Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 25/7/2017

Điểm báo ngày 25/7/2017

Cập nhật ngày : 25/07/2017 8:50:52 SA

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 25 tháng 7 năm 2017)

Phó thủ tướng Trương Hòa Bình lưu ý Quảng Ngãi tập trung giao đất rừng cho dân

Ngày 24/7, Phó thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đã làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi về việc thực hiện các chính sách giảm nghèo, dân tộc, miền núi.

Báo cáo với đoàn công tác T.Ư, ông Trần Ngọc Căng, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, cho biết đến cuối năm 2016, toàn tỉnh có 13,6% hộ nghèo, hộ cận nghèo 8,8%. Riêng khu vực miền núi có 25.392 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 41,93% và hộ cận nghèo chiếm tỷ lệ 13,91%. Trong đó có 23.292 hộ nghèo là người dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ 51,46% trong tổng số hộ nghèo toàn tỉnh.

Theo ông Căng, hầu hết các hộ nghèo đều được tiếp cận và thụ hưởng các chính sách giảm nghèo của Nhà nước, nhất là có cơ hội nhiều hơn để tiếp cận các dịch vụ sản xuất, tăng thu nhập và dịch vụ xã hội cơ bản.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân lưu ý tỉnh Quảng Ngãi cần đẩy mạnh phát triển kinh tế biển kết hợp với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo.

Tỉnh Quảng Ngãi cũng đã xây dựng cơ chế thưởng cho các xã và hộ gia đình ở miền núi thoát nghèo, giao đất lâm nghiệp cho dân sản xuất, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động…Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nhiều hộ tái nghèo và phát sinh thêm hộ nghèo; việc bố trí nguồn vốn cho địa phương còn chậm trễ, nhỏ lẻ; việc lồng ghép hoạt động giữa các chương trình khác với chương trình, dự án giảm nghèo còn hạn chế; đồng bào dân tộc thiểu số còn có tư tưởng ỷ lại không muốn thoát nghèo.

Phát biểu tại buổi làm việc, Phó thủ tướng Trương Hòa Bình đánh giá cao việc Quảng Ngãi có những cách làm hay, sáng tạo công tác dân tộc, miền núi, góp phần cải thiện đời sống cho người dân.

Theo Phó thủ tướng, Quảng Ngãi là địa phương nghèo, quy mô nền kinh tế nhỏ, tỷ lệ hộ nghèo ở miền núi giảm chậm, thiếu bền vững. Do vậy, thời gian tới Quảng Ngãi cần nỗ lực phát triển ở miền xuôi để có nguồn lực đầu tư cho miền núi, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào miền núi, hướng dẫn, tạo điều kiện cho bà con chuyển đổi nghề, tiếp cận khoa học công nghệ để áp dựng vào sản xuất.

 “Từ bao đời nay, đồng bào dân tộc thiểu số gắn bó với rừng nên phải tập trung giao đất, giao rừng để bà con vừa giữ rừng vừa có thu nhập từ tán rừng”, Phó thủ tướng lưu ý.

Phó thủ tướng cũng đồng thời đề nghị tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo thực hiện tốt Chiến lược công tác dân tộc, tạo đột phá về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số, nâng cao, đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú, cần hun đúc ý chí vươn lên thoát nghèo từ các em học sinh qua các chương trình dạy nghề thiết thực cho con em đồng bào dân tộc thiểu số gắn với nhu cầu, thế mạnh của địa phương, nâng cao chất lượng y tế, khám chữa bệnh cho bà con, ngăn chặn tình trạng hôn nhân cận huyết thống, xây dựng chương trình, giải pháp cụ thể hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giữ gìn bản sắc dân tộc, nhất là giới trẻ. (Thanh Niên Online 24/7; VTVNews 24/7) Về đầu trang

Sơn La: Bớt đất rừng để… giữ rừng xanh, dân ấm no

 “Vừa qua, tỉnh đã có chủ trương qui hoạch lại đất rừng, mạnh dạn chuyển đổi gần 200.000ha đất lâm nghiệp sang thành đất sản xuất. Đó là một quyết định quan trọng có bước đột phá trong bảo vệ và phát triển vốn rừng ở Sơn La”

Đó là ý kiến của ông Lương Ngọc Hoan - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La.

Tại các xã Háng Đồng, Hang Chú, Tà Xùa (Bắc Yên), Suối Tọ, Mường Thải, Mường Bang (Phù Yên); Tân Xuân, Xuân Nha, lóng Luông (Vân Hồ)… hàng ngàn hộ dân đang sinh sống và sản xuất ngay trên diện tích đất lâm nghiệp. Nói cách khác, những hộ dân này đang vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.

Nông dân bản Chai, xã Chiềng Đông, huyện Yên Châu, Sơn La hăng hái đầu tư cây ăn quả trên diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch lại thành đất sản xuất.   Ảnh: Kiều Thiện

Ông Đào Mạnh Phong - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mộc Châu, tâm sự: "Không chỉ riêng Sơn La mà các tỉnh có rừng đều vướng phải một thực tế là dân cư sinh sống và sản xuất ngay trên chính đất lâm nghiệp. Điều này nhìn về mặt luật pháp thì không ổn, nhưng nhìn về mặt lịch sử thì hiện tượng này luôn tồn tại bởi nó gắn với tập tục du canh, du cư đã có từ lâu đời. Bên cạnh đó là nhu cầu sản xuất của người dân ngày càng tăng trong khi đất sản xuất thì không biết sinh nở…"

Mộc Châu là một trong những huyện tiên phong ở Sơn La trong việc “đòi lại” hàng ngàn ha đất rừng bị nông dân xâm lấn làm đất nương và đã khá thành công. “Trong 5 năm vừa qua, ngoài việc tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn người dân trả lại diện tích đất lâm nghiệp đã xâm lấn làm nương, để việc trả lại đất rừng của nông dân diễn ra bền vững, tránh “bắt cóc bỏ đĩa”, Mộc Châu cũng đã mạnh dạn chấp nhận cho bà con được sản xuất trên chính diện tích đất lâm nghiệp mà họ đã tự giác trả lại rừng. Nghĩa là những diện tích ấy được trồng các loại cây lâm nghiệp mà người dân chính là chủ hưởng lợi khi cây ấy đến tuổi khai thác. Vì thế, bà con hăng hái trồng hàng ngàn ha xoan, ban đan xen cây ăn quả...

Ông Lương Ngọc Hoan - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La cho biết: Với quy hoạch trước đây, Sơn La có hơn 900.000ha đất lâm nghiệp. Nhưng trên thực tế thì hàng trăm ngàn ha đã bị người dân xâm lấn từ lâu để làm đất ở, đất sản xuất như tại các bản: Cột Mốc, Dân Quân trong rừng đặc dụng Xuân Nha; bản Năm Nhà, Làng Sáng trong rừng đặc dụng Tà Xùa… Sơn La cũng đã từng họp rất nhiều lần, triển khai nhiều đợt vận động di chuyển dân ra khỏi rừng nhưng rồi đâu lại hoàn đó bởi chính người dân ấy quá khó khăn thì mới vào nơi rừng sâu núi thẳm mà sinh sống. Vì thế, chủ trương quy hoạch lại đất rừng hiện nay của tỉnh Sơn La rất được người dân đồng thuận mà kiểm lâm chúng tôi cũng rất vui!

Ông Vì Văn Thiết ở bản Tát Ngoẵng, xã Chiềng Hắc, huyện Mộc Châu, thật thà cho hay: Bao năm nay các hộ lấn đất rừng vừa làm nương, vừa lo ngay ngáy bị phạt, bị thu lại đất. Bây giờ tỉnh có chủ trương quy hoạch lại đất lâm nghiệp, chuyển những diện tích đất rừng mà người dân đang ở, đang sản xuất sang cho người dân sử dụng hợp pháp, chúng tôi rất mừng. Có thêm đất sản xuất, chúng tôi no ấm hơn và sẽ bảo vệ rừng tốt hơn...

Trên chân đèo Chiềng Đông thuộc xã Chiềng  Đông, huyện Yên Châu, nơi đây 17 năm trước Sơn La đã thực hiện cắm mốc chỉ giới rừng – nương rẫy. Nhưng có một thực tế là suốt 17 năm qua, mốc chỉ giới này luôn bị vi phạm. Ông Lò Văn Dịch - dân bản Chai, xã Chiềng Đông, tâm sự: "Vì là đất sản xuất vi phạm nên người dân chỉ dám trồng ngô, sắn chứ chẳng ai dám yên tâm đầu tư cây trồng dài ngày, vì thế tình trạng đất bị xói mòn, lở loét càng diễn ra mạnh hơn. Nay Nhà nước cho phép dân được sản xuất trên chính mảnh đất đó làm chúng tôi rất yên tâm. Hàng trăm hộ dân ở quanh đây đã mạnh dạn chuyển đất trồng cây ngắn ngày sang trồng những giống cây ăn quả lâu năm như: Xoài, nhãn, mận, bưởi, cam, chanh… Như thế là rừng vẫn xanh mà dân thì no ấm". (Dân Việt 25/7) Về đầu trang

Thanh Hoá: Ngỡ ngàng đắm say viên ngọc giữa núi rừng Pù Luông

Thoát khỏi cái nắng nóng ở thủ đô để tới Pù Luông tận hưởng một không gian sinh thái tuyệt vời nơi núi rừng.

Mới đây, cộng đồng mạng truyền tay nhau những hình ảnh về vẻ đẹp khiến cho ai cũng phải say đắm của vùng du lịch mới có tên gọi Pù Luông. Nơi không có sự ồn ào, khói bụi, bon chen của thị thành mà thay vào đó là sự bình yên của đất trời, sống hòa mình vào thiên nhiên và là nơi khiến cho ai cũng phải lưu luyến khi rời xa...

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông được thành lập năm 1999, thuộc địa bàn 2 huyện Quan Hoá và Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá. Gọi là Pù Luông bởi đó là đỉnh núi cao nhất trong vùng. Tại đây được đánh giá là khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị về khoa học, kinh tế xã hội và du lịch sinh thái. Cùng với Pù Hu, rừng ở khu vực này đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn sông Mã ở tỉnh Thanh Hóa.

Nơi đây có hệ động thực vật phong phú, đa dạng về số lượng và chủng loại với 598 loài động vật, trong đó có 51 loài quý hiếm (gồm 26 loài thú, 5 loài dơi, 6 loài chim, 5 loài cá nước ngọt, 6 loài bò sát)...Đặc biệt tại núi rừng Pù Luông hiện là nơi cư trú của Báo gấm, Beo lửa, Hươu sao, Gấu ngựa và Sơn Dương, hàng chục đàn Voọc quần đùi trắng - một loài linh trưởng quý hiếm với số lượng lên đến hàng trăm cá thể.

Rất nhiều điểm thăm quan tuyệt đẹp ở các bản Hiêu, Đôn, Kho Mường… hoặc chinh phục đỉnh Pù Luông cao trên 1.700m là trải nghiệm chỉ dành riêng cho những du khách ưa mạo hiểm. Đừng bỏ qua việc thượng sơn lên Son Bá Mười nơi được ví như Sa Pa. Hành trình được yêu thích nhất khi tới Pù Luông là đi bộ xuyên qua vùng lõi khu bảo tồn, cắm trại ngủ qua đêm ở bản Đôn, tận hưởng vẻ đẹp thanh bình của dòng suối Chăm, chảy giữa thung lũng.

Một địa danh không thể bỏ qua khi đến Pù Luông là thác nước bản Hiêu. Trên đường từ thị trấn Phố Đoàn vào bản, du khách có thể bắt gặp rất nhiều guồng nước đặc trưng của người Thái. Ngoài ra còn có chợ phiên Phố Đòn, nơi trao đổi mua bán những sản vật vùng cao rất thú vị với các mặt hàng tự cung tự cấp như thổ cẩm, rượu cần, rau rừng, côn trùng, hoa quả tươi...

Tới mảnh đất nguyên sơ này du khách sẽ được trải nghiệm cuộc sống của người Thái,  Mường và hòa mình vào cuộc sống của bản cao. Bên cạnh đó những điệu múa sạp, múa xòe, hát lượn cùng những điệu Khặp uyển chuyển của cô gái Thái xinh xắn sẽ khiến cho du khách không muốn rời xa.

Hiện nay tại Pù Luông đã được đầu tư xây dựng các khu nghỉ dưỡng dành cho khách du lịch. "Những ngôi nhà trên mây" luôn được khách du lịch lựa chọn là nơi để "sống ảo" bởi tại đây bạn có thể ngắm nhìn mây trời Pu Lương từ trên cao. (Giao Thông Online 25/7) Về đầu trang

Đồng Nai: Tàn độc với rừng

Vụ việc cây rừng phòng hộ bỗng nhiên chết hàng loạt xảy ra gần đây nhất là tại Phân trường Trảng Táo - Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc (nằm trên địa bàn xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai). Phóng viên Báo Người Lao Động đã có mặt ghi nhận.

Tại hiện trường, có đến hơn 240 cây gỗ dầu, gỗ sao bị héo úa và chết. Các cây bị đầu độc thuộc loại gỗ lớn. Đây là các lứa cây được trồng từ đầu những năm 2000, hiện cao trên 10 m. Thật đau xót khi quan sát, thấy các cây này đều có dấu hiệu bị khoan, đục ít nhất 3 lỗ ở gốc, có dấu hiệu bị đổ thuốc diệt cỏ vào, có những lỗ khoan còn bị bịt bằng bông gòn để thuốc không chảy ra ngoài, sau đó phủ lá cây lại nhằm che giấu.

Vùng có cây bị hạ độc nằm trong diện tích rừng hơn 7 ha mà Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc giao khoán cho hộ gia đình ông Nguyễn M. (ngụ tại khu vực) quản lý chăm sóc và bảo vệ. Theo hợp đồng giữa ông M. và đơn vị quản lý rừng, thì ông này được trồng xen cây điều hoặc các cây công nghiệp khác trong diện tích rừng nói trên, đồng thời giữ nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ rừng.

Trao đổi với chúng tôi, ông Đặng Văn Hiện, Trưởng Phân trường Trảng Táo, cho biết các cây có dấu hiệu bị đầu độc cách đây khoảng nửa tháng. Tuy nhiên hiện tại, đã 3 lần phân trường mời người được giao khoán chăm sóc rừng là ông Nguyễn M. lên làm việc nhưng ông vẫn không đến. Các cán bộ phân trường cho hay ngay sau khi phát hiện vụ việc, xác định có tính chất nghiêm trọng, đơn vị đã báo lên cơ quan công an và chuyển toàn bộ hồ sơ để cơ quan thực thi pháp luật vào cuộc điều tra.

