Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 21/4/2017

Điểm báo ngày 21/4/2017

Cập nhật ngày : 21/04/2017 1:32:40 CH

ĐIỂM BÁO

LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 21 tháng 04 năm 2017)

 

Quy hoạch lâm nghiệp cần bám sát Luật Bảo vệ và phát triển rừng

Ngày 20/4, tại Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) tổ chức hội thảo tham vấn đánh giá thực trạng công tác quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Hệ thống quy hoạch, kế hoạch xây dựng lâm nghiệp hiện đã có tại 59/60 tỉnh, thành phố có rừng. Những quy hoạch này đã được xây dựng, phê duyệt trong kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020. Đặc biệt trong số đó đã có 21 tỉnh, thành phố xây dựng quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng; 85 khu rừng đặc dụng đã xây dựng quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng...

Tuy nhiên, tại hội thảo, nhiều đại biểu cũng nhận định quy hoạch còn là khâu yếu của ngành lâm nghiệp. Một số tồn tại, hạn chế đã được chỉ rõ như: Thiếu sự liên kết giữa các vùng trong cả nước và giữa các tỉnh trong vùng; trật tự quy hoạch chưa bảo đảm, quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc, vùng chưa được lập… nên không có cơ sở cho các quy hoạch nhỏ hơn.

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội chậm nên thiếu căn cứ cho xây dựng quy hoạch lâm nghiệp. Quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp với các quy hoạch khác còn mâu thuẫn, chồng chéo, từ khâu khảo sát thông tin, phân tích, dự báo, đến các giải pháp thực hiện… làm giảm hiệu lực, hiệu quả của quy hoạch. Bên cạnh đó, chất lượng quy hoạch lâm nghiệp còn thấp, kém khả thi, chưa gắn với nguồn lực thực hiện, việc phân định nội dung các loại quy hoạch, cấp độ quy hoạch chưa rõ ràng, dẫn đến sự trùng lắp…

Những bất cập trên đã góp phần dẫn tới tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng một cách ồ ạt, đặc biệt là sang làm thủy điện, khai thác khoáng sản, xây dựng hạ tầng nông thôn, tái định cư. Tình trạng xâm lấn, phá rừng trái pháp luật để trồng những loại cây nông nghiệp có giá trị cao diễn ra phổ biến.

Quy hoạch không gắn với vùng nguyên liệu, quản lý thiếu kiểm tra, giám sát, đặc biệt đối với xưởng chế biến gỗ gần rừng đã làm gia tăng tình trạng phá rừng và mua bán gỗ bất hợp pháp. Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện quy hoạch chậm cũng dẫn đến nhiều hệ quả.

Để tháo gỡ những khó khăn, bất cập đó, theo ông Phạm Hồng Lượng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính của Tổng cục Lâm nghiệp, cần bảo đảm những nội dung, yêu cầu và nguyên tắc trong việc lập quy hoạch lâm nghiệp quốc gia. Trong đó, đầu tiên là bảo đảm phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng.

Bên cạnh đó, nhiều đại biểu cũng đưa ra ý kiến về sự cần thiết xây dựng tiêu chí rõ ràng trong dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) và chuẩn hóa, nâng cao năng lực cho đơn vị tư vấn xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo đảm sự khách quan.

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Văn Hà nhận định, quy hoạch, kế hoạch là một trong những nhiệm vụ đầu tiên, làm căn cứ triển khai các nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp, định hướng quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của ngành, làm cơ sở để tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, nâng cao hiệu quả quản lý ngành.

Theo ông Hà, hiện nay hệ thống quy hoạch trong lĩnh vực lâm nghiệp sẽ ngày càng được chú trọng và thể hiện cao nhất ở Luật bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Trước mắt, Bộ NN&PTNT đã xây dựng, triển khai quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng lưu vực sông Cầu, ven biển, vùng Tây Nguyên… Cùng với đó những quy hoạch cho ngành như chế biến gỗ, quy hoạch phát triển cây mắc ca, quy hoạch trồng rừng gỗ lớn.... cũng đã được đưa ra. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng hằng năm. Nhờ đó, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lâm nghiệp được nâng cao. (Chinhphu.vn 20/4) Về đầu trang

Luật cần bảo hộ quyền của các hộ gia đình và cộng đồng trong bảo vệ và phát triển rừng

Ngày 20/4, tại Hà Nội, Hội Chủ rừng Việt Nam đã phối hợp cùng với Trung tâm vì Con người và Rừng (RECOFTC) và Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) tổ chức Hội thảo quốc gia về quyền hưởng dụng của các chủ rừng là hộ gia đình và cộng đồng nhằm đưa ra các kiến nghị đối với dự thảo số 5 của luật bảo vệ phát triển rừng sửa đổi.

Tham gia Hội thảo có đại diện lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, đại diện một số Chi cục Kiểm lâm, các chuyên gia nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ có liên quan; các chủ rừng là công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng, hộ gia đình, cộng đồng và các cơ quan truyền thông.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Hứa Đức Nhị, Chủ tịch Hội chủ rừng Việt Nam, cho biết hiện nay cả nước có gần 1,5 triệu hộ gia đình, cá nhân (1.481 nghìn) được giao đất giao rừng, cùng với hàng trăm (632) các tổ chức là các Ban quản lý rừng đặc đụng, Ban quản lý rừng phòng hộ, các Công ty lâm nghiệp và các Tổ chức quản lý các khu rừng nghiên cứu khoa học và đào tạo. Tuy nhiên, các quy định trong luật 2004 và trong Dự thảo luật sửa đổi lại chỉ đề cập chủ yếu đến các chủ rừng là các hộ gia đình, cá nhân, các cộng đồng dân cư được giao đất giao rừng. Như vậy, rất nhiều các hộ gia đình, cá nhân làm rừng hiện nay nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của các quy định trong luật, như: những người trồng rừng trên đất của chủ rừng khác theo các quy định về khoán lâu dài (50 năm) theo Nghị định 01của Chính phủ (1992). Trong khi đó, số các hộ gia đình được giao khoán hay những người nhận khoán làm rừng hay bảo vệ rừng theo nghị định 135 sau này là rất nhiều và hiện cả những chủ rừng giao khoán và người nhận khoán đều gặp không ít những khó khăn và bất cập trong quản lý.

Ngoài ra, theo ông Nhị, gắn bó với rừng và có nhiều lợi ích từ rừng, ngoài các chủ rừng được giao đất giao rừng còn là hàng triệu hộ gia đình, nhiều cộng đồng dân cư không được giao đất giao rừng. Họ có thể là những cộng đồng dân cư đã gắn bó với rừng từ nhiều đời nay, nhưng những khu rừng đó hiện đã là rừng của các công ty lâm nghiệp, các ban quản lý rừng hay của các chủ rừng khác và họ hiện là người ngoài cuộc và trở thành đối tượng xâm hại rừng tiềm tàng của các cơ quan quản lý và chủ rừng. Ông cũng bày tỏ mong muốn những bất cập này sẽ được xem xét và điều chỉnh trong Dự thảo mới của Luật Bảo về và Phát triển rừng.

Tại Hội thảo, ông Nguyễn Quang Tân, nguyên trưởng đại diện của Trung tâm Vì con người và Rừng tại Việt Nam, cho rằng nên bổ sung khái niệm “sở hữu rừng riêng” về các hình thức sở hữu rừng. Theo ông, thực tế cho thấy nhiều khu rừng giao cho hộ gia đình và cá nhân là rừng nghèo kiệt sau khai thác, chưa có rừng hoặc có những đám rừng rải rác, không tập trung. Tuy nhiên, sau một thời gian được các chủ rừng bỏ công sức và tiền của để xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung hoặc tự đầu tư làm giàu rừng bằng việc trồng rừng cây bản địa nên sau đó đã trở thành rừng tự nhiên. Vì vậy rừng trồng do hộ gia đình và cá nhân tự đầu tư và tự nhiên được phục hồi do tác động của hộ gia đình và cá nhân sau khi giao cần được coi là tài sản thuộc sở hữu riêng của họ.

Bên cạnh đó, ông Tân cũng đề xuất bổ sung quyền của hộ gia đình và cá nhân với rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất. Theo đó, hộ gia đình nên được quyền khai thác lâm sản trên diện tích rừng sản xuất được giao, được thuê theo phương án quản lý rừng bền vững được phê duyệt; được thực hiện và hưởng lợi từ các dịch vụ môi trường rừng… vì nguồn thu từ rừng là một động lực quan trọng cho người dân tham gia bảo vệ diện tích rừng tự nhiên và đầu tư phát triển rừng trồng.

Tại Hội thảo, ông Hoàng Xuân Thủy, Phó Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) cũng đề xuất việc thừa nhận “khu bảo tồn do cộng đồng quản lý”. Đây là khái niệm khá mới nhưng đã được 17 quốc gia trên thế giới thừa nhận, trong đó tại khu vực Đông Nam Á khu bảo tồn do cộng đồng quản lý đã được thiết lập tại Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Philippin Theo ông Thủy, hiện nay trên thế giới có 209.000 khu bảo tồn – chiếm 15,4% diện tích trên toàn thế giới, trong đó, quản lý cộng đồng chỉ chiếm 1%. Tuy nhiên, cùng với xu hướng đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho bảo tồn thiên nhiên, tỷ lệ các khu bảo tồn và diện tích quản lý bởi cộng đồng đang có xu hướng tăng lên.

Ông Thủy nhận định, việc thừa nhận các khu bảo tồn do cộng đồng quản lý tại Việt Nam sẽ giúp thúc đẩy mục tiêu xã hội hóa ngành lâm nghiệp và xã hội hóa về bảo tồn đa dạng sinh học, đảm bảo sự tham gia cũng như nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương trong công tác bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên. Ngoài ra, điều này cũng giúp mở rộng diện tích bảo tồn nhưng giảm chi phí đầu tư và quản lý của nhà nước, tạo nên các hành lang xanh, giúp giảm sức ép lên các khu bảo tồn trọng yếu và hỗ trợ chính phủ đạt được các mục tiêu của cam kết quốc tế như mục tiêu Aichi trong khuôn khổ Công ước Đa dạng sinh học CBD và công ước khung về biến đổi khí hậu (UNFCCC)… Về mặt xã hội, theo ông Thủy việc lập các khu bảo tồn cộng đồng quản lý sẽ giúp đảm bảo lợi ích chính đáng và nâng cao khả năng tiếp cận của người dân với nguồn tài nguyên; cải thiện mối quan hệ trong quản lý tài nguyên giữa các bên, duy trì kiến thức văn hóa bản địa, hài hòa lợi ích giữa bảo vệ rừng với đời sống văn hóa, tinh thần và góp phần đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương.

Các đại biểu tại Hội thảo đều đồng thuận cho rằng cần tăng cường việc đảm bảo quyền lợi của các hộ gia đình và các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng, đặc biệt là quyền của các nhóm yếu thế thông qua các quy định về tăng quyền tiếp cận của người dân đối với rừng như quyền sở hữu, quyền khai thác, định đoạt tài sản…

Dự thảo số 5 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng dự kiến sẽ trình Quốc hội trong kỳ họp sắp tới vào tháng 5 tới đây. (ThienNhien.Net 20/4; Đại Biểu Nhân Dân 21/4, tr7; Đại Biểu Nhân Dân Online 20/4; Baovemoitruong.org.vn 20/4; Quân Đội Nhân Dân Online 20/4; Thời Báo Kinh Tế Việt Nam 21/4, tr2) Về đầu trang

http://www.thiennhien.net/2017/04/20/luat-can-bao-ho-quyen-cua-cac-ho-gia-dinh-va-cong-dong-trong-bao-ve-va-phat-trien-rung/

Xây dựng các vùng rừng kinh tế lâm nghiệp tập trung tại Quảng Nam

Để hình thành các vùng rừng kinh tế lâm nghiệp tập trung, trong thời gian tới, Quảng Nam xác lập quyền sử dụng đất ổn định cho các chủ rừng để họ yên tâm đầu tư phát triển rừng.

Ngày 20/4, UBND tỉnh Quảng Nam, Vụ Quản lý sản xuất (Tổng cục Lâm nghiệp) phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Nông lâm thế giới tại Việt Nam cùng các ngành chức năng tổ chức Hội nghị sản xuất giống cây trồng chất lượng cao, trồng rừng gỗ lớn và cấp chứng chỉ rừng. Từ đó, phấn đấu hình thành các vùng rừng kinh tế lâm nghiệp tập trung.

