, trồng, chăm sóc các loại rừng... ở cơ sở đều bị đình trệ, ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ thực hiện. Có hay không trách nhiệm của các ngành liên quan?

Trước khối lượng, chỉ tiêu được giao thực hiện trong năm 2017 nhưng chưa được bố trí kinh phí để triển khai, các BQL rừng phòng hộ, rừng đặc dụng (chủ rừng nhà nước) trong tỉnh đều hết sức lúng túng. Nhiều ngại ngần không muốn nói ra nhưng mặt “ông chủ” nào cũng ẩn chứa âu lo, chán nản...

Qua tìm hiểu, nhìn chung, các chủ rừng đều cố gắng tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 2017, dù chưa được bố trí kinh phí. Tuy nhiên, khó nói về chất lượng, tiến độ... thực hiện.

Đơn cử như cây giống lâm nghiệp - một trong rất nhiều hạng mục trong thực hiện chỉ tiêu kế hoạch lâm sinh năm - cũng đủ thấy các chủ rừng phải đối diện với khó khăn như thế nào khi thiếu vốn. “Đầu năm, đơn vị đã đưa vào kế hoạch số lượng cây giống phục vụ trồng rừng phòng hộ, trồng dặm, trồng rừng thay thế... Đùng một cái không có kinh phí thì lấy gì lo hiện trường, thiết kế trồng... Hàng vạn cây giống cũng ế, không tiêu thụ được đành bỏ đó vì hết vụ... Đó là chưa kể lấy tiền đâu để hợp đồng bảo vệ, chăm sóc rừng. Không tiền nói chẳng ai nghe...” - một chủ rừng nhà nước (xin giấu tên), ngao ngán nói.

Năm 2017, Hà Tĩnh được Bộ NN&PTNT giao: Bảo vệ rừng phòng hộ 30.700 ha, bảo vệ rừng đặc dụng 51.571 ha; trồng rừng phòng hộ, đặc dụng 300 ha; trồng rừng thay thế 642 ha; trồng rừng sản xuất 6.000 ha; trồng rừng ngập mặn 90 ha; trồng rừng chắn gió, chắn cát 40 ha; chăm sóc 12.020 ha rừng; trồng phân tán 2 triệu cây. Theo định mức quy định tại Quyết định 38/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ, để thực hiện được các chỉ tiêu nhiệm vụ trên cần 228 tỷ đồng. Trong đó, nguồn kinh phí huy động từ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và các chương trình dự án khác đầu tư: 153,5 tỷ đồng. Số kinh phí còn lại cần hỗ trợ từ nguồn ngân sách: 74,5 tỷ đồng (nguồn kinh phí sự nghiệp là 30,8 tỷ đồng, vốn đầu tư phát triển là 43,7 tỷ đồng). Nhưng, đến nay, nguồn ngân sách chỉ mới cấp được 12,1 tỷ đồng (nguồn kinh phí sự nghiệp từ ngân sách trung ương: 9,6 tỷ đồng, ngân sách tỉnh 2,5 tỷ đồng), còn thiếu 62,4 tỷ đồng.

Nguyên nhân Hà Tĩnh chưa được bố trí vốn đầu tư phát triển thực hiện kế hoạch BV&PTR năm 2017 được Sở NN&PTNT báo cáo UBND tỉnh tại Văn bản số 1085 ngày 8/6/2017. Theo đó, sở đã xây dựng kế hoạch và nhu cầu vốn thực hiện kế hoạch BV&PTR năm 2017 tại Văn bản 1329/SNN-KHTC ngày 22/7/2016. Tuy nhiên, tại thời điểm xây dựng kế hoạch, thực hiện Nghị quyết 60 của Thủ tướng Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016, trong đó có quy định: “Các dự án đến ngày 30/9 giải ngân dưới 30% kế hoạch vốn năm 2016, không bố trí kế hoạch vốn năm 2017 để thực hiện hết số vốn năm 2016 kéo dài thực hiện sang năm 2017”.

Tại thời điểm 30/9/2016, kế hoạch vốn BV&PTR của Hà Tĩnh giải ngân dưới 30%, vì vậy, Sở Kế hoạch & Đầu tư chưa tổng hợp đưa vào nhu cầu kế hoạch vốn chung của tỉnh năm 2017, trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.

