Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 20/6/2017

Điểm báo ngày 20/6/2017

Cập nhật ngày : 20/06/2017 9:20:49 SA

ĐIỂM BÁO

LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 20 tháng 6 năm 2017)

QUỐC HỘI THẢO LUẬN VỀ LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG

Ngày làm việc thứ 21, kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIV: Thông qua 5 nghị quyết, thảo luận nhiều nội dung quan trọng

Tiếp tục chương trình làm việc của kỳ họp thứ ba, sáng 19-6, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Tán thành việc sửa đổi luật, các đại biểu Quốc hội đã đóng góp nhiều ý kiến nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý để bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng và phát triển ngành Lâm nghiệp bền vững.

Cụ thể, về phân loại rừng, đa số ý kiến đồng tình với quy định phân chia thành ba loại rừng, gồm: Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Tuy nhiên, đại biểu Lưu Văn Đức (Đoàn Đắk Lắk) cho rằng, dự luật mới đề cập phân loại rừng theo mục đích sử dụng rừng thuần túy về kỹ thuật của ngành Lâm nghiệp, chưa rõ tính chất sử dụng đặc thù của rừng gắn với chủ thể, chủ rừng là cộng đồng dân cư các dân tộc như rừng tâm linh, tín ngưỡng, rừng bảo vệ nguồn nước, rừng biên giới... Đại biểu Nguyễn Văn Man (Đoàn Quảng Bình) đề nghị chỉ nên phân thành hai loại gồm rừng bảo vệ (rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng) và rừng kinh tế (rừng trồng, sản xuất).

Nhấn mạnh vấn đề cuộc sống của người dân gắn chặt với rừng, đại biểu Mùa A Vảng (Đoàn Điện Biên) cho rằng: “Nhà nước nên có chính sách khuyến khích các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ rừng, tái sinh rừng tự nhiên, đồng thời giao Chính phủ quy định chính sách đặc thù cho vùng, miền để bảo vệ tốt rừng, khu vực xung yếu, biên giới và khu vực cung cấp các nguồn nước chính cho các thủy điện lớn”. Chung quan điểm, đại biểu Nguyễn Lâm Thành (Đoàn Lạng Sơn) đề nghị bổ sung những nội dung như, ưu tiên đầu tư, khuyến khích chính sách khoa học công nghệ, chính sách đào tạo bồi dưỡng, đặc biệt là chính sách đối với đồng bào miền núi, dân tộc thiểu số là những người gắn bó mật thiết với rừng...

Giải trình ý kiến của các đại biểu về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết, mục đích phân loại rừng là tạo khung pháp lý cho công tác quy hoạch, hoạch định chính sách quản lý rừng có hiệu quả, phù hợp với chức năng cơ bản của các khu rừng, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong các quy định của hệ thống pháp luật, nhất là chế định về phân loại đất tại Luật Đất đai.

Việc thay đổi phân loại rừng chắc chắn sẽ gây xáo trộn về cơ chế quản lý, đòi hỏi phải sửa đổi nhiều văn bản pháp luật liên quan... Một số khu rừng phòng hộ chuyển thành rừng bảo vệ sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của người dân vì lý do bảo vệ, bảo tồn rừng. Bộ trưởng khẳng định sẽ nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các đại biểu để bổ sung, hoàn thiện luật.

Cũng trong sáng 19-6, Quốc hội thảo luận và biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao về việc bổ nhiệm 2 thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, với 83,1% đại biểu Quốc hội có mặt tán thành. Kết quả bỏ phiếu, ông Lê Hồng Quang, sinh năm 1968, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Tiền Giang được 78,81% đại biểu có mặt tán thành. Ông Nguyễn Văn Tiến, sinh năm 1966, Thẩm phán cao cấp, Phó Chánh án Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội được 85,74% đại biểu có mặt tán thành bổ nhiệm.

Với 454/461 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiều 19-6, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015 với bội chi ngân sách ở mức 6,28%. Nghị quyết có nội dung giao Chính phủ kiểm điểm trách nhiệm, xử lý nghiêm, kịp thời các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong việc quản lý, điều hành ngân sách nhà nước và báo cáo cụ thể với Quốc hội danh sách, mức độ, xử lý sai phạm.

Quốc hội cũng biểu quyết thông qua: Nghị quyết về việc tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án thành phần để triển khai Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành; Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi); Luật Thủy lợi; Luật Du lịch (sửa đổi).

Tiếp đó, Quốc hội họp riêng, biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về việc sửa đổi điểm khởi đầu của đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào; Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. (Hà Nội Mới 20/6, tr2; Quân Đội Nhân Dân 20/6, tr3) Về đầu trang

Quốc hội thảo luận Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

Ngày 19/6, Quốc hội (QH) tiếp tục thảo luận Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi).

Các đại biểu (ĐB) đề nghị cần có quy định chặt chẽ để tránh việc các tổ chức, cá nhân “lách luật” phá rừng, phải có biện pháp giám sát quỹ hình thành từ khoản thu dịch vụ môi trường rừng... 

Quy định chặt chẽ, tránh lách luật

Tham luận trước Quốc hội, ĐB Hứa Thị Hà (Tuyên Quang), cho rằng dự thảo luật còn một số điểm chưa chặt chẽ, điều này có thể dẫn đến lách luật. Ví dụ, tại điểm a khoản 1 Điều 66 quy định việc tận dụng cây gỗ chết, cây gẫy đổ, trên thực tế đã xảy ra sự việc người ta có thể bằng nhiều cách khác nhau làm cây chết như bóc vỏ, cuốn dây thép hoặc cưa quanh thân cây vào tận lõi để cây chết dần, chết mòn, sau đó làm thủ tục xin tận thu.

Tại điểm b khoản 2 Điều 23 quy định về việc thu hồi rừng như sau: "Sau 12 tháng liên tục kể từ ngày được giao, được thuê rừng mà chủ rừng không tiến hành các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng", việc thu hồi rừng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ rừng nên dễ xảy ra tình trạng làm hình thức, chống đối. Do đó, cần định lượng rõ như thế nào là không tiến hành các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.

Tại khoản 4 Điều 20 quy định về căn cứ giao rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng như sau: "Năng lực quản lý rừng bền vững của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư". Theo ĐB tiêu chí này cần định lượng và liệt kê nội dung cụ thể để chứng minh năng lực quản lý rừng là bền vững.

Một nội dung nữa là trong quy định về thẩm quyền giải quyết chủ trương, mục đích sử dụng rừng tự nhiên cho phép HĐND chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng dưới 1 ha. Theo ĐB Hà chỉ nên phân cấp cho HĐND cấp tỉnh chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ và rừng sản xuất, không nên phân cấp để HĐND cấp tỉnh quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng mà nên giao cho Chính phủ quy định nội dung này, chỉ chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đặc dụng cho các dự án phục vụ nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Vì hiện nay tổng số rừng đặc dụng của cả nước còn lại rất ít, với diện tích hơn 2 triệu ha, chiếm 14,8% tổng diện tích rừng cả nước. Hầu hết các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng có các loài đặc chủng, thực vật đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm đã được bảo tồn và nằm trong rừng đặc dụng, khi rừng mất đi thì khó có thể tái tạo lại được. 

Không có đất trồng rừng thay thế, có thể nộp tiền

Cũng theo ĐB Hà, về điều kiện chuyển mục đích sử dụng rừng phải trồng rừng thay thế nhưng hiện nay ở một số địa phương việc tự trồng rừng thay thế là khó khả thi, vì không có đất để giao rừng. Do vậy, việc nộp tiền trồng rừng thay thế khả thi hơn nhưng bổ sung nguyên tắc nộp tiền tương đương giá trị rừng được chuyển mục đích do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Cùng quan điểm, ĐB Nguyễn Tạo (Lâm Đồng) đề nghị bổ sung vào khoản 2 Điều 24 trường hợp nếu địa phương, nơi chuyển mục đích sử dụng rừng không còn đất để trồng rừng thay thế theo quy hoạch trồng rừng được phê duyệt thì chuyển khoản tiền trồng rừng thay thế theo giá trị tương ứng vào ngân sách địa phương để đầu tư vào công tác quản lý và bảo vệ rừng. 

Báo cáo định kỳ Quỹ dịch vụ môi trường rừng

Quan tâm đến nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, ĐB Cầm Thị Mẫn (Thanh Hóa) cho biết, tính đến năm 2016 tổng số tiền thu được từ dịch vụ môi trường rừng là trên 6.510 tỷ đồng, bình quân đạt 1.200 tỷ đồng/năm. Số tiền hàng ngàn tỷ đồng không hề nhỏ, do vậy cần phải được quản lý, kiểm soát chặt chẽ. Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 đã bổ sung các quy định về quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước.

Vậy, để tăng cường việc giám sát, thanh tra, kiểm toán của Quốc hội, HĐND, Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán nhà nước đối với việc quản lý, sử dụng nguồn vốn của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, cần bổ sung trách nhiệm báo cáo việc quản lý, sử dụng quỹ này cho cơ quan có thẩm quyền ngay trong điều luật. Có thể quy định định kỳ 3 năm, Chính phủ báo cáo tình hình quản lý quỹ và sử dụng quỹ này cho Quốc hội đối với quỹ ở Trung ương và UBND tỉnh báo cáo HĐND tỉnh đối với quỹ ở địa phương. 