Tại hội nghị, các đại biểu đại diện cho các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị cung ứng từ giống lâm nghiệp đến sản xuất sản phẩm lâm nghiệp đã đưa ra nhiều tham luận nhằm nâng cao chất lượng giống cây lâm nghiệp để phát triển lâm nghiệp bền vững.

Ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, để hình thành các vùng rừng kinh tế lâm nghiệp tập trung, trong thời gian tới, Quảng Nam xác lập quyền sử dụng đất ổn định cho các chủ rừng để họ yên tâm đầu tư phát triển rừng.

Đồng thời, xây dựng các mô hình trồng rừng thâm canh và sử dụng giống chất lượng cao; thúc đẩy liên doanh liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp và hộ gia đình trồng rừng, tạo chuỗi sản xuất – kinh doanh khép kín nhằm cao hiệu quả và đảm bảo sản xuất ổn định, bền vững. Khuyến khích các hộ trồng rừng liên kết với nhau trong trồng rừng gỗ lớn gắn với cấp chứng chỉ rừng bền vững…

Ông Nguyễn Vũ, chuyên gia đến từ WWF (Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên) cho biết, nhằm bảo tồn sự đa dạng sinh học; đảm bảo duy trì sử dụng các tài nguyên thiên nhiên có thể tái sinh, đồng thời xúc tiến việc giảm bớt ô nhiễm môi trường và tiêu thụ lãng phí, cần nâng cao ý thức của người dân về sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường, có nguồn gốc rõ ràng.

Xây dựng định hướng, cơ chế phát triển rừng gỗ lớn có Chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) gắn với chiến lược lâm nghiệp của tỉnh.

Đồng thời, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ của nhà nước đối với quản lý rừng bền vững để người dân cũng như doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sản xuất kinh doanh lâu dài…

Nhằm định hướng phát triển trồng rừng sản xuất trong thời gian đến năm 2020, Quảng Nam xác định mục tiêu hình thành các vùng rừng kinh tế lâm nghiệp tập trung, với quy mô 100.000 ha trên địa bàn các huyện vùng núi, gò đồi;

Nâng cao năng suất rừng trồng các loài keo để đạt mức sản lượng bình quân 150 m3/ha/chu kỳ từ 5 năm đến 7 năm; xây dựng các mô hình sản xuất gỗ lớn cây bản địa với quy mô 1.000 ha để đáp ứng cho nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ; tăng diện tích rừng được cấp chứng chỉ rừng lên 10.000 ha.

Quảng Nam có 729.756 ha đất lâm nghiệp, chiếm 69% diện tích tự nhiên. Diện tích đất có rừng là 630.475 ha. Trên địa bàn có 8 loại cây được công nhận nguồn giống: kiền kiền, lim xanh, sơn huyết, tram, dẻ, keo lưỡi liềm, sao đen, keo lai.

Do sản xuất lâm nghiệp chủ yếu diễn ra ở vùng khó khăn, chu kỳ kinh doanh dài, nhu cầu vốn lớn nhưng việc đầu tư hỗ trợ của nhà nước cho người trồng rừng còn hạn chế; các đơn vị sản xuất kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp còn nhỏ lẻ, tự phát nên chưa đảm bảo các điều kiện về sản xuất kinh doanh; khối lượng gỗ rừng trồng có chứng chỉ FSC chưa đáng kể… dẫn đến đem lại giá trị kinh tế thấp, môi trường chưa ổn định. (BNEWS.VN 20/4; TTXVN 20/4) Về đầu trang

Điện Biên kỳ vọng vào mùa thu hoạch cao su đầu tiên

Sau thời gian chờ đợi, đến nay dù hơi muộn so với lộ trình, cây cao su ở Điện Biên cũng đến ngày cho thu hoạch. Người dân ở nơi đây kỳ vọng những giọt cao su sẽ đem lại nguồn thu nhập đáng kể giúp ổn định cuộc sống sau thời gian dài trông ngóng.

Chúng tôi có mặt tại vườn cao su xã Mường Pồn, huyện Điện Biên, nơi có diện tích cây cao su được trồng từ năm 2008. Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên đang cho công nhân tiến hành cạo xả mủ cao su để chuẩn bị cho thu hoạch đại trà vào tháng 5 tới.

Chị Cà Thị Nga, Bản Huổi Chan 1, xã Mường Pồn, huyện Điện Biên cho biết: "Tôi làm công nhân cao su được 6 năm nay rồi, so với làm nương làm rẫy thì làm việc ở đây cho thu nhập ổn định hơn, khoảng 3 - 3,5 triệu đồng/tháng. Nhà tôi có 3 ha đất góp để trồng cao su, đang rất mong chờ đến ngày khai thác để được chia phần trăm lợi nhuận từ khai thác mủ cao su, tăng thu nhập cho gia đình".

Những ngày qua, Công ty cổ phần Cao su Điện Biên gấp rút hướng dẫn, tập huấn kỹ năng khai thác mủ cho công nhân và hộ gia đình nhận khoán. Sau thời gian từ 7 - 10 ngày, hầu hết công nhân và lao động nhận khoán đều nắm vững kỹ thuật cạo mủ, sẵn sàng đi vào khai thác chính thức.

Anh Phan Xuân Phương, Đội trưởng Đội 1 Cao su xã Mường Pồn cho biết, năm nay, đơn vị sẽ tiến hành khai thác 200 ha cao su. Vừa qua, công nhân công ty và công nhân thời vụ được đào tạo kỹ thuật cạo mủ. Hiện cán bộ của đơn vị kèm cặp, hướng dẫn công nhân kỹ thuật để chuẩn bị cho ngày khai thác chính thức có hiệu quả cao nhất.

Ông Phan Văn Lợi, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên cho biết, trong năm 2017, đơn vị sẽ đưa vào khai thác gần 700 ha cây cao su đủ tiêu chuẩn, sản lượng năm đầu tiên khoảng 6 tạ/ha. Số diện tích cây cao su bước vào khai thác do các hộ gia đình tham gia góp đất trồng cao su sẽ được hưởng quyền lợi dựa trên hợp đồng đã ký kết với đơn vị. Theo đó, người dân góp đất sẽ được hưởng lợi nhuận 10% từ lợi nhuận mủ cao su trên diện tích đất góp.

Toàn tỉnh Điện Biên có gần 5.000 ha cây cao su; trong đó, hơn 3.700 ha thuộc quyền quản lý của Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên, hơn 1.200 ha thuộc quản lý của Công ty Cổ phần Cao su Mường Nhé.

Trong những năm qua, việc phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh gặp nhiều vướng mắc, thiếu sự phối hợp giữa doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Cây cao su ở Điện Biên chậm thu hoạch hơn so với lộ trình, việc xây dựng nhà máy chế biến mủ cao su cũng chưa thể thực hiện do còn vướng mắc ở chi phí đền bù giải phóng mặt bằng.

Bên cạnh đó, giá mủ cao su cũng nhiều biến động khiến việc phát triển diện tích cây cao su trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã chững lại trong hơn 1 năm trở lại đây. Điện Biên tạm thời ngừng trồng mới cao su để tập trung chăm sóc và chuẩn bị mùa thu hoạch đầu tiên.

Ông Phan Văn Lợi cho biết: “Việc phát triển cây cao su ở Điện Biên những năm qua gặp nhiều khó khăn. Đây là dự án đầu tư ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở vật chất hạ tầng chưa đầy đủ. Mặt khác, đây lại là dự án đầu tiên phát triển ở Điện Biên nên người dân chưa hiểu sâu về cây cao su. Bởi vậy, quá trình tuyên truyền vận động để người dân đồng hành cùng cây cao su còn nhiều khó khăn".

Theo ông Lợi, các chính sách tỉnh Điện Biên thực sự hỗ trợ cho đơn vị hiện nay cũng chưa nhiều. Như tiền dịch vụ môi trường rừng, các tỉnh khác cho cao su được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng nhưng ở Điện Biên, dù công ty đã kiến nghị nhiều lần nhưng vẫn không được.

Ông Lê Thành Đô, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Điện Biên chia sẻ, do khó khăn về nguồn tiêu thụ, giá mủ cao su chưa cao nên diện tích trồng mới trong năm 2016 và 2017 được hạn chế, tập trung vào việc chăm sóc vườn cây hiện có. Tỉnh Điện Biên cũng đã ban hành chính sách, hỗ trợ cho người dân khi tham gia góp đất vào trồng cây cao su theo mức từ 4,5 - 6 triệu đồng/ha.

Ngoài ra trên diện tích đất trồng cao su thực hiện trồng ghép các loại cây trong thời gian chưa khai thác thì được hưởng chính sách hỗ trợ giống và phân bón.

Đánh giá về việc phát triển cây cao su vùng Tây Bắc, ông Hoàng Xuân Long, Vụ trưởng Vụ Kinh tế - Ban Chỉ đạo Tây Bắc cho rằng, hiện so với các vùng trồng cao su truyền thống, cao su Tây Bắc có điều kiện đầu tư cũng như sản lượng mủ hạn chế hơn. Tuy nhiên, nếu thị trường cao su ổn định thì những người trồng cao su Tây Bắc sẽ có thu nhập ổn định.

Vừa qua, Tập đoàn Cao su Việt Nam tổ chức mở mủ, khai thác thử tại tỉnh Lai Châu và Sơn La. Bước đầu, sản lượng tương đối khả quan đạt 7 tạ/ha. Hy vọng những năm tiếp theo sản lượng trên địa bàn Tây Bắc có thể từ 1,2 - 1,5 tấn/ha.

Lãnh đạo Vụ Kinh tế - Ban Chỉ đạo Tây Bắc cũng cho rằng, việc phát triển cao su ở Tây Bắc cần thiết phải xây dựng các cơ sở chế biến mủ gắn với vùng nhiên liệu. Tỉnh Lai Châu, Sơn La và tiến tới Điện Biên cũng có thể xây dựng ở mỗi tỉnh một nhà máy chế biến mủ để người dân có niềm tin, gắn chặt hơn với cây cao su.

Thực tế, việc phát triển cây cao su ở Điện Biên vẫn chưa thể đánh giá là thành công hay không. Giờ đây chính quyền, doanh nghiệp và người dân ở Điện Biên đang kỳ vọng một mùa khai thác cao su đầu tiên thực sự hiệu quả để tiếp thêm niềm tin cho nhân dân nơi đây về cây cao su có thể giúp bà con xóa đói giảm nghèo. (TTXVN 20/4) Về đầu trang

Kon Tum: 3 tháng thu giữ gần hơn 1.300m3 gỗ lậu, 5 cán bộ quản lý rừng bị kỷ luật

Tin từ Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum cho biết, trong 3 tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh Kon Tum xảy ra 165 vụ vi phạm khai thác, mua bán gỗ trái phép.

Theo đó, toàn tỉnh xảy ra 165 vụ vi phạm khai thác, diện tích rừng trên địa bàn bị lâm tặc triệt phá, thiệt hại hơn 6ha; số gỗ được phát hiện, thu giữ là hơn 1.346m3, riêng huyện Ngọc Hồi xảy ra 20 vụ, tổng khối lượng gỗ vi phạm thu giữ hơn 800m3.

Nhiều nơi, lâm tặc còn mở đường để vận chuyện gỗ lậu trong một thời gian dài nhưng đáng tiếc là các cơ quan chức năng không kịp thời phát hiện ngay từ đầu để ngăn chặn.

Ngoài ra, đầu tháng 3, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74-Bộ Công an) phát hiện tại kho của Công ty TNHH MTV Tuấn Sỹ (thôn Nông Nhầy 2, xã Đak Nông) có trên 100m3 gỗ nhóm III-VII không rõ nguồn gốc.

Vụ việc vẫn đang được điều tra xác minh. Liên quan đến vấn đề này, Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum đã xem xét kỷ luật 5 cán bộ quản lý bảo vệ rừng, trong đó có 3 cá nhân bị hình thức cảnh cáo và 2 người bị khiển trách. (Người Tiêu Dùng 20/4) Về đầu trang

Rừng Ngọc Hồi (Kon Tum) vẫn bị tàn phá

Ngày 18/4/2017, Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum chủ trì buổi họp báo liên quan đến việc từng nhóm lâm tặc đi trên những chiếc xe máy độ chế kéo vào tàn phá rừng tại xã Đắk Xú giáp danh với xã Đắk Nông huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

Ông Nguyễn Tấn Liêm, Chi Cục trưởng Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum cho biết: qua báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum trong 3 ngày sau khi báo chí phản ánh, đoàn kiểm tra gồm kiểm lâm, Công an huyện Ngọc Hồi, Đồn Biên phòng Đắk Xú, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hồi tiến hành kiểm tra, xác minh tại các điểm do phóng viên cung cấp gồm: Tiểu khu 164, 165, 170 và 171 ở 2 xã Đắk Xú và Đắk Nông.