Lý giải về sự chậm trễ này, theo lãnh đạo Sở NN&PTNT Hà Tĩnh là do đặc thù sản xuất lâm nghiệp, từ khâu chuẩn bị hiện trường, xây dựng, thẩm định, phê duyệt hồ sơ thiết kế, chuẩn bị cây giống... cần nhiều thời gian để thực hiện. Hơn nữa, mùa vụ trồng rừng ở các tỉnh miền Trung chủ yếu tập trung vào tháng 11, tháng 12 của năm kế hoạch. Thời gian nghiệm thu, phúc tra, giải ngân phải kéo dài đến hết quý I của năm sau kế hoạch...

Lý giải này không được nhiều nhà chuyên môn đồng thuận. Nhiều câu hỏi được đặt ra cho các ngành, các cấp liên quan đối với việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch BV&PTR hằng năm nói chung và năm 2016 nói riêng. Thêm vào đó, cùng điều kiện thời tiết, vậy các tỉnh miền Trung có bị cắt kế hoạch vốn BV&PTR như Hà Tĩnh...

Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã có Văn bản số 4095, ngày 4/7/2017 gửi: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính và Bộ NN&PTNT, đề nghị xem xét, bố trí nguồn vốn đầu tư phát triển thực hiện kế hoạch BV&PTR năm 2017 hoặc trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung tối thiểu 50% nhu cầu, với kinh phí 20 tỷ đồng từ nguồn vốn đầu tư phát triển (nhu cầu 43,7 tỷ đồng).

Mọi hoạt động lâm sinh tại các chủ rừng nhà nước trên địa bàn tỉnh đang bị ảnh hưởng lớn đến chất lượng và tiến độ... do chưa được bố trí ngân sách BV&PTR năm 2017, dù chỉ còn hơn 4 tháng nữa là hết năm. (Báo Hà Tĩnh Online 25/8) Về đầu trang

Lâm Đồng: Đề xuất xử lý vi phạm tại hồ Tuyền Lâm

UBND TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng vừa có văn bản chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Đà Lạt phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, lập hồ sơ và đề xuất xử lý vi phạm tại Công ty CP Sao Đà Lạt, trong quá trình thực hiện dự án Khu nghỉ dưỡng Đà Lạt Star (thường được biết đến là đường hầm đất sét) tại Khu du lịch hồ Tuyền Lâm, phường 4, TP Đà Lạt ảnh hưởng đến khu di tích thắng quốc gia hồ Tuyền Lâm. Kết quả kiểm tra, đề xuất xử lý giải quyết dứt điểm trong tháng 8.

Liên quan đến vụ việc, Ban Quản lý Khu du lịch hồ Tuyền Lâm cũng đã có văn bản đề nghị Thanh tra Xây dựng TP Đà Lạt xem xét xử lý theo thẩm quyền quy định đối với Công ty Sao Đà Lạt.

Về những sai phạm của công ty này, Ban Quản lý Khu du lịch hồ Tuyền Lâm cho biết đối với khu vực rừng tự nhiên cuối đường hầm đất sét, chủ đầu tư đã tác động, xây dựng hơn 17 ki-ốt và diện tích liền kề khi chưa được cấp phép xây dựng.

Trong quá trình thực hiện dự án Khu nghỉ dưỡng Đà Lạt Star, Công ty Sao Đà Lạt còn san lấp hệ thống mương thoát nước dọc đường giao thông công cộng làm chỗ đậu xe gây ảnh hưởng đến kết cấu và chất lượng của công trình giao thông công cộng trong hồ Tuyền Lâm.

Ngoài ra, công ty này tự ý xây dựng hệ thống cầu gỗ (không có giấy phép xây dựng, không chứng minh được nguồn gốc gỗ dùng làm cầu) tại khu vực bảo vệ I của di tích thắng cảnh hồ Tuyền Lâm để kinh doanh dịch vụ chụp ảnh; đồng thời, lắp bè gỗ tạo sân khấu "phim trường" ảnh cưới trên mặt nước không bảo đảm an toàn.

Dù vậy, ông Trịnh Bá Dũng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Sao Đà Lạt, phủ nhận việc chính quyền TP Đà Lạt, cơ quan chức năng xác định công ty xâm hại hồ Tuyền Lâm. Theo ông Dũng, sau khi có thông tin nêu tình trạng chặt cây phá cây rừng, đoàn liên ngành gồm đại diện UBND TP Đà Lạt, Hạt Kiểm lâm Đà Lạt... đã làm việc với công ty. "Kết quả buổi làm việc là hoàn không có việc chặt cây, phá cây và sử dụng cây" - ông Dũng nói.