"Các cây của rừng phòng hộ chết trong khi vườn cây công nghiệp vẫn tươi tốt là điều bất thường, những dấu hiệu cây bị hạ độc khá rõ. Hiện tại, chúng tôi đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra. Mong mọi việc được làm rõ, xử lý nghiêm để không còn tái diễn tình trạng này" - ông Hiện nói.

Tình trạng hạ độc cây lâu năm trong rừng phòng hộ tại Đồng Nai không phải xảy ra lần đầu, trong những năm gần đây xảy ra nhiều vụ việc tương tự. Các cơ quan quản lý từng cho rằng nhiều vụ việc xảy ra có dấu hiệu cây rừng bị "hạ độc thủ" để giành đất và không gian. Ở một số vụ việc, lực lượng chức năng đã đặt giả thiết và điều tra theo hướng các "chủ rừng" đã âm mưu hủy hoại cây rừng để giành không gian cho các loại cây công nghiệp, được cho trồng xen kẽ trên diện tích rừng giao khoán, tuy nhiên cuối cùng vẫn chưa được làm rõ.

Cách đây vài năm, trên địa bàn huyện Tân Phú, cũng xảy ra vụ hạ độc tương tự với hơn 140 cây rừng có độ tuổi từ 10-15 năm tại rừng giá tỵ (gỗ tếch) thuộc sự quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú. Thời điểm này, đơn vị quản lý cũng xác định các cây trong khu vực rừng được giao khoán đã bị hạ độc bằng cách chặt sâu vào gốc và đổ thuốc diệt cỏ để cây chết dần, xen kẽ giữa các cây rừng khô rụi là những cây vườn xanh tốt, mức thiệt hại của nhà nước ước tính hàng tỉ đồng. Lúc đó, lực lượng chức năng đã mật phục, phát hiện vài trường hợp hạ độc cây nhưng do tính chất lẻ tẻ nên việc xử lý vẫn như "bắt cóc bỏ dĩa". Chính quyền địa phương cho hay đã gặp khó khăn trong việc ngăn chặn tình trạng này và chỉ có cách động viên người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng.

Tại huyện Định Quán (khu vực ấp Mít Nài, xã La Ngà), chúng tôi từng thâm nhập khu rừng phòng hộ có hàng trăm cây gỗ tếch, săng lẻ bị tàn phá. Các cây có dấu hiệu bị hạ độc, triệt hạ từ gốc cháy khô và chết dần nhưng vẫn không lần ra thủ phạm. Theo thống kê, rừng Đồng Nai hiện có diện tích 185.000 ha (gồm cả rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn, khu dự trữ sinh quyển), hệ thống rừng phòng hộ được hình thành cách đây vài chục năm trên các địa bàn huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc. Tuy nhiên, từ những năm 2000, nạn phá rừng phòng hộ bùng phát, số cây bị triệt hạ đã lên tới con số hàng chục ngàn.

Liên quan vụ việc hạ độc cây vừa xảy ra tại huyện Xuân Lộc, ông Nguyễn Hữu Lộc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, cho biết đơn vị đang củng cố thông tin để trực tiếp làm rõ, sau đó phối hợp với các bên đề ra hướng xử lý. (Người Lao Động 25/7, tr6; Người Lao Động Online 24/7) Về đầu trang

Nghệ An: Khu 'rừng cấm' ở Tương Dương

Người đàn ông 62 tuổi thoăn thoắt bước qua những mỏm đá, ánh mắt hướng vào khu rừng như đang đếm từng gốc cây.

Cánh rừng săng lẻ không chỉ là biểu tượng du lịch của Tương Dương, mà còn đại diện cho tinh thần, ý chí giữ rừng không biết mệt mỏi của người Thái.

Phóng viên gặp ông Vi Dương Cảnh trong lúc vị cựu chiến binh này đang cuốc bộ dọc con đường mòn bao quanh cánh rừng săng lẻ ở bản Quang Thịnh (xã Tam Đình, huyện Tương Dương). Người đàn ông 62 tuổi thoăn thoắt bước qua những mỏm đá, ánh mắt hướng vào cánh rừng như đang đếm từng gốc cây.

Ông Cảnh hiện là 1 trong 11 hộ dân được giao bảo vệ rừng săng lẻ, mặc dù cánh rừng này do Hạt Kiểm lâm huyện Tương Dương quản lý hơn 20 năm nay.

“Một mình kiểm lâm giữ rất khó, phải có dân bản cùng tham gia. 11 hộ luân phiên, mỗi ngày 2 người có nhiệm vụ tuần tra. Nếu phát hiện điều gì bất thường sẽ trình báo ngay cho lực lượng kiểm lâm”, ông Cảnh nói và cho biết thêm, tổ bảo vệ rừng này được thành lập từ năm 2016, lựa chọn từ những người uy tín, có tâm huyết với rừng nhất ở bản Quang Thịnh.

Không chỉ với rừng săng lẻ, họ còn có nhiệm vụ bảo vệ hơn 170 ha vùng đệm của cánh rừng mà họ vẫn gọi là “rừng cấm” này.

Riêng cánh rừng săng lẻ hơn 70 ha nhiều năm nay không chỉ trở thành biểu tượng du lịch của huyện Tương Dương, mà còn là đại diện cho tinh thần, ý chí giữ rừng không biết mệt mỏi của bản làng người Thái ở đây.

“Bây giờ nó chuẩn bị trở thành khu du lịch sinh thái rồi. Nhưng ít ai biết rằng, để giữ được nó đối với người dân là cả một cuộc chiến dai dẳng với lâm tặc”, ông Cảnh kể. Ngôi nhà ông Cảnh nằm ngay sát Quốc lộ 7, sát sau nhà là những cây săng lẻ cổ thụ cao chót vót.

Nói về công lao giữ cánh rừng này, người ta thường hay nhắc đến cụ Vi Chính Nghĩa - nguyên Phó Trưởng ban Dân tộc tỉnh Nghệ An. Cụ Nghĩa vừa mất cách đây 2 năm ở tuổi 87. Tuy nhiên, ông Cảnh và các bậc cao niên ở đây cho biết, cụ Nghĩa chỉ là một trong những người con của bản Quang Thịnh tiếp nối truyền thống giữ rừng săng lẻ đã có từ nhiều đời nay.

“Cụ Nghĩa là chú ruột của tôi. Trước khi cụ lập chòi giữa rừng để quản lý, bản này cũng đã có hương ước bảo vệ nó. Chúng tôi xem đó như rừng cấm, rừng thiêng vậy”, ông Cảnh nói.

Theo ông Vi Võ Tuấn - Trưởng bản Quang Thịnh, trước đây xung quanh khu vực này có rất nhiều săng lẻ, mọc chủ yếu thưa thớt, sau đó bị dân làng đốn hạ để lấy đất làm rẫy, dựng nhà.

“Chỉ riêng cánh rừng hiện tại là đặc biệt, vì nó mọc dày đặc, san sát nên cây cao chót vót, thẳng tắp, nhìn rất đẹp. Ở đây vốn được xem là “chảo lửa Đông Dương” vì nắng nóng cao điểm vào mùa hè, nhưng cứ vào rừng là khí hậu lại mát rười rượi. Vì thế nên từ xa xưa, cha ông chúng tôi đã có hương ước truyền miệng phải giữ được cánh rừng”, ông Tuấn nói.

Theo kiểm đếm hiện nay, mỗi ha có đến 240.000 cây săng lẻ loại lớn. Cánh rừng hơn 70ha tương đương gần 17 triệu cây chen chúc nhau, mỗi cây cao từ 30 - 40m. Có những cây, 3 người ôm không xuể. “Bây giờ mới làm con đường tuần tra bao bọc cánh rừng, còn trước đây ranh giới của nó là các khe suối.

Dân ở đây muốn làm nhà cũng không ai dám vào cánh rừng đó để chặt mà chấp nhận đi xa. Ai cũng ý thức được lời răn dạy của người đi trước. Vả lại, vào rừng chặt cây nếu bị dân làng phát hiện sẽ bị phạt rất nặng”, ông Tuấn nói thêm.

Năm 1964, “báu vật” của người dân bản Quang Thịnh đứng trước nguy cơ bị xóa sổ. Lúc này, Lâm trường Tương Dương xin UBND tỉnh Nghệ An khai thác rừng săng lẻ. Lập tức, Vi Chính Nghĩa, một người con của bản đang làm Bí thư Huyện ủy gửi đơn xin giữ lại cánh rừng này và được tỉnh chấp thuận.

Đến năm 1989, bản Quang Thịnh chính thức có hương ước bằng văn bản với những điều cấm để bảo vệ cánh rừng. Theo đó, người dân trong bản không được chặt hạ săng lẻ với bất kỳ lý do nào, không được chăn thả gia súc vào rừng.

“Nếu muốn đốn gỗ làm nhà, người dân phải trình qua bản xem xét. Rồi bản sẽ chỉ định chặt bao nhiêu gỗ, chặt ở cánh rừng nào thì mới được chặt. Ngoại trừ rừng săng lẻ hiện nay thì không được đụng vào”, ông Vi Dương Cảnh nói. Ngoài ra, người dân trong bản cũng có trách nhiệm thường xuyên tổ chức vào rừng dọn dẹp, phát quang những cây dây leo bám vào săng lẻ.

Ông Cảnh cho hay, có lần một người dân trong bản trong lúc thiếu gỗ làm nhà, đã lén lút vào rừng chặt một cây săng lẻ kéo về. Vụ việc bị dân làng phát giác, hộ này sau đó phải bán trâu để nộp phạt.

Hương ước đã bảo vệ được cánh rừng không bị dân làng chặt hạ làm nhà, lấy đất làm rẫy, lâm trường cũng không thể khai thác vì tỉnh đã cho phép huyện giữ lại. Nhưng với lâm tặc từ địa phương khác, cánh rừng săng lẻ như một “miếng mồi ngon”.

Quốc lộ 7 chạy xuyên qua cánh rừng hơn 1km, chỉ cần ít phút, lâm tặc có thể đốn hạ những cây cổ thụ ven đường chất lên xe, “cao chạy xa bay”. Căng thẳng nhất là giai đoạn đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi mà hầu hết cánh rừng xung quanh đã bị tàn phá thành những đồi trọc thì rừng săng lẻ là nỗi thèm khát của biết bao lâm tặc.

Khu rừng lúc này đã thuộc sự quản lý của Hạt Kiểm lâm huyện Tương Dương. Trước sự nhòm ngó của lâm tặc, Hạt quyết định giao ông Cảnh làm chòi giữa rừng để bảo vệ. “Tôi vào đó bảo vệ nhưng chỉ được một thời gian, tình trạng lâm tặc lén lút chặt phá còn xảy ra”, ông Vi Dương Cảnh nhớ lại. Hạt Kiểm lâm huyện sau đó phải “cầu viện” cụ Vi Chính Nghĩa. Lúc này cụ Nghĩa đã nghỉ hưu, về quê ở bản Quang Thịnh sinh sống.

“Cụ Nghĩa sau đó xin huyện một khoảng đất nhỏ giữa rừng săng lẻ, cạnh Quốc lộ 7 để dựng chòi canh, đưa luôn cả vợ ra đó sinh sống. Cụ rất khỏe, ngày nào cũng cuốc bộ trong rừng để tuần tra. Là người rất có uy tín ở địa phương, thời gian đầu có một vài trường hợp vi phạm bị cụ phát hiện trình báo cho kiểm lâm xử phạt rất nặng nên lâm tặc dường như “khiếp vía” cụ, không dám bén mảng tới khu rừng”, ông Cảnh nhớ lại.

Từ đó đến nay, cánh rừng săng lẻ dường như vẫn còn nguyên vẹn. Năm 2008, lúc này cụ Nghĩa đã “chùn chân, mỏi gối”, khó khăn trong việc tuần tra nên cụ xin nghỉ, giao việc bảo vệ rừng cho một người khác uy tín trong bản.

Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tặng Huân chương Lao động hạng Nhì vì những thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho cụ Vi Chính Nghĩa.

Trưởng bản Quang Thịnh cho hay, sau khi cụ Nghĩa mất, ngôi nhà giữa rừng của vợ chồng cụ vẫn được giữ nguyên mặc dù không có ai ở. Nhớ đến công lao của cụ, dân làng vẫn thường xuyên tới đây lo hương khói. (Người Lao Động Online 24/7) Về đầu trang

Đẩy mạnh trồng rừng cao su theo hướng bền vững

Mặc dù Việt Nam đã tiếp cận quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng theo thông lệ quốc tế từ khá sớm, nhưng việc triển khai cấp chứng chỉ rừng bền vững, nhất là rừng trồng cao su còn chậm, các doanh nghiệp (DN) vẫn chưa đẩy mạnh triển khai trồng rừng theo hướng bền vững.

Đây là nhận định chung của các đại biểu tham dự hội thảo “Thúc đẩy trồng rừng cao su bền vững và chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) cho các DN cao su tại Việt Nam”, được tổ chức ngày 24/7 tại TPHCM.

Trong khi đó, hiện nay trên thị trường thế giới, xu hướng chuyển sang sử dụng sản phẩm từ rừng có nguồn gốc hợp pháp hoặc có chứng chỉ quản lý rừng bền vững ngày càng gia tăng.

Ông Võ Hoàng An, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) cho biết, với diện tích các vườn cây cao su thanh lý đang gia tăng trong thời gian gần đây, gỗ cao su ngày càng đóng góp vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng của ngành gỗ, sản phẩm gỗ; góp phần giảm áp lực nhập khẩu và gia tăng kim ngạch xuất khẩu cho ngành gỗ cũng như ngành cao su Việt Nam.

Theo số liệu của VRA, trong năm 2016, gỗ cao su đã đóng góp khoảng 31,7% vào tổng giá trị xuất khẩu 4,85 tỷ USD của toàn ngành, giúp tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành cao su tăng 16,4% so với 2015.

Mặc dù với ngành cao su, có một phần diện tích là rừng trồng, việc áp dụng chứng chỉ đã được các DN lớn quan tâm thực hiện nhưng đến nay vẫn gặp nhiều khó khăn đối với việc bảo đảm đáp ứng các tiêu chí của chứng chỉ trong thời gian dài.