Đoàn kiểm tra phát hiện 102 gốc bị chặt. Trong đó số lượng mới sau khi báo chí phản ánh tại địa bàn xã Đắk Xú và Đắk Nông là 13 gốc, khối lượng gỗ còn tại hiện trường là 10,41m3. Số cũ phát hiện từ năm 2016 trước khi báo chí phản ánh là 89 gốc, đã được xử lý, kỷ luật 5 cá nhân với hình thức cảnh cáo và khiển trách.

Phóng viên các cơ quan báo chí hỏi số liệu trên đã là kết quả cuối cùng chưa, bởi ghi nhận ban đầu khoảng 300 gốc cây bị đốn hạ ? Phóng viên nói cung cấp bằng hình ảnh những cây gỗ không dấu búa của kiểm lâm thì ông Nguyễn Trung Hải – Giám đốc Sở NT&PTNT tỉnh Kon Tum trả lời: Lực lượng chức năng mới chỉ đi kiểm đếm trong 3 ngày. Hiện tại vẫn đang tiếp tục kiểm tra, thống kê hết sẽ báo cáo thêm. Đặc biệt, lực lượng chức năng sẽ kiểm tra thêm các xưởng gỗ.

Phóng viên hỏi vì sao Kiểm lâm Ngọc Hồi cách điểm phá rừng tại xã Đắk Xú giáp với Đắk Nông chỉ khoảng 10km lại để tình trạng này diễn ra nhiều năm ?. Ông Nguyễn Tấn Liêm - Chi cục trưởng chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum lý giải: Ngọc Hồi là địa bàn cửa khẩu nên phức tạp. Từ đầu năm đến nay đã phát hiện 165 vụ vi phạm. Lực lượng kiểm lâm tại đây thường xuyên tuần tra, truy bắt. Tuy nhiên, vẫn có những cán bộ thiếu trách nhiệm. Nếu như phát hiện được thông tin về sự tiếp tay của kiểm lâm cho lâm tặc, chúng tôi sẽ xử lý nghiêm.

Cũng tại buổi họp báo, ông Phạm Hữu Đức – Giám đốc công ty Lâm nghiệp Ngọc Hồi thừa nhận thông tin báo chỉ phản ánh là đúng sự thật và xin lỗi vì để mất rừng. Còn con đường “chân trời” thì không thể phá bỏ, bởi nó phục vụ cho người dân đi làm. Tuy nhiên, ghi nhận của phóng viên cho thấy, dọc đường “chân trời” không có cây nông nghiệp, hay hoa màu gì của bà con.

Trước đó cũng tại xã Đắk Nông từ ngày 4/3 đến ngày 5/3/2017, C47- Bộ Công an phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra tình hình mua bán, kinh doanh cất giữ lâm sản của Công ty TNHH MTV Tuấn Sỹ, phát hiện hơn 101m3 khối gỗ không phù hợp với hồ sơ công ty xuất trình. Số gỗ trên đã được bàn giao lại cho Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định. (Báo Dân Sinh 20/4) Về đầu trang

Tăng cường kiểm tra, giám sát gỗ nhập khẩu từ châu Phi

Tổng cục Hải quan vừa chỉ đạo các cục hải quan tỉnh, thành phố tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời hành vi gian lận thương mại trong việc nhập khẩu mặt hàng “Giáng hương Tây phi”, có tên khoa học “Pterocarpus erinaceus”.

Theo đó, các đơn vị cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc làm thủ tục hải quan đối với các lô hàng gỗ nhập khẩu từ châu Phi.

Trong trường hợp phát hiện hàng có có tên như trên hoặc nghi vấn có hàng hóa này trong việc khai báo cần thông báo cho Cục Điều tra chống buôn lậu để tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ.

Trước đó, ngày 24/2/2017, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có Thông tư số 04/2017/TT-BNNPTNT ban hành Danh mục các loại động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.

Tại phần H của Danh mục đã bổ sung mặt hàng “Giáng hương Tây phi”, tên khoa học “Pterocarpus erinaceus” , tên tiếng Anh “Senegal rosewood” vào nhóm phụ lục II.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ 10/4/2017, tuy nhiên nội dung trong Danh mục của Thông tư 04 đã được các quốc gia tham gia Công ước áp dụng từ thời điểm tháng 1/2017 (theo thông báo của cơ quan  CITES Việt Nam). (Hải Quan 20/4) Về đầu trang

Sở NN-PTNT Thái Nguyên chỉ bổ nhiệm thừa 4 lãnh đạo cấp phó

Chiều 19.4, tại cuộc họp báo thường kỳ tháng 4 thông tin về tình hình kinh tế - xã hội quý 1/2017 được chủ trì bởi ông Vũ Hồng Bắc, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên, UBND tỉnh đã công bố báo cáo về việc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng yêu cầu làm rõ thông tin bổ nhiệm thừa 23 cán bộ tại Sở NN-PTNT tỉnh Thái

Theo đó, sau khi thẩm định thông tin, UBND tỉnh Thái Nguyên xác định tại thời điểm ngày 31.7.2016, Sở NN-PTNT tỉnh Thái Nguyên chỉ có 4 nhân sự cấp phó thuộc Chi cục Kiểm lâm vượt quá quy định.

Cụ thể, Phòng Thanh tra - Pháp chế vượt 1 người, Hạt kiểm lâm Phú Lương vượt 1 người, Hạt kiểm lâm Đồng Hỷ vượt 2 người. UBND tỉnh Thái Nguyên yêu cầu các tập thể và cá nhân liên quan kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm để xử lý theo quy định.

Một số phòng chuyên môn, nghiệp vụ, văn phòng và thanh tra thuộc Sở NN-PTNT có số lượng lãnh đạo cấp phó được đánh giá là chưa phù hợp, được Sở chủ động sắp xếp, bố trí lại. Cụ thể, Phòng Kế hoạch - Tài chính từ 6 phó trưởng phòng nay sắp xếp, bố trí lại còn 3 phó trưởng phòng; Thanh tra Sở từ 3 phó chánh thanh tra còn 1 phó chánh thanh tra...

Theo UBND tỉnh Thái Nguyên, trên cơ sở đề án vị trí việc làm của các cơ quan, đơn vị chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh, căn cứ vào bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí việc làm theo danh mục được Bộ Nội vụ phê duyệt, Sở Nội vụ tỉnh Thái Nguyên phải khẩn trương đôn đốc, hướng dẫn thẩm định để trình UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt trước ngày 25.4, sắp xếp theo hướng phù hợp chủ trương tinh giản biên chế và giảm số lượng cấp phó, đảm bảo cơ cấu hợp lý số lượng lãnh đạo với biên chế tại mỗi cơ quan, đơn vị. (Thanh Niên 20/4) Về đầu trang

Thường Xuân (Thanh Hóa): Tan hoang rừng Xuân Lẹ vì "lâm tặc"

Nạn “lâm tặc” vẫn chưa bao giờ thôi nóng tại Xuân Lẹ (Thường Xuân – Thanh Hóa) đang hàng ngày tàn phá những cánh rừng nguyên sinh ở đây. Gỗ vẫn bị đốn hạ với cách thức tinh vi, xảo quyệt hơn.

Cách trụ sở UBND xã Xuân Lẹ chỉ khoảng 2km, địa phận suối làng Vèn, đoạn chảy qua thôn Liên Sơn, là nơi khởi điểm của tình trạng phá rừng. Dọc 2 bên bờ suối, nhiều gỗ xẻ, gỗ tròn được giấu ở đây. Lâm tặc cũng rất tinh vi khi phủ cây rừng lên trên nhằm tránh bị phát hiện.

Xuân Lẹ những ngày này mưa không ngớt, đường đồi dốc thẳng đứng, trơn trượt. Vắt rừng chỉ chực chờ hút máu, thế nhưng di chuyển nhanh thì chắc chắn sẽ ngã. Cuối cùng sau hàng giờ gian nan chúng tôi đã tiếp cận được điểm phá rừng.

Ghi nhận thực tế cho thấy, bắt đầu từ địa phận thác thiêng Trai Gái đến khu vực thác Xà Pạc, địa điểm giáp ranh với xã Thông Thụ (Quế Phong, Nghệ An) diễn biến tình hình rất phức tạp. Thay vì phá tập trung và ồ ạt như trước, giờ lâm tặc chặt thành nhiều điểm lẻ. Thủ đoạn chúng thường dùng là cột gỗ vào ách trâu, phòng khi bị lực lượng chức năng phát hiện là lập tức tháo ách rồi cả người lẫn trâu chạy tuốt vào rừng, khi bị tịch thu thì số lâm sản trên lại trở thành vô chủ. Sau khi đốn hạ xong lâm tặc sẽ nghe ngóng tình hình, nếu không thấy động tĩnh gì chúng mới vận chuyển gỗ về.

Trong địa phận khoảng 2km, hàng loạt cây đã bị đốn hạ. Có những cây đã mục nát, có những cây một vòng tay người ôm không xuể. Nhiều cây lâm tặc chặt nhưng thấy động tĩnh chúng bỏ lại trong rừng.

Hàng trăm hộ dân sinh sống  dưới dãy núi, tất cả nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và canh tác nông nghiệp đều từ trên thượng nguồn đổ về. Rừng đầu nguồn là nơi lưu giữ nguồn nước quan trọng này. Nếu việc chặt phá rừng còn tiếp diễn thì nguy cơ mất nguồn nước sạch là rất lớn, diện tích rừng ngày càng thu hẹp và nguồn nước sẽ ít đi. Ngoài ra việc phá rừng sẽ làm mất lớp phủ bề mặt bền vững cho mặt đất, đất mặt bị sói mòn rửa trôi, gây trượt đất, sạt lở, lũ ống, lũ quét vào mùa mưa. Nếu xảy ra lũ ống, lũ quét thì người dân ở hạ nguồn sẽ lãnh đủ.

Trao đổi với ông Hoàng Trọng Lưu – Chủ tịch UBND xã Xuân Lẹ được biết: Tình trạng khai thác gỗ trái phép trước đây có xảy ra, đặc biệt là năm 2015. Sau khi giao đất, khoán rừng cho dân bảo vệ, đến nay tình hình đã được khắc phục triệt để. Về vấn đề khai thác đá quý, không chỉ người dân bản địa mà nhiều trường hợp khác từ xã Vạn Xuân (Thường Xuân), Bái Thượng (Thọ Xuân), huyện Như Xuân, tỉnh Nghệ An cũng tham gia, tuy nhiên việc này cơ bản đã chấm dứt từ năm 2014. Hiện nay trên địa bàn không có điểm nóng về rừng, nhân dân sinh hoạt, canh tác sản xuất ổn định.Chỉ tới khi PV nói đã có đủ cơ sở khẳng định việc phá rừng vẫn còn tiếp diễn, thì ông Lưu mới lúng túng: “Tất nhiên vẫn còn xảy ra nhưng tình hình đã có nhiều chuyển biến”.

Trong khuôn viên trụ sở xã Xuân Lẹ có rất nhiều gỗ xẻ xếp thành chồng. Khi được hỏi, ông Lưu cho biết đây là gỗ tạp, không có giá trị về kinh tế. Thế nhưng sau khi PV đưa ra lập luận thuyết phục, vị Chủ tịch lại quay sang nói: “Đây là gỗ vô chủ do các đối tượng lâm tặc bỏ lại, gồm tổng cộng 12 tấm, trong đó có 2 tấm gỗ sến, 3 tấm gỗ táu”.

Trao đổi với ông Phạm Thăng Long – Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Thường Xuân được ông cho biết: Hiện tôi đã cử đồng chí hạt phó xuống địa bàn để nắm bắt và giám sát công tác bảo vệ rừng. Sau khi về đây nhận công tác, qua đi địa bàn nắm bắt tình hình, tôi cũng có nhận định rằng rừng tại khu vực xã Xuân Lẹ đang còn bất ổn.

Qua đó nhận thấy công tác bảo vệ rừng tại địa bàn còn lỏng lẻo, chưa nắm bắt rõ các thông tin về việc phá rừng và đưa ra xử lý. Các lực lượng Công an xã cần phối hợp chặt chẽ với kiểm lâm địa bàn để có biện pháp ngăn chặn mọi hành vi đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 20/4) Về đầu trang

http://www.baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong-va-phat-trien/201704/thuong-xuan-thanh-hoa-tan-hoang-rung-xuan-le-vi-lam-tac-2801545/

Quảng Trị: Quần chúng tích cực phòng cháy rừng trong mùa khô

Để ngăn chặn kịp thời các vụ cháy rừng có thể xảy ra trong mùa khô năm 2017, UBND huyện Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị) đã tăng cường triển khai các biện pháp bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trên địa bàn.