ĐB Ksor Phước Hà (Ksor H’Bơ Khăp) - Gia Lai dẫn chứng hiện nay mỗi năm cả nước xảy ra 7.000 vụ phá rừng, 20.000 vụ vận chuyển chế biến lâm sản trái phép, hàng loạt những công trình thủy điện lớn, nhỏ, trải dài theo những khe suối, con sông... Không những rừng bị tàn phá nặng nề mà đến đất rừng cũng bị đào bới mang đi. ĐB Phước Hà đề nghị chấm dứt việc cấp phép xây các công trình thủy điện đồng thời phải quy trách nhiệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp.

“Bộ trưởng Bộ NN-PTNT, Chủ tịch UBND các cấp có trách nhiệm chính đối với các vụ phá rừng, cháy rừng, mất rừng thuộc phạm vi, lĩnh vực địa bàn mình quản lý hoặc để các tổ chức, cá nhân, cấp dưới vi phạm các quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng", ông Hà nói. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/6, tr3) Về đầu trang

Thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi)

Sáng 19.6, dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch QH Phùng Quốc Hiển, QH làm việc tại Hội trường, thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi).

Đa số ĐBQH cho rằng việc sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 là rất cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất các hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng… Thể chế hóa được các quy định của Hiến pháp năm 2013 về sở hữu tài nguyên thiên nhiên, đường lối chủ trương của Đảng, Nghị quyết của QH liên quan bảo vệ và phát triển rừng.

So với Luật năm 2004, dự thảo lần này đã có những tiếp cận toàn diện hơn. Tuy nhiên, nhiều đại biểu cũng cho rằng, một số nội dung trong dự thảo chưa thực sự thống nhất với quy định của pháp luật liên quan về Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học, Luật Đầu tư. Vì thế, đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát, chỉnh sửa về phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tương thích với điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng mà Việt Nam là thành viên.

Về phân loại rừng tại Điều 5, một số ĐBQH đồng tình với quy định của dự thảo Luật, nhưng cũng có nhiều ý kiến đề nghị xem xét quy định phân loại rừng, bởi với cách phân loại thành 3 loại rừng chưa thực sự phù hợp cho quản lý và mang tính khoa học cao.

Đồng tình với quy định 3 loại rừng như dự thảo, ĐB Võ Đình Tín (Đắk Nông) cho rằng, phân loại thành 3 loại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất sẽ thuận tiện cho sắp xếp tổ chức trong ngành lâm nghiệp, thực hiện các chủ trương chính sách về đầu tư, giao rừng, khoán bảo vệ rừng, sắp xếp, đổi mới và phát triển rừng quốc gia. ĐB Dương Đình Thông (Bắc Giang) cũng nhận định, phân thành 3 loại rừng là hợp lý. Tuy nhiên để nâng cao tính thuyết phục, đề nghị cơ quan soạn thảo cần phân tích, bổ sung làm rõ hơn cơ sở khoa học thực tiễn về tiêu chí phân thành 3 loại rừng.

Không đồng tình với những ý kiến trên, ĐB Nguyễn Văn Man (Quảng Bình) đề nghị, chỉ nên phân loại thành 2 loại rừng là rừng bảo vệ và rừng kinh tế. Trong đó, rừng bảo vệ gồm rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Còn rừng kinh tế là rừng trồng sản xuất. ĐB Nguyễn Văn Man cho rằng, việc phân loại như vậy phù hợp với phân loại của nhiều nước trên thế giới, giúp chúng ta thuận lợi hơn trong hợp tác quốc tế, thực hiện quản lý rừng bền vững. Điều này cũng giúp toàn bộ rừng tự nhiên hiện có của nước ta sẽ không được chuyển sang mục đích khác. Theo ĐB, việc phân loại thành 3 loại rừng như dự thảo buộc phải có các cơ chế, chính sách, mô hình phù hợp để quản lý, bảo vệ, sử dụng với từng loại rừng.

Nhất trí việc chỉ nên phân loại thành 2 loại rừng, ĐB Nguyễn Sơn (Hà Tĩnh) nhấn mạnh, chỉ nên quy định là rừng bảo vệ và rừng sản xuất. Trong rừng bảo vệ có rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, và một số rừng đặc chủng theo biên cương biên giới… Quy định này cần được quy định rõ các tiêu chí trong Luật để Chính phủ và Bộ NN-PTNT hướng dẫn và tổ chức thực hiện phân loại chính xác.

ĐB Lưu Văn Đức (Đắk Lắk) lại cho rằng, quy định phân loại rừng chưa đưa ra được hết nội hàm để bảo vệ và phát triển rừng. Phân loại rừng trong dự thảo Luật chỉ mới đề cập đến phân loại rừng theo mục đích sử dụng rừng thuần túy về kỹ thuật của ngành lâm nghiệp mà chưa rõ tính chất sử dụng đặc thù của rừng gắn với chủ thể, chủ rừng là cộng đồng dân cư các dân tộc như rừng tâm linh, tín ngưỡng, rừng bảo vệ nguồn nước, rừng biên giới… Tiêu chí phân loại rừng đặc dụng tại Điểm d Khoản 1 Điều 5 chỉ quy định chung là rừng văn hóa tín ngưỡng. Trong khi loại rừng này của cộng đồng chưa được pháp luật thừa nhận như các đình, chùa, miếu, mạo đã được Luật Đất đai quy định là đất tín ngưỡng.

+ Cũng trong sáng nay, dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu, QH đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao về việc bổ nhiệm 2 Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao với tỷ lệ 83,10% số ĐBQH có mặt tán thành.

Theo kết quả kiểm phiếu sau khi tiến hành bỏ phiếu kín, ông Lê Hồng Quang, sinh năm 1968, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Tiền Giang đạt tỉ lệ 78,81% số ĐBQH có mặt tán thành việc bổ nhiệm. Ông Nguyễn Văn Tiến, sinh năm 1966, Thẩm phán cao cấp, Phó Chánh án Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội có 85,74% số ĐBQH có mặt tán thành bổ nhiệm. (Đại Biểu Nhân Dân Online 19/6; Baodongkhoi.com.vn 19/6) Về đầu trang

Dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi): Vẫn chưa quy định rõ trách nhiệm bảo vệ rừng của các bên

Sáng 19/6 tại hội trường Nhà Quốc hội, các đại biểu thảo luận về dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Nhiều ý kiến băn khoăn khi dự thảo chưa quy định rõ trách nhiệm bảo vệ rừng, đồng thời thống nhất đề nghị đổi tên dự luật thành Luật Lâm nghiệp.

Phát biểu trước Quốc hội, đại biểu Ksor Phước Hà (Gia Lai) bày tỏ sự bức xúc khi rừng ngày càng bị tàn phá bởi bàn tay con người. Rừng tự nhiên tại Tây Nguyên ngày càng ít, thay thế bằng những rừng trồng cao su. Trong khi đó, “cây cao su không thể dùng phủ xanh đồi trọc được vì thải ra khí CO2, không con gì tồn tại được trong rừng cao su”, địa biểu Hà nói.

Thực tế tại Tây Nguyên, đất rừng còn bị đào bới mang đi bán. Đại biểu Ksor Phước Hà đề nghị cần xử lý việc lấy đất rừng như việc lấy cây rừng.

Liên quan đến trách nhiệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp, đại biểu Ksor Phước Hà cho rằng dự thảo luật chưa chỉ rõ người chịu trách nhiệm cụ thể khi rừng bị phá, cháy rừng và mất rừng. Nên bổ sung thêm: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Chủ tịch UBND các cấp có trách nhiệm chính đối với các vụ cháy rừng, phá rừng thuộc phạm vi, địa bàn mình quản lý.

Đại biểu Phạm Tất Thắng (Vĩnh Long) đồng tình cho rằng quản lý nhà nước về lâm nghiệp như dự thảo không hợp lý. Ông Thắng dẫn giải một nội dung còn băn khoăn về quy định thành lập lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách.

“Hiện nay, lực lượng kiểm lâm có chuyên môn, có chức năng quyền hạn rõ ràng, được trang bị công cụ hỗ trợ mà còn khó khăn trong việc bảo vệ rừng thì lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách với những quy định khái quát trong dự thảo sẽ không đủ thầm quyền xử lý vi phạm. Họ không có công cụ hỗ trợ, hoạt động độc lập không có sự phối hợp với kiểm lâm thì sẽ rất khó hoàn thành nhiệm vụ”, đại biểu Phạm Tất Thắng nhận định.

Trong khi đó, đại biểu Lê Xuân Thân (Khánh Hòa) cho biết: Hoàn toàn không thấy quy định về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể xã hội trong bảo vệ rừng. Nên nghiên cứu bổ sung các tổ chức này. Thứ 2, cần rà soát các điều khoản về trách nhiệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp, vai trò cụ thể của UBND cấp tỉnh, huyện, xã, chủ tịch tỉnh, huyện, xã; đối chiếu với Luật Tổ chức chính quyền địa phương để có sự thống nhất.

Cũng liên quan đến việc phân trách nhiệm bảo vệ rừng, đại biểu Đinh Thị Kiều Trinh (Nghệ An) cho rằng cần gắn trách nhiệm bảo vệ, phát triển rừng với việc giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư. Cần quy định cơ chế chia sẻ quyền lợi rừng với người dân để họ yên tâm bảo vệ rừng.

Hiện dự thảo luật không có điều khoản riêng về chính sách phát triển rừng, ưu tiên với đồng bào dân tộc thiểu số. Các đại biểu Quốc hội đã đề nghị bổ sung điều này.

Liên quan đến tên gọi của dự thảo Luật, đa số đại biểu Quốc hội thống nhất với đề nghị của Chính phủ, đổi tên dự án luật thành Luật Lâm nghiệp để vừa ngắn gọn, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời phạm vi điều chỉnh được bao quát hơn.

Giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết: Tên luật Lâm nghiệp ngắn gọn, bao quát đủ các nội dung, các hoạt động của lâm nghiệp từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sự dụng, chế biến thương mại… với tư cách lâm nghiệp là ngành kinh tế đặc thù.

Việc xác định tên như vậy cũng là thể chế hóa quan điểm của TƯ tại Nghị quyết 26/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tham khảo luật pháp quốc tế, hầu hết quốc gia đều ban hành luật lâm nghiệp hoặc luật về rừng.

Về đề nghị của các đại biểu ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số, giao rừng gắn với giao đất… Bộ trưởng cho biết sẽ tiếp thu và tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để việc giao rừng, cho thuê rừng phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Dự thảo luật sẽ được sửa đổi, bổ sung và tiếp tục trình Quốc hội vào kì họp thứ 4. (Thiennhien.net 19/6; Kinh Tế Nông Thôn Online 19/6; Tuổi Trẻ Thủ Đô Online 19/6; Tuyengiao.vn 19/6; Tuổi Trẻ 20/6, tr3; Người Cao Tuổi 20/6, tr3) Về đầu trang

Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi): Ai chịu trách nhiệm khi mất rừng?

Theo nhiều ĐBQH, quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng còn chung chung, thậm chí là thiếu tính khả thi. Dự thảo Luật cũng chưa chỉ rõ ai sẽ chịu trách nhiệm khi rừng bị phá, cháy rừng và mất rừng? Đây là vướng mắc lớn cần được xem xét, hoàn thiện của dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) trình QH cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ 3 này.

Một trong những nguyên nhân khiến diện tích rừng bị thu hẹp là sự buông lỏng quản lý của các cơ quan chức năng, dẫn đến các đối tượng đã lợi dụng khai thác gỗ trái phép, tàn phá rừng, nhiều diện tích rừng giao cho các nông, lâm trường khai thác còn kém hiệu quả. ĐB Dương Tấn Quân (Bà Rịa - Vũng Tàu) đã nêu vấn đề như vậy khi cho ý kiến về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) trong phiên họp toàn thể sáng qua. Trước thực tế này, nhiều đại biểu cũng bày tỏ mong muốn, việc sửa đổi luật cần bảo đảm sự đồng bộ trong các chính sách, thống nhất về hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng. Tuy nhiên, dự thảo Luật lại chưa đáp ứng được mong đợi này.

Theo ĐB Phương Thị Thanh (Bắc Kạn) dự thảo Luật đã quy định các chính sách liên quan đến bảo vệ phát triển rừng, thể hiện tại Khoản 3, Điều 64, Điều 79, Điều 89; quy định 1 chương về đầu tư về tài chính trong nông nghiệp, trong đó quy định chi ngân sách nhà nước cho lâm nghiệp, đồng thời quy định quyền chủ rừng với các nội dung nhà nước hỗ trợ, bảo vệ phát triển rừng. Song, quy định còn chung chung. Đơn cử, dự thảo Luật không quy định rõ chính sách hỗ trợ giao khoán, chia sẻ lợi ích từ rừng; giao Chính phủ hướng dẫn thực hiện khi luật có hiệu lực nên khó mà áp dụng trong thực tiễn.

ĐB Phương Thị Thanh đề nghị, dự thảo Luật cần quy định cụ thể hơn về các chính sách của Nhà nước đối với bảo vệ và phát triển rừng. Các chính sách quy định thì cần mang tính nguyên tắc, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ từ khâu giao rừng, bảo vệ đến chế biến thương mại lâm sản, trong đó quy định các chính sách hỗ trợ người dân địa phương sinh sống từ rừng, chính sách tín dụng… Cùng quan điểm này, ĐB Nguyễn Lâm Thành (Lạng Sơn) cũng nêu rõ, đây là dự thảo Luật duy nhất không có một điều khoản quy định riêng về chính sách đối với bảo vệ, phát triển rừng mà quy định rải rác ở các nội dung khác nhau. Cho nên, cần thiết phải có một điều khoản quy định riêng và bổ sung những nội dung còn thiếu, mang tính phổ quát cho các chính sách đầu tư, ưu tiên, khuyến khích bảo vệ rừng, đặc biệt là chính sách đối với đồng bào miền núi, dân tộc thiểu số - những người có đời sống gắn bó mật thiết với rừng.

Đáng lưu ý hơn cả là trách nhiệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp, theo ĐB K’sor Phước Hà (Gia Lai), dự thảo Luật chưa chỉ rõ người chịu trách nhiệm khi rừng bị phá, cháy rừng, mất rừng. ĐB K’sor Phước Hà cho rằng, Ban soạn thảo phải bổ sung rõ trách nhiệm, nhằm cụ thể hóa Chỉ thị số 13 - CT/TW ngày 12.1.2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Quy định cụ thể Bộ trưởng Bộ NN - PTNT, Chủ tịch UBND các cấp có trách nhiệm chính đối với các vụ phá rừng, cháy rừng, mất rừng thuộc phạm vi, lĩnh vực địa bàn mình quản lý; chịu trách nhiệm nếu để các tổ chức, cá nhân, cấp dưới vi phạm các quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng.

Hay nhiều quy định về thẩm quyền quản lý nhà nước còn khó khả thi. Đơn cử, quy định tại Điều 94 về cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành lâm nghiệp ở địa phương, dự thảo Luật chưa quy định rõ là cấp huyện mà còn phải chờ quy định của Chính phủ hướng dẫn. Băn khoăn của một số ĐBQH, đó là tại sao dự thảo Luật không quy định cụ thể và giao việc quản lý nhà nước về lâm nghiệp cho hạt kiểm lâm cấp huyện, nhất là khi kiểm lâm là lực lượng có hệ thống từ cấp trung ương đến cấp xã?

Hay với quy định tại Điều 58, Khoản 1 dự thảo Luật về việc thành lập lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, ĐB Phạm Tất Thắng (Vĩnh Long) cho rằng, chúng ta đã có lực lượng kiểm lâm là lực lượng có chuyên môn riêng, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng, được pháp luật quy định, được trang bị công cụ hỗ trợ mà còn khó khăn trong việc bảo vệ rừng. Vậy, với quy định chung mang tính khái quát về lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách như dự thảo Luật thì có lực lượng này liệu có đủ thẩm quyền bảo vệ rừng hay không? Đáng lưu ý là lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách không có đủ công cụ hỗ trợ, hoạt động độc lập, không có sự phối hợp hỗ trợ của kiểm lâm sẽ rất khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

Giải trình thêm với các ĐBQH về trách nhiệm quản lý nhà nước trong bảo vệ rừng, Bộ trưởng Bộ NN - PTNT Nguyễn Xuân Cường, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo, cho biết, dự thảo Luật chỉ quy định khung cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về lâm nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ quy định chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan này. Quy định như vậy sẽ linh hoạt đáp ứng yêu cầu thực tiễn hoạt động của lâm nghiệp.

Dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) mới được trình QH cho ý kiến lần đầu, có nghĩa các quy định của dự thảo còn cần được tiếp tục rà soát, hoàn thiện. Kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch QH Phùng Quốc Hiển cho biết, các ý kiến đóng góp của ĐBQH sẽ được Ban Thư ký QH và cơ quan thẩm tra, cơ quan soạn thảo ghi chép và phản ánh đầy đủ. UBTVQH sẽ nghiêm túc chỉ đạo Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, cơ quan soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến của ĐBQH và hoàn thiện dự thảo Luật trình QH xem xét, thông qua tại Kỳ họp cuối năm nay. (Đại Biểu Nhân Dân 20/6, tr1+3) Về đầu trang

Nhiều ý kiến khác nhau về phân loại rừng

Tiếp tục chương trình làm việc tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV, sáng 19/6, các đại biểu Quốc hội làm việc tại hội trường, phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc bổ nhiệm 2 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bằng hình thức bỏ phiếu kín và thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Một trong những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, đó là phân loại rừng, quy định tại Điều 5 dự thảo Luật.

Đa số ý kiến đồng tình với quy định 3 loại rừng như trong dự án Luật gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Theo đại biểu Võ Đình Tín (Đắk Nông), việc phân loại như vậy là phù hợp, thuận tiện cho sắp xếp tổ chức trong ngành lâm nghiệp cũng như thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước về đầu tư, giao rừng, khoán bảo vệ rừng, đổi mới và phát triển rừng quốc gia. Song, đại biểu Lưu Văn Đức (Đắk Lắk) lại cho rằng cách phân loại như trên chưa thực sự phù hợp cho quản lý và mang tính khoa học cao. Dự án Luật mới đề cập đến phân loại rừng theo mục đích sử dụng rừng thuần túy về kỹ thuật của ngành lâm nghiệp mà chưa rõ tính chất sử dụng đặc thù của rừng gắn với chủ thể, chủ rừng là cộng đồng dân cư các dân tộc như rừng tâm linh, tín ngưỡng, rừng bảo vệ nguồn nước, rừng biên giới…

Đề nghị chỉ nên phân loại thành 2 loại rừng gồm rừng bảo vệ và rừng kinh tế, trong đó, rừng bảo vệ gồm rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, còn rừng kinh tế là rừng trồng, sản xuất, đại biểu Nguyễn Văn Man (Quảng Bình) cho rằng, quy định như vậy phù hợp với phân loại của nhiều nước trên thế giới, thuận lợi trong hợp tác quốc tế và trong việc thực hiện quản lý rừng bền vững.