Ông Trương Minh Trung, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam thừa nhận, Tập đoàn có khoảng 420.000 ha rừng trồng cao su (trong đó 300.000 ha trong nước và 120.000 ha ở nước ngoài) nhưng hiện vẫn chưa đạt được chứng chỉ FSC.

Ông Trung cho rằng, chứng chỉ FSC với rừng cao su là xu hướng chung toàn cầu, nhiều đối tác nhập khẩu cao su thiên nhiên cũng đã yêu cầu về chứng chỉ FSC. Tập đoàn nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này nên đang đẩy mạnh hợp tác với Hiệp hội cao su và đang tìm đơn vị tư vấn để cuối năm nay hoặc trong năm 2018 sẽ có ít nhất một đơn vị trong tập đoàn có rừng trồng đạt chứng chỉ FSC.

Chia sẻ về vấn đề này, bà Vũ Quế Anh, điều phối viên FSC tại Việt Nam cho biết, Việt Nam có hơn 200.000 ha được cấp chứng chỉ FSC với khoảng 538 DN có chứng chỉ FSC song với rừng trồng cao su thì vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân do nhận thức của DN và chủ rừng chưa cao; các cơ quan quản lý, tổ chức chưa có tác động mạnh cho chủ rừng hiểu về việc bắt buộc phải có chứng chỉ này…

Trong thời gian tới, Hiệp hội Cao su Việt Nam và tổ chức FSC sẽ tăng cường hỗ trợ cho các chủ rừng, DN nhằm giúp họ nâng cao nhận thức, trách nhiệm và đạt chứng chỉ trồng rừng, hướng tới phát triển bền vững ngành cao su Việt Nam. (Báo Chính Phủ Điện Tử  24/7) Về đầu trang

An Giang: Rừng tràm Trà Sư xanh thẳm màu xanh biên viễn

Rộng chưa đầy 900ha, nhưng rừng tràm Trà Sư (RTTS) (Tịnh Biên) được ví như “thế giới xanh đặc biệt” miền biên viễn. Bởi nơi đây không chỉ có màu xanh của cây, của lá... mà còn chứa đựng bên trong đó cả kho tàng cho tương lai xanh...

RTTS rộng 845ha, vắt mình trên 2 xã chủ yếu là Vĩnh Trung, Văn Giáo của huyện Tịnh Biên và một phần của xã Ô Long Vỹ của huyện Châu Phú (An Giang). Đây là vùng rốn của khu vực Tứ giác Long Xuyên. Đúng như tên gọi, RTTS là thế giới của cây tràm, loài cây thân gỗ đặc hữu của vùng đất ngập phèn ĐBSCL. Chính vì vậy mà nơi đây cũng trở thành thủ phủ của loài chim nước và nhiều loại thực, động vật ngập nước khác.

Ngoài sự hiện diện của trên 70 loài chim, cò, trong đó có 2 loài có tên trong “Sách đỏ Việt Nam” là cò lạo Ấn Độ (Giang Sen) và cò cổ rắn (Điêng Điểng), nơi đây còn là nơi cư trú của 22 loài bò sát, 11 loài thú, 23 loài thủy sản và 140 loài thực vật thuộc 52 họ và 102 chi, trong đó có gần 80 loài dược liệu.

Với không gian bạt ngàn màu xanh của tràm cùng với bức tranh muôn màu muôn vẻ của hệ thống thực, động vật..., RTTS không chỉ là “điểm đến khó thể bỏ qua” đối với du khách trong và ngoài nước đặt chân đến An Giang, mà còn được nhiều chuyên gia nước ngoài đánh giá là kho tàng hệ sinh thái đa dạng và phong phú tầm cỡ thế giới. Nói cách khác, RTTS còn là điểm đến lý tưởng cho các nhà lâm học, thủy sản học, môi trường - sinh thái học... (Lao Động Online 24/7) Về đầu trang

Đằng sau việc chuyển đổi 100 nghìn hecta rừng ở Tây Nguyên

Nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, Chính phủ chủ trương trong 5 năm (2006-2010) chuyển rừng nghèo sang trồng 100.000ha cao su phục vụ nhu cầu an sinh xã hội, tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho người lao động tại chỗ… Tuy nhiên, ngay từ khi bắt tay thực hiện chủ trương này tại Gia Lai, việc rà soát tài nguyên rừng chưa hợp lý của cơ quan chức năng và cách lập dự án sơ sài, vừa nhập nhằng, vừa “tiền hậu bất nhất” của doanh nghiệp đã gây ảnh hưởng đến đời sống hàng chục nghìn hộ dân.

LTS: Chủ trương của Thủ tướng Chính phủ về việc phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên là đúng đắn. Với định hướng cho phép chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả, đất chưa sử dụng, chuyển đổi đất rừng tự nhiên thuộc rừng sản xuất nghèo phù hợp trồng cao su để chuyển sang trồng mới cao su, ở một số tỉnh ở Tây Nguyên hiện đã tiến hành trồng cao su. Gia Lai là tỉnh chuyển đổi cây trồng này nhiều nhất với tổng diện tích chuyển đổi là 50.000ha rừng. Vậy 10 năm trôi qua, Tây Nguyên nói chung và Gia Lai (tỉnh có nhiều diện tích chuyển đổi nhất) đã “gặt hái” được gì hay chỉ là những chiêu trò “bẩn thỉu”, những dự án trá hình? Cỏ mọc lút đất, rừng tự nhiên bị tàn phá hết, cây cao su có thực sự mang lại điều tốt đẹp cho nông dân hay chỉ “nuôi béo” những doanh nghiệp tận thu khai thác gỗ?…

Đã đến lúc Ủy ban Kiểm tra Trung ương cần làm rõ trách nhiệm của các tập thể, cán nhân có liên quan đến việc chuyển đổi “rừng nghèo” ở Tây Nguyên trước khi quá muộn… Báo Xây dựng sẽ khởi đăng những bất cập trong việc trồng rừng cao su ở đây, từ đó làm rõ trách nhiệm về việc bảo vệ môi trường trước việc mấy chục ngàn hecta rừng bị tàn phá về ai.

Nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, chủ trương của Chính phủ trong 5 năm (2006-2010) chuyển rừng nghèo sang trồng 100.000ha cao su phục vụ nhu cầu an sinh xã hội, tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho người lao động tại chỗ… Tuy nhiên, ngay từ khi bắt tay thực hiện chủ trương này tại Gia Lai, việc rà soát tài nguyên rừng chưa hợp lý của cơ quan chức năng và cách lập dự án sơ sài, vừa nhập nhằng, vừa “tiền hậu bất nhất” của doanh nghiệp đã gây ảnh hưởng đến đời sống hàng chục nghìn hộ dân.

Giữa năm 2006, chủ trì Hội nghị phát triển kinh tế - xã hội - an ninh quốc phòng vùng Tây Nguyên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo một số giải pháp đầu tư và huy động các nguồn lực để phát triển. Theo đó, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam (CNCSVN) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) làm việc với chính quyền các tỉnh để trong 5 năm tới (từ 2006-2010), khu vực Tây Nguyên cần phát triển thêm 100.000ha cao su nhằm phát huy tiềm lực phát triển kinh tế, phục vụ nhu cầu an sinh xã hội, tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho người lao động tại chỗ nhất là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Tại thông báo 1420/TB-BNN-VP ra ngày 29/02/2008, Bộ NN&PTNT nhấn mạnh ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Cao Đức Phát tại Hội nghị bàn kế hoạch và giải pháp phát triển cao su tại Tây Nguyên: Các tỉnh cần lựa chọn những doanh nghiệp có đủ năng lực trong việc tổ chức và triển khai kế hoạch trồng cao su, ưu tiên những doanh nghiệp có chính sách hỗ trợ tốt hơn trong công tác tạo việc làm, nguồn thu nhập ổn định từng bước nâng cao đời sống của đồng bào DTTS tại chỗ. 

Thực hiện chủ trương này, UBND tỉnh Gia Lai đã phân bổ chỉ tiêu cho 6 doanh nghiệp gồm: Tập đoàn CNCSVN, Binh đoàn 15, Cty TNHH 30/4, Cty CP Quốc Cường, Cty CP tập đoàn Đức Long và Cty CP Hoàng Anh Gia Lai tiến hành khảo sát 51.000ha rừng nghèo chuyển sang đất nông nghiệp trồng cao su. Sáu doanh nghiệp trên đã khảo sát, lập hồ sơ đề nghị chuyển 21.699,2ha rừng nghèo sang trồng cao su, chiếm hơn 42,5% tổng diện tích được UBND tỉnh giao khảo sát.

Ngay sau khi có kết quả khảo sát, UBND tỉnh Gia Lai đã giao 14.967,3ha đất rừng cho 14 doanh nghiệp cùng triển khai 19 dự án trong năm 2008. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp được giao đất lần này đều không tham gia quá trình khảo sát như: Cty cổ phần đầu tư và thương mại Sài Gòn; Cty TNHH xây dựng và thương mại 289; Cty TNHH Nhật Minh; Cty Đệ nhất Việt-Hàn; Cty TNHH Phúc Cường; Cty TNHH Hoàn Mỹ; Cty Xây dựng công trình 194… Điều khiến nhiều doanh nghiệp tham gia quá trình khảo sát bất bình là năng lực tài chính, năng lực chuyên môn cũng như điều kiện các dự án cần đáp ứng nhu cầu an sinh xã hội của các doanh nghiệp “mới bước đầu làm quen với cây cao su” vẫn chưa được thẩm định theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ NN&PTNN.

Điều lạ nữa là khi hầu hết các doanh nghiệp xây dựng dự án đầu tư cao su còn rất sơ sài, thiếu phương án tổng thể, chưa hoàn chỉnh dự án nhằm đảm bảo khả năng triển khai dự án trồng cao su, xây dựng cơ sở hạ tầng, đáp ứng các yêu cầu an sinh xã hội theo chủ trương của Chính phủ, tại thông báo số 119/TB-UBND, UBND tỉnh Gia Lai đã giao 14.036ha đất rừng cho doanh nghiệp Nhà máy lốp ô-tô để khảo sát, quy hoạch trồng cao su trong khi cho đến hiện nay, doanh nghiệp này chưa chính thức thành lập nên tất nhiên chưa đủ tư cách pháp nhân. Tại sao UBND tỉnh Gia Lai có thể tin tưởng giao hơn 14 nghìn hecta đất rừng để doanh nghiệp chưa hoạt động để thực hiện chủ trương lớn của Chính phủ là câu hỏi lớn cần lời đáp.

Xác định chủ trương phát triển 100.000ha cao su tại khu vực Tây Nguyên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2008 và những năm tiếp theo, ngày 24/1/2008, Bộ NN&PTNT ra công văn số 209 gửi UBND các tỉnh, thành phố nhắc nhở về việc chuyển đổi diện tích có rừng sang trồng cao su, trong đó khẳng định: Những dự án phải chuyển đổi diện tích có rừng sản xuất lớn hơn 1.000ha theo quy định tại Nghị quyết 66 ngày 29/6/2006 của Quốc hội là công trình trọng điểm quốc gia, các tỉnh phải báo cáo Chính phủ trình Quốc hội để được cho phép chủ trương đầu tư.

Mặc dù chỉ đạo của Bộ NN&PTNT là vậy nhưng không hiểu vì sao UBND tỉnh Gia Lai lại giao những diện tích đất rừng rất nhỏ từ 100 đến 998,4ha cho 9 doanh nghiệp bao gồm: Cty cổ phần đầu tư và thương mại Sài Gòn: 200ha (1 dự án); Cty TNHH xây dựng và thương mại 289: 215,3ha (1 dự án); Cty TNHH Nhật Minh: 100ha (1 dự án); Cty Đệ nhất Việt-Hàn: 150ha (1 dự án); Cty TNHH Phúc Cường: 741,8ha (1 dự án); Cty TNHH Hoàn Mỹ: 420,7ha (1 dự án); Cty Xây dựng công trình 194: 998, 4ha và Cty CP trồng rừng công nghiệp: 995,7ha (1 dự án). Phải chăng các doanh nghiệp trồng cao su trên địa bàn tỉnh Gia Lai đang chủ động “lách” chủ trương, “xé nhỏ” dự án trồng cao su bằng cách chia nhỏ những diện tích liền thửa, liền khoảnh thành nhiều dự án chuyển đổi khác nhau hay UBND tỉnh Gia Lai cấp những quyết định giao rừng xấp xỉ 1.000 ha để qua mặt Quốc hội?

Người dân Hải Yang, huyện Đak Đoa bức xúc vì bị ảnh hưởng đến quyền lợi khi UBND tỉnh giao đất cho doanh nghiệp.

Như minh chứng cho nhận định này, tại huyện Chư Sê chỉ có hơn 7.000ha đất rừng được phân bổ chuyển sang trồng cao su nhưng đã có đến 8 doanh nghiệp được UBND tỉnh Gia Lai ký quyết định giao đất. Riêng tại xã Ia Blứ, huyện Chư Sê có hơn 6.015ha đất lâm nghiệp quy hoạch phát triển cao su nhưng đã có đến 7 doanh nghiệp được giao UBND tỉnh Gia Lai ký quyết định giao đất, trong đó Cty cổ phần tập đoàn Đức Long được giao 1.488ha nhưng được chia làm 2 dự án: Dự án 1 diện tích 980,4ha thuộc 2 tiểu khu 1136 và 1143 và dự án 2 là 508ha cũng tại tiểu khu 1136 Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Phú Nhơn!

Tài nguyên rừng đang bị chảy máu nghiêm trọng bởi những quyết định giao đất thiếu minh bạch của UBND tỉnh Gia Lai.

Cũng như Cty cổ phần tập đoàn Đức Long, Cty Xây dựng công trình 194 được UBND tỉnh Gia Lai giao đất rừng ở xã Ia Le và Ia Blứ (vốn là 1 xã tách ra) từ năm 2006, dự án trước chuyển khoảng 800ha rừng sang trồng cao su, năm 2008, UBND tỉnh Gia Lai tiếp tục giao thêm 998,4ha rừng để chuyển sang trồng cao su. Vậy rõ ràng: Cty Xây dựng công trình 194 được UBND tỉnh giao hơn 1.798ha rừng liền thửa, liền khoảnh tại huyện Chư Sê nhưng chẳng biết do “vô tình” hay “cố ý” được chia thành 2 dự án, mỗi dự án đều dưới 1.000ha nên không cần phải báo cáo Chính phủ trình Quốc hội để được cho phép chủ trương đầu tư như chỉ đạo của Bộ NN&PTNT!?! (Xây Dựng Online 24/7) Về đầu trang

Hà Nội: Mỹ Đức đầu tư phát triển lâm nghiệp bền vững

Huyện Mỹ Đức vừa rà soát công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCC) và xây dựng Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững năm 2018.