Thời điểm này, huyện Hướng Hóa đang bắt đầu bước vào mùa khô năm 2017, tiết trời hanh khô kéo dài kèm gió Tây Nam thổi mạnh khiến nhiều diện tích rừng đứng trước nguy cơ cháy rất cao. Trước tình hình đó, UBND huyện chỉ đạo các Ban chỉ huy PCCCR cấp huyện, xã xây dựng phương án bảo vệ, PCCCR năm 2017 để chủ động ứng phó với thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp.

Đồng thời, lực lượng kiểm lâm huyện Hướng Hóa tăng cường tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng. Đến nay toàn huyện đã thành lập 242 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng với trên 2.000 lượt người tham gia. Tại các xã, thị trấn đã thành lập, củng cố 20 Ban chỉ huy bảo vệ rừng cấp xã.

Hiện nay, toàn huyện Hướng Hóa có khoảng 49.000 ha đất có rừng. Ngoài diện tích rừng tự nhiên đã được giao cho các chủ rừng như Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa – Đakrông, Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, UBND các xã trực tiếp quản lý đến nay huyện đã giao hơn 3.000 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ và hưởng lợi.

Được biết, tại huyện Hướng Hóa, mùa khô thường trùng với thời điểm đồng bào Vân Kiều, Pa Kô trên địa bàn tiến hành đốt dọn thực bì chuẩn bị cho mùa làm nương rẫy trong năm dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao. Lực lượng kiểm lâm địa bàn đã phối hợp với UBND các xã, thị trấn thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn người dân phát rẫy đúng quy định và đúng diện tích quy hoạch được duyệt. (Moitruong.net.vn 20/4) Về đầu trang

Triển khai giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng Bà Nà - Núi Chúa

Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa vừa cho biết, đơn vị đã triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2017. Theo đó, rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa có 26.751ha, là khu vực giàu tài nguyên động thực vật nhất ở Đà Nẵng, nên 4 giải pháp chính được triển khai gồm: Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong cộng đồng dân cư khu vực cận rừng, với phương châm phòng là chính; ký cam kết thực hiện tốt quy định về PCCCR với Ban nhân dân thôn ở các thôn cận rừng và hơn 1.000 hộ, cơ quan đơn vị; lắp đặt hàng chục biển cấm lửa tại những khu vực xung yếu. Hai là, thành lập các tổ, đội xung kích PCCCR, kiện toàn Ban chỉ đạo PCCCR của đơn vị và Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng. Đối với 3 xã Hòa Phú, Hòa Ninh, Hòa Bắc, các địa phương có rừng đặc dụng, ngoài Ban chỉ huy bảo vệ rừng và PCCCR của 3 xã với 45 thành viên, 20 tổ, đội xung kích PCCCR với 171 thành viên đã được thành lập. Ba là, thực hiện triệt để phương châm 4 tại chỗ trong PCCCR, ban quản lý đã chuẩn bị chu đáo, đầy đủ trang thiết bị, dụng cụ phục vụ chữa cháy rừng. Bốn là, phân vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao, qua đó ưu tiên lực lượng thường xuyên tuần tra, cảnh giới, phát hiện, xử lý kịp thời những tình huống sử dụng lửa sai quy định trên vùng rừng.

Phương án PCCCR tại rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa được cụ thể hóa với các tình huống giả định có thể xảy ra. Việc huy động lực lượng, phương tiện, trang thiết bị, triển khai chữa cháy khi tình huống xấu, phân công trách nhiệm từng bộ phận, cá nhân đã được Phòng Cảnh sát PCCC số 5 cùng Chi cục Kiểm lâm phê duyệt. (Báo Đà Nẵng 20/4) Về đầu trang

Thái Thuỷ, Quảng Bình: Canh chừng "giặc lửa" để giữ rừng

Xã Thái Thuỷ (Lệ Thủy) có diện tích tự nhiên hơn 5.700 ha, trong đó rừng trồng là 3.439 ha, chiếm gần 60% tổng diện tích. Đây là xã vùng bán sơn địa, diện tích đất lâm nghiệp chiếm đa số nên công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy (PCCC) rừng được chính quyền địa phương quan tâm, nhất là vào mùa khô.

 Chủ tịch UBND xã kiêm Trưởng Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCC rừng xã Thái Thủy Trần Đức Phong cho biết, do đặc điểm địa hình chủ yếu là gò đồi, giao thông đi lại khó khăn nên khi có cháy rừng, công tác huy động lực lượng, phương tiện ứng phó chậm.

Vì thế, từ nhiều năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương rất chú trọng công tác quản lý bảo vệ, PCCC rừng, nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.

Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, nhân dân Thái Thuỷ luôn xác định công tác bảo vệ và PCCC rừng là nhiệm vụ trọng tâm. Tất cả các thành viên Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCC rừng của xã cũng như các hộ gia đình trong địa bàn đều được phân công trách nhiệm cụ thể để bảo đảm cho công tác bảo vệ và PCCC rừng của địa phương được thực hiện tốt nhất.

Trên địa bàn xã chủ yếu là rừng trồng, diện tích tiếp giáp với nhiều địa phương khác, do đó khi xảy ra cháy rừng thì ngay lập tức có sự phối hợp giữa các thôn và giữa xã Thái Thuỷ với các xã lân cận, như: Văn Thuỷ, Sen Thuỷ, Dương Thuỷ, Mỹ Thủy..., kể cả huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị.

Bước vào mùa khô năm nay, trên cơ sở nhận định thời tiết nắng nóng kéo dài, nguy cơ cháy rừng cao, nên chính quyền địa phương đã chỉ đạo kiện toàn các tổ đội bảo vệ rừng, thực hiện các nội quy, quy chế của xã đề ra; đồng thời phối hợp với các xã lân cận trong lĩnh vực bảo vệ rừng và PCCC rừng. Theo đó, khi có cháy rừng xảy ra, mỗi tổ chức, cá nhân, chủ rừng phải thông báo kịp thời cho lực lượng PCCC của thôn biết để huy động lực lượng xử lý.

Nếu đám cháy xảy ra rộng thì phải báo cáo ngay cho Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCC rừng của xã biết để chỉ huy, phối hợp huy động lực lượng và phương tiện ứng cứu. Khi có thông tin cháy rừng ở vị trí nào, các tổ PCCC dùng hiệu lệnh trống đã được quy định để báo động lực lượng chữa cháy, đồng thời huy động mọi lực lượng và phương tiện tại chỗ để tham gia chữa cháy kịp thời.

Sau khi chữa cháy xong, các tiểu ban PCCC, chủ rừng và các tổ chức có liên quan lập biên bản thống kê diện tích rừng bị cháy, mức độ thiệt hại, điều tra làm rõ nguyên nhân, báo cáo kịp thời để có biện pháp xử lý, khắc phục hậu quả do cháy rừng xảy ra.

Mỗi người dân, hộ trồng rừng phải luôn nâng cao ý thức bảo vệ và PCCC rừng, xem lợi ích của việc giữ rừng không chỉ của địa phương mà còn là của mỗi người dân. Ông Lê Văn Thế ở thôn Minh Tiến cho biết: “Gia đình tui có gần 20 ha rừng trồng, chúng tôi luôn chuẩn bị mọi phương tiện, dụng cụ, huy động rựa, xẻng, thùng, xô... trong nhà và chuẩn bị phương án để lỡ khi có hoả hoạn thì dễ dàng ứng cứu kịp thời”.

Cũng theo ông Trần Đình Phong, khó khăn nhất trong thực hiện công tác PCCC rừng của Thái Thủy là địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn, dân cư sống rải rác theo từng cụm ở 7 thôn, phương tiện, dụng cụ chữa cháy thiếu và yếu. Vì thế, việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức người dân là vấn đề mấu chốt để giữ rừng không bị cháy.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy Thái Thủy đã làm tốt điều này bởi hầu như không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Điều đáng ghi nhận nữa là Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCC rừng của xã đã đề ra các phương án chỉ đạo cụ thể, phân chia rõ trách nhiệm cho từng cá nhân, tổ chức và các chủ rừng, nhằm thực hiện tốt công tác bảo vệ, PCCC rừng. Đồng thời, xã xây dựng phương án bảo vệ và PCCC rừng cụ thể theo đặc điểm tình hình và linh động trong từng thời điểm khác nhau, trên cơ sở thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ: chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, hậu cần tại chỗ, phương tiện tại chỗ.

Ông Nguyễn Xuân Quế, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lệ Thủy cho biết: “Những kết quả đạt được trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCC rừng của Thái Thủy thời gian qua rất cần được biểu dương. Điều này thể hiện sự cố gắng, nỗ lực của tập thể cán bộ và nhân dân địa phương; đồng thời cho thấy sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Huyện uỷ, UBND huyện cũng như các cấp ngành và Hạt Kiểm lâm... trong việc hỗ trợ, giúp đỡ kinh phí, kế hoạch chăm sóc, bảo vệ và PCCC rừng”. (Báo Quảng Bình 20/4) Về đầu trang

Quảng Nam: Sử dụng hiệu quả đất rừng

Tại phiên thảo luận tổ Kỳ họp thứ 4, HĐND khóa IX, nhiều ý kiến cho rằng để miền núi phát triển mạnh mẽ hơn cần sử dụng hiệu quả tài nguyên đất rừng.

Về định hướng phát triển kinh tế - xã hội miền núi gắn với thực hiện các dự án lớn, nhiều địa phương đề nghị HĐND tỉnh cần có cơ chế phát triển công nghiệp chế biến một cách rõ ràng hơn, nhất là chế biến các sản phẩm dược liệu, trồng rừng gỗ lớn. Riêng với quy hoạch phát triển cây quế Trà My đến 2025, định hướng đến 2030 có nhiều ý kiến băn khoăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhất là tinh dầu quế. Do đó, Sở NN&PTNT phải phân tích kỹ về tình hình tiêu thụ sản phẩm từ quế, dự báo khả năng tiêu thụ các sản phẩm trên thị trường trong nước và thế giới để xác định quy mô vùng quy hoạch trồng quế phù hợp.

Theo bà Nguyễn Thị Tuyết Thanh - Trưởng ban Dân tộc HĐND tỉnh, quy hoạch 10.000ha phát triển cây quế bản địa Trà My, nhưng chủ yếu ưu tiên trên diện tích đất của các hộ gia đình, cộng đồng và UBND xã. Việc cần làm trước tiên là địa phương nhanh chóng rà soát, đo đạc, hoàn thành tiến độ giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lâm nghiệp, thực hiện giao khoán rừng để người dân, cộng đồng quản lý, phát triển rừng quế theo đúng quy hoạch được duyệt. “Để cây quế đem lại hiệu quả, tỉnh cần có chính sách hỗ trợ người dân chuyển đổi trồng quế trong 3 năm đầu để ổn định đời sống. Cạnh đó, ưu tiên lồng ghép các nguồn vốn từ nhiều chương trình, chính sách để đầu tư hệ thống hạ tầng giao thông phục vụ sản xuất, thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất, gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm quế” - bà Thanh đề xuất.

Tận dụng thế mạnh về nguồn lực đất đai, mấy năm nay các huyện miền núi đã đẩy nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ cho người dân. Hiện nay, 100% diện tích đất do các tổ chức sử dụng ở 9 huyện miền núi được cấp GCNQSDĐ, 52.909ha đất do hộ gia đình, cá nhân sử dụng được cấp giấy (đạt hơn 65% tổng GCNQSDĐ cần cấp). Vướng mắc lâu nay của các địa phương miền núi là số liệu giữa GCNQSDĐ với thực địa có chênh lệch nên nhiều nơi đang mất nhiều thời gian, công sức để điều chỉnh. Điều này làm chậm tiến độ giao đất lâm nghiệp và cấp GCNQSDĐ cho người dân. Theo các huyện miền núi, để tháo gỡ bất cập trên, các ngành chức năng của tỉnh cần hỗ trợ về kinh phí, kỹ thuật cho các địa phương đo đạc, làm thủ tục cấp lại GCNQSDĐ cho dân. Như vậy, khi được giao đất, cấp GCNQSDĐ sớm thì người dân được hưởng lợi từ diện tích đất và rừng mình được nhận, đặc biệt theo Nghị định số 75/NĐ-CP ngày 9.9.2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020. (Baoquangnam.com.vn 20/4) Về đầu trang

UBND tỉnh Bắc Kạn hồi âm sau loạt bài của Pháp luật Plus về vụ rừng nghiến bị tàn sát tại Vườn quốc gia Ba Bể

UBND tỉnh Bắc Kạn vừa có văn bản gửi tòa soạn Pháp luật Plus xung quanh vụ lâm tặc ngang nhiên tàn sát gỗ nghiến trong Vườn quốc gia Ba Bể.