Từ kinh nghiệm quốc tế, đại biểu Nguyễn Văn Man nhìn nhận phân thành 2 loại rừng là rừng kinh tế và rừng bảo vệ không chỉ tạo thuận lợi trong quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế mà còn giúp cho việc quản lý rừng bền vững, cấp chứng chỉ rừng, xác định nguồn gốc gỗ hợp pháp và các nội dung khác. Đồng thời, phù hợp với chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nghiêm cấm việc chuyển rừng tự nhiên hiện có sang mục đích khác và việc đóng cửa rừng tự nhiên của Chính phủ. Toàn bộ rừng tự nhiên hiện có sẽ không được chuyển sang mục đích khác, không được khai thác lâm sản.

Cũng theo đại biểu Nguyễn Văn Man, việc phân chia rừng bảo vệ và rừng kinh tế rất dễ hiểu, tránh việc người dân không hiểu biết, vi phạm pháp luật. “Mặt khác, việc phân loại thành 3 loại rừng như dự án Luật buộc phải có các cơ chế, chính sách, mô hình khác nhau theo việc quản lý, bảo vệ, sử dụng phù hợp với từng loại rừng trong khi bản thân mỗi loại rừng đều hàm chứa các chức năng là phòng hộ, đặc dụng và sản xuất”, đại biểu Nguyễn Văn Man nhấn mạnh.

Cũng tán thành rừng bảo vệ và rừng sản xuất, đại biểu Nguyễn Văn Sơn (Hà Tĩnh) cho rằng người dân sẽ dễ hiểu và dễ thực hiện hơn. Trong rừng bảo vệ có rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và một số rừng đặc chủng theo biên giới. Nội dung này cần được quy định rõ trong dự án Luật để Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hướng dẫn và tổ chức thực hiện phân loại chính xác.

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường, mục đích phân loại rừng là tạo khung pháp lý cho công tác quy hoạch, hoạch định chính sách quản lý rừng có hiệu quả, phù hợp với chức năng cơ bản của các khu rừng, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong các quy định của hệ thống pháp luật, nhất là chế định về phân loại đất tại Luật đất đai. Việc thay đổi phân loại rừng chắc chắn sẽ gây xáo trộn về cơ chế quản lý, đòi hỏi phải sửa đổi nhiều văn bản pháp luật liên quan và phải mất nhiều năm mới ổn định.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, một số khu rừng phòng hộ chuyển thành rừng bảo vệ sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của người dân vì lý do bảo vệ, bảo tồn rừng. Nghiên cứu pháp luật quốc tế cho thấy, việc phân loại rừng rất khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của quốc gia đó và các tổ chức quốc tế không khuyến nghị quy định phân loại rừng chung đối với các quốc gia.

Một số đại biểu cho rằng, nhiều vụ khai thác rừng, khai thác động vật hoang dã có sự tiếp tay của người có chức, có quyền, được các lực lượng chức năng làm ngơ. Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng, dự thảo Luật cần quy định cụ thể hành vi này. Về chuyển mục đích sử dụng rừng, một số đại biểu đề nghị làm rõ quyền và trách nhiệm của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Dự thảo hiện đang có sự chồng chéo giữa hai cơ quan này.

Góp ý cho dự thảo này, đại biểu Mùa A Vảng (Điện Biên) đề nghị, cần quy định rõ chính sách đầu tư trong lâm nghiệp theo hướng làm rõ chính sách đối với người dân tham gia bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng, bởi, dân là người trực tiếp bảo vệ rừng, không một lực lượng bảo vệ rừng nào bảo vệ tốt hơn là sự tham gia của người dân. Đại biểu đề nghị bổ sung quy định Nhà nước có chính sách khuyến khích các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ rừng, khoanh nuôi, tái sinh rừng tự nhiên, đồng thời giao Chính phủ quy định chính sách đặc thù cho vùng, miền để bảo vệ tốt rừng khu vực xung yếu, khu vực cung cấp các nguồn nước chính cho các thủy điện lớn. (hcmcpv.org.vn 19/6; Đại Biểu Nhân Dân 20/6, tr2; Bưu Điện Việt Nam 20/6, tr4) Về đầu trang

Chấn chỉnh hành vi tiếp tay khai thác rừng trái phép

Ngày 19/6, Quốc hội thảo luận ở hội trường về Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi).

 Theo ĐB Mùa A Vảng  (Điện Biên), cần bổ sung thêm việc “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che, tiếp tay khai thác rừng, săn bắt động vật rừng để buôn bán trái pháp luật” vào các hành vi bị nghiêm cấm. Bởi thực tế cho thấy không ít vụ việc khai thác gỗ, săn bắt, buôn bán động vật rừng có sự tiếp tay, bao che của người có chức có quyền và sự làm ngơ của lực lượng chức năng.

Cho rằng trong thời gian qua đã có khá nhiều bất cập trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, ĐB Võ Đình Tín (Đắk Nông) phân tích: Điển hình như cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển rừng và xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc còn hạn chế.

Nguồn nhân lực phân tán chưa đủ mạnh để tạo nguồn thu nhập ổn định giúp người dân yên tâm bảo vệ phát triển rừng và sống bằng nghề rừng.

Trong khi đó, không thể phủ nhận được vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã tham gia bảo vệ rất hiệu quả, nhưng Dự thảo Luật lần này chưa quy định vai trò bảo vệ rừng của đồng bào DTTS.

Từ đó ông Tín cho rằng, cần nghiên cứu bổ sung một số nội dung điều khoản vào Dự thảo Luật về việc ưu tiên giao rừng cho đồng bào DTTS, đảm bảo cho đồng bào dân tộc miền núi có thể sống bằng nghề rừng và có thu nhập đảm bảo từ rừng.

Ông Tín cũng cho rằng, theo các quy định hiện hành về phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Nếu quy định như trong Dự thảo Luật sẽ xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong công tác bảo vệ diện tích rừng chưa có chủ, UBND xã sẽ không có trách nhiệm trong việc triển khai công tác giao rừng, cho thuê rừng.

Điều đó sẽ kéo dài tình trạng rừng không có chủ thực sự, dẫn đến rừng sẽ bị lấn chiếm vì trong thực tế kiểm lâm không đủ lực lượng để trực tiếp bảo vệ diện tích một cách lâu dài, do hầu hết diện tích chưa có chủ, đều phân bố manh mún, rải rác.

“Vì vậy cần phân cấp trách nhiệm đối với chính quyền địa phương đặc biệt là đối với cấp xã trong việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê như quy định hiện hành”- ông Tín nêu quan điểm.

Theo ĐB Nguyễn Văn Man (Quảng Bình), cần làm rõ và phân biệt quy định cho thuê rừng và bảo vệ rừng kinh tế. “Các đối tượng được thuê rừng phải trả tiền thuê đất, thuê rừng.

Như vậy họ khó sống được từ rừng, chưa nói đến làm giàu từ rừng. Do đó, đối với các đối tượng được cho thuê rừng tự nhiên sẽ tìm cách khai thác lâm sản trái phép cho nên cần xem xét lại nội dung này cho phù hợp với mục tiêu của luật”- ông Man bày tỏ.

ĐB Mùa A Vảng  (Điện Biên) đề nghị, cần bổ sung thêm việc “lợi dụng chức vụ quyền hạn để bao che, tiếp tay khai thác rừng, săn bắt động vật rừng để buôn bán trái pháp luật” vào các hành vi bị nghiêm cấm.

Bởi theo ông, thực tế cho thấy không ít vụ việc khai thác gỗ, săn bắt, buôn bán động vật rừng có sự tiếp tay, bao che của người có chức có quyền và sự làm ngơ của lực lượng chức năng.

Do vậy, luật cần quy định cụ thể hành vi này vào hành vi bị nghiêm cấm nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng.

“Dân là người trực tiếp bảo vệ rừng và chủ yếu là người dân nghèo vì cuộc sống của họ luôn gắn bó với rừng, không một lực lượng bảo vệ rừng nào bảo vệ tốt hơn là sự tham gia của người dân.

Do đó cần quy định cụ thể hơn chính sách của Nhà nước trong bảo vệ và phát triển rừng bởi quy định như trong Dự thảo Luật như vậy là chưa đủ, chưa khuyến khích và chưa nâng cao được trách nhiệm của người dân tham gia bảo vệ rừng”- ông Vảng nhấn mạnh.

Trong khi đó, ĐB Bố Thị Xuân Linh (Bình Thuận) cho rằng, cần bổ sung quy định hàng năm, Chính phủ và UBTV Quốc hội báo cáo việc chuyển dụng mục đích sử dụng các loại rừng cho Quốc hội để theo dõi giám sát.

Đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên theo thẩm quyền quyết định của Quốc hội và Thủ tướng, còn rừng trồng thì do HĐND cấp tỉnh quyết định.

“Ngoài ra cần bổ sung thêm tại điểm các tổ chức, cá nhân có dự án chuyển mục đích sử dụng các loại rừng là phải thực hiện nghiêm túc việc trồng rừng thay thế và nêu rõ trách nhiệm của từng cấp trong việc giám sát thực hiện nội dung này”- bà Linh bày tỏ. (Đại Đoàn Kết 20/6, tr1+3; Đại Biểu Nhân Dân 20/6, tr2) Về đầu trang

Ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 19–6, các đại biểu Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi). Qua thảo luận, nhiều ý kiến băn khoăn khi dự thảo chưa quy định rõ trách nhiệm bảo vệ rừng.