Liên quan đến "phim trường" ảnh cưới không an toàn cho du khách, ông Dũng giải thích: "Lúc trước kia là có cây cầu băng ngang qua hồ. Thời gian gần đây, công ty cho một cá nhân thuê lại và có đóng một vài cầu gỗ để chụp hình cưới với mục đích làm đẹp thêm khu vực nêu trên mà thôi".

Cho rằng mình không vi phạm, chủ đầu tư dự án Khu nghỉ dưỡng Đà Lạt Star tiếp tục mở cửa các dịch vụ. Trong ngày 14-8, du khách muốn xuống cầu hay bè gỗ chụp hình đều được nhân viên ở đây thu tiền vé. Mỗi cặp du khách chụp hình phải mất 50.000 đồng/lượt, trọn gói ảnh cưới hết 500.000 đồng/lượt… (Người Lao Động Online 24/8; Kinh Tế Nông Thôn Online 24/8) Về đầu trang

Quảng Trị: Bắt xe khách biển số Lào chở gỗ lậu

Công an tỉnh Quảng Trị đã bắt giữ một ôtô khách gắn biển số Lào chở gỗ lậu thuộc nhóm quý hiếm trắc, hương, cẩm lai.

Tối 24/8, Công an tỉnh Quảng Trị cho hay, qua kiểm tra xe ôtô khách gắn biển kiểm soát Lào UN 0165, tại Quốc lộ 1A đoạn qua địa phận thị xã Quảng Trị, lực lượng Phòng Cảnh sát Kinh tế (PC46) phối hợp với Phòng Cảnh sát Giao thông (PC67) đã phát hiện bên trong và dưới gầm xe chứa nhiều gỗ lậu gồm trắc, hương, cẩm lai... Ước tính số gỗ lậu có tổng giá trị gần 600 triệu đồng.

Nguyễn Văn Tịnh (SN 1980, ở xã Nghĩa Yên, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An) là chủ xe và cũng là chủ số gỗ này.Tịnh khai vận chuyển số gỗ lậu từ Lào về Nghệ An để bán kiếm lời.

Vụ việc đang được cơ quan Công an tiếp tục điều tra làm rõ. (Tiền Phong Online 24/8) Về đầu trang

Trồng hơn 6 nghìn ha rừng, vượt kế hoạch năm

Theo Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và PTNT), đến nay toàn tỉnh Bắc Giang đã trồng được hơn 6 nghìn ha rừng tập trung, trong đó có 150 ha rừng phòng hộ, đặc dụng (đạt 100% kế hoạch) còn lại là rừng sản xuất, đạt 123,2% so với kế hoạch.

Các địa phương trồng được nhiều rừng gồm: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng và Yên Thế. Hiện đơn vị chuyên môn đang tập trung hướng dẫn người dân chăm sóc tốt diện tích rừng mới trồng, tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ và tích cực chuẩn bị giống cho vụ trồng rừng năm 2018. (Báo Bắc Giang Online 24/8) Về đầu trang

Lai Châu: Tỷ lệ che phủ rừng đạt 46,8%

Ngày 24/8, ông Hà Ngọc Chiến – Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Trưởng đoàn giám sát đã có buổi làm việc với tỉnh Lai Châu về tình hình, kết quả thực hiện chỉnh sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 – 2016.

Tính đến 31/12/2016, tổng diện tích đất rừng của tỉnh Lai Châu khoảng 680.000 ha. Giai đoạn 2006 – 2016, Lai Châu đã giao trên 32.303ha đất rừng cho 121 thôn bản và gần 14.900 ha cho 3.325 hộ gia đình.

ĐỐi với diện tích rừng do cộng đồng quản lý theo truyền thống, tỉnh Lai Châu chưa thực hiện giao rừng, chỉ hợp đồng khoán, bảo vệ rừng. Hiện tại đã hợp đồng khoán, bảo vệ rừng cho 72.164 hộ với gần 500.000ha.