Trong công văn số 1569/UBND-KT ngày 14/7 về việc trả lời nội dung báo đăng do bà Hoàng Thị Duyên- Chánh văn phòng UBND tỉnh Bắc Kạn ký.

Trong công văn này, UBND tỉnh Bắc Kạn cảm ơn Pháp luật Plus đã phản ánh về tình hình chặt phá, khai thác gỗ nghiến trái pháp luật tại Vườn quốc gia Ba Bể.

Cùng với đó, công văn cũng nêu rõ: Nội dung mà Pháp luật Plus đăng tải là hoàn toàn đúng sự thật, trước tình hình trên, ngày 13/3/2017, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn Nông Văn Chí tổ chức cuộc họp kiểm điểm công tác quản lý bảo vệ rừng tại Vườn quốc gia Ba Bể và đã có thông báo kết luận số 28/TB-UBND ngày 16/3/2017 của UBND tỉnh Bắc Kạn.

Ngày 4/4/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Lý Thái Hải đã chủ trì buổi làm việc với Vườn quốc gia Ba Bể về công tác tổ chức cán bộ và tình hình quản lý và bảo vệ rừng năm 2016 và quý I năm 2017.

Ngày 8/4/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Lý Thái Hải làm trưởng đoàn công tác của tỉnh tiến hành kiểm tra thực tế tại hiện trường vụ chặt phá rừng trái phép tại khoảnh 1, Tiểu khu 61(Pù Tu Mạ) thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trong địa giới hành chính xã Nam Mẫu.

Đồng thời chỉ đạo công an tỉnh tổ chức khám nghiệm hiện trường đối với những cây gỗ nghiến bị chặt hạ mới tại khu vực này để điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 9/4/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Lý Thái Hải đã tổ chức cuộc họp bàn triển khai giải pháp cấp bách bảo vệ rừng tại Vườn quốc gia Ba Bể và đã có Thông báo số 39/TB-UBND ngày 12/4/2017 của UBND tỉnh Bắc Kạn.

Ngày 11/4/2017, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Thị Minh Hoa tiếp tục có buổi làm việc tại Vườn quốc gia Ba Bể thống nhất nội dung kế hoạch truy quét các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn vùng lõi, vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể.

Trong thời gian tới, để tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực phát triển và bảo vệ rừng; ngăn chặn kịp thời và xử lý dứt điểm tình trạng khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh.

Đồng thời khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý bảo vệ rừng, UBND tỉnh Bắc Kạn chỉ đạo Sở NN&PTNT, Công an tỉnh, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Vườn quốc gia Ba Bể, UBND huyện, Thành phố và các ngành chức năng nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/1/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.

Chỉ thị số 08/CT/TU ngày 2/7/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc K ạn về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Chỉ đạo các cấp, các ngành xây dựng kế hoạch cụ thể ngăn chặn các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép tại địa phương, ngành mình. Vườn quốc gia Ba Bể phối hợp với UBND các huyện Ba Bể, Chợ Đồn xây dựng kế hoạch, tập trung lực lượng tuần tra, truy quét để ngăn chặn tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái pháp luật như hiện nay.

Cũng liên quan đến vụ việc để lâm tặc tàn sát rừng gỗ nghiến tại Vườn quốc gia Ba Bể, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn Lý Thái Hải đã chỉ đạo Ban giám đốc, lãnh đạo Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Ba Bể tổ chức kiểm điểm về trách nhiệm của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu đơn vị, tổ chức theo quy định. (Phapluatplus.vn 19/4)Về đầu trang

Yên Thế: Nhiều cây có đường kính lớn bị chặt phá bừa bãi

Mục Thông tin nhanh qua đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều cây có đường kính lớn tại rừng Nhoan, bản Đồng Cả, xã Canh Nậu, huyện Yên Thế bị chặt phá bừa bãi.

Theo đó, Báo đề nghị chính quyền, các cơ quan chức năng liên quan tới vụ việc kiểm tra, xử lý và hồi âm cho Báo để thông tin đến bạn đọc. (Nhân Dân 20/4, tr7) Về đầu trang

Cảnh báo từ 'Đại khai khoáng Hà Giang': Đánh đổi rừng - được 1 mất 10!

Tại Hà Giang xuất hiện tình trạng đánh đổi rừng để khai thác khoáng sản, trong khi trồng rừng thay thế chỉ đạt 30 – 40%.

Thời gian qua, Đảng và Chính phủ đã và đang có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích tăng độ che phủ rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc. Tuy vậy, tại Hà Giang xuất hiện tình trạng đánh đổi rừng để khai thác khoáng sản, trong khi trồng rừng thay thế chỉ đạt 30 – 40%. Điều này dẫn tới diện tích rừng ngày càng thu hẹp, gây nhiều hệ lụy về môi trường. Trong khi lợi ích đem lại không lớn, một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản trốn, nợ thuế phí gây tổn thất cho ngân sách Nhà nước.

Ông Hoàng Văn Nhu, Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Hà Giang cho biết, hầu hết các mỏ khoáng sản trên địa bàn tỉnh đều nằm trên đất rừng. Theo đó, để phục vụ khai thác, địa phương phải chuyển đổi mục đích sử dụng diện tích rừng tương đối lớn, đơn cử, trong giai đoạn 2011 – 2015, tỉnh đã chuyển đổi mục đích sử dụng 1.394 ha rừng sản xuất, 525 ha rừng phòng hộ và 39 ha rừng đặc dụng để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế, trong đó, chủ yếu là khai thác khoáng sản, thủy điện... 

Chính phủ quy định các doanh nghiệp được cấp phép khai thác khoáng sản phải có phương án, trồng rừng thay thế ít nhất bằng diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác hoặc nộp tiền nếu doanh nghiệp không có điều kiện, quỹ đất trồng rừng thay thế. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh sẽ tiếp nhận khoản thu này, quản lý số tiền trồng rừng thay thế, giải ngân theo phê duyệt của UBND tỉnh để tổ chức trồng rừng thay thế. Tuy vậy, con số này tại Hà Giang đạt rất thấp, chất lượng kém.

Theo Chi cục Lâm nghiệp Hà Giang, chất lượng rừng do các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trồng có tỷ lệ cây sống thấp, chỉ khoảng 30 – 40%.  Nguyên nhân là do các doanh nghiệp không quan tâm tới việc trồng rừng thay thế theo quy định, không đôn đốc các đơn vị nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng…

Xã Minh Sơn (huyện Bắc Mê) là tâm điểm gây chú ý nhất trong số các xã đang gồng mình ngày đêm gánh hậu quả từ khai thác khoáng sản. Trên địa bàn xã có 8 điểm mỏ được cấp phép với tổng diện tích là 465 ha. Như vậy, để có điều kiện cho 8 điểm mỏ này, đã có 465 ha rừng nằm trong “quy hoạch”, chuyển đổi mục đích sử dụng. 

Riêng mỏ khai thác sắt Sàng Thần của Công ty Cổ phần Đầu tư Khoáng sản An Thông với tổng diện tích 26,1 ha có tới 9,8 ha rừng đặc dụng (thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng Du Già) được chuyển đổi mục đích sử dụng. Trữ lượng rừng bị mất đi do phải chặt hạ cho khai trường tại mỏ này tương đương hơn 1.700 m3 gỗ từ nhóm II đến nhóm VIII như: đinh, nghiến, trai, sồi, sến, trám...

Bên cạnh đó, việc chặt hạ rừng đầu nguồn, cùng với việc sử dụng một lượng nước quá lớn từ nguồn nước đã làm ảnh hưởng lớn các hộ dân khu vực xung quanh. Đơn cử, Công ty An Thông sử dụng hơn 1.300 m3 nước/ngày đêm cho việc tuyển quặng đã làm suy giảm, cạn kiệt đáng kể nguồn nước sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư tại 5 thôn lân cận là: Lũng Vầy, Khuổi Kẹn, Nà Sáng, Bình Ba, Ngọc Trì. Vào mùa khô, người dân ở một số thôn bản phải đi gánh nước từ những nơi khác về để sử dụng cho sinh hoạt.

 Ông Bùi Minh Tân, Trưởng Phòng TN&MT huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang cho biết: Khai thác khoáng sản không tránh được tác động đến môi trường, toàn bộ khu vực khai thác nằm trong đất rừng sản xuất. Khi Công ty An Thông vào khai thác, công ty mở đường tránh nơi trung tâm, một số hộ dân không di dời, một số trường học gần đường được lắp kính chống ồn. Theo quan điểm của ngành, trách nhiệm của Công ty An Thông đối với môi trường ở địa phương là tốt.

Theo nghiên cứu, đánh giá của Trung tâm Con người và Thiên nhiên trong vòng 10 năm qua, hoạt động khai thác khoáng sản ở Hà Giang diễn ra như một “đại khai khoáng” và báo động thực tế “mất nhiều hơn được”. Nhiều cảnh báo về hậu họa do khai thác khoáng sản đã được đưa ra cho Hà Giang trong những năm gần đây. Song, đến thời điểm hiện tại, chủ trương phát triển kinh tế của tỉnh Hà Giang vẫn coi khai thác khoáng sản là một trong bốn mũi nhọn sau du lịch, thủy điện và kinh tế cửa khẩu. 

Để giải quyết vấn đề này, ông Hoàng Văn Nhu cho rằng, các cơ quan quản lý tỉnh Hà Giang cần xem xét nghiêm ngặt đối với dự án khai thác khoáng sản chiếm diện tích đất rừng lớn, đặc biệt là rừng đặc dụng. Tuyệt đối không cấp phép khai thác điểm mỏ mới và mở rộng diện tích khai thác ảnh hưởng đến rừng. Đồng thời, xử lý mạnh, kiên quyết thu hồi, đóng cửa đối với các điểm mỏ chây ỳ không thực hiện các nghĩa vụ trồng rừng thay thế. Đối với những diện tích rừng do doanh nghiệp đã trồng thay thế các cơ quan chức năng cần kiểm tra thường xuyên đảm bảo rừng trồng thay thế phát triển tốt.

Đồng thời, triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tạo sinh kế cho người dân chịu ảnh hưởng nặng nề ở những khu vực khai thác mỏ có cuộc sống ổn định. Đặc biệt, để giải quyết vấn đề đảm bảo nguồn nước sinh hoạt sạch và đủ cho người dân địa phương, các cơ quan chức năng cần vào cuộc để có giải pháp lâu dài.

Để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân địa phương nơi khai thác khoáng sản, yêu cầu các doanh nghiệp triển khai các biện pháp bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản nhằm hạn chế, giảm thiểu bụi, tiếng ồn, chấn động rung do nổ mìn, thu gom, xử lý triệt để bùn, đất, nước thải công nghiệp đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra môi trường. Tích cực trồng cây xanh xung quanh khu vực khai thác và dọc theo các tuyến đường. Trồng rừng thay thế và các quy định về phục hồi môi trường. Việc giám sát các hoạt động của doanh nghiệp cần thiết phải được tiến hành bởi cộng đồng và chính quyền địa phương. (Tài Nguyên & Môi Trường 20/4, tr1+8+9) Về đầu trang

Báu vật Sơn Trà “kêu cứu”: kỳ 1: Sơn Trà trước nguy cơ bê tông hóa

Sự xâm hại vào bán đảo Sơn Tràm đang ngày càng nghiêm trọng và táo tợn, đặt ra thách thức cho Đà Nẵng sẽ lựa chọn thiên nhiên hay tiếp tục khai thác tự nhiên.

Từ nhiều năm trước việc giao khoán đất cho người dân tự ý xây dựng nhà, làm rẫy và việc phát triển du lịch sinh thái kiểu nửa vời trực tiếp xâm hại tới Sơn Trà khiến người dân Đà Nẵng và các chuyên gia môi trường lo ngại.

Từ năm 1977 Thủ tướng ra quyết định công nhận rừng Sơn Trà là một trong 10 khu rừng cấm quốc gia. Ngoài ra từ 2010 thành phố Đà Nẵng có quyết định phê duyệt bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, đồng thời quyết định về kế hoạch phát triển bảo vệ rừng đến 2020.