BĐBP đóng vai trò quan trọng vào việc bảo vệ và phát triển rừng trên biên giới

Liên quan đến trách nhiệm quản lý Nhà nước về lâm nghiệp, đại biểu Ksor Phước Hà (Gia Lai) cho rằng, dự thảo Luật chưa chỉ rõ người chịu trách nhiệm cụ thể khi rừng bị phá, cháy rừng và mất rừng. Do đó, cần bổ sung quy định Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Chủ tịch UBND các cấp có trách nhiệm chính đối với các vụ cháy rừng, phá rừng thuộc phạm vi, địa bàn quản lý.

Một nội dung khác quy định quản lý Nhà nước về lâm nghiệp, trong đó quy định thành lập lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, đại biểu Phạm Tất Thắng (Vĩnh Long) cho rằng, đây là điều không hợp lý.

"Hiện nay, lực lượng Kiểm lâm có chuyên môn, có chức năng quyền hạn rõ ràng, được trang bị công cụ hỗ trợ mà còn khó khăn trong việc bảo vệ rừng. Dự thảo Luật quy định thành lập lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách với những quy định khái quát trong dự thảo sẽ không đủ thầm quyền xử lý vi phạm. Họ không có công cụ hỗ trợ, hoạt động độc lập, không có sự phối hợp với Kiểm lâm thì sẽ rất khó hoàn thành nhiệm vụ" - Đại biểu Phạm Tất Thắng nhấn mạnh.

Đối với các chính sách về bảo vệ và phát triển rừng, nhiều đại biểu cho rằng, quy định trong dự thảo Luật không thực tiễn, không đảm bảo phát triển rừng theo chuỗi giá trị và bền vững. Đại biểu Lê Quang Trí (Tiền Giang) đề nghị, cần quy định chi tiết các chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng bền vững, đặc biệt là các chính sách thu hút nguồn lực trồng rừng, khuyến khích ứng dụng công nghệ trong canh tác rừng, khuyến khích chuyển đổi giống cây rừng có giá trị cao, xúc tiến thương mại lâm sản…

Cũng liên quan đến việc phân trách nhiệm bảo vệ rừng, đại biểu Đinh Thị Kiều Trinh (Nghệ An) cho rằng: Cần gắn trách nhiệm bảo vệ, phát triển rừng với việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư. Mặt khác, quy định cơ chế chia sẻ quyền lợi rừng với người dân để họ yên tâm bảo vệ rừng. Hiện dự thảo Luật không có điều khoản riêng về chính sách phát triển rừng, ưu tiên với đồng bào dân tộc thiểu số. Các đại biểu Quốc hội đã đề nghị bổ sung điều này.

Giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết: Về đề nghị của các đại biểu ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số, giao rừng gắn với giao đất, sẽ tiếp thu và tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để việc giao rừng, cho thuê rừng phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Cũng trong sáng nay, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao về việc bổ nhiệm 2 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao với 83,10% số phiếu tán thành đối với ông Lê Hồng Quang (sinh năm 1968), Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Tiền Giang và ông Nguyễn Văn Tiến (sinh năm 1966), Thẩm phán cao cấp, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. (Biên Phòng Online 19/6) Về đầu trang

Nhiều lo ngại về quy định bảo vệ rừng

Còn rất nhiều ý kiến trái chiều xung quanh Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), đại biểu đặc biệt quan tâm, lo lắng về quy định bảo vệ rừng.

Phát biểu trước Quốc hội sáng ngày 19/6, đại biểu Phạm Tất Thắng (đoàn Vĩnh Long) cho rằng quản lý nhà nước về lâm nghiệp như dự thảo không hợp lý. Dẫn giải một số nội dung về quy định thành lập lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, đại biểu Phạm Tất Thắng nhận định:

"Hiện nay, lực lượng kiểm lâm có chuyên môn, có chức năng quyền hạn rõ ràng, được trang bị công cụ hỗ trợ mà còn khó khăn trong việc bảo vệ rừng thì lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách với những quy định khái quát trong dự thảo sẽ không đủ thầm quyền xử lý vi phạm. Họ không có công cụ hỗ trợ, hoạt động độc lập không có sự phối hợp với kiểm lâm thì sẽ rất khó hoàn thành nhiệm vụ".

Đồng tình với nhận định này, đại biểu đại biểu Lê Xuân Thân (đoàn Khánh Hòa) cho biết: “Hoàn toàn không thấy quy định về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể xã hội trong bảo vệ rừng. Nên nghiên cứu bổ sung các tổ chức này. Đồng thời, cần rà soát các điều khoản về trách nhiệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp, vai trò cụ thể của UBND cấp tỉnh, huyện, xã, chủ tịch tỉnh, huyện, xã; đối chiếu với Luật Tổ chức chính quyền địa phương để có sự thống nhất”.

Bày tỏ sự bức xúc khi rừng ngày càng bị tàn phá bởi bàn tay con người, đại biểu Mùa A Vảng (đoàn Điện Biên) nhấn mạnh: “Thực tế cho thấy, không ít vụ việc khai thác gỗ, săn bắt, buôn bán động vật hoang dã có sự tiếp tay, bao che của người có chức, có quyền và sự làm ngơ của lực lượng chức năng. Do vậy, Luật cần quy định cụ thể hành vi này, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng”.

Đại biểu này khẳng định: “Không một lực lượng bảo vệ rừng nào bảo vệ tốt hơn sự tham gia của người dân. Chỉ khi nào dân thấy bảo vệ rừng sẽ đảm bảo được cuộc sống của họ thì rừng sẽ được bảo vệ tốt hơn”.

Liên quan đến trách nhiệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp, đại biểu Ksor Phước Hà (đoàn Gia Lai) cho rằng, dự thảo Luật chưa chỉ rõ người chịu trách nhiệm cụ thể khi rừng bị phá, cháy rừng và mất rừng. Theo đại biểu Ksor Phước Hà, nên bổ sung thêm: “Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Chủ tịch UBND các cấp có trách nhiệm chính đối với các vụ cháy rừng, phá rừng thuộc phạm vi, địa bàn quản lý”.

Đưa ra giải pháp bảo vệ rừng, đại biểu Đinh Thị Kiều Trinh (đoàn Nghệ An) cho rằng, cần gắn trách nhiệm bảo vệ, phát triển rừng với việc giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư. Cần quy định cơ chế chia sẻ quyền lợi rừng với người dân để họ yên tâm bảo vệ rừng.

Về chuyển mục đích sử dụng rừng, đại biểu Dương Đình Thông (đoàn Bắc Giang) cho rằng, Điều 24 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ dưới 20ha. Trong khi đó, Khoản 1 Điều 25 quy định UBND cấp tỉnh được quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng đối với tổ chức trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quy định như vậy là chưa chặt chẽ, chưa rõ ràng, chồng chéo về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Đối với quy định phân loại rừng, đại biểu Lưu Văn Đức (đoàn Đắk Lắk) lại cho rằng, chưa đưa ra được hết nội hàm để bảo vệ và phát triển rừng. Phân loại rừng trong dự thảo Luật chỉ mới đề cập đến phân loại rừng theo mục đích sử dụng rừng thuần túy về kỹ thuật của ngành lâm nghiệp mà chưa rõ tính chất sử dụng đặc thù của rừng gắn với chủ thể, chủ rừng là cộng đồng dân cư các dân tộc như rừng tâm linh, tín ngưỡng, rừng bảo vệ nguồn nước, rừng biên giới…

Liên quan đến tên gọi của dự thảo Luật, đa số đại biểu Quốc hội thống nhất với đề nghị của Chính phủ, đổi tên dự án luật thành Luật Lâm nghiệp để vừa ngắn gọn, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời phạm vi điều chỉnh được bao quát hơn. Hiện dự thảo luật cũng không có điều khoản riêng về chính sách phát triển rừng, ưu tiên với đồng bào dân tộc thiểu số, điều này cũng được các đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung.

Bên cạnh đó, nhiều đại biểu lo lắng vì một số nội dung trong dự thảo chưa thống nhất với quy định của pháp luật liên quan về Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học, Luật Đầu tư. Vì thế, đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát, chỉnh sửa về phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tương thích với điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng mà Việt Nam là thành viên.

Phát biểu giải trình ý kiến của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp &PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết: Chính phủ đề nghị Quốc hội lấy tên luật là Luật Lâm nghiệp, vừa ngắn gọn, bao quát đủ nội dung, các hoạt động nông nghiệp theo giá trị rừng quản lý, sử dụng, bảo vệ phát triển rừng, chế biến lâm sản, thương mại... với tư cách lâm nghiệp là một ngành kinh tế đặc thù.

Về phân loại rừng, Bộ trưởng cho biết, đa số ý kiến nhất trí phân loại rừng thành 5 loại như dự thảo, một số đề nghị phân loại thành 2 loại rừng. Theo Bộ trưởng: “việc thay đổi phân loại rừng chắc chắn sẽ gây xáo trộn về cơ chế quản lý, đòi hỏi phải sửa đổi nhiều văn bản pháp luật liên quan và phải mất nhiều năm tới mới ổn định.

Nghiên cứu pháp luật quốc tế cho thấy, việc phân loại rừng rất khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của quốc gia đó, các tổ chức quốc tế không khuyến nghị quy định phân loại rừng chung đối với các quốc gia”.

Cuối cùng, Bộ trưởng tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội về quy định cụ thể cho công tác bảo vệ rừng; tính thống nhất trong các quy định của hệ thống pháp luật, nhất là chế định về phân loại đất tại Luật Đất đai. Ngoài ra, thể chế hóa quy định cho rừng biên giới, rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư để bổ sung, hoàn thiện Luật để trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp lần thứ 4 tới đây. (Phapluatplus.vn 19/6; Hoinhabaovietnam.vn 19/6; Đại Biểu Nhân Dân 20/6, tr2) Về đầu trang

Đổi tên Luật Bảo vệ phát triển rừng thành Luật Lâm nghiệp là đúng

Đó là quan điểm của Phó Đoàn ĐBQH Hà Tĩnh Nguyễn Văn Sơn trong phát biểu thảo luận tại hội trường trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV về dự án Luật Bảo vệ phát triển rừng (sửa đổi), diễn ra ngày 19/6.