Sau khi được giao đất, giao rừng, ý thức quản lý và bảo vệ rừng của cộng đồng và hộ gia đình được nâng lên, hạn chế tình trạng phá rừng, khai thác rừng bừa bãi. Tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh Lai Châu được nâng lên nhanh chóng, từ 37,7% năm 2016 lên 46,8% năm 2016. (Nông Nghiệp Việt Nam 25/8, tr6) Về đầu trang

Lâm Đồng: Gìn giữ nguồn gen sinh thái

Lâm Đồng được đánh giá cao về đa dạng sinh học hệ sinh thái, đa dạng về loài và đa dạng về nguồn gen. Đây là nền tảng góp phần quan trọng nhất phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy vậy, nguồn đa dạng sinh học ở đây đang đứng trước nguy cơ suy thoái.

Lâm Đồng có 3.526 loài thực vật rừng, 133 loài nấm cộng sinh, 86 loài thú, 301 loài chim, 102 loài bò sát, lưỡng cư, 686 loài côn trùng và 111 loài cá. Trong đó, 161 loài được xếp vào danh mục thực vật quý hiếm, nguy cấp; 123 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007; 43 loài nằm trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP; 27 loài trong IUCN 2015.

Nhờ phân bổ trên các đai cao khác nhau nên Lâm Đồng hình thành được nhiều kiểu thảm thực vật rừng khác nhau; đặc biệt là các khu rừng đặc dụng thể hiện khá đầy đủ những hệ sinh thái rừng tiêu biểu là các hệ sinh thái rừng: lá rộng thường xanh, hỗn giao lá rộng lá kim; lá kim; lá rộng rụng lá; tre nứa hỗn giao với cây gỗ; tre nứa thuần loài. Trong đó, hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh là kiểu rừng phổ biến ở Lâm Đồng, kiểu rừng này là nơi cư trú của nhiều loài động vật, trong đó, có nhiều loài quý hiếm và được ghi vào Sách đỏ Việt Nam như: gấu ngựa, gấu chó, lợn rừng... Ngoài ra, còn có các loài chim như: Mi Langbiang, gõ kiến vàng lớn, khướu đầu đen má xám, phường chèo đỏ đuôi dài.

Ngoài ra, Lâm Đồng còn có hệ sinh thái ngập nước, ngoài những vùng đất ngập như: bàu Đĩa, bàu Cá Rô, bàu sấu... của huyện Cát Tiên, còn phải kể đến bàu Chim và bàu Sen của khu Cát Lộc - nơi sinh sống của quần thể tê giác một sừng trước đây.

Các nhà khoa học đã khẳng định, Lâm Đồng chứa đựng một nguồn gen phong phú về đa dạng sinh học. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng đảm bảo sự phát triển nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, đóng góp quan trọng đối với phát triển kinh tê đất nước. Tuy vậy, trước những tác động của con người nguồn tài nguyên này đang chịu những thách thức lớn và nguy cơ suy thoái ngày càng thấy rõ.

Theo Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Môi trường, TS. Nguyễn Thế Đồng, tài nguyên ĐDSH trên đà suy thoái; các hệ sinh thái thu hạp, bị chia cắt và suy giảm chất lượng; các loài nguy cấp đang gia tăng; nguồn gien thất thoát, mai một... Nguyên nhân của tình trạng này là do áp lực gia tăng dân số, kéo theo nhu cầu tiêu thụ, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và sự đánh đổi bảo tồn với phát triển kinh tế...

UBND tỉnh Lâm Đồng đã phê duyệt quy hoạch bảo tồn ĐDSH đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Theo đó, tỉnh sẽ tập trung nguồn kinh phí để duy trì, phát triển Khu Dự trữ sinh quyển thê' giới Lang Biang và các VQG: Bidoup - Núi Bà, Cát Tiên; thành lập mới và đưa vào hoạt động Khu Dự trữ thiên nhiên Đơn Dương, các khu bảo tồn loài/sinh cảnh: Núi Voi, Phát Chi, Madagui; xây dựng và đưa vào hoạt động Bảo tàng Thiên nhiên Tây Nguyên; Công viên Bảo tồn động vật hoang dã Tây Nguyên và các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã. Tiến tới nâng độ che phủ rừng tối thiểu đạt 55%; hạn chế tác động xâm hại đến rừng; xử lý nghiêm các vụ vi phạm đến tài nguyên rừng; kiểm soát việc khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sinh vật...