Bảng thông tin tuyên truyền bảo vệ rừng đặc dụng Hương Sơn trên dòng suối Yến.

Theo kết quả kiểm kê rừng và diễn biến tài nguyên rừng, hiện nay, trên địa bàn huyện Mỹ Đức có hơn 5.418ha rừng và đất lâm nghiệp. Trong đó, có 3.498ha diện tích rừng đặc dụng thuộc xã Hương Sơn, 980ha rừng sản xuất tập trung tại 6 xã: Thượng Lâm, Tuy Lai, Hồng Sơn, Hợp Thanh, Hợp Tiến, An Phú. Rừng trên địa bàn huyện Mỹ Đức đa phần là rừng lá rộng mọc trên núi đá nghèo kiệt và một số diện tích rừng trồng với các loài cây chính: Keo lai, keo tai tượng, bạch đàn, xoan...

Để thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng, PCCC rừng năm 2018, huyện Mỹ Đức đã xây dựng kế hoạch và dự kiến kinh phí thực hiện gần 1,4 tỷ đồng. Theo đó, cùng với việc đề nghị TP hỗ trợ kinh phí để phục vụ công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, PCCC rừng cho các xã có rừng không thuộc rừng đặc dụng trên địa bàn huyện; hỗ trợ kinh phí thực hiện kế hoạch Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững, huyện Mỹ Đức đã giao phòng chuyên môn và các xã có rừng triển khai công tác bảo vệ rừng, PCCC rừng; cân đối, bố trí vốn ngân sách hỗ trợ các cơ quan, đơn vị thực hiện kế hoạch; hướng dẫn các cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng và thanh quyết toán vốn đúng quy định.

UBND huyện Mỹ Đức yêu cầu Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn UBND các xã có rừng xây dựng phương án PCCC rừng đảm bảo theo quy định để tổ chức triển khai thực hiện. Đối với các xã có rừng tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về Luật bảo vệ và phát triển rừng và văn bản hướng dẫn của T.Ư, TP về công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCC rừng trên địa bàn quản lý. (Hà Nội Mới Online 24/7) Về đầu trang

Thúc đẩy trồng rừng cao su bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế

Nhằm thúc đẩy ngành cao su Việt Nam phát triển bền vững, đáp ứng xu hướng của thị trường, ngày 24/7, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) phối hợp với Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam tổ chức hội thảo Thúc đẩy rừng trồng cao su bền vững và chứng chỉ FSC cho các công ty cao su tại Việt Nam.

Theo ông Võ Hoàng An, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cao su Việt Nam, trong những năm gần đây, ngành cao su thiên nhiên đã có những bước phát triển nhanh và có diện tích lớn nhất trong các cây công nghiệp dài ngày tại Việt Nam, đạt trên 976.000ha vào năm 2016.

Với diện tích các vườn cây cao su thanh lý đang gia tăng trong thời gian gần đây, gỗ cao su ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng ngành gỗ và sản phẩm gỗ, góp phần giảm áp lực nhập khẩu và gia tăng kim ngạch xuất khẩu cho ngành gỗ Việt Nam.

Trong năm 2016, gỗ cao su đã đóng góp 22,1% trong tổng giá trị xuất khẩu của ngành gỗ Việt Nam và đóng góp 31,7% tổng giá trị xuất khẩu của cả ngành cao su.

Trong những năm gần đây, thế giới ngày càng quan tâm đến tình trạng suy giảm đối với diện tích và chất lượng rừng, gây ảnh hưởng lớn đối môi trường tự nhiên và khả năng cung cấp sản phẩm từ rừng.

Xu hướng chuyển sang sử dụng sản phẩm từ rừng có nguồn gốc hợp pháp hoặc có chứng nhận quản lý bền vững trên thị trường thế giới ngày càng gia tăng trong bối cảnh các nước đang nỗ lực chống lại sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Vì vậy, chứng chỉ rừng được xem là công cụ để thiết lập quản lý rừng bền vững, đảm bảo đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, môi trường và xã hội.

Ông Lê Thiện Đức, Quản lý Chương trình rừng thuộc WWF Việt Nam cho biết, mặc dù, tiếp cận vấn đề quản lý rừng bền vững từ khá sớm, tuy nhiên diện tích rừng được cấp chứng chỉ ở Việt Nam còn khá khiêm tốn.

Hiện, chỉ mới có khoảng 230.000ha diện tích được cấp chứng chỉ theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản lý rừng thế giới (FSC), đạt 42% so với mục tiêu 500.000 ha vào năm 2020; đồng thời, Việt Nam cũng chưa trình FSC bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững.

Đối với sản phẩm gỗ cao su vẫn còn là lĩnh vực tương đối mới nên đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có diện tích rừng cao su được cấp chứng chỉ FSC.

Ông Trương Minh Trung, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam cho biết, hiện các nước tiêu thụ gỗ cao su chưa đặt nặng vấn đề có chứng chỉ FSC, song về lâu dài thì đây là một trong những yêu cầu tất yếu của thị trường.

Hiện các sản phẩm gỗ có chứng nhận cũng có mức giá cao hơn so với sản phẩm thông thường từ 10-15%.

Trong thời gian tới, Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam sẽ đẩy mạnh trồng rừng đạt chứng chỉ FSC ở các đơn vị thành viên để đồng hành với các nhà tiêu thụ.

Theo khuyến nghị của WWF, để phát triển rừng trồng cao su bền vững, phần diện tích rừng cao su phải đảm bảo các quy định pháp luật của Việt Nam và quốc tế; có quyền sử dụng đất và sở hữu đất rõ ràng; có sự tôn trọng và hỗ trợ người bản địa. Đồng thời, có phương án quản lý bền vững và thực hiện theo phương án quản lý; có biện pháp quản lý giảm thiểu tác động đến môi trường, cải thiện đa dạng sinh học, xác định các vùng loại trừ. (VietnamPlus.vn 24/7; Thiennhien.net 24/7) Về đầu trang

Xu hướng tất yếu phát triển rừng cao su theo hướng bền vững

Mặc dù Việt Nam đã tiếp cận quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng theo thông lệ quốc tế từ khá sớm, nhưng trên thực tế, việc triển khai còn rất chậm. Rừng trồng cao su do doanh nghiệp (DN) vẫn chưa đẩy mạnh triển khai trồng rừng theo hướng bền vững.

Thông tin trên được đưa ra tại hội thảo “Thúc đẩy trồng rừng cao su bền vững và chứng chỉ quản lý rừng bền vững - FSC cho các DN cao su tại Việt Nam” diễn ra ngày 24/7, tại TP. Hồ Chí Minh.

Ông Võ Hoàng An- Phó Chủ tịch Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA)- cho biết, với diện tích các vườn cây cao su thanh lý đang gia tăng trong thời gian gần đây, gỗ cao su ngày càng đóng góp vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng của ngành gỗ, sản phẩm gỗ; góp phần giảm áp lực nhập khẩu và gia tăng kim ngạch xuất khẩu cho ngành gỗ Việt cũng như ngành cao su Việt Nam.

Theo các số liệu của VRA, trong năm 2016, gỗ cao su đã đóng góp khoảng 31,7% vào tổng giá trị xuất khẩu 4,85 tỷ USD của toàn ngành, giúp tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành cao su tăng 16,4% so với 2015.

Ông An cũng cho hay, hiện nay xu hướng chuyển sang sử dụng sản phẩm gỗ từ rừng có nguồn gốc hợp pháp hoặc có chứng nhận quản lý bền vững trên thị trường thế giới ngày càng gia tăng trong bối cảnh các nước đang nỗ lực chống lại sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Vì vậy, chứng chỉ rừng được xem là công cụ để thiết lập quản lý rừng bền vững, đảm bảo đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, môi trường, xã hội.

Mặc dù Việt Nam đã tiếp cận quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng theo thông lệ quốc tế từ khá sớm nhưng việc triển khai cấp chứng chỉ rừng bền vững còn chậm, chưa có nhiều lựa chọn về hệ thống cấp chứng chỉ rừng cho các chủ rừng. Trên thực tế, diện tích cấp chứng chỉ đến nay mới chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng diện tích rừng Việt Nam đang có; trong khi mục tiêu đến năm 2020 phải có 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ rừng. Riêng với ngành cao su, có một phần diện tích là rừng trồng, việc áp dụng chứng chỉ đã được các doanh nghiệp lớn quan tâm thực hiện nhưng đến nay vẫn gặp nhiều khó khăn đối với việc đảm bảo đáp ứng các tiêu chí của chứng chỉ trong thời gian dài.

Liên quan đến vấn đề này, bà Vũ Quế Anh- Điều phối viên FSC (Hội đồng quản lý rừng - Foest Stewarship Council) tại Việt Nam- cho biết, Việt Nam có hơn 200.000ha rừng được cấp chứng chỉ FSC với khoảng 538 DN có chứng chỉ FSC, song với rừng trồng cao su thì vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân do nhận thức của DN và chủ rừng chưa cao; các cơ quan quản lý, tổ chức chưa có tác động mạnh cho chủ rừng hiểu về việc bắt buộc phải có chứng chỉ này…

Ông Trương Minh Trung- Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam- thừa nhận, tập đoàn có khoảng 420 ngàn ha rừng trồng cao su (trong đó 300 ngàn ha trong nước và 120 ngàn ha ở nước ngoài) nhưng hiện vẫn chưa có chứng chỉ FSC.

Ông Trung cho hay, tập đoàn nhận thức rõ tầm quan trọng của chứng chỉ FSC với rừng cao su nên đang hợp tác với Hiệp hội cao su và đang tìm đơn vị tư vấn để cuối năm nay hoặc trong năm 2018 sẽ có rừng trồng đạt chứng chỉ FSC. Lý do bắt buộc phải có chứng chỉ được ông Trung cho biết, đây là xu hướng chung toàn cầu và muốn phát triển lâu dài bền vững thì buộc phải đáp ứng tiêu chuẩn của thế giới. (Công Thương Online 24/7) Về đầu trang

Thanh Hóa: Hàng loạt khối gỗ lậu cất giấu dưới đáy thùng xe tải

Chiều 24/7, thông tin từ Trạm CSGT QL 1A (Công an Thanh Hóa) cho biết đơn vị vừa bắt giữ xe ô tô chở gỗ lậu đi tiêu thụ.

Trước đó, vào khoảng 5h ngày 23/7, khi tổ TTKS CSGT đang làm nhiệm vụ trên QL 1A đoạn chạy qua xã Trường Lâm, huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) thì phát hiện xe ô tô tải mang BKS 74C-023.55 vi phạm luật giao thông đường bộ nên đã dừng phương tiện kiểm tra hành chính.

Qua kiểm tra tại chỗ, lực lượng CSGT phát hiện trên xe vận chuyển 357 thanh gỗ xẻ cẩm lai N1=1,635m3; 272 thanh gỗ xẻ hương N1=1,685m3 và 700kg gỗ tận dụng cẩm lai với tổng cộng 6,012m3 gỗ.

Tại thời điểm kiểm tra, tài xế khai nhận là Phan Minh Tâm (SN 1980) trú TX Quảng Trị (Quảng Trị) đã không xuất trình được bất cứ giấy tờ nào chứng minh nguồn gốc số hàng trên.

Ngay sau đó, tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ phương tiện và toàn bộ số hàng trên bàn giao cho cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan chức năng, tài xế khai nhận vận chuyển số gỗ trên từ Quảng Trị đi Ninh Bình tiêu thụ.

Hiện vụ việc đang được tiếp tục điều tra, làm rõ. (Infonet.vn 24/7) Về đầu trang

Bắc KạnNa Rì trồng rừng vượt kế hoạch

Năm nay, huyện Na Rì có kế hoạch trồng mới 970ha rừng, kết thúc khung thời vụ, toàn huyện đã trồng được trên 1.000ha rừng, đạt 106% kế hoạch.

Trong đó, huyện trồng rừng sản xuất tập trung được 450ha, trên 310ha rừng phân tán, còn lại là rừng phòng hộ và rừng do dân tự trồng.

Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền các địa phương, Ban quản lý Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng của huyện và cùng với việc cấp cây giống được triển khai kịp thời nên người dân đã triển khai trồng rừng theo đúng tiến độ đề ra.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được thì trong vụ trồng rừng vừa qua, do lực lượng kiểm lâm và chính quyền ở một số địa phương chưa sâu sát trong việc hướng dẫn người dân quy trình, thủ tục xử lý, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt để trồng rừng nên đã để xảy ra tình trạng tùy tiện khai phá rừng trái phép, làm thiệt hại hơn 13ha rừng ở xã Đổng Xá. Đây cũng là bài học cần được chính quyền và ngành chức năng của huyện Na Rì rút kinh nghiệm trong các vụ trồng rừng tiếp theo. (Backantv.vn 24/7) Về đầu trang

Bắc Giang: Giải quyết tranh chấp, lấn chiếm đất rừng: Chậm trễ do đâu?

Tình trạng xâm lấn, tranh chấp đất rừng diễn ra kéo dài và phức tạp ở nhiều nơi trong tỉnh Bắc Giang. Trong khi đó việc giải quyết còn chậm trễ, chưa dứt điểm, do đâu?

Tìm hiểu tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất rừng trên địa bàn huyện Yên Thế, chúng tôi cùng cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện về thôn Đền Cô (xã Tam Hiệp). Đến khoảnh rừng 2,2 ha đang tranh chấp với Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Yên Thế (gọi tắt là Công ty Lâm nghiệp Yên Thế), bà Bùi Thị Hòe kể, năm 2012 gia đình bà và Công ty ký hợp đồng khoán trồng rừng năm một. Gia đình bà được Công ty cấp giống, phân bón và trả công trồng rừng. Cho rằng đây là diện tích đã được sử dụng ổn định, lâu dài từ hàng chục năm trước, bà Hòe đã gửi đơn thư đến các cấp, ngành đòi đất. Vụ việc kéo dài hơn 4 năm nay nhưng chưa giải quyết xong. Không chỉ hộ bà Hòe, việc tranh chấp, lấn chiếm đất rừng còn xảy ra nhiều tại các xã: Canh Nậu, Tam Tiến, Đồng Tiến, Tiến Thắng, Xuân Lương, Đồng Sơn… với diện tích tranh chấp, lấn chiếm khoảng 433 ha. Trong đó, Công ty Lâm nghiệp Yên Thế bị chiếm, tranh chấp 57,7 ha; Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và thương mại Trường Lộc 7,9 ha; Lâm trường Đồng Sơn (Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đông Bắc) hơn 378 ha.