Trước hết, đại biểu cơ bản đồng tình với Tờ trình của Chính phủ và thẩm tra của Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng. So với luật năm 2004 của Quốc hội khóa XI thì dự thảo lần này đã có những tiếp cận toàn diện hơn, đầy đủ hơn các chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng và phát triển nền nông nghiệp toàn diện, trong đó có phát triển ngành lâm nghiệp.

Đại biểu cho rằng, trong giai đoạn phát triển mới cần có sự tiếp cận ngành lâm nghiệp toàn diện hơn, nhất là tính chất xã hội, giá trị trong bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, giá trị kinh tế và cả bảo vệ tổ quốc, rừng gắn với biên cương quốc gia, gắn với quản lý và sử dụng đất.

Từ việc tiếp cận mới như trên, đại biểu bày tỏ sự đồng tình cao với Tờ trình của Chính phủ là đổi tên Luật Bảo vệ và phát triển rừng thành Luật Lâm nghiệp, để khẳng định rõ vị trí pháp lý của ngành mang tính toàn diện trong phạm vi điều chỉnh của lĩnh vực lâm nghiệp.

Theo đại biểu, công tác bảo vệ và phát triển rừng nằm trong chuỗi hoạt động của lâm nghiệp, theo đó mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật ở các hoạt động. Thực ra trong dự thảo cũng đã có mở rộng về kinh doanh, chế biến, thương mại lâm sản, gắn với làm rõ các chính sách về nguồn lực, về đất đai cũng như tổ chức và quản lý nhà nước về lĩnh vực này.

Thứ hai, về phân loại và phát triển rừng, qua nghiên cứu ý kiến của nhiều cử tri, đại biểu đề nghị nên phân 2 loại rừng cho dễ hiểu và dễ thực hiện. Đó là rừng bảo vệ và rừng sản xuất. Trong rừng bảo vệ thì có rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và một số rừng đặc dụng theo vùng biên cương, biên giới... Quy định này quy định rõ các tiêu chí trong luật để Chính phủ và Bộ Nông nghiệp hướng dẫn và tổ chức thực hiện phân loại một cách chính xác.

Thứ ba, phân loại về ranh giới rừng, đại biểu đề nghị ranh giới rừng gắn với đất nên bổ sung trong giải thích từ ngữ về đất rừng, ranh giới rừng phải gắn với định vị về đất đai, nhất là rừng sản xuất, vì khi thu hoạch rừng rồi thì vẫn còn đất lâm nghiệp và mối quan hệ với Luật Đất đai, phần này chúng ta nên điều chỉnh cho phù hợp. Do đó, cho thấy những khái niệm về lô, về khoanh, về tiểu khu, đã quy định rõ trong luật thì giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên - Môi trường để có hướng dẫn, tổ chức thực hiện đồng bộ trong quản lý và sử dụng.

Thời gian vừa qua, việc giao đất, giao rừng và những tranh chấp lớn nhất không chỉ tranh chấp về rừng mà cơ bản là những tranh chấp về đất đai cần có vai trò vào cuộc rõ nét của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường để xử lý vấn đề này.

Thứ tư, luật đã quy định rõ các tổ chức lực lượng trong việc bảo vệ và phát triển rừng, cần xử lý đồng bộ hơn trong mối quan hệ giữa chủ rừng, lực lượng bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm và chính quyền các cấp. Điểm này, ngoài quy định rõ thì yêu cầu mối quan hệ phối hợp chặt chẽ. Thực tế, trong mối quan hệ vẫn còn những chồng chéo nên ảnh hưởng đến bảo vệ, phát triển rừng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ về phát triển lâm nghiệp.

Cuối cùng, đại biểu đề nghị về chính sách phát triển lâm nghiệp đã có quy định ở các điều như khoản 3 Điều 64, các chính sách hỗ trợ giống, các yếu tố kĩ thuật hoặc Điều 79 về cơ chế, chính sách phát triển chế biến thương mại, lâm sản và Điều 89 về triển khai đầu tư trong lâm nghiệp. Quy định như vậy thấy vẫn chưa được đầy đủ, cần có những điều quy định chính sách đối với rừng biên giới, rừng biên cương Tổ quốc, đồng bào dân tộc thiểu số. Ở những vùng này, phải quy định rõ và có chính sách cụ thể cùng với phát triển rừng, tạo môi trường cũng như nâng cao đời sống cho bà con và bảo vệ biên cương Tổ quốc.

Về chính sách đầu tư cho rừng nghèo phát triển, tạo giá trị về môi trường, đây là một yếu tố hết sức quan trọng, do đó đề nghị nên đưa vào chương quản lý nhà nước về lâm nghiệp một mục về chính sách, tạo thành một tổng hợp tổng thể chính sách về lâm nghiệp cho rõ. Cần nhóm các chính sách này về một chỗ, nếu không sẽ rất phân tán trong chính sách bảo vệ rừng, vì luật ngoài quy định trách nhiệm thì chính sách, cơ chế chính sách là một yếu tố tác động rất cần thiết.

Đại biểu đề nghị nhóm lại thành 1 mục riêng trong quản lý nhà nước, trong đó có phần chính sách để đầu tư phát triển rừng. (Báo Hà Tĩnh Online 19/6) Về đầu trang

Bảo vệ rừng, phải xử cả 'địa tặc' lẫn lâm tặc

Thảo luận luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) ngày 19.6 tại hội trường Quốc hội, các đại biểu đề nghị luật phải có những quy định để xử lý nghiêm, đủ sức răn đe, chế tài đối với lâm tặc, kể cả các đối tượng lấn chiếm, sở hữu đất rừng trái phép.

Đại biểu (ĐB) Dương Tấn Quân (Bà Rịa-Vũng Tàu) nhất trí cao sự cần thiết sửa đổi luật, bởi từ năm 2004 đến nay quá trình thực thi đã cho thấy còn một số hạn chế như việc ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm rừng, biến rừng thành nương rẫy, đồi trọc. Nhiều diện tích rừng bị thu hẹp do sự buông lỏng quản lý của các cơ quan chức năng nên các đối tượng đã lợi dụng khai thác gỗ trái phép tàn phá rừng, nhiều diện tích đất rừng giao cho các nông, lâm trường, nhưng khai thác kém hiệu quả.

Theo ĐB Ksor Phước Hà (Gia Lai), hiện nay mỗi năm cả nước xảy ra 7.000 vụ phá rừng, 20.000 vụ vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép, điều này rất đáng báo động. Nguy hiểm hơn, hàng loạt công trình thủy điện lớn nhỏ, trải dài các khe suối, con sông khiến người dân nhiều nơi phải gánh chịu hậu quả nặng nề do lũ lụt gây ra. Bên cạnh đó, việc trồng quá nhiều rừng cao su khiến lượng ô xy ngày càng ít đi, đe dọa sự tồn tại của con người. Tại khu vực Tây nguyên, ĐB Ksor Phước Hà cho biết vùng đất này ngày càng bị sa mạc hóa. Không những rừng bị tàn phá nặng nề mà đất rừng cũng bị đào bới mang đi. “Đất rừng mà còn bị mang đi bán thì chúng ta trồng rừng bằng niềm tin hay sao? Ta có nên gọi đối tượng này là địa tặc hay không? Tôi đề xuất cần phải xử lý việc lấy đất rừng”, ĐB Ksor Phước Hà đề nghị.

Trước thực trạng trên, theo ĐB Mùa A Vảng (Điện Biên), cần phải có những quy định đủ sức nặng để bảo vệ rừng. Đặc biệt, đối với các hành vi bị nghiêm cấm, bổ sung thêm điều khoản: Lợi dụng chức vụ quyền hạn để bao che, tiếp tay khai thác rừng, săn bắt động vật rừng để buôn bán trái pháp luật. Bàn về giải pháp bảo vệ rừng, ĐB Mùa A Vảng cho rằng luật phải tạo điều kiện để cho người dân bảo vệ rừng vì cuộc sống của họ luôn gắn bó với rừng. “Tôi đề nghị bổ sung vào luật quy định: Nhà nước có chính sách khuyến khích các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ rừng, khoanh nuôi, tái sinh rừng tự nhiên”.

ĐB Đinh Thị Phương Lan (Quảng Ngãi) cũng yêu cầu rà soát và tập trung quy định các chính sách đối với bảo vệ và phát triển rừng vào trong một điều khoản và quy định các nội dung cụ thể là nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng rừng; có chính sách bảo vệ và phát triển rừng phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng; có chính sách hỗ trợ chủ rừng, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư có điều kiện thuận lợi trong tiếp cận bảo vệ và phát triển diện tích rừng và đặc biệt là chính sách ưu tiên giao rừng cho người dân sinh sống tại chỗ.

 

Cũng đưa ý kiến của bà Phương Lan, Đại Biểu Nhân Dân dẫn lời: “Về các loại rừng, có hai nội dung tôi đặc biệt quan tâm là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Hai nội dung này vẫn chưa có sự thống nhất giữa Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Luật Đất đai. Tôi đề nghị cần quy định cụ thể hơn, đặc biệt là các chính sách liên quan đến vùng đệm. Hiện nay trong Luật Đất đai chưa có khái niệm của về vùng đệm dẫn đến có sự chồng lấn, không thống nhất về số liệu thống kê giữa nganfht ài nguyên và môi trường, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.