Về quy hoạch, tổng diện tích cho 3 hành lang ĐDSH là 250.065 ha; diện tích có rừng 217.634 ha (chiếm 87%), trong đó, 88,2% rừng tự nhiên. Quy hoạch bảo vệ và phát triển bền vũng rừng lá kim 95.485,4 ha (bằng 21% rừng tự nhiên). Quy hoạch bảo vệ và phát triển HST tự nhiên - HST ngập nước 13.181,1 ha (chiếm 1,34% diện tích tự nhiên). Quy hoạch 9 khu bảo tồn (khu dự trữ sinh quyển, VQG, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài/sinh cảnh, khu rừng phòng hộ cảnh quan môi trường và khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học).

Quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn tỉnh Lâm Đồng, gồm 9 khu bảo tồn, trong đó, có 5 khu bảo tồn quy hoạch chuyển tiếp (Khu Dự trữ sinh quyển Lang Biang, VQG Bidoup - Núi Bà, VQG Cát Tiên, Khu rừng cảnh quan môi trường Đà Lạt, Khu rừng nghiên cứu thực nghiệm Đà Lạt, Đức Trọng) và 4 khu bảo tồn thành lập mới (Khu Dự trữ thiên nhiên Đơn Dương, Khu Bảo tồn loài/sinh cảnh Phát Chi, Khu Bảo tồn loài/sinh cảnh Núi Voi, Khu Bảo tồn loài/sinh cảnh Magaguoil).

Để đạt được mục tiêu trên, từ 2017 đến năm 2030, tỉnh Lâm Đồng dành khoảng khoảng 1.329,2 tỷ đồng đầu tư các nhóm lĩnh vực: Nâng cao nhận thức cộng đồng, năng lực quản lý về bảo tồn ĐDSH; quy hoạch chi tiết và thành lập các khu bảo tồn; xây dựng, phát triển các cơ sở bảo tồn; tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các khu bảo tổn... Trong đó, giai đoạn 2017 -2020 sẽ chi khoảng 510,2 tỷ đồng. (Tài Nguyên & Môi Trường 25/8, tr6) Về đầu trang

Mơ về một Tây Nguyên xanh mãi

Rừng Tây Nguyên- “Lá phổi xanh” đặc biệt quý giá xưa nay đã góp phần điều hòa nguồn nước, cân bằng sinh thái và môi trường không chỉ trên cao nguyên mà còn cho các tỉnh duyên hải miền Trung, miền Đông Nam bộ và toàn bộ vùng hạ lưu sông Mê Kông. Thực trạng rừng Tây Nguyên bị tàn phá, nhanh chóng suy giảm, khiến việc tìm kiếm và triển khai các giải pháp quản lý rừng bền vững trở nên cấp bách hơn bao giờ hết!

Số liệu từ Tổng cục Thống kê và tổng hợp từ Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho thấy: Năm 1975 dân số Tây Nguyên khoảng 1,2 triệu người, 18 dân tộc. Tới nay, Tây Nguyên đã có đến 5,6 triệu người, gần như đủ cả 64 dân tộc anh em, là khu vực có tỉ lệ tăng dân số cơ học cao nhất cả nước.

Tuyệt đại đa số dân di cư tự do (DCTD) lên Tây Nguyên suốt nhiều thập kỷ qua là nông dân nghèo, cần đất canh tác. Vậy nên, riêng phần diện tích rừng tự nhiên biến thành nương rẫy lên con số khổng lồ. Đây là lý do cơ bản nhất, trong các nguyên nhân làm mất rừng tự nhiên. Cái vòng đói nghèo luẩn quẩn ở những vùng dân DCTD thiếu đất canh tác, ít học, con đông dẫn đến tiếp tục phá rừng.

Hồi âm qua email cho Tiền Phong về hiện trạng rừng trên phạm vi quốc gia của ông Nguyễn Quốc Trị- Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp kiêm Cục trưởng Cục Kiểm lâm, cho thấy: so với cả nước, rừng Tây Nguyên suy giảm nhanh hơn hẳn cả về số lượng lẫn chất lượng.

Theo quyết định công bố hiện trạng rừng đến ngày 31/12/2016 của Bộ NN&PTNT, ký ngày 16/5/2017, thì Tây Nguyên, có tổng diện tích có rừng 2.558.646 ha, giảm 3.170 ha so với năm 2015. Trong đó: Rừng tự nhiên 2.234.441 ha, chiếm 87,33%, giảm 11.473ha; Rừng trồng: 324.204 ha, chiếm 12,67%, tăng 8.304 ha so với năm 2015; Độ che phủ rừng đạt 46,01%, giảm 0,07% so với năm 2015.