Tại huyện Lục Nam, từ cuối năm 2016 đến nay, người dân xã Lục Sơn tự ý phát, đốt 52,4 ha rừng tự nhiên nghèo kiệt của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Mai Sơn (Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn) nhằm mục đích lấn chiếm đất của doanh nghiệp (DN) này. Ông Nguyễn Văn Bình, Giám đốc Công ty cho biết: “Thực tế, tình trạng người dân xâm lấn đất của đơn vị diễn ra từ cuối năm 2015. Lợi dụng việc được Công ty thuê trồng rừng, một số hộ thôn Hồng và Bãi Đá (xã Lục Sơn) không trồng cây do DN cung cấp mà tự ý mang cây của mình đến trồng rồi coi đó là đất của gia đình. Từ đó đến nay, chúng tôi đã không ít lần báo cáo, xin ý kiến của UBND huyện song vụ việc vẫn giậm chân tại chỗ, thậm chí còn phức tạp hơn”. Tại các huyện Lục Ngạn, Sơn Động cũng xảy ra tình trạng người dân tranh chấp, lấn chiếm đất rừng của các DN lâm nghiệp. Khi các vụ việc xảy ra, cơ quan chức năng một số huyện chưa vào cuộc giải quyết dứt điểm dẫn tới nhiều hộ cố tình tạo tranh chấp, khiếu kiện nhằm chiếm đoạt quyền sử dụng đất của các DN lâm nghiệp.

Ngành tham mưu với UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương tăng cường đối thoại với nhân dân, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng để có hướng tuyên truyền, giải thích hiệu quả. Đồng thời, yêu cầu hạt kiểm lâm các huyện bám, nắm địa bàn, nâng cao hiệu quả quản lý, thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp, qua đó chấn chỉnh trường hợp vi phạm”.

Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, dẫn đến nhiều vụ xâm lấn đất rừng là do nhu cầu về đất sản xuất của người dân ngày càng lớn, đất lâm nghiệp cho giá trị kinh tế cao. Sau khi khoán cho các hộ, các DN buông lỏng quản lý dẫn đến khi thu hoạch, người dân không nộp sản phẩm khoán, trả lại diện tích mà tự ý trồng cây khác để chiếm diện tích. Thậm chí, Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn còn bị hàng chục hộ dân ngang nhiên phá rừng tự nhiên để trồng keo, bạch đàn từ nhiều năm qua nhưng đến nay DN và cơ quan chức năng vẫn chưa làm rõ đối tượng vi phạm để xử lý, ngăn chặn. Việc cắm mốc, phân định ranh giới, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các DN triển khai chậm. Công tác quản lý nhà nước còn chồng chéo gây hiểu nhầm, bức xúc cho người dân. Đơn cử như trước đây, UBND huyện Yên Thế đã giao đất lâm nghiệp (sổ xanh) trái thẩm quyền cho nhiều hộ dân, sau đó UBND huyện có quyết định thu hồi nhưng thực tế nhiều hộ vẫn còn lưu giữ, sử dụng. Các DN lâm nghiệp có nhiều lần thay đổi về mô hình hoạt động, diện tích đất được giao quản lý lớn, có sự biến động qua các thời kỳ...

Nguyên nhân việc giải quyết các vụ tranh chấp đất rừng còn chậm trễ,  đó là: Dù đã tham mưu với UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản trả lời, giải quyết đơn thư, khiếu nại của công dân liên quan đến đất rừng nhưng một số sở, ngành của tỉnh chưa kịp thời đối thoại, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tuyên truyền rõ chủ trương, chính sách và các quy định liên quan đến người dân. Lãnh đạo UBND một số huyện, xã có rừng chưa vào cuộc quyết liệt mà coi nhiệm vụ này là của cấp tỉnh với lý do DN được UBND tỉnh giao đất, quản lý về mọi mặt... Lợi dụng khiếu kiện của công dân, nhân thời điểm thực hiện chính sách chuyển đổi DN lâm nghiệp từ một thành viên sang mô hình hai thành viên, một số đối tượng cơ hội đã xuyên tạc, liên kết xúi giục, kích động gây phức tạp, mất an ninh trật tự trên địa bàn... Nhiều trường hợp người dân lấn chiếm đất, vi phạm hợp đồng khoán đã bị các công ty lâm nghiệp khởi kiện nhưng công tác thụ lý, xét xử của tòa án các huyện còn chậm, người dân không tham gia hòa giải tại cơ sở nên chưa đủ điều kiện giải quyết...

Xác định diện tích đất lâm nghiệp do các DN lâm nghiệp quản lý có vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế rừng, cải thiện môi trường sinh thái, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia…, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương vào cuộc quyết liệt hơn nữa để xử lý các vụ việc. Tiếp tục đối thoại, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng; tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu rõ chính sách pháp luật, giải quyết các vụ việc liên quan. Tăng cường thanh, kiểm tra, qua đó chấn chỉnh, xử lý kịp thời những tập thể, cá nhân có vi phạm; nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp.

Cùng đó cần thực hiện nghiêm phương án chuyển đổi, sắp xếp các công ty lâm nghiệp từ mô hình một thành viên sang hai thành viên. UBND các huyện rà soát, xử lý các đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc thẩm quyền. Thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý đất đai trên địa bàn, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chuyên môn ngăn chặn các vụ việc lấn chiếm đất, phá rừng của các DN lâm nghiệp trên địa bàn. (Baobacgiang.com.vn 24/7) Về đầu trang

Khánh Hòa: Ninh Hòa nỗ lực ngăn chặn nạn xâm hại rừng

Lực lượng kiểm lâm thị xã Ninh Hòa đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra, truy quét để ngăn chặn tình trạng khai thác lâm sản trái phép, đốt than, lấn chiếm đất rừng làm rẫy.

Qua tiếp xúc với đại biểu HĐND tỉnh, cử tri xã Ninh Ích phản ánh tình trạng đốt than trên địa bàn xã tồn tại đã nhiều năm nay, cứ khi nào lực lượng kiểm lâm, lực lượng của xã tổ chức truy quét, triệt phá lò than thì tình trạng này tạm lắng một thời gian, sau đó tái diễn. Nếu tình trạng này không được giải quyết dứt điểm thì sẽ ảnh hưởng lớn đến tài nguyên rừng trên địa bàn.

Theo thông tin từ Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa, qua tổ chức kiểm tra, nắm bắt tình hình, các đối tượng đốt than tại khu vực này chủ yếu là người dân xã Vĩnh Lương (TP. Nha Trang). 6 tháng đầu năm 2017, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa đã phối hợp với UBND xã Ninh Ích và Đồn Biên phòng Vĩnh Lương tổ chức nhiều đợt kiểm tra, phá hủy các hầm, lò than tại Tiểu khu 101 và 103, xã Ninh Ích. Qua đó, đã đập phá và tháo dỡ 11 hầm, lò than kiên cố; tiêu hủy tại rừng khoảng 1.600kg than hầm và một số lều bạt. Nhờ tổ chức tuần tra kiểm tra thường xuyên, đến nay, tình hình khai thác lâm sản đốt than tại khu vực đã có dấu hiệu giảm. Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa đã chỉ đạo Trạm Kiểm lâm Ninh Lộc phối hợp với UBND xã Ninh Ích và Đồn Biên phòng Vĩnh Lương tăng cường tuần tra rừng tại khu vực này để tránh tình trạng người dân tiếp tục vào rừng đốt than.

Nhận được tin báo của quần chúng, tại khu vực Trường Bơi (xã Ninh Lộc) xảy ra tình trạng phá rừng lấn chiếm đất làm rẫy trái pháp luật, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa đã chỉ đạo Trạm Kiểm lâm Ninh Lộc phối hợp với UBND xã Ninh Lộc kiểm tra và phát hiện 1 lô đất có diện tích khoảng 2.000m2 thuộc khoảnh 1, Tiểu khu 96 (đất ngoài quy hoạch 3 loại rừng, do UBND xã Ninh Lộc quản lý theo kết quả kiểm kê rừng năm 2016) là rẫy cũ, hầu hết là cây bụi và dây leo đã được phát dọn nhưng chưa đốt, khu vực xung quanh liền kề là rẫy chuối. Cơ quan chức năng đang xác định đối tượng phát dọn khu rẫy này để tiến hành các bước xử lý theo quy định.

6 tháng đầu năm, lực lượng chức năng thị xã Ninh Hòa đã phát hiện, lập biên bản 23 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 14 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng kiểm lâm đã tiến hành xử lý 19 vụ, tịch thu hơn 8m3 gỗ tròn, hơn 46,8m3 gỗ xẻ hộp, thu nộp ngân sách gần 410 triệu đồng.

Ngoài ra lực lượng chức năng thị xã Ninh Hòa chú trọng đến việc ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tại khu vực rừng trọng điểm như: khu vực thượng nguồn thủy điện Ea Krong Rou, tuyến Tỉnh lộ 8B, khu vực Ninh Lộc - Ninh Hưng, tuyến Quốc lộ 26 từ xã Ninh Tây về phường Ninh Hiệp. Theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa, thời gian qua, Đội Kiểm tra liên ngành bảo vệ rừng của thị xã đã phối hợp tốt với các chủ rừng, trạm kiểm lâm, các địa phương kiểm tra, kiểm soát lâm sản tại các khu vực trọng điểm, qua đó đã hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng xâm hại rừng, không để phát sinh điểm nóng về phá rừng trên địa bàn. Đặc biệt, lực lượng chức năng đã tổ chức nhiều đợt truy quét, ngăn chặn triệt để tình trạng đưa phương tiện vào khu vực hồ thủy điện Ea Krong Rou để vận chuyển lâm sản trái phép. 

Theo ông Lê Văn Đỏ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa, thời gian tới, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân về công tác bảo vệ rừng. Hạt sẽ xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; thường xuyên tổ chức kiểm tra các khu vực rừng trọng điểm, khu vực giáp ranh với các huyện và tỉnh bạn, không để phát sinh điểm nóng phá rừng, ngăn chặn tình trạng dùng xe máy để vận chuyển trái phép lâm sản ở các khu vực. Cùng với đó, hạt chỉ đạo các trạm kiểm lâm tăng cường công tác tuần tra kiểm soát tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trên địa bàn quản lý, nhất là khu vực hồ thủy điện Ea Krong Rou, khu vực các điểm tập kết gỗ, các cơ sở chế biến và kinh doanh lâm sản hoạt động trên địa bàn thị xã; nắm bắt thông tin các xe tải vận chuyển lâm sản trên các tuyến: Tỉnh lộ 8B, Quốc lộ 26, Quốc lộ 1 để có kế hoạch kiểm tra, ngăn chặn… (Báo Khánh Hòa Online 24/7) Về đầu trang

VRG thúc đẩy trồng rừng cao su bền vững

Ngày 24/7, Hiệp hội Cao su (VRA) phối hợp với Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam đã tổ chức hội thảo "Thúc đẩy rừng trồng cao su bền vững và chứng chỉ FSC" cho các Cty cao su tại Việt Nam.

Theo ông Võ Hoàng An, Phó Chủ tịch VRA, những năm gần đây, ngành cao su thiên nhiên đã có những bước phát triển nhanh và có diện tích lớn nhất trong các cây công nghiệp dài ngày tại Việt Nam, đạt trên 976 ngàn ha vào năm 2016.

Với diện tích các vườn cây cao su thanh lý đang gia tăng trong thời gian gần đây, gỗ cao su ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng ngành gỗ và sản phẩm gỗ, góp phần giảm áp lực nhập khẩu và gia tăng kim ngạch xuất khẩu cho ngành gỗ trong nước. Năm 2016, gỗ cao su đã đóng góp 22,1% trong tổng giá trị xuất khẩu của ngành gỗ Việt Nam và đóng góp 31,7% tổng giá trị xuất khẩu của cả ngành cao su.

Tuy nhiên, đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có diện tích rừng cao su được cấp chứng chỉ theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản lý rừng thế giới (FSC) do sản phẩm gỗ cao su vẫn còn là lĩnh vực tương đối mới.

Mặt khác, theo ông Lê Thiện Đức, Quản lý Chương trình rừng thuộc WWF Việt Nam, mặc dù Việt Nam tiếp cận vấn đề quản lý rừng bền vững từ khá sớm, nhưng diện tích rừng được cấp chứng chỉ còn khá khiêm tốn.

Hiện chỉ có khoảng 230 ngàn ha diện tích được cấp chứng chỉ theo tiêu chuẩn FSC, đạt 42% so với mục tiêu 500 ngàn ha vào năm 2020, đồng thời Việt Nam cũng chưa trình FSC bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững. Thế nên đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có diện tích rừng cao su được cấp chứng chỉ FSC.

Ông Trương Minh Trung, PTGĐ Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) cho biết, các nước tiêu thụ gỗ cao su chưa đặt nặng vấn đề có chứng chỉ FSC, song về lâu dài thì đây là một trong những yêu cầu tất yếu của thị trường.

"Hiện các sản phẩm gỗ có chứng nhận cũng có mức giá cao hơn so với sản phẩm thông thường từ 10-15%. Trong thời gian tới, VRG sẽ đẩy mạnh trồng rừng đạt chứng chỉ FSC ở các đơn vị thành viên để đồng hành với các nhà tiêu thụ", ông Trung nhấn mạnh.

Theo khuyến nghị của WWF, để phát triển rừng trồng cao su bền vững, phần diện tích rừng cao su phải đảm bảo các quy định pháp luật của Việt Nam và quốc tế, có quyền sử dụng đất và sở hữu đất rõ ràng, có sự tôn trọng và hỗ trợ người bản địa. Đặc biệt, phải có phương án quản lý bền vững và thực hiện theo phương án quản lý; có biện pháp quản lý giảm thiểu tác động đến môi trường, cải thiện đa dạng sinh học, xác định các vùng loại trừ... (Nông Nghiệp Việt Nam 25/7, tr7; Nông Nghiệp Việt Nam Online 24/7) Về đầu trang

Mô hình xác định trữ lượng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh từ ảnh vệ tinh landsat-8: thử nghiệm tại tỉnh Đăk Nông

Nghiên cứu do nhóm tác giả Phạm Văn Duẩn, Trần Quang Bảo - Trường Đại học Lâm nghiệp và Vũ Thị Thìn - viện Sinh thái rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp thực hiện.