 

Liên quan đến rừng phòng hộ, hiện nay rừng phòng hộ chiếm tỷ lệ ổn định từ 34 – 35% tổng diện tích rừng của cả nước. Tuy nhiên, chất lượng, trữ lượng và giá trị đa dạng sinh học đang suy giảm. Hiện tại, chính sách đối với rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ cát ven biển, rừng ngập mặn chưa có sự phân biệt, trong khi cơ chế bảo vệ với các rừng này khác nhau, địa hình của rừng cũng khác nhau. Nên chăng lưu ý quy định chính sách phù hợp với từng loại rừng. (Thanh Niên 20/6, tr4; Thanh Niên Online 20/6; Thời Báo Kinh Tế Việt Nam 20/6, tr5; Đại Biểu Nhân Dân 20/6, tr3)Về đầu trang

Quyết tâm bảo vệ rừng

Ngày 19-6, kỳ họp thứ ba, Quốc hội (QH) khóa XIV sang ngày làm việc thứ 21. Buổi sáng, các đại biểu làm việc tại hội trường, thảo luận và biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC) về việc bổ nhiệm hai Thẩm phán TANDTC. QH thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Buổi chiều, QH thông qua hai nghị quyết và thông qua ba Luật; sau đó, QH họp riêng biểu quyết thông qua hai Nghị quyết về: phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào về việc sửa đổi điểm khởi đầu của đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào; phê chuẩn Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào.

Mở đầu phiên họp buổi sáng, các đại biểu QH nghe: Báo cáo kết quả thảo luận ở Ðoàn về đề nghị phê chuẩn việc bổ nhiệm hai Thẩm phán TANDTC; Chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình giải trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu QH; sau đó QH phê chuẩn đề nghị của Chánh án TANDTC về việc bổ nhiệm hai Thẩm phán TANDTC bằng hình thức bỏ phiếu kín. Theo đó, ông Lê Hồng Quang, với 387 đại biểu tán thành, bằng 78,81%; ông Nguyễn Văn Tiến, với 421 đại biểu tán thành, bằng 85,74%. QH nghe trình bày dự thảo Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án TANDTC về việc bổ nhiệm hai Thẩm phán TANDTC; QH thảo luận và biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án TANDTC về vấn đề nêu trên, với 408 đại biểu tán thành, bằng 83,10%.

Thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), các đại biểu Võ Ðình Tín (Ðác Nông), Dương Tấn Quân (Bà Rịa - Vũng Tàu) và một số đại biểu nêu rõ, thời gian qua đã có nhiều bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Ðiển hình như cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển rừng và xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc còn hạn chế. Nguồn nhân lực phân tán, chưa đủ mạnh để tạo thu nhập ổn định giúp người dân yên tâm bảo vệ phát triển rừng và sống bằng nghề rừng. Trong khi đó, không thể phủ nhận được vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng dự thảo Luật chưa quy định vai trò bảo vệ rừng của đồng bào. Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung một số nội dung điều khoản vào dự thảo Luật về việc ưu tiên giao rừng cho đồng bào, bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi có thể sống bằng nghề rừng, có thu nhập từ rừng.

Về tên gọi của luật, các đại biểu tán thành với đề nghị tên gọi như Tờ trình của Chính phủ là Luật Lâm nghiệp, thay cho Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Theo các đại biểu, ngoài lý do như Tờ trình của Chính phủ đã nêu, lâm nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng, kinh doanh, chế biến và thương mại lâm sản, dịch vụ môi trường rừng... Vì thế, tiêu đề bảo vệ và phát triển rừng sẽ không bao hàm tất cả các hoạt động nêu trên. Ðể bảo đảm tính thống nhất với ngành lâm nghiệp, gắn sản xuất với chế biến, ổn định môi trường với quốc phòng, an ninh, nên gọi tên là Luật Lâm nghiệp.

Ðề cập vấn đề này, đại biểu Dương Ðình Thông (Bắc Giang) và một số đại biểu đề nghị QH giữ nguyên như tên Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Theo các đại biểu, rừng là tài nguyên rất quan trọng của quốc gia, là chủ thể chính của lâm nghiệp. Tên gọi này phù hợp yêu cầu về thời sự cấp bách hiện nay là bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững. Thực tế, việc trồng và phát triển rừng gắn với người dân vùng sâu, vùng xa, chủ yếu là ở miền núi, nên gọi như thế là dễ hiểu. Thực tiễn những năm qua, việc bảo vệ và phát triển rừng có vị trí, vai trò rất quan trọng đóng góp vào việc phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.

Về nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng tại Ðiều 19, đại biểu Lưu Văn Ðức (Ðác Lắc) và một số đại biểu cho rằng, Ban soạn thảo nên bổ sung một số nội dung bảo đảm tôn trọng không gian sinh tồn, không gian văn hóa, phong tục, tập quán quản lý rừng của cộng đồng dân cư; bảo đảm hộ gia đình, cộng đồng dân cư có cuộc sống sinh hoạt gắn bó với rừng, có truyền thống quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả, được giao rừng và cho thuê rừng gắn với quyền sử dụng đất để thực hành sinh kế, văn hóa tín ngưỡng gắn với rừng tại địa phương. Hơn nữa, dự thảo chưa quy định về vai trò bảo vệ rừng của cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống tại chỗ. Do vậy, cần bổ sung quy định về việc ưu tiên giao rừng cho đối tượng này.

Giải trình ý kiến của các đại biểu QH về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết: Ban soạn thảo xin tiếp thu và sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để việc giao rừng, cho thuê rừng phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, do quỹ rừng hạn chế, cần ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ để người dân có cuộc sống gắn bó với rừng, tăng thu nhập, cải thiện sinh kế. Việc quản lý chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, nhất là rừng tự nhiên, Ban soạn thảo tiếp thu nghiên cứu để bổ sung quy định về đóng cửa rừng tự nhiên, tăng khả năng hấp thụ các-bon, đẩy mạnh dịch vụ môi trường rừng, khuyến khích sản xuất nông lâm kết hợp và phát triển lâm sản ngoài gỗ, nhất là cây dược liệu để tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người làm nghề rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, tiếp tục được nghiên cứu, chỉnh sửa theo nguyên tắc quản lý chặt chẽ, tăng quyền tự chủ của chủ rừng đối với rừng sản xuất là rừng trồng, giảm phát sinh thêm các thủ tục hành chính...

Buổi chiều, QH biểu quyết thông qua Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi), với 458 đại biểu tán thành, bằng 93,28%. Tiếp đó, QH biểu quyết thông qua Luật Thủy lợi, với 457 tán thành, bằng 93,08% tổng số đại biểu QH.

Trước đó, QH biểu quyết thông qua: Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015, với 454 đại biểu tán thành, bằng 92,46%; Nghị quyết về việc tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án thành phần để triển khai Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, với 403 đại biểu tán thành, bằng 82,08% tổng số đại biểu QH.

Chiều cùng ngày, với đa số đại biểu tán thành, QH đã biểu quyết thông qua Luật Du lịch (sửa đổi). QH đã biểu quyết thông qua: Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào về việc sửa đổi điểm khởi đầu của đường biên giới quốc gia Việt Nam – Lào; Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào. (Nhân Dân 20/6, tr4; Nhân Dân Online 20/6) Về đầu trang

Đại biểu Đinh Thị Kiều Trinh: Đề nghị làm rõ 'chủ rừng' có đồng thời là 'chủ đất'?

Góp ý dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), đại biểu Đinh Thị Kiều Trinh (Đoàn ĐBQH Nghệ An) cho rằng cần làm rõ "chủ đất" có phải là "chủ rừng".

Dự thảo Luật cần tôn trọng nguyên tắc bảo đảm không gian sinh tồn cho cộng đồng dân cư, cho đồng bào dân tộc thiểu số vốn sống gắn bó với rừng.

Nhà nước cần tạo điều kiện để người dân có rừng để thực hiện các hoạt động văn hóa tâm linh, có rừng để phát triển sản xuất, có thu nhập bảo đảm từ rừng  và có thể sống bằng nghề rừng gắn với xóa đói giảm nghèo tại các địa phương, hướng tới mục tiêu bảo vệ phát triển rừng cũng như hài hòa các mối quan hệ xã hội, thể chế  quản lý đối với rừng trong thực tiễn, có như vậy mới có thể bảo vệ, phát triển rừng bền vững .

Về thẩm quyền giao rừng, cho thuê, thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, bà Kiều Trinh đề nghị bổ sung quy định cụ thể về quy mô, diện tích và từng cấp từ Trung ương đến địa phương. Bên cạnh đó, cần làm rõ: Chủ rừng là các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng có được cho thuê lại rừng hay không. Đặc biệt, nên cân nhắc kỹ việc giao thẩm quyền này cho cấp huyện vì thực tế vừa qua, nhiều huyện để xảy ra nhiều sai phạm nghiêm trọng trong quản lý, sử dụng, bảo vệ rừng.

Dự thảo luật chưa đề cập đến đất rừng, chưa giải thích rõ thế nào là quản lý, phát triển và sử dụng rừng và chưa đề cập đến quyền, nghĩa vụ đối với cá nhân, tổ chức được giao rừng tự nhiên. Đặc biệt, dự thảo luật quy định “rừng là hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng... trong đó thành phần chính là cây gỗ, tre, nứa...cao trên 5m đối với thực vật núi đất hoặc trên 2m đối với các hệ thực vật khác...” là chưa bao quát hết vì phần còn lại của rừng sẽ quy định ra sao.