Ai từng gắn bó với rừng đều hiểu: rừng tự nhiên vốn đa dạng, phong phú các giống loài động thực vật, có giá trị cân bằng sinh học, điều hòa khí hậu và môi trường hơn hẳn so với rừng trồng nghèo nàn đơn điệu. Vì rừng trồng có chu kỳ thu hoạch nhanh, các loại cây như tràm hoa vàng, keo tai tượng chỉ vài ba năm cắm xuống đã có thể chặt, bán.

Nhằm ngăn chặn tốc độ đẩy lùi rừng tự nhiên, gần 20 năm qua nhiều mô hình giao khoán quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) cho cộng đồng, doanh nghiệp, cá nhân… được triển khai trên khắp địa bàn Tây Nguyên. Nhưng thực tế phũ phàng ai cũng thấy, là đa số các mô hình QLBVR này đều lần lượt thất bại. Nếu không vì chính những người được giao QLBVR lại đi phá rừng để lấy đất canh tác hoặc bán đất, bán gỗ, thì cũng vì họ bất lực trước đủ loại thủ đoạn phá rừng tinh vi khác nhau.

Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, tổng diện tích rừng, đất rừng các tỉnh Tây Nguyên đã giao quản lý, sử dụng tới nay lên đến gần 2,9 triệu hécta, chiếm hơn 87,8% tổng diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp. Trong đó, giao cho các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng khoảng 1,2 triệu hécta (chiếm 40%), giao cho các tổ chức là 1,24 triệu hecta (chiếm 37,3%) và giao cho các UBND xã gần 368.000ha (chiếm 20,7%).

Riêng tại Đắk Lắk, tỉnh giao khoán gần 36.056 ha rừng, đất rừng cho 5.026 gia đình, cộng đồng quản lý và bảo vệ. Qua kiểm tra, thấy hơn 10.610 ha rừng trong số này đã bị phá, bị lấn chiếm trái phép.

Hỏi chuyện các hộ nhận khoán QLBVR nhưng lại để rừng bị phá nát, hầu như ai cũng nói khi họ được giao, thì nơi này đã là rừng nghèo sau khai thác cạn kiệt, không còn trữ lượng gỗ. Yêu cầu dân nghèo không có nguồn thu nhập ổn định phải ôm bụng đói để bảo vệ, chờ rừng tái sinh, là điều không thể !

Theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo, người nhận khoán rừng được hưởng lợi toàn bộ sản phẩm trên diện tích rừng được giao, ngoài ra còn được hỗ trợ giống cây lâm nghiệp, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp theo chính sách khuyến lâm, khuyến nông, hỗ trợ lương thực, cấp năm triệu đồng làm nhà ở, năm triệu đồng để khai hoang diện tích đất sản xuất nông nghiệp, 400 nghìn đồng xây dựng bể nước sinh hoạt, cùng nhiều chính sách ưu đãi khác.

Lợi dụng chính sách này, không ít nơi trên Tây Nguyên đã giao hàng chục hécta rừng và đất rừng cho... cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện để họ thuê người khai hoang, bán gỗ, canh tác, sử dụng. Nhiều cán bộ nhận đất rừng rồi bán lại, thu lợi cá nhân.

Trên đoạn đường khoảng 9 km từ trạm bảo vệ rừng đầu tiên của xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín (trực thuộc Công ty TNHH Gia Nghĩa), càng đi sâu vào tiểu khu 1691, chúng tôi càng thấy nhiều cây gỗ mới bị cưa xẻ ngổn ngang. Còn tại tiểu khu 1684, tự bao giờ rừng đã bị cạo gọt nham nhở để trồng bơ, tiêu, cà phê… Đi càng sâu vào lâm phần QLBVR của xí nghiệp, chúng tôi gặp càng nhiều hộ dân làm rẫy trên đất nhận khoán trồng rừng.

Chị Phạm Thị Hường từ huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng mới đến lập nghiệp tại xã Quảng Thành từ năm 2015. Chưa có hộ khẩu tại đây, gia đình chị Hường vẫn được xí nghiệp cấp cho hơn 1 ha đất rừng với giá nhận khoán 2 triệu đồng để trồng rừng theo Chương trình 135. Thực tế, chị đã trồng muồng xen tiêu và cà phê. Những vạt rừng cạnh rẫy nhà chị Hường đã bị chặt phá để trồng nhiều loại cây khác.