Bản đồ trữ lượng rừng là công cụ quan trọng để quản lý tài nguyên thiên nhiên và thực hiện các chính sách về rừng. Sử dụng ảnh vệ tinh LANDSAT-8, mô hình số độ cao ASTER (DEM), các bản đồ và tài liệu phù trợ, kết hợp với số liệu điều tra rừng trên 396 ô tiêu chuẩn, nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của việc thêm các biến: địa hình, khí hậu, trạng thái rừng kết hợp với biến cấu trúc kênh toàn sắc (Panchromatic) trên ảnh Landsat-8 để xây dựng các mô hình xác định trữ lượng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại tỉnh Đắk Nông. Mô hình dự báo tối ưu được tạo ra với biến đầu vào là các giá trị cấu trúc ảnh ở hướng 1350 so với hướng Bắc và trạng thái rừng. Mô hình có sai số khi ước tính trữ lượng rừng như sau: Sai số trung bình toàn phương (RMSE=40,8 m3 /ha), trung bình toàn phương tương đối (rRMSE=19,1%), tuyệt đối (MAE=31,7 m3 /ha). Việc phân rừng thành các trạng thái tương đối đồng nhất, sau đó sử dụng giá trị cấu trúc ảnh Landsat-8 để dự đoán trữ lượng, đã tăng độ chính xác của mô hình xác định trữ lượng cho đối tượng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại khu vực. Sử dụng tư liệu Landsat-8 miễn phí với phương pháp phân tích cấu trúc ảnh là cơ sở để áp dụng, nhân rộng mô hình xác định trữ lượng cho các khu rừng tự nhiên lá rộng thường xanh khác ở nước ta với điều kiện tương tự. (Canthostnews.vn 24/7; Tạp chí NN&PTNT, Số 6 năm 2017) Về đầu trang

Đắk Lắk: Tan hoang rừng M'đrắk

Từ trong rừng già, đoàn xe công nông nối đuôi nhau chở gỗ ra khỏi rừng, hiên ngang qua trụ sở UBND xã giữa ban ngày trong sự bất lực của chính quyền địa phương.

Rời khỏi rừng tự nhiên Cư Yang, chúng tôi tiếp tục di chuyển về xã Krông Á (huyện M’đrắk, tỉnh Đắk Lắk) để tận mắt chứng kiến tình trạng khai thác lâm sản trái phép nơi đây. Có mặt tại khu vực cửa rừng tự nhiên thuộc thôn 7 (xã Krông Á) vào lúc 8 giờ sáng, chúng tôi chứng kiến hai chiếc xe công nông được cải tiến thồ hàng chục khối gỗ đỗ tại khu vực thôn 7. Tất cả gỗ trên hai chiếc xe này đã được cưa xẻ vuông vắn, dài khoảng 3-3,5m, dày khoảng 30-40cm. Nhóm thanh niên khoảng 4-5 người đang cặm cụi nhóm lửa nấu cơm ngay bên cạnh hai chiếc xe chở gỗ. Chúng tôi phỏng đoán, chắc những người đi rừng chở gỗ mệt nên bình tâm nghỉ ngơi...

Máy cưa, xe công nông hoạt động suốt nhiều ngày, những hộp gỗ do lâm tặc đốn hạ, chuẩn bị vận chuyển đưa đi tiêu thụ, song chính quyền địa phương vẫn thờ ơ.

Trong vai một người hỏi đường vào rừng lấy thuốc, chúng tôi được nhóm thanh niên này tận tình hướng dẫn đi bộ gần chục kilômét thì đến khu vực rừng già thuộc địa bàn xã Krông Á. Men theo con đường mòn rộng khoảng 3m, hình ảnh xe của lâm tặc cày xới thành vệt sâu hõm và chạy dài tít tắp vào rừng. Cứ một đoạn, lại gặp những khúc gỗ có chiều rộng khoảng 50cm, dày 18cm được cắt thành hộp nằm bên vệ đường, như sẵn sàng chờ tới lượt rời khỏi rừng. Chai chứa xăng, nhớt để chạy máy vứt ngổn ngang ngay cạnh đó. Cách đó chưa đầy 500m, chúng tôi tiếp tục bắt gặp điểm tập kết khai thác gỗ giữa rừng tự nhiên, với dấu mùn cưa còn tươi rói.

Sau nhiều giờ lội bộ dưới cái nắng oi bức, chúng tôi lọt hang ổ của lâm tặc với hàng chục điểm tập kết gỗ. Hàng chục khúc gỗ với chiều dài từ 3-5m đã được cưa xẻ thành hộp nằm la liệt giữa rừng già. Không chỉ vậy, nhiều khúc gỗ sau khi cắt xẻ được lâm tặc xếp gọn gàng ngay giữa đường mòn để chờ xe tới bốc đi. Xung quanh các điểm tập kết này, vết mùn cưa vẫn còn mới tinh, nhiều khúc gỗ chưa kịp cưa xẻ có đường kính từ 50-60cm.

Tiếng cưa máy vang lên khắp các quả đồi, tiếng lâm tặc gọi nhau ý ới, tiếng công nông tời gỗ làm náo nhiệt cả một vùng. Xung quanh vị trí mà chúng tôi ghi nhận đều có bóng dáng của lâm tặc. Tất cả những hình ảnh ấy khiến cho khu vực nơi đây chẳng khác nào một đại tụ điểm khai thác gỗ rầm rộ, hiên ngang mặc cho trụ sở UBND xã Krông Á chỉ cách đó hơn 10km. Không khí tang thương bao trùm lên một cánh rừng, sự tàn phá không thương tiếc của con người. Đi bất cứ nơi đâu trong cánh rừng tự nhiên này, chúng tôi cũng bắt gặp hình ảnh gỗ rừng bị triệt hạ.

Rất nhiều cây rừng có đóng tấm bảng ghi rõ dòng chữ: “Cấm chặt phá rừng làm nương rẫy”, nhưng ở giữa thung lũng của rừng cây bị đốn hạ và xẻ không thương tiếc. Một thanh niên người Ê Đê (ngụ xã Krông Jing) chia sẻ, vào nhận khoán, trồng keo trên đất rừng cho một người đàn ông người kinh được hai ngày nay. Thế nhưng, khi chúng tôi đề nghị được cung cấp tên tuổi của người thuê trồng thì nhận được câu trả lời: “Có biết mình cũng không dám nói đâu”. Cũng tại khu vực này, chúng tôi còn bặt gặp hình ảnh người dân “tận dụng” thời gian trong lúc đi trồng cây để cưa hạ cây dầu có đường kính khoảng 30cm, dài hơn 40m rồi đưa xe công đông độ chế vận chuyển. Không chỉ vậy, nhiều thanh niên người M’nông còn đưa xe máy độ chế lên tận đỉnh núi để đưa gỗ ra khỏi rừng. Rừng bị rút ruột, chặt tỉa những cây gỗ to, gỗ quý; còn lại cây tạp, cỏ tranh lau lách...

Rời khỏi rừng tự nhiên, chúng tôi quay trở lại địa bàn thôn 7 với nhiều câu hỏi, tại sao UBND xã Krông Á chỉ cách rừng tự nhiên khoảng chục kilômét nhưng rừng vẫn bị phá tan hoang, gỗ rừng bị khai thác rậm rộ, công khai giữa ban ngày. Phải chăng, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng làm ngơ, hay đã có sự tiếp tay cho lâm tặc phá rừng?

Vào khoảng 16 giờ 40 phút ngày 18/7, đoàn 3-4 chiếc công nông lần lượt chở gỗ rời khỏi cửa rừng, trong đó hai chiếc xe công nông chở hàng chục khúc gỗ hộp phía sau mỗi xe chạy với tốc độ cao hướng về trung tâm xã Krông Á. Hai chiếc xe này chạy hiên ngang qua trụ sở UBND xã Krông Á nhưng không có bất cứ bóng dáng cán bộ nào ra ngăn chặn. Đi theo hai chiếc xe công nông độ chế này là hai thanh niên chạy xe máy bám sát phía sau và 3-5 thanh niên ngồi trên đống gỗ. Khi phóng viên định đưa máy ghi lại hình ảnh thì lập tức bị những thanh niên điều khiển xe máy bám theo, tìm cách đánh lạc hướng.

Trên tuyến đường hướng về thị trấn M’đrắk, chỉ vài trăm mét, chúng tôi lại nhìn thấy một đối tượng “chim xanh” của lâm tặc đứng canh chừng, gác ở các lối rẽ ra vào khu vực dân cư. Phát hiện phóng viên liên tục bám theo, các đối tượng tỏ ra nghi ngờ và tìm cách đánh lạc hướng rồi mất dạng vào nhà dân chỉ sau vài phút. Ngay sau đó, phóng viên đã lùng sục vào nhiều đường hẻm, thậm chí vào tận nhiều nhà dân nhưng vẫn không nhìn thấy bóng dáng của nhóm thanh niên và 2 chiếc xe chở gỗ.

Không bỏ cuộc, phóng viên quay trở lại khu vực trung tâm xã Krông Á thì tiếp tục ghi nhận 2 xe công nông chở gỗ với khối lượng ước tính khoảng 4-5 m3 chạy công khai trên đường liên xã rồi tấp vào một nhà dân ngay bên đường. Trong lúc phóng viên đang nỗ lực tìm kiếm nơi ẩn nấp của những chiếc xe công nông chở gỗ thì một nhóm thanh niên xuất hiện mang theo hung khí, thậm chí chụp lại hình ảnh biển số xe của phóng viên. Thực tế này cho thấy, các đối tượng tỏ ra manh động, bất chấp mỗi khi bị phát hiện.

Không dừng lại ở đó, vào khoảng 21 giờ tối 18/7, một chiếc xe tải không biển số, che bạt xanh tấp đầy gỗ trên xe. Thế nhưng, ngay khi phát hiện có dấu hiệu bị bám theo, đối tượng trên xe đã điều khiển xe tải ẩn nấp vào nhà dân rồi biến mất ngay sau đó.

Sáng 19/7, phóng viên đã liên hệ với ông Hà Công Tài, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng IV để phản ánh về tình trạng rừng tự nhiên tại khu vực xã Krông Á bị tàn phá, khai thác gỗ tràn lan. Sau khi nhận được tin báo ông Tài cho biết: “Tôi sẽ chuyển tin báo này cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk để làm rõ”.

Trước những thông tin mà chúng tôi cung cấp, ông Y Sy Hdơk, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk cho hay: “Tôi sẽ cử lực lượng xuống phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện M’đrắk xuống xác minh, làm rõ những thông tin phản ánh của phóng viên”. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 24/7) Về đầu trang

Lâm Đồng: Đức Trọng xử lý 35 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng

Theo thông tin từ UBND huyện Đức Trọng, từ đầu năm đến nay, cơ quan chức năng trong huyện đã tiến hành kiểm tra, xử lý 35/41 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (giảm 12 vụ so với cùng kỳ). Trong số đó, khai thác rừng trái pháp luật 8 vụ, 21,257 m3 lâm sản bị thiệt hại, giảm 11 vụ; vận chuyển lâm sản trái phép 14 vụ, tăng 4 vụ; mua bán, cất giữ lâm sản trái với các quy định của nhà nước 12 vụ, giảm 11 vụ so với cùng kỳ; phá rừng trái pháp luật 6 vụ, tăng 6 vụ so với cùng kỳ này năm ngoái…

 Ngoài việc tiếp tục xử lý giải tỏa diện tích rừng bị lấn chiếm theo kết luận của Thanh tra tỉnh và các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh, huyện Đức Trọng còn tăng cường công tác kiểm tra tình hình khai thác, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép; lấn chiếm đất rừng và chế biến khoáng sản trái phép để phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật; chỉ đạo xây dựng và triển khai kế hoạch trồng rừng, trồng cây phân tán; phối hợp với các đơn vị chủ rừng kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng, chăm sóc rừng trồng… (Baolamdong.vn 24/7) Về đầu trang

Sơn La: Thiếu hụt nhân lực kiểm lâm phụ trách địa bàn

Từ lâu, lực lượng kiểm lâm phụ trách địa bàn đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng tại cơ sở. Lực lượng này có nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy chính quyền các địa phương xây dựng các phương án phòng cháy chữa cháy và phát triển rừng; phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức của các chủ rừng và người dân sống gần rừng; đồng thời thường xuyên tuần tra bảo vệ rừng và xử lý vi phạm về luật bảo vệ và phát triển rừng ngay tại cơ sở. Mặc dù, có nhiều sự quan tâm của các cấp các ngành và sự nỗ lực của những người kiểm lâm nhưng hiện nay lực lượng còn thiếu hụt khá lớn, trang thiết bị cho việc tuần tra, bảo vệ rừng còn hạn chế, dẫn tới công tác bảo vệ và phát triển rừng còn gặp nhiều khó khăn.

Toàn tỉnh có gần 600.000 ha rừng trong đó rừng đặc dụng có diện tích khoảng 80.000 ha. Theo Nghị định 119 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm, thì cứ gần 1.000 ha rừng phòng hộ phải có 1 kiểm lâm viên và 500 ha rừng đặc dụng cần 1 kiểm lâm viên phụ trách. Như vậy, tỉnh Sơn La cần khoảng gần 600 biên chế cho lực lượng kiểm lâm chưa bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý, văn phòng, tuy nhiên đến nay số lượng này mới chỉ khoảng trên 400, trong đó kiểm lâm phụ trách địa bàn mới chỉ có khoảng 230 người.

Ông Phạm Ngọc Cừ- Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La: Nếu theo quy định của chính phủ thì định mức giữa diện tích rừng và biên chế, thì bình quân cứ 1.000 ha rừng có 1 biên chế, còn với rừng đặc dụng và khu bảo tồn là 500 ha. Nếu như vậy với tỉnh Sơn La có gần 80.000ha rừng đặc dụng thì chúng ta cần 160 kiểm lâm, còn lại là 520 biên chế, như vậy là cần khoảng 600 kiểm lâm nữa. Nhưng hiện nay biên chế của lực lượng kiểm lâm mới chỉ đáp ứng được 67% so với định mức của Chính phủ.