Tuy nhiên năm 2008, chính quyền Đà Nẵng đựa trên Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004) ra quyết định phê duyệt quy hoạch rừng ở Đà Nẵng hạ diện tích Sơn Trà xuống còn 1 nửa là 2.591ha. Theo đó có nhiều hệ lụy kéo theo. Hàng chục ha rừng nguyên sinh tại bán đảo đang bị chặt phá, phá vỡ thảm thực vật tự nhiên, làm mất nơi cư trú của nhiều động vật hoang dã.

Riêng 2016, Hạt kiểm lâm quận Sơn Trà phát hiện 2 vụ chặt phá rừng tự nhiên với quy mô lớn. Thanh tra thành phố cũng đã thanh tra toàn diện hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng ở bán đảo Sơn Trà. Hiện có 68 ngôi nhà trái phép đang dựng lên ở đây.

Ông Hoàng Đình Bá – nguyên Phó trưởng Ty lâm nghiệp Quảng Nam – Đà Nẵng nhận định: Sơn Trà đã xuống cấp một cách nghiêm trọng, việc quản lý rừng của chúng ta còn quá nhiều lỗ hổng khiến Sơn Trà liên tục bị chảy máu.

Theo ông Trần Hữu Vỹ - Giám đốc Trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh, việc xây dựng nhiều cơ sở lưu trú du lịch tại Sơn Trà sẽ phá vỡ cân bằng hệ sinh thái tự nhiên... ảnh hưởng tới tuổi thọ và khả năng sinh trưởng của ĐVHD.

Quy hoạch cũng khiến diện tích rừng tự nhiên giảm dần, mất tính liên tục của hệ sinh thái từ rừng xuống biển.. (Tài Nguyên & Môi Trường 20/4, tr7)Về đầu trang

C74 bắt vụ buôn bán trái phép hơn 1.600 sản phẩm ngà voi

Khi Tùng đang mang bên mình túi hàng lớn chứa sản phẩm ngà voi chờ khách hàng đến để giao dịch thì bị lực lượng C74 ập đến, bắt giữ quả tang.

Ngày 20/4, nguồn tin riêng của PLVN từ lực lượng Phòng 3, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu (C74) - Bộ Công an cho biết, lực lượng đơn vị này vừa bắt giữ quả tang vụ buôn bán 1.633 sản phẩm chế tác từ ngà voi tại TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Vụ bắt giữ diễn ra vào lúc 21h đêm 19/4, tại quán cà phê Gia Lê – số 97 Lê Lợi, TP. Pleiku. Nguyễn Bá Tùng (SN 1994, trú tại xã Ia Kla, huyện Đức Cơ, Gia Lai) dùng xe máy BKS 81B2-001.84, vận chuyển một chiếc túi màu xanh nước biển, bên trong chứa hàng nghìn sản phẩm được chế tác từ ngà voi đến quán cà phê Gia Lê.

Khi Tùng đang ngồi chờ giao dịch, mua bán với khách hàng thì bất ngờ bị lực lượng Phòng 3 – C74 phối hợp với Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Gia Lai và Đội Kiểm lâm đặc nhiệm – Cục Kiểm lâm Việt Nam mật phục từ trước, ập đến bắt quả tang.

Tại cơ quan công an, Tùng không đưa ra được các giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của số hàng nói trên và khai nhận toàn bộ số hàng trong túi này là các sản phẩm trang sức được chế tác từ ngà voi. Tùng mua lại của một người đàn ông tên là Nguyễn Việt Dũng (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2016, với giá hàng trăm triệu đồng để về bán lại cho khách kiếm lời.

Qua kiểm tra, lực lượng công an kiểm đếm được có tổng cộng 1.633 sản phẩm gồm: vòng tròn đeo tay, mặt dây chuyền, tượng phật, nhẫn, tràng hạt… có màu trắng ngà, được chế tác rất kỳ công, tinh xảo.

Xét thấy hành vi của Tùng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm được sản xuất từ động vật nguy cấp, quý hiếm, lực lượng chức năng đã ra quyết định thu giữ toàn bộ tang vật để mở rộng điều tra, làm rõ và xử lý theo pháp luật. (Pháp Luật Việt Nam 21/4, tr2; Lao Động 21/4, tr3) Về đầu trang

Hỏa thiêu gỗ nghiến để phi tang chứng cứ phá rừng

Sau khi đăng loạt phóng sự về nạn chặt phá rừng nghiến tại một số địa phương thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Báo Lao Động đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ cơ quan hữu trách. Hàng trăm mét khối gỗ nghiến quý hiếm đã được thu hồi từ đống đổ nát, vụ án phá rừng đã được khởi tố… Tuy nhiên, rừng nghiến cổ thụ vẫn chưa bình yên. Nhận được tin báo, chúng tôi quyết định trở lại Na Hang, vào rừng xã Năng Khả và chứng kiến những thảm trạng kinh hoàng...

Năng Khả đã “nhẵn mặt” trên báo chí bởi “tai tiếng” phá rừng nghiến đứng vào “top” đầu ở các xã thuộc huyện Na Hang, cái nôi trù phú nhất của vương quốc nghiến ở miền núi phía bắc Việt Nam. Đầu năm 2016, cái tên Năng Khả được báo chí nhắc tới với tình trạng phá rừng rất đáng báo động. Tuy nhiên từ đó đến nay, mặc dù tỉnh Tuyên Quang đã có những động thái có vẻ quyết liệt nhưng tình trạng trên vẫn chưa có dấu hiệu được cải thiện. Và cái vòng kim cô ngày càng thắt chặt với những rừng nghiến nơi đây: Phá rừng, lên báo, tỉnh kiểm tra rồi... lại phá rừng.

Chúng tôi lên Năng Khả vào một ngày mưa gió. Anh D - người dẫn đường, cho hay, trời mưa và âm u mới là điều kiện lý tưởng cho lâm tặc “xẻ thịt” rừng. Lâm tặc thường xẻ rừng vào trời mưa và trời tối, những thời điểm kiểm lâm rất “ngại” đi rừng. Do tiếng máy cưa vào buổi đêm rất dễ nghe thấy nên lâm tặc đã nghĩ ra cách đối phó là sục máy cưa xuống nước. Nước sặc lên từng hồi triệt tiêu âm thanh. Tinh vi hơn chúng còn chế ra bộ giảm thanh hoàn hảo cho máy cưa. Vì thế dẫu cho kiểm lâm có đến nơi thì cây nghiến cũng đã bị hạ và lâm tặc đã trốn hết.

Trong các địa điểm của Năng Khả anh D dẫn chúng tôi nên vào bản Nuầy vì ở đây, tình trạng phá rừng rất khủng khiếp. Đường vào bản hai bên là nương ngô, nương mía. Bà con đứng xếp mía hai bên đường dành cho chúng tôi những nụ cười hiền. Thế nhưng anh D đã đập tan cái cảm quan dễ chịu đó: “Họ không hiền đâu, ở đây người ta phá rừng nhiều lắm. Họ mà biết tôi dẫn các anh lên có khi họ chặn đường đánh đấy”. Cẩn thận hơn, anh D nhắc đi nhắc lại chúng tôi không được đưa anh lên mặt báo cũng không tiết lộ với ai việc anh dẫn chúng tôi lên bãi gỗ, vì sợ bị trả thù. Người dân như anh D nhiều khi cũng vô cùng bức xúc trước cảnh “ăn thịt” rừng quá nhẫn tâm, nhưng chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt vì lo sợ lâm tặc sẽ quấy nhiễu.

Đường vào bãi gỗ bản Nuầy trơn trượt vì trời mưa. Những mỏm đá tai mèo đã không ít lần khiến chúng tôi trượt, ngã. Nghiến ở đây không bị xẻ làm cột, làm xà mà cắt làm thớt, để bán cho thương nhân Trung Quốc. Mỗi một cái thớt như vậy nặng hơn 10kg, người gùi về được trả công 100.000 đồng/chiếc. Theo anh D một cây nghiến đường kính khoảng 80cm có thể cho được 15 - 20 cái thớt nghiến, bán lấy tiền triệu ngon ơ, đem lại lợi nhuận rất lớn.

Trên đường vào bãi gỗ chúng tôi bắt gặp những cái thớt nghiến bị vứt lăn lóc bên mỏm đá. Cái lớn nhất có đường kính khoảng 60cm. Nhiều cây nghiến bị cưa đổ nằm vắt dài từ bên nọ sang bên kia. Lâm tặc cưa để đấy nhưng không lấy vội. Khi nào cảm thấy “yên yên’’ thì chúng mới vác máy lên cưa nghiến mang về hoặc dưới chiêu bài “mót gỗ”, các cây nghiến bị khai thác lậu đã bị phù phép thành... hợp pháp.

Người dẫn đường nói với chúng tôi khi nào đến đoạn mà nghiến vắt ngang hai bên như tơ nhện thì là đến bãi gỗ. Quả thật, đi thêm một lúc, chúng tôi được chứng kiến cảnh tượng có một không hai, nghiến bị đốn dăng dày như mạng nhện, cây này vắt sang cây nọ. Trong chuyến đi lần trước, chúng tôi đi trên gỗ nghiến thì chuyến đi lần này chúng tôi đi dưới “lưới gỗ nghiến”. Mỗi nơi lâm tặc lại có một thủ đoạn, một chiêu trò khác nhau, nhưng hậu quả thảm khốc đối với rừng già không thay đổi.

Bãi gỗ nghiến nằm rải rác khắp cánh rừng, đi mỗi chỗ lại gặp một bãi. Bãi ở đây không lớn như ở Bắc Mê (Hà Giang) nhưng nhiều và rải khắp cánh rừng. Vì khi khai thác lâm tặc sẽ chọn những cây to nhất để đốn trước, khi hết cây to thì chúng vác máy cưa đến các điểm khác. Dưới những tán lá rừng phảng phất trong cơn mưa, gỗ nghiến nằm đó thâm lại vì ẩm ướt, thớ gỗ rất mịn.

Anh D bổ sung vào câu chuyện của chúng tôi :“Mùa này không phải là mùa người ta làm nhà nên nghiến ít bị xẻ. Chủ yếu là bị cắt khúc để làm thớt, rồi người Trung Quốc sang mua. Nghiến bị khai thác rất mạnh trong khoảng thời gian từ 2008 - 2012. Trước đây 10 phần thì giờ chỉ còn khoảng 4 phần”. Anh D kết thúc câu chuyện bằng một hơi thuốc lá rít tóp má, người anh run lên vì mưa lạnh, mắt nhìn xa xăm, hồi tưởng về một thời rừng còn nhiều nghiến cổ thụ.

Chúng tôi muốn tìm hiểu thêm, anh D bảo, muốn xem các bảo tàng nghiến cổ thụ bị đốn hạ, phải lên đến bản Nhùng. Để tránh sự dòm ngó của người dân, anh em phải ngụy trang bằng cách thay đổi phương tiện đi lại và tách làm hai nhóm. Đường lên bản Nhùng xa xôi và khó đi hơn bản Nuầy. Mất khoảng 5km từ cửa rừng chúng tôi đã thấy một cây nghiến khổng lồ bị bỏ lại. “Cụ” có đường kính ít nhất phải gần 2m, một người trong nhóm chúng tôi đứng vào trong thân cây cũng không chạm đầu.

Anh N, người dẫn đường chia sẻ những câu chuyện về việc phá và giữ rừng ở nơi đây. Khác với rừng đặc dụng, rừng ở đây là rừng phòng hộ vì thế trữ lượng và giá trị gỗ không cao bằng. Rừng chịu sự quản lý của Hạt Kiểm lâm huyện Na Hang. Trước đây cũng có thời gian người dân chỉ lấy 1 - 2 cây về làm nhà. Nhưng từ khi thương nhân Trung Quốc tìm đến mua thớt thì cây nghiến có giá trị tăng vùn vụt. Cũng vì thế người ta mới ồ ạt tìm đến Năng Khả để tàn sát loại “thiết mộc” này.

Bản Nhùng nổi tiếng với những cây nghiến to có đường kính trên 1m. Anh N đưa chúng tôi đến xem một cây nghiến lớn nhất còn sót lại, mà chưa bị bọn lâm tặc “hỏa thiêu”. Ở đây, lâm tặc có thủ đoạn mới, rất tinh vi: Nghiến sau khi bị xẻ, phần còn thừa sẽ bị chúng đốt để phi tang chứng cứ. Anh N chỉ đường cho chúng tôi vào một bãi gỗ khai thác trong năm ngoái. Lâm tặc sau khi khai thác xong bỏ lại một cái gốc có đường kính 1,5m. Vừa rồi, chúng trở lại để đốt trụi cái gốc cây đó nhằm phi tang chứng cứ. Thủ đoạn đó gây cản trở không ít cho việc kiểm đếm, điều tra của lực lượng kiểm lâm.