Theo Thanh tra tỉnh Đắk Nông, việc giao khoán trồng rừng theo Nghị định 135 ở Cty TNHH Gia Nghĩa chưa đúng đối tượng theo quy định, chưa ưu tiên giải quyết đất cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Trong 90 hộ nhận khoán, có 21 hộ không có hộ khẩu thường trú như đã khai nhưng vẫn được giao khoán hơn 83 ha đất rừng. Thậm chí, công ty còn giao khoán hơn 204 ha đất có nguồn gốc từ phá rừng trái phép cho 67 hộ dân khác, dù chưa xử lý xong, chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Theo chủ trương của Chính phủ, từ năm 2009- 2020, Tây Nguyên trồng mới 100.000 ha cao su. Chạy theo mối lợi trước mắt, nhiều địa phương khoanh cả rừng giàu vào diện “rừng nghèo” để được phép chuyển sang trồng cao su. Chỉ đến cuối năm 2016, diện tích cao su toàn vùng đã lên tới hơn 180.000 ha.

Năm 2011, một chủ doanh nghiệp (DN) quê ở Tây Ninh tiết lộ với Tiền Phong chuyện nhờ quan hệ tốt, ông được cấp tới gần 2.000 ha rừng và đất rừng tại huyện Ea H’Leo (tỉnh Đắk Lắk) để thực hiện dự án trồng cao su. Nhằm lách khỏi quy định chuyển đổi mục đích sử dụng quá 500 ha rừng phải trình qua Quốc hội theo Nghị quyết 49/2010, có sếp đã bày ông cách huy động cả con cháu, dâu rể trong gia đình lập 4 công ty khác nhau để triển khai dự án.

Những chiêu bài lách luật tương tự được triệt để vận dụng trong giai đoạn này làm bốc hơi nhiều vạn hecta rừng tự nhiên Tây Nguyên, để lại phía sau bạt ngàn rừng cao su non mới trồng.

Một thực trạng đau lòng khi nhiều cánh rừng khộp rất quý giá về đa dạng sinh học lại bị hai tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai cho phép DN ủi phá để trồng cao su. Kết quả, những mảng rừng một mùa rụng lá, đổi màu, tạo phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp bị xóa sổ. Còn cây cao su trồng đi, dặm lại vẫn chẳng lớn nổi vì không phù hợp thổ nhưỡng nơi này. Rừng hết, vốn DN cũng teo!

Mười năm qua, Tây Nguyên đã chuyển đổi hơn 80.000 ha đất rừng các loại để xây dựng khoảng 50 công trình thủy điện. Nhiều DN dù không đủ năng lực tài chính, kỹ thuật nhưng vẫn trình dự án thủy điện nhằm mục đích khai thác khoáng sản, lâm sản. Một số dự án vận hành thành công thì không chịu trồng phục nguyên quỹ rừng thay thế hoặc chây ì chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.

Sau khi có chủ trương của Chính phủ về quy hoạch phát triển cao su tại Tây Nguyên vào năm 2009, các tỉnh Tây Nguyên đã cấp phép đầu tư cho 700 dự án trồng rừng, cải tạo, trồng cao su…trên đất lâm nghiệp với diện tích hơn 215.720 ha. Một tỉ lệ lớn rừng tự nhiên vì thế cũng đã không còn. Một số cá nhân và “nhóm lợi ích” giàu lên, còn thiệt hại thì cộng đồng xã hội cùng chịu… (Tiền Phong 25/8, tr9; Tiền Phong Online 25/8) Về đầu trang

Đăk Nông: Hủy hoại rừng

Ngày 24/8, Công an huyện Đác Song phát hiện tại lô 20, khoản 2, tiểu khu 1676, do UBND xã Trường Xuân quản lý, có ba khoảnh rừng rộng 5,11 ha bị hủy hoại.

Qua điều tra ban đầu, công an huyện xác định được hai đối tượng gồm: Nguyễn Văn Quốc và Nguyễn Văn Kỳ, đều trú thôn 1B, xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin (Đăk Lăk), có liên quan việc hủy hoại diện tích rừng nêu trên.

Công an huyện Đác Song đang thu thập tài liệu, chứng cứ, củng cố hồ sơ để xử lý. (Nhân Dân 25/8, tr8) Về đầu trang