Xã Chiềng Xuân và Xuân Nha huyện Vân Hồ có trên 11.000 ha rừng nằm trọn trong rừng đặc rụng Xuân Nha. Đây chủ yếu là rừng lõi với nhiều loại gỗ quý hiến như pơ mu, xa mu, xa mộc, chò chỉ, thông… Để bảo vệ tốt diện tích rừng, kiểm lâm phụ trách địa bàn đã thường xuyên phối hợp với các cấp chính quyền cơ sở, cùng các lực lượng chức năng đứng chân trên địa bàn thường xuyên tuần tra, kiểm tra các các khu rừng đặc biệt là những khu vực cửa rừng có đông người qua lại. Đồng thời, tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng và những người dân sống gần rừng. Qua đó, giúp người dân hiểu hơn về trách nhiệm của mình từ đó giữ vững diện tích rừng hiện còn.

Ông Mùa A Thào- Trưởng bản Khò Hồng, xã Chiềng Xuân, Vân Hồ, Sơn La: Vai trò của kiêm lâm phụ trách địa bàn, có đồng chí kiểm lâm địa bàn về phối hợp cùng ban quản lý bản với bà con nhân dân trong các cuộc họp có kiểm lâm xuống tuyên truyền cho bà con về trách nhiệm bảo vệ rừng, qua đó thì bà con cũng hiểu rất nhiều về rừng nên giữ rừng rất tốt.

Trong những năm qua, trên địa bàn 2 xã Chiềng Xuân và Xuân Nha không xảy ra những sự việc trọng điểm nào về vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Có được kết quả đó, một phần là nhờ sự đóng góp thầm lặng của những người kiểm lâm phụ trách địa bàn, khi không ngại gian khổ, giữ vững từng ha rừng. Tuy nhiên, việc quản lý 11.000 ha rừng mà chỉ có 2 kiểm lâm viên phụ trách, cùng với việc các đối tượng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày càng tinh vi, manh động nên việc quản lý diện tích rừng còn gặp nhiều khó khăn.

Chị Hà Thị Duyên- Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Chiềng Xuân, Xuân Nha, Hạt kiểm lâm rừng Đặc dụng Xuân Nha: Đây là địa hình miền núi, đi lại hiểm trở, khó khăn trong khi đó các đối tượng lâm tạc càng ngày càng tinh vi, có đầy đủ các phương tiện. Hơn nữa, trong địa bàn có người dân sinh sống trong rừng đặc dụng chủ yếu là người mông nhận thức và học vấn còn kém lên ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng đặc dụng. Xuất phát từ những khó khăn đó thì các đồng chí trong tổ trạm cũng như tôi luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ luôn đi tuần tra kiểm tra vận động từng bản, tuyên truyền vận động người dân nâng cao nhận thức bảo vệ rừng. Tổ trạm cũng phối hợp với các cơ quan chuyên môn tuần tra, tuyên truyền nhờ đó công tác bảo vệ rừng tốt hơn. Tôi xin kiến nghị với cơ quan cấp trên hỗ trợ phương tiện tuần tra, thông tin liên lạc với người dân ở vùng núi mở rộng hơn, tuyên truyền thuận lợi hơn.

Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Xuân Nha quản lý gần 19.000 ha rừng nằm trải dài trên 4 xã thuộc 2 huyện Mộc Châu và Vân Hồ. Đây là khu vực có địa hình hiểm trở, nhiều núi cao, vực sâu, lại giáp ranh với tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình và biên giới với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nên việc tuần tra bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay, Hạt có 24 biên chế bảo gồm cả viên chức quản lý, văn phòng, trong đó 6 cán bộ biệt phái tại các đơn vị khác, lực lượng kiểm lâm phụ trách địa bàn chỉ có 8 người cùng phương tiện hỗ trợ thô sơ dẫn tới việc quản lý, bảo vệ rừng, tuyên truyền vận động nhân dân còn nhiều hạn chế.

Ông Bàn Đức Quang – Phó hạt trưởng hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Xuân Nha: Diện tích rừng 18.000 ha rất nhiều đường lối có thể khai thác, vân chuyển gỗ ra được, nên chúng tôi chỉ có 18 biên chế trong đó chỉ có 8 kiểm lâm phụ trách địa bàn, quản lý rừng dài 50 km, trong đó dân sống ở nơi có rừng được chúng tôi thường xuyên tổ chức cho cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn tuyên truyền, thường xuyên tuần tra bảo vệ không xảy ra tình trạng phá rừng. Cũng mong cấp trên quan tâm hơn nữa bố trí biên chế cho hạt đặc dụng Xuân Nha.

Huyện Sốp Cộp có diện tích rừng khá lớn khoảng gần 67.000 ha, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Tuy nhiên hiện nay trên địa bàn toàn huyện chỉ có 7 kiểm lâm phụ trách địa bàn. Do lực lượng quá mỏng, một công chức kiểm lâm cùng lúc phải phụ trách địa bàn nhiều xã, diện tích theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp có nơi hơn 10.000ha. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên, hầu hết kiểm lâm viên phụ trách địa bàn đang phải kiêm nhiệm nhiều công tác khác trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

Anh Nguyễn Văn Hữu- Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Nậm Lạnh, Mường Và, Hạt kiểm lâm Sốp Cộp: Là kiểm lâm phụ trách địa bàn tôi phải phụ trách 2 xã nên gặp nhiều khó khăn, thứ nhất là diện tích rừng được giao lớn trên 42.000 ha, nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế, đường xá đi lại khó khăn, chính sách hỗ trợ cho kiểm lâm địa bàn đôi khi chưa được đáp ứng, kiếm nghị với các cấp các ngành có chính sách hỗ trợ để kiểm lâm địa bàn làm tốt công tác bảo vệ rừng

Ông Ngô Văn Độ - Phó Hạt trưởng hạt Kiểm lâm Sốp Cộp: Đề nghị với chi cục kiểm lâm tăng cường kiểm lâm địa bàn để làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng, quản lý bảo vệ rừng, giảm gánh nặng cho các đồng chí kiểm lâm địa bàn hiện nay, đề nghị với tỉnh có những chính sách hỗ trợ với kiểm lâm địa bàn chúng tôi vì địa bàn đến các xã quá xa

Tuy nhiên, theo đề án tinh giảm biên chế của tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2015- 2021 thì việc bổ xung biên chế cho lực lượng kiểm lâm là vô cùng khó khăn. Trước tình hình đó, một trong những giải pháp cấp bách được ngành kiểm lâm đưa ra đó là nâng cao chất lượng đội ngũ, trong đó chú trọng tới việc đào tạo, tập huấn, bổ xung kiến thức, xử lý nhanh các tình huống nghiệp vụ chuyên ngành, làm tốt công tác tham mưu cho UBND các xã trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của của cấp ủy, chính quyền cơ sở và nhân dân trong công tác bảo vệ rừng cũng được đặc biệt chú trọng.

Ông Phạm Ngọc Cừ- Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La: Cái quan trọng nhất hiện nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng xác định và nhiệm vụ của toàn đảng toàn dân, toàn quân, nhiệm vụ của cơ quan chuyên ngành mang tính chất tham mưu và hướng dân, như vậy số lượng cán bộ với chất lượng cán bộ, lấy chất lượng cán bộ làm trọng tâm, tăng cường đào tạo bồi dưỡng một thế hệ cán bộ ngoài phẩm chất chính trị ra, tinh thần ra thì phải yêu ngành thì mới có thể giúp cấp ủy chính quyền tổ chức triển khai nhiệm vụ đó. Chúng tôi kiến nghị các cấp mở rộng nội dung đưa đa dạng các nội dung vào tập huấn để anh em kịp thời cập nhật, tiếp thu triển khai công việc trong thực tế.

Thực tế, công tác quản lý và bảo vệ rừng không chỉ của lực lượng Kiểm lâm mà của toàn xã hội. Tuy nhiên, với vai trò là lực lượng nòng cốt, bài toán nguồn nhân lực cho ngành Kiểm lâm cũng cần sớm có lời giải. Có như vậy, mới đảm bảo tốt cho việc giữ vững diện tích rừng hiện còn của tỉnh và từng bước nâng cao độ che phủ rừng, phấn đấu đạt chỉ tiêu đến năm 2020 độ che phủ rừng đạt 50%. (Sonlatv.vn 24/7) Về đầu trang

Tuyên Quang: Bảo tồn đa dạng sinh học: Điều kiện để phát triển bền vững

Hệ sinh thái của tỉnh ta được xếp hạng là một trong 223 hệ sinh thái giàu tính đa dạng sinh học nhất thế giới, trong đó hệ sinh thái rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh lâu năm có diện tích trên 31.000 ha, tập trung chủ yếu tại các huyện phía bắc của tỉnh như Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hóa với khoảng trên 2.000 loài thực vật, có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam.

Trong số này có 69 loài thực vật và 39 loài động vật quý, hiếm đang có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng tại Việt Nam và trên thế giới như hoàng đàn, re hương, hoàng liên chân gà, vạc hoa, voọc mũi hếch, báo hoa mai và sóc bay lông tai, trăn đất, rùa hộp ba vạch và hổ chúa...

Trước thực trạng trên, từ năm 2013, tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2013 - 2020, định hướng đến 2030. Theo đó, tỉnh đã quyết định dành hơn 105 tỷ đồng để thực hiện 9 nhóm dự án ưu tiên nhằm bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh, tập trung vào một số khu vực trọng tâm như Na Hang, Lâm Bình, Sơn Dương. Tuy nhiên, theo Sở Tài nguyên và Môi trường, do nguồn lực hạn chế, đến nay 4 dự án phải hoàn thành từ năm 2013 đến nay gồm: Dự án điều tra khảo sát và đề xuất các biện pháp ngăn chặn kiểm soát các loài sinh vật ngoại lai xâm hại; xây dựng mô hình trồng dược liệu cho dân cư vùng giáp ranh khu bảo tồn Na Hang và Cham Chu; phát triển du lịch sinh thái gắn với cộng đồng tại các khu bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Tuyên Quang; tăng cường năng lực quản lý cho các khu bảo tồn Na Hang, Cham Chu và Tân Trào đều chưa có kinh phí thực hiện.

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, để không ngừng nâng cao chất lượng quản lý, bảo tồn hệ sinh thái trên địa bàn, tỉnh đã thành lập 3 khu bảo tồn: Khu bảo tồn Na Hang được thành lập năm 1994; Rừng đặc dụng Tân Trào thành lập năm 1997; Khu bảo tồn Cham Chu thành lập năm 2001 với nhiệm vụ là quản lý bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn tài nguyên sinh vật và nghiên cứu khoa học, tuyên truyền giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái. Đồng thời, thực hiện nhiều dự án liên quan bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: Dự án trồng rừng theo Chương trình 327; chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng với mục tiêu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc gắn với phát triển kinh tế - xã hội và dự án bảo vệ các loài động vật quý hiếm như dự án bảo tồn voọc mũi hếch, voọc đen má trắng tại Na Hang, Lâm Bình. 

Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu cũng xây dựng dự án điều tra, đánh giá hiện trạng các loài động, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm và đưa ra các giải pháp để bảo tồn và phát triển bền vững các loài động, thực vật tại đây. Các khu bảo tồn kết nối với các tổ chức phi chính phủ thực hiện các dự án bảo tồn hơn 50 cá thể voọc mũi hếch ở Na Hang; dự án bảo tồn hơn 60 cá thể voọc đen má trắng tại Lâm Bình.

Tại một số địa bàn có hệ sinh thái đa dạng, tỉnh thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung (Na Hang); Khu bảo vệ cảnh quan Tân Trào; chuẩn bị thành lập Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Khuôn Hà, Thượng Lâm (Lâm Bình). Bên cạnh đó, ngành Kiểm lâm tỉnh tập trung tuyên truyền, nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ hệ sinh thái trên địa bàn. (Báo Tuyên Quang Online 24/7) Về đầu trang

Quảng Ninh: Phát triển và bảo vệ rừng bền vững

Những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được các cấp, các ngành, địa phương huyện Quảng Ninh luôn chú trọng thực hiện. Đến nay, độ che phủ rừng toàn huyện được nâng lên đáng kể, đạt gần 71%. Tuy vậy, hiện nay, Quảng Ninh vẫn tồn tại một số bất cập trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Huyện Quảng Ninh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 102.305ha; trong đó, rừng tự nhiên 78.746ha, rừng trồng 15.030ha và đất lâm nghiệp 8.528ha, với 3 loại rừng gồm: rừng đặc dụng 127,5 ha, rừng phòng hộ 44.778ha và rừng sản xuất 55.869ha.

Ông Nguyễn Ngọc Thụ, Phó Chủ tịch UBND huyện Quảng Ninh cho biết, để bảo vệ và phát triển rừng bền vững, huyện Quảng Ninh đã tăng cường giao đất, giao rừng cho người dân. Đến nay, toàn huyện đã thực hiện giao khoán rừng đến từng tổ chức kinh tế, từng hộ gia đình, bảo đảm cho rừng có chủ thực sự. Nhân dân đã chủ động phát triển vốn rừng, xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng thôn, bản một cách hiệu quả. Với những diện tích rừng được giao quản lý, sử dụng, người dân đã yên tâm đầu tư phát triển, chăm sóc, qua đó nâng cao được hiệu quả của việc trồng và bảo vệ rừng.

Năm 2016, toàn huyện đã trồng được 952 ha rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng 2.536 ha, chăm sóc rừng trồng 1.496 ha, giao khoán bảo vệ rừng 16.116 ha; khai thác rừng trồng 462 ha với sản lượng 17.032m3, khai thác gỗ rừng tự nhiên theo kế hoạch tại Chi nhánh Lâm trường Trường Sơn với khối lượng 6.653m3. Trong 6 tháng đầu năm 2017, Quảng Ninh trồng 128 ha rừng, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng đạt 12.403 m3, chăm sóc 3.626 ha rừng...

Công tác quản lý bảo vệ rừng đã được các cấp, các ngành, địa phương trong huyện chú trọng thực hiện, nhất là công tác tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép, gây hủy hoại môi trường trên địa bàn.

Lực lượng Kiểm lâm từ huyện đến cơ sở đã thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong công tác tham mưu kịp thời cho cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và chống chặt phá rừng.

Trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, huyện xây dựng các phương án cụ thể; phân công trách nhiệm cho các đơn vị liên quan. Các lực lượng chức năng của huyện luôn phối hợp với UBND các xã có rừng xây dựng lực lượng tại chỗ, bám sát địa bàn, khu vực có rừng, thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra, nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Vì vậy, trong những năm gần đây, trên địa bàn không để xảy ra các vụ cháy rừng lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng và tài sản của nhân dân.