Một số vụ bị phát hiện, khởi tố, nhưng số vụ bắt giữ các đối tượng khai thác gỗ nghiến trái phép chỉ như muối bỏ bể. Một người hiểu chuyện tiết lộ: người ta còn lợi dụng việc hợp pháp hóa gỗ bị khai thác trái phép, bằng cách khi báo gỗ lâm tặc chặt trên rừng về là “gỗ mua của người dân”. Và chỉ cần xin được cái “giấy nghiệm thu” (việc khai thác của dân), thế là toàn bộ số gỗ trái phép kia sẽ trở thành hợp pháp!

Theo ông T, một cán bộ kiểm lâm giấu tên cho biết: Mỗi lần có đoàn kiểm tra của tỉnh thì họ lại dẫn đi đến bãi gỗ cũ, đã bị khai thác từ lâu chứ không đi bãi mới. Mà chủ yếu cũng là những bãi rìa ngoài của rừng, với trữ lượng gỗ rất thấp. “Và có một điều lạ là: Rừng bị phá kinh hoàng như thế nhưng rất nhiều khi cán bộ bảo vệ rừng vẫn đều đặn nhận được giấy khen!”, ông T đặt vấn đề và cung cấp cho chúng tôi những bằng chứng thuyết phục. Với cung cách quản lý này, thì rừng không bị tàn sát mới là chuyện lạ.

Chứng kiến những cây gỗ nghiến bị xẻ ra thành từng mảnh, những cây gỗ còn lại đang ngày đêm kêu cứu, những gốc cây đen xì là chứng tích cho một trận hỏa thiêu xóa dấu tích, chúng tôi thật sự hoang mang cho vựa nghiến khổng lồ nghìn năm tuổi của thiên nhiên Việt Nam. Cứ đà này, rồi thì báu vật rừng sẽ biến mất “không một tiếng vang”? (Lao Động điện tử 21/4) Về đầu trang

Chưa có quyết định giao đất đã dọn rừng phòng hộ làm dự án

Theo tìm hiểu của Thanh Niên, UBND tỉnh Phú Yên đã cấp giấy chứng nhận đầu tư dự án khu du lịch liên hợp cao cấp New City Việt Nam tại các xã An Chấn, An Mỹ (H.Tuy An) và An Phú (TP.Tuy Hòa) với vốn đầu tư 1 tỉ USD, trên diện tích hơn 357 ha, cho Công ty TNHH New City Việt Nam. Dự án bao gồm các hạng mục khách sạn, biệt thự, bungalow, các dịch vụ tiện ích liên quan đến khách sạn và resort cao cấp; xây dựng khu liên hợp cao cấp và hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, sân golf, siêu thị, cửa hàng chuyên doanh và trung tâm thương mại…

Cuối năm 2016, UBND tỉnh Phú Yên đã yêu cầu chủ đầu tư khẩn trương triển khai dự án. Ông Mai Kim Lộc, Phó giám đốc Sở TN-MT tỉnh Phú Yên, cho biết riêng tại xã An Phú (TP.Tuy Hòa) dự án có diện tích hơn 121 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ ven biển gần 112 ha. Đây là rừng phi lao được trồng sau năm 1975 với chức năng phòng hộ để chắn cát, chắn gió xâm thực từ biển. “Theo quy định, dự án có trên 20 ha rừng phòng hộ thì thẩm quyền phê duyệt thuộc Bộ TN-MT. Hiện chủ đầu tư đã hoàn tất báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) để trình Bộ TN-MT phê duyệt. Tuy nhiên đến giờ, Bộ TN-MT vẫn chưa có quyết định phê duyệt ĐTM dự án này”, ông Lộc nói.

Theo ông Lộc, dự án muốn triển khai phải có ĐTM, nhưng do vào tháng 7.2017 tỉnh Phú Yên là địa điểm tổ chức cuộc thi Hoa hậu ASEAN nên UBND tỉnh Phú Yên đã cho triển khai dự án nhằm tạo cảnh quan, cơ sở hạ tầng, địa điểm vui chơi, điểm nhấn du lịch để đón chào khách quốc tế… Vì vậy, chủ đầu tư đã đưa phương tiện vào khu vực rừng phòng hộ để dọn cây phi lao, san lấp mặt bằng và trồng cỏ. Riêng tại xã An Phú, dự án đã thực hiện 70% diện tích mặt bằng và đang tiếp tục thi công để kịp cho cuộc thi Hoa hậu ASEAN.

Theo Bộ TN-MT, việc chuyển mục đích đất rừng phòng hộ để thực hiện dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Ngày 12.4, Sở TN-MT tỉnh Phú Yên đã kiến nghị UBND tỉnh giao cho sở này tổng hợp để UBND tỉnh báo cáo các bộ TN-MT, NN-PTNT trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định chuyển mục đích rừng phòng hộ để thực hiện dự án trên, nhưng đến nay Thủ tướng vẫn chưa quyết định.

Ông Lộc cho biết thêm vì chưa có quyết định phê duyệt ĐTM của Bộ TN-MT đối với dự án này nên đến giờ UBND tỉnh Phú Yên vẫn chưa có quyết định giao đất cho chủ đầu tư, dẫn đến chưa xác định giá cho thuê đất đối với dự án. “Hiện chủ đầu tư chưa nộp hồ sơ thủ tục thuê đất. Khi nào chủ đầu tư hoàn tất thủ tục hồ sơ gửi đến Sở TN-MT thì Sở sẽ phối hợp với các ngành chức năng kiểm tra, xác định giá, trình hội đồng để thẩm định theo quy định”, ông Lộc nói.

Riêng về trồng rừng thay thế, ông Lộc cho biết UBND tỉnh Phú Yên đã thông báo chấp thuận phương án trồng rừng thay thế bằng nộp tiền. Hiện chủ đầu tư đã nộp đủ hơn 6,23 tỉ đồng. (Thanh Niên Online 21/4; Thanh Niên 21/4, tr7; Nhân Dân điện tử 21/4; Nhân Dân 21/4, tr5+8) Về đầu trang

http://nhandan.com.vn/xahoi/item/32664602-chua-hoan-thanh-thu-tuc-da-pha-rung-lam-du-an-du-lich.html

Phó Thủ tướng chỉ đạo xử lý vụ lâm tặc phá rừng nghiến cổ thụ

Trước thông tin báo chí phản ánh tình trạng lâm tặc chặt phá rừng nghiến cổ thụ trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong thời gian gần đây, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đã có ý kiến chỉ đạo.

Trong công văn truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng, gửi Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung xử lý dứt điểm tình trạng khai thác, chế biến, mua, bán, vận chuyển trái phép các loại gỗ nghiến, trai trong rừng tự nhiên theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Ngày 19/4, ông Bùi Văn Đông, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang, cho biết Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang phối hợp với các lực lượng chức năng của tỉnh và huyện Vị Xuyên vừa bắt giữ một vụ gỗ nghiến được sơ chế dạng thớt lớn nhất từ trước đến nay ở Hà Giang.

Cũng theo ông Đông, thời gian qua tình hình vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra khá phức tạp. Những cánh rừng đặc dụng ở Hà Giang đang chảy máu từng ngày bởi lâm tặc bất chấp nỗ lực ngăn chặn của lực lượng kiểm lâm.

Rất nhiều cây gỗ nghiến có tuổi đời hàng trăm năm, đường kính từ 1-2m đã bị lâm tặc “xẻ thịt” được sơ chế thành thành những khúc gỗ dạng thớt bán cho các đầu nậu rồi vận chuyển bán sang bên kia biên giới Trung Quốc. (VietnamPlus.vn 20/4; Nhân Dân 21/4, tr2; Tài Nguyên & Môi Trường Online 20/4; Nangluongvietnam.vn 20/4; Đại Đoàn Kết Online 20/4; Kinh Tế & Đô Thị Online 20/4; Thanh Tra Online 20/4; Công An Nhân Dân Online 20/4; Tin Tức Online 20/4; Đại Đoàn Kết 21/4m tr10) Về đầu trang

Kỷ luật cán bộ để mất rừng ở Kon Tum

Vừa qua, Sở NN&PTNT Kon Tum cho biết, đã kỷ luật cảnh cáo 3 cán bộ và khiển trách 2 người khác do để mất rừng trong lâm phần quản lý. Tỉnh Kon Tum cho biết, đã có 1.346m3 gỗ bị khai thác trái phép xảy ra trong quý I/2017 với 165 vụ vi phạm, gây thiệt hại hơn 6ha rừng.

Đáng chú ý, riêng huyện Ngọc Hồi đã xảy ra 20 vụ, thu giữ hơn 800m3. Để vận chuyển gỗ ra khỏi rừng, lâm tặc tại Kon Tum làm hẳn các con đường mòn nhưng cơ quan chức năng không hề phát hiện. Trung tuần tháng 3/2017, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74 - Bộ Công an) phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Ngọc Hồi kiểm tra, phát hiện kho bãi Công ty TNHH MTV Tuấn Sỹ (thôn Nông Nhầy 2, xã Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi) có trên 100m3 gỗ nhóm III-VII không rõ nguồn gốc. Hiện vụ việc vẫn đang được điều tra, xác minh.

Trước đó, Báo Giao thông cũng liên tục phản ánh tình hình lâm tặc phá rừng trên địa bàn xã Ngọc Réo (Đắk Hà, Kon Tum). Liên quan đến các phát hiện do báo chí nêu, ngày 18/4, Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum đã tổ chức họp báo để cung cấp thông tin và trả lời một số vấn đề mà báo chí phản ánh tình trạng mất rừng xảy ra nhiều trong thời gian qua. Đại diện cơ quan Kiểm lâm Kon Tum cho biết, nguyên nhân chính khiến mất rừng là do lực lượng kiểm lâm mỏng mà địa bàn lại lớn, thường 1 xã chỉ có 1 kiểm lâm địa bàn.

Về vấn đề lực lượng quản lý bảo vệ rừng có tiếp tay cho lâm tặc hay không, ông Nguyễn Trung Hải – Giám đốc Sở NN&PTNT Kon Tum khẳng định rằng: "Trong ngành nông nghiệp, lực lượng kiểm lâm hoặc chủ rừng cũng có những đồng chí bán đứng ngành này để lấy tiền chứ không phải không có". (Giao Thông Online 20/4) Về đầu trang

Doanh nghiệp gỗ cần "nhìn về một hướng" để phát triển

Hiện việc liên kết trong ngành gỗ nước ta mới chỉ hình thành một cách rời rạc và tự phát, dẫn tới hạn chế sự phát triển của ngành.

Tại Diễn đàn doanh nghiệp “Kết nối vì mục tiêu phát triển bền vững ngành chế biến gỗ” do Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), Hội mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định) phối hợp với Tổ Chức Forest Trends tổ chức cuối tuần qua, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến nhằm thúc đẩy sự liên kết hướng tới phát triển bền vững ngành gỗ.

Ông Tô Xuân Phúc, đại diện VIFORES cho hay, hầu hết DN trong ngành chế biến gỗ của Việt Nam có xu hướng muốn làm từ A tới Z, dẫn tới sự dàn trải trong đầu tư, công nghệ không đồng bộ và không hình thành được đội ngũ lao động chuyên môn sâu. Cụ thể, hầu hết các DN chế biến gỗ hiện đều phải dự trữ nguyên liệu gỗ đầu vào, do đó đòi hỏi phải có nguồn lực rất lớn. Có tới 60-70% vốn liếng của DN phải dành cho khâu dự trữ nguyên liệu. Điều này khác hẳn với ngành gỗ của một số quốc gia khác. Cụ thể, một DN Trung Quốc mỗi ngày xuất 60 container đồ gỗ cần dự trữ khoảng 2.000 m3 gỗ xẻ nguyên liệu. Trong khi đó, nếu xuất 10 container/ngày, DN Việt Nam phải dự trữ lượng gỗ lên tới 10.000 m3. Nguyên nhân của tình trạng này là do ngành gỗ Việt Nam chưa hình thành các DN chuyên phụ trách khâu dự trữ nguyên liệu và cũng chưa có liên kết giữa các DN dự trữ với DN chế biến.