Theo số liệu tổng hợp của Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh, năm 2016, các cơ quan chức năng của huyện đã phát hiện, lập biên bản xử lý 91 vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng, thu giữ gần 98 m3 gỗ,  tổng số tiền xử lý hành chính trên 1 tỷ đồng.

Riêng trong 6 tháng đầu năm 2017, lực lượng chức năng phát hiện, lập biên bản 29 vụ vi phạm lâm luật, tạm giữ 15,71m3 gỗ các loại (trong đó có 7,584m3 gỗ quý hiếm); đã xử lý 27 vụ, tịch thu 12,936m3 gỗ các loại (trong đó có 4,863m3 gỗ quý hiếm), thu nộp ngân sách Nhà nước 304 triệu đồng. Nhờ tích cực triển khai các giải pháp, nên tình hình bảo vệ rừng trên địa bàn đã giữ được ổn định, không có điểm nóng về phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Mậu Phấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện, công tác quản lý và phát triển rừng ở Quảng Ninh vẫn còn nhiều tồn tại. Kết quả phát triển rừng không đồng đều giữa các vùng; chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm; đời sống của người dân sống liền rừng, ven rừng còn khó khăn, chủ yếu dựa vào rừng để mưu sinh. Công tác rà soát, bóc tách đất lâm nghiệp đề nghị UBND tỉnh thu hồi từ các đơn vị chủ rừng giao về địa phương quản lý để trồng rừng, phát triển lâm nghiệp ở xã Trường Sơn còn bất cập, chưa đạt được mục tiêu đề ra. Ở một vài nơi do quản lý, bảo vệ rừng chưa chặt chẽ đã xảy ra một số vi phạm.

Đặc biệt ở địa bàn xã Trường Sơn, người dân địa bàn vào rừng với số lượng khá lớn tại tiểu khu rừng dọc tuyến khe Lồ Ô và một số khu vực rừng do cộng đồng thôn bản quản lý để khai thác, vận chuyển gỗ trái phép. Thậm chí, bà con còn có hành vi chống đối khi bị ngăn chặn, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn. Một số diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao đã bị chuyển đổi mục đích khác nhưng chưa xử lý kiên quyết, kịp thời.

Trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng “tại gốc” của một số chủ rừng và ban quản lý rừng cộng đồng chưa cao. Năng lực, trang bị của lực lượng quản lý bảo vệ rừng trực tiếp còn thấp; năng lực quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của đơn vị chủ rừng còn hạn chế...

Nhằm hạn chế những bất cập nêu trên, ông Nguyễn Ngọc Thụ cho biết, năm 2017 và những năm tiếp theo, huyện Quảng Ninh đề ra kế hoạch đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, phấn đấu đưa tỷ lệ che phủ rừng đạt 72% trở lên.

Trong đó, huyện tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng; chuyển mạnh mô hình tăng trưởng lâm nghiệp theo hướng từ trồng rừng cây gỗ nhỏ sang trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn để phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường.

Để thực hiện mục tiêu, huyện tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ, phát triển rừng trong nhân dân cùng với việc tiếp tục thực hiện sắp xếp, kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý gắn với tăng cường bảo vệ tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp; tập trung quản lý bảo vệ tốt những diện tích rừng hiện có, nhất là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển.

Đồng thời, Quảng Ninh thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp trên cơ sở tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật trong việc chọn tạo giống có chất lượng và năng suất cao cho nhóm cây chủ lực trồng rừng sản xuất; tổ chức sản xuất theo chuỗi sản phẩm từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; nhân rộng các mô hình hợp tác trong lâm nghiệp, thúc đẩy tạo điều kiện thuận lợi để nông dân, hộ gia đình góp cùng doanh nghiệp tổ chức sản xuất lâm nghiệp quy mô lớn; phát huy vai trò của trang trại, gia trại lâm nghiệp.

“Việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư, thôn, hộ gia đình, cá nhân quản lý, sản xuất trên địa bàn thời gian qua đã mang lại kết quả tích cực. Do vậy, huyện Quảng Ninh tiếp tục đẩy mạnh công tác này bảo đảm tất cả diện tích rừng đều có chủ cụ thể và thực hiện phương thức đồng quản lý trong quản lý rừng; tạo điều kiện tích tụ đất lâm nghiệp thành vùng nguyên liệu chủ yếu bằng phương thức liên kết, liên doanh trồng rừng và doanh nghiệp chế biến.

Bên cạnh đó, huyện cũng chú trọng đầu tư vốn để phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng nhằm ổn định diện tích rừng, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai bền vững”- Phó Chủ tịch UBND huyện Quảng Ninh, Nguyễn Ngọc Thụ nhấn mạnh. (Báo Quảng Ninh Online 24/7) Về đầu trang

Tìm giải pháp phát triển tôm - rừng

Ngày 20/7, tại TP Cà Mau (tỉnh Cà Mau), Tổng cục Thủy sản (Bộ NN-PTNT) phối hợp cùng tổ chức FAO, Sở NN-PTNT Cà Mau tổ chức hội thảo giới thiệu tổng quan về dự án “Thúc đẩy nhân rộng mô hình nuôi trồng thủy sản trong rừng ngập mặn hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh tại các tỉnh ven biển ĐBSCL”.

Tham gia hội thảo có TS Trần Đình Luân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục thủy sản, ông Miao Weimin, chuyên gia nuôi trồng thủy sản (NTTS) khu vực châu Á - Thái Bình Dương (RAP), Viện Nghiên cứu NTTS II, ông Châu Công Bằng, PGĐ Sở NNPTNT Cà Mau, cùng đại diện ngành nông nghiệp các huyện hai tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu.

Ông Miao Weimin cho biết, dự án FAO nhằm mục đích tăng trưởng xanh, làm giảm khí thải nhà kính ở các tỉnh ven biển phía Nam (Việt Nam). “Tôm là mặt hàng thủy sản quan trọng nhất của Việt Nam. Đặc biệt là ngành tôm có những bước tiến ngoạn mục”, ông Miao Weimin nói và nêu ra dẫn chứng rằng tổng giá trị nuôi tôm năm 2015 đạt 3,32 tỉ USD (FAO năm 2017) và đứng thứ 2 trên thế giới về giá trị và thứ 3 về khối lượng.

Theo ông Miao Weimin, hiện nuôi tôm ở nước ta chủ yếu với mô hình thâm canh, bán thâm canh. Các mô hình này dù đạt hiệu quả sản lượng nhưng nó có phần tác động đến môi trường, đến rừng ngập mặn ven biển. “Rừng ngập mặn đang chịu sự tác động lớn do tốc độ phát triển kinh tế ở các vùng ven biển phía Nam, Việt Nam”, ông Miao Weimin nhấn mạnh.

Cũng theo chuyên gia này, việc thúc đẩy phát triển nuôi tôm ở nước ta được xác định ưu tiên cho các vùng ven biển, do đó cần cơ cấu, tái cấu trúc lại việc nuôi tôm quảng canh trong rừng ngập mặn.

“Dự án do FAO hỗ trợ sẽ giải quyết một số vấn đề khi mở rộng nuôi tôm trong rừng ngập mặn ở ĐBSCL”, ông Miao Weimin nói và cho biết, hội thảo giới thiệu ý tưởng dự án, chia sẻ thông tin, kiến thức, kinh nghiệm giữa các bên liên quan.

Tài liệu của dự án FAO cho rằng, ngành tôm của Việt Nam có nhiều thách thức như: Tăng trưởng nhanh trong ngành nuôi tôm góp phần đẩy mạnh thâm canh, sinh ra nhiều vấn đề về dịch bênh và an toàn thực phẩm, tác động môi trường… Do đó, làm thế nào để nuôi tôm bền vững, giảm tác động đối với môi trường và phát thải GHS là thách thức lớn.

Mục tiêu của dự án là thúc đẩy ứng dụng các thực hành tốt của mô hình nuôi tôm - rừng ở các tỉnh phía Nam, nhằm góp phần lưu giữ cacbon xanh, giảm phát thải cacbon và nuôi tôm bền vững, cải thiện sinh kế và dinh dưỡng cho người dân ven biển.

Hội thảo được sự thống nhất cao của các đại biểu. Tuy nhiên vẫn còn một số ý kiến băng khoăn. TS Phan Thanh Lâm, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu NTTS II trình bày những mặt hàng chế về thực trạng trong sản xuất của hộ nuôi tôm - rừng như: Nuôi thủy sản trong rừng ngập mặn hiện nay chủ yếu là nuôi tôm ở phương thức quảng canh không thả giống, không cho ăn và nuôi quanh năm. Phương thức này năng suất không ổn định, hiệu quả kinh tế thấp và giảm dần khi tuổi cây tăng.

Theo TS Trần Đình Luân, cần xem xét phương thức nuôi tiến bộ hơn là có thả giống bổ sung tôm, cua, cá… các đối tượng nuôi được thu tỉa, thả bù thường xuyên theo con nước và có bổ sung thức ăn, mật độ thả giống bình quân 3 - 5 con/m2, năng suất từ 350 - 400kg/ha/năm…

Theo Viện Nghiên cứu NTTS II, hiện có nhiều cơ hội để phát triển mô hình nuôi tôm - rừng ở ĐBSCL như: Xu hướng phát triển theo chuỗi được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển; chính sách hỗ trợ phát triển được quan tâm… Song, vẫn còn nhiều thách thức như cơ chế chính sách cần sát với mục tiêu, làm sao để chính sách đi vào cuộc sống tốt nhất; tiếp cận thị trường và cắt giảm các mắt xích trung gian…

Đánh giá cao mô hình tôm - rừng, tuy nhiên Phó Chi cục Thủy sản Bạc Liêu Nguyễn Hoàng Xuân cũng trình bày những khó khăn của địa phương khi triển khai mô hình như: Bạc Liêu nuôi tôm chủ yếu dưới tán rừng đước, lá rừng rụng gây khó khăn cho việc nuôi, liên kết thu mua cũng hạn chế… Ông Xuân đề nghị dự án cần nghiên cứu giúp con tôm phát triển được trong điều kiện nuôi dưới tán rừng đước.

PGĐ Sở NN-PTNT Cà Mau Châu Công Bằng cho rằng, dự án nên đặc biệt quan tâm đến các yếu tố bất lợi cho sự phát triển mô hình tôm - rừng. Bởi, năng suất của mô hình này vài năm trở lại đây cho thấy năng suất giảm, do môi trường bị ảnh hưởng… (Moitruong24h.vn 22/7) Về đầu trang

“Vợ chồng Robinson” hơn 20 năm chinh phục đất rừng năm căn

Đến với đất rừng nơi chót mũi Cà Mau từ những ngày gian khó, ông Trần Văn Xê (xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn) đã dành hơn 20 năm cuộc đời mình bám đất, bám rừng.

Được biết, ông tham gia cách mạng từ năm 1965, ở chiến trường miền Nam, sau đó tham gia chiến trường Campuchia. Trong một trận đánh ông bị thương. Năm 1990 ông xuất ngũ, về xã Tam Giang Đông sinh sống và được Lâm ngư trường Tam Giang I tạm cấp cho 5ha đất rừng để canh tác. Khi mới nhận đất, nơi này còn rất hoang sơ, đường đi không có, sông nước chằng chịt. Thế nhưng, với quyết tâm và tình yêu với rừng, ông đã ở lại và từng bước xây dựng mảnh đất canh tác bằng chính bàn tay mình.

Thời gian đầu do không có máy móc, ông Xê phải cải tại lại đất bằng những công cụ thủ công và chính đôi tay mình. Đến năm 1921 mới cơ bản hoàn thành, với bờ bao vuông hoàn chỉnh. Lúc đầu thả tôm, trồng thêm rau màu, nuôi gia cầm để tự cung tự cấp cho nhu cầu thiết yếu. Sau đó ông học hỏi rồi thả thêm tôm, cua dưới tán rừng, kết hợp các loài thủy sản khác. ĐỒng thời, trên bờ vuông và diện tích đất trống ông cải tạo lại để trồng rừng.

Hiện tại, thu nhập trung bình mỗi năm gia đình ông đạt hàng trăm triệu đồng. Mới đây, ông đã thu hoạch hơn 3ha rừng đến tuổi, sau khi trừ chi phí và các khoản nộp về Ban Quản lý rừng, còn lãi hơn 45 triệu đồng... (Nông Thôn Ngày Nay 25/7, tr16) Về đầu trang

Hơn 500 con tê giác đã bị giết hại ở Nam Phi trong nửa đầu năm

Số lượng tê giác bị giết hại để lấy sừng ở Nam Phi đã giảm nhẹ trong nửa đầu năm nay, nhưng vẫn có hơn 500 cá thể động vật hoang dã quý hiếm này bị giết hại.

Phát biểu trong cuộc họp báo tại thành phố Johannesburg ngày 24/7, Bộ trưởng Môi trường Nam Phi Edna Molewa cho biết từ tháng Một đến nay, tổng cộng 529 cá thể tê giác đã giết hại bởi những đối tượng săn bắn trộm, giảm so với 542 con bị giết trong cùng thời kỳ năm ngoái.

Theo bà Molewa, mặc dù số lượng tê giác bị giết hại đã giảm nhẹ, nhưng vẫn đứng ở mức báo động. Đặc biệt, riêng Công viên quốc gia Kruger nổi tiếng của Nam Phi và châu Phi, đến nay số lượng loài động vật hoang dã quý hiếm này đã giảm 34%, so với cách đây 10 năm.

Trước đó, theo báo cáo của Tổ chức giám sát buôn bán động vật hoang dã thế giới (TRAFFIC), số lượng tê giác bị giết hại đã tăng mạnh từ 13 cá thể trong năm 2007 lên tới 1.215 cá thể vào năm 2014.

Chỉ riêng trong tám năm gần đây, khoảng 1/4 tổng số tê giác trên thế giới đã bị giết ở Nam Phi - quốc gia chiếm 80% tổng số loài động vật hoang dã quý hiếm này trên toàn cầu đang sinh sống.

Theo TRAFFIC, Nam Phi đang phải đấu tranh quyết liệt với nạn săn bắt trộm loài tê giác bởi do nhu cầu sử dụng sừng của loài động vật hoang dã này gia tăng tại châu Á.

Cho đến nay, giới khoa học trên thế giới đã chứng minh sừng tê giác không phải là loại thuốc “chữa bách bệnh" như những đồn đại trong dân gian. (VietnamPlus.vn 25/7) Về đầu trang