Chia sẻ về vấn đề này, ông Điền Quang Hiệp, Giám đốc Công ty Minh Phát cho hay, không ít DN đã từng đạt tới đỉnh cao trong kinh doanh nhưng cũng phải phá sản. Nếu không sớm liên kết, ngành gỗ cũng sẽ đi theo con đường đó. Hiện việc liên kết với các hộ trồng rừng là vấn đề sống còn của DN chế biến bởi tình trạng giá gỗ nguyên liệu bấp bênh đang gây ra rất nhiều khó khăn. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2017, giá gỗ cao su nguyên liệu đã tăng 30-40% và vẫn đang tiếp tục tăng. “Các nước gần chúng ta như Malaysia, Thái Lan đã có chính sách rất rõ cho nguyên liệu gỗ còn chúng ta vẫn đang suy nghĩ và không biết phải suy nghĩ đến lúc nào. Chúng ta đều là những DN nhỏ, nếu không liên kết thì sao có thể cạnh tranh với các DN lớn của nước ngoài?” – ông Hiệp băn khoăn.

Lý giải về vấn đề giá gỗ cao su, bà Trần Thị Thúy Hoa, Trưởng ban tư vấn phát triển ngành cao su, Tập đoàn Cao su Việt Nam cho hay, hiện việc thanh lý cây cao su đều tập trung vào một thời điểm nhất định do phụ thuộc vào mùa vụ nhằm tiết kiệm chi phí tái canh và tận dụng được sản lượng mủ cao su khai thác. Trong khi đó gỗ cao su có đặc điểm là sau khi cưa 3 ngày nếu không được đưa vào sơ chế sẽ không sử dụng được. Chính điều này đã dẫn tới việc nguồn cung gỗ cao su không ổn định, kéo theo sự lên xuống bất thường của giá cả.

Trước những khó khăn của các DN trong ngành chế biến gỗ như trên, ông Phúc cho rằng cần phát triển 3 mô hình liên kết, bao gồm: Liên kết giữa công ty cung ứng nguyên liệu và công ty chế biến gỗ; liên kết giữa công ty chế biến, kinh doanh sản phẩm gỗ và các hộ thuộc làng nghề gỗ; liên kết giữa công ty chế biến gỗ và các hộ trồng rừng. Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch VIFORES cho rằng, để liên kết thành công thì cần hội đủ cả ba yếu tố: Thứ nhất, cần một người sáng lập có tiềm lực đủ mạnh đứng ra làm đầu tàu; thứ hai, các bên phải liên kết trên tinh thần tự nguyên và cùng có lợi để duy trì sự liên kết bền vững; thứ ba là các chính sách khuyến khích của Nhà nước. Ví dụ ở Yên Bái, Hội Nông dân được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và tỉnh Yên Bái ủng hộ, giao đất thì mới hình thành được mối liên kết 500 hộ hiện nay.

Trong khi đó, ở góc độ DN, ông Võ Quang Hà, Tổng Giám đốc Công ty Tân Vĩnh Cửu (Đồng Nai) cho rằng, để liên kết bền vững thì các DN cần cùng nhìn về một hướng và có sự phân chia rõ ràng theo từng khâu để tránh xảy ra mâu thuẫn. Khó khăn hiện nay là DN muốn liên kết nhưng không biết DN nào phù hợp với mình. Do đó, Hiệp hội cần đứng ra làm vai trò tập hợp. “Giống như huấn luyện viên của một đội bóng, Hiệp hội cần tìm ra những DN có cùng mục tiêu, có sự phù hợp sau đó tập hợp lại với nhau. Còn Nhà nước giữ vai trò như người tổ chức giải đấu để tạo ra được những mối liên kết lớn và bền vững” - ông Hà nói.

Liên quan đến liên kết hộ trồng rừng, ông Nguyễn Quang Vinh, đại diện VIFORES cho biết, phát triển trồng rừng có ý nghĩa hết sức quan trọng với ngành chế biến gỗ và dăm xuất khẩu của Việt Nam. Sử dụng sản phẩm gỗ hợp pháp hiện đã trở thành yêu cầu bắt buộc ở hầu hết các quốc gia, bao gồm cả Việt Nam. Sản phẩm gỗ hợp pháp cũng đáp ứng được toàn bộ các yêu cầu tại các thị trường khó tính như Hoa Kỳ (với Đạo luật Lacey Act) hoặc các nước EU (trong khuôn khổ của Quy định về Gỗ EUTR). Hiện khoảng 60-70% tổng lượng gỗ rừng trồng được khai thác hàng năm có nguồn gốc từ các hộ gia đình, phần còn lại do các công ty lâm nghiệp, các hợp tác xã. Điều này cho thấy hộ gia đình có vai trò chính trong việc cung gỗ rừng trồng cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, do đó, việc liên kết giữa DN chế biến gỗ và các hộ trồng rừng là rất cần thiết. Hiện đã hình thành mô hình trồng rừng đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) tại các hộ trồng rừng ở Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Quảng Trị…

Tuy nhiên, việc phát triển các mô hình này đang gặp phải không ít khó khăn. Bà Đào Thị Tâm, Chi hội Nông dân huyện Yên Bình, Yên Bái cho hay, các DN chỉ thu mua gỗ nguyên liệu đủ chất lượng và có kích thước lớn, phần gỗ có kích thước nhỏ, chất lượng kém, cành, ngọn các hộ dân phải tự tiêu thụ. Thông thường phần gỗ này chỉ được bán làm dăm, nguyên liệu giấy thậm chí làm củi với mức giá rất thấp. Ngoài ra, việc trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC đòi hỏi gỗ lớn với chu kỳ dài từ 8 đến 12 năm, trong khi trồng gỗ không chứng chỉ chu kỳ chỉ 5 đến 7 năm. Điều này đòi hỏi các hộ dân cần có nguồn vốn lớn, đồng thời ảnh hưởng tới sinh kế trong ngắn hạn của các hộ dân khi gỗ chưa tới kỳ khai thác. Trong khi nếu trồng gỗ thông thường các hộ dân còn có thêm thu nhập từ việc xen canh cây nông nghiệp như ngô, sắn, bầu, bí… trong thời gian đầu. Việc tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt của FSC cũng là việc rất khó khăn với các hộ dân. Ngoài ra, việc vận động nông dân tham gia trồng rừng FSC cũng gặp khó khăn do người dân chưa thấy được việc thu mua thực sự của DN mà chỉ nghe qua tuyên truyền của Hội Nông dân.

Ông Phạm Xuân Thịnh, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính – Tổng cục Lâm nghiệp cũng đặt vấn đề, hiện các DN đều rất muốn liên kết với hộ trồng rừng để có nguồn gỗ ổn định, thay vì dự trữ gỗ trong kho thì DN có thể dự trữ gỗ trong rừng. Nhưng liệu các DN đã đối xử với người nông dân như thể họ là người quan trọng trong mối liên kết này hay chưa, hay mới chỉ quan tâm tới lợi ích của mình. "Việc liên kết cũng giống như kết hôn, DN cần bỏ thời gian cho việc chăm sóc và chinh phục người nông dân” – ông Thịnh nói. Theo đó, DN cần trích một phần lợi nhuận để xây dựng một quỹ hỗ trợ nông dân trồng rừng làm chứng chỉ FSC. Sau khi thành công có thể nâng lên thành quỹ đầu tư, thay vì 5 năm nông dân thu hoạch gỗ thì dùng tiền đó đầu tư cho họ để kéo dài thêm 5-7 năm nữa

Nhiều ý kiến cũng cho rằng, cần hình thành các cụm công nghiệp nhằm khuyến khích DN trong ngành tập trung vào một địa bàn, từ đó giúp cho việc chia sẻ thông tin, nguồn lực cũng như đơn hàng được thuận lợi hơn. Bà Trần Thị Thúy Hoa cho hay, ngành cao su đã tạo tập được những KCN cho các DN trong ngành với mạng lưới trải khá rộng tại các tỉnh phía Nam. Trong đó đã có những DN làm gỗ cao su từ vườn cây thanh lý tái canh để cho ra nguyên liệu gỗ cao su. “Các KCN này sẵn sàng hoan nghênh chào đón và sẽ có những chính sách ưu tiên cho các DN sản xuất liên quan tới gỗ cao su” - bà Hoa thông tin. (Hải Quan Online 20/4) Về đầu trang

Đăk Nông: 5 tỷ đồng dành cho chính sách phát triển rừng, bảo vệ rừng

Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH tỉnh cho biết, vừa qua, thực hiện Nghị định 75/2015/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, NHCSXH Việt Nam đã phân bổ về cho Chi nhánh NHCSXH tỉnh 5 tỷ đồng.

Để sớm giải ngân nguồn vốn này, Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp - PTNT làm việc cụ thể với Chi nhánh NHCSXH tỉnh để khẩn trương phổ biến cho các đối tượng hưởng lợi. Các tổ chức chính trị, xã hội nhận ủy thác nghiên cứu giải pháp để làm việc với Sở Nông nghiệp - PTNT, tạo cơ hội cho các hội viên được vay vốn trồng rừng tập trung. Trên cơ sở nghiên cứu, các bên liên quan cần xác định đưa vào trồng những loại cây nào có giá trị kinh tế cao, từng bước phát huy hiệu quả nguồn vốn. (Báo Đắk Nông 20/4) Về đầu trang

Chỉ đạo xử lý nghiêm các vụ phá rừng ở Vườn Quốc gia Ba Bể

Vừa qua, UBND tỉnh Bắc Cạn đã có những chỉ đạo quyết liệt nhằm xử lý nghiêm và ngăn chặn tình trạng phá rừng tại Vườn Quốc gia Ba Bể thời gian qua.

Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo Vườn Quốc gia Ba Bể nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan, kiên quyết xử lý nghiêm theo đúng pháp luật các trường hợp vi phạm nếu có. Đồng thời, UBND tỉnh cũng đã yêu cầu đơn vị chấn chỉnh, đánh giá, sắp xếp lại công tác cán bộ, tăng cường lực lượng cho các trạm, chốt vẫn được xem là điểm nóng. Tổ chức chốt trực 24/24h, lập rào chắn barie và kiểm soát tất cả các phương tiện ra vào khu vực.

Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể phối hợp với các đơn vị chức năng huy động lực lượng trên địa bàn tổ chức truy quét một cách toàn diện; Rà soát, thống kê, kiểm tra hiện trạng cụ thể toàn bộ số cây gỗ đã bị hạ từ trước đến nay, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/5. Ban Giám đốc, lãnh đạo Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể tổ chức kiểm điểm về trách nhiệm của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu đơn vị, tổ chức theo quy định. UBND tỉnh cũng yêu cầu các đơn vị, địa phương và lực lượng chức năng các khu vực giáp ranh Vườn Quốc gia tăng cường công tác phối hợp, ngăn chặn, phát hiện kịp thời những vi phạm có thể xảy ra. (Báo  Bắc Cạn 20/4) Về đầu trang

Đồng Nai: Lâm tặc đâm trọng thương một kiểm lâm

Vào khoảng 15 giờ, ngày 20-4, trong lúc tuần tra, một kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Cát Tiên đã bị lâm tặc đâm trọng thương.

Theo thông tin từ Vườn quốc gia Cát Tiên, vào thời điểm nói trên, Tổ tuần tra gồm 4 người: Phạm Quốc Vinh, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Núi Tượng, Tổ trưởng tổ tuần tra; Vũ Văn Khôi, Trạm phó Trạm Kiểm lâm Núi Tượng và 2 nhân viên kiểm lâm là  anh Lê Quang Toàn, Đinh Sỹ Trí, đang làm nhiệm vụ tuần tra rừng tại tiểu khu 32 do Vườn quốc gia Cát Tiên quản lý (thuộc địa giới hành chính xã Đắc Lua, huyện Tân Phú).

Trong lúc tuần tra, tổ kiểm lâm phát hiện nhóm 4 người và 3 con chó xâm nhập rừng trái phép. Anh Phạm Quốc Vinh yêu cầu nhóm người trên đứng lại. Sau đó, anh Toàn hỗ trợ anh Vinh khống chế đối tượng vi phạm, nhưng bất ngờ, anh Vinh bị một đối tượng rút dao đâm 2 nhát vào bụng và cả nhóm 4 người chia nhau bỏ chạy.

Sau khi anh Vinh bị đâm, 3 kiểm lâm đã tập trung sơ cứu, nhanh chóng thông tin về Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Cát Tiên để đưa anh Vinh đi cấp cứu.

Hiện, Công an huyện Tân Phú, Hạt Kiểm lâm huyện Tân Phú, Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai đang phối hợp điều tra truy bắt nhóm đối tượng nói trên. (Báo Đồng Nai 20/4) Về đầu trang./.