Đề nghị cần làm rõ quy định “chủ rừng” có đồng thời là “chủ đất” hay không? Nên nghiên cứu gắn trách nhiệm nghĩa vụ của các cơ sở chế biến lâm sản đối với việc phát triển rừng.

Đại biểu Đinh Thị Kiều Trinh góp ý cụ thể vào các điều Luật như sau: Đối với quy định về chủ rừng tại Điều 8: Theo Điểm b Khoản 1 Điều 8 Dự thảo quy định về chủ rừng quy định như sau: “b) Tổ chức kinh tế gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam;”

Như vậy, theo quy định này thì những “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” nhưng được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam thì cũng được xem là “tổ chức kinh tế”.

Tuy nhiên, Khoản 4 Điều 8 của dự thảo cũng quy định thêm một đối tượng chủ rừng là: “4. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.

Vậy nếu dự thảo quy định như hiện tại thì Điểm b Khoản 1 và Khoản 4 của Điều 8 có sự trùng lặp. Một đồi tượng – doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được quy định hai lần trong cùng một Điều luật.

Bên cạnh đó, tại Khoản 27 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định “Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.”

Luật đất đai hiện hành đã tách đối tượng là Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi đối tượng Tổ chức kinh tế để điều chỉnh. Vậy nếu dự thảo luật muốn tách để thống nhất với Luật đất đai thì nên sửa đổi Điểm b Khoản 1 Điều 8 dự thảo theo hướng “b) Tổ chức kinh tế gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”.

Về quyền và nghĩa vụ của Ban quản lý rừng đặc dụng: Tại Điểm d Khoản 1 Điều 36 quy định quyền của Ban quản lý rừng đặc dụng là được cho thuê hay liên kết với các thành phần kinh tế để đầu tư phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí. Tuy nhiên, tại Mục 1 Chương III của dự thảo quy định về Giao rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, thu hồi rừng lại không hề có quy định nào về việc cho thuê rừng đặc dụng mà chỉ có quy định về cho thuê rừng sản xuất tại Điều 22. Để có sự thống nhất giữa các Điều luật kiến nghị dự thảo nên có sự thay đổi bổ sung trong các quy định này.

Về định giá rừng quy định tại Điều 85: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 85 thì: “4. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định khung giá rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định giá rừng cụ thể trên địa bàn tỉnh.”

Việc quy định khung giá rừng là vấn đề rất quan trọng để đảm bảo tính thống nhất không nên trao thẩm quyền này cho một cá nhân mà nên trao cho cả một tập thể đảm bảo tính dân chủ, thống nhất. Trong trường hợp này, kiến nghị sửa đổi dự thảo Luật theo hướng trao thẩm quyền quy định khung giá rừng cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cơ quan trực tiếp quản lý các vấn đề về rừng chứ không trao thẩm quyền cho Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn như  dự thảo hiện nay. (Báo Nghệ An Online 19/6) Về đầu trang

Đừng để rừng bị phá xong mới có luật bảo vệ, phát triển

Sáng 19/6, Quốc hội làm việc tại Hội trường, thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi).

So với Luật năm 2004, dự thảo lần này đã có những tiếp cận toàn diện hơn. Tuy nhiên, nhiều đại biểu cũng cho rằng, một số nội dung trong dự thảo chưa thực sự thống nhất với quy định của pháp luật liên quan về Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học, Luật Đầu tư...

Đồng tình với quy định 3 loại rừng như dự thảo, đại biểu Võ Đình Tín (Đoàn Đắk Nông) cho rằng, phân loại thành 3 loại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất sẽ thuận tiện cho sắp xếp tổ chức trong ngành lâm nghiệp, thực hiện các chủ trương chính sách về đầu tư, giao rừng, khoán bảo vệ rừng, sắp xếp, đổi mới và phát triển rừng quốc gia.

Đại biểu Võ Đình Tín (Đoàn Đắk Nông) phát biểu ý kiến về dự án Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi).

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Văn Man (Đoàn Quảng Bình), đại biểu Nguyễn Sơn (Đoàn Hà Tĩnh) lại không đồng tình với những ý kiến trên và đề nghị, chỉ nên phân loại thành 2 loại rừng là rừng bảo vệ và rừng kinh tế. Trong đó, rừng bảo vệ gồm rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Còn rừng kinh tế là rừng trồng sản xuất.

Đại biểu Nguyễn Văn Man cho rằng, việc phân loại như vậy phù hợp với phân loại của nhiều nước trên thế giới, giúp chúng ta thuận lợi hơn trong hợp tác quốc tế, thực hiện quản lý rừng bền vững. Điều này cũng giúp toàn bộ rừng tự nhiên hiện có của nước ta sẽ không được chuyển sang mục đích khác. Theo ĐB, việc phân loại thành 3 loại rừng như dự thảo buộc phải có các cơ chế, chính sách, mô hình phù hợp để quản lý, bảo vệ, sử dụng với từng loại rừng.

Còn đại biểu Lưu Văn Đức (Đoàn Đắk Lắk) lại cho rằng, quy định phân loại rừng chưa đưa ra được hết nội hàm để bảo vệ và phát triển rừng. Phân loại rừng trong dự thảo Luật chỉ mới đề cập đến phân loại rừng theo mục đích sử dụng rừng thuần túy về kỹ thuật của ngành lâm nghiệp mà chưa rõ tính chất sử dụng đặc thù của rừng gắn với chủ thể, chủ rừng là cộng đồng dân cư các dân tộc như rừng tâm linh, tín ngưỡng, rừng bảo vệ nguồn nước, rừng biên giới…

Các đại biểu Quốc hội đánh giá, để khuyến khích, hỗ trợ chủ rừng, đặc biệt đối với chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, những năm qua Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ trồng rừng, hỗ trợ bảo vệ rừng, giao khoán việc bảo vệ và phát triển rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, bảo vệ và phát triển bền vững rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đại biểu Mùa A Vảng (Đoàn Điện Biên) phát biểu ý kiến về dự án Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi).

Nhấn mạnh cuộc sống của người dân gắn chặt với rừng, đại biểu Mùa A Vảng (Điện Biên) cho rằng, chỉ khi nào người dân thấy bảo vệ rừng đảm bảo cuộc sống của họ thì rừng sẽ được bảo vệ tốt hơn.

Thực tế, khi Nhà nước thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng thì rừng đã xanh tươi trở lại.

Theo đại biểu Mùa A Vảng (Đoàn Điện Biên), các quy định như trong dự án Luật là chưa đủ, chưa khuyến khích và chưa nâng cao trách nhiệm của người dân tham gia bảo vệ rừng; cần quy định cụ thể hơn chính sách của Nhà nước trong bảo vệ và phát triển rừng.

Đại biểu Mùa A Vảng  đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung quy định: “Nhà nước có chính sách khuyến khích các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ rừng, tái sinh rừng tự nhiên đồng thời giao Chính phủ quy định chính sách đặc thù cho vùng, miền để bảo vệ tốt rừng, khu vực xung yếu, biên giới và khu vực cung cấp các nguồn nước chính cho các thủy điện lớn”.

Cho ý kiến về nội dung này, đại biểu Nguyễn Lâm Thành (Đoàn Lạng Sơn) cho rằng, dự án Luật không có điều khoản quy định riêng về chính sách Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng mà quy định rải rác ở các nội dung khác nhau. Vì thế đại biểu Nguyễn Lâm Thành đề nghị có chính sách đối với đồng bào miền núi, dân tộc thiểu số là những người gắn bó mật thiết với rừng.

Tán thành quan điểm này, đại biểu Võ Đình Tín cho rằng, trong thời gian qua có nhiều bất cập trong quản lý, phát triển và bảo vệ rừng, đặc biệt cơ chế phát triển rừng, xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc còn hạn chế.

“Vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo vệ rừng rất hiệu quả, nhưng dự án Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) chưa quy định vấn đề này.

Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo chỉnh sửa một số nội dung cho phù hợp về việc ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo cho đồng bào có thể sống được bằng nghề rừng”, đại biểu Võ Đình Tín nhấn mạnh. (VOVNews 19/6; Thời Báo Kinh Tế Việt Nam 20/6, tr5) Về đầu trang

Cấm lợi dụng chức vụ để tiếp tay khai thác rừng trái phép

Ngày 19/6, Quốc hội đã thảo luận ở hội trường về Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi).

Theo đại biểu (ĐB) Mùa A Vảng (đoàn Điện Biên), cần bổ sung thêm quy định nguyêm cấm việc “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che, tiếp tay khai thác rừng, săn bắt động vật rừng để buôn bán trái pháp luật”. Bởi thực tế cho thấy không ít vụ việc khai thác gỗ, săn bắt, buôn bán động vật rừng có sự tiếp tay, bao che của người có chức có quyền và sự làm ngơ của lực lượng chức năng. Do vậy, cần quy định cụ thể hành vi này vào Luật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Cho rằng trong thời gian qua đã có khá nhiều bất cập trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, ĐB Võ Đình Tín (đoàn Đắk Nông) cho rằng, cần phân cấp trách nhiệm đối với chính quyền địa phương đặc biệt là đối với cấp xã trong việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê như quy định hiện hành.

Các ý kiến cũng đề nghị, cần bổ sung thêm tại điểm các tổ chức, cá nhân có dự án chuyển mục đích sử dụng các loại rừng là phải thực hiện nghiêm túc việc trồng rừng thay thế và nêu rõ trách nhiệm của từng cấp trong việc giám sát thực hiện nội dung này. (Kinh Tế & Đô Thị Online 19/6) Về đầu trang

Vẫn băn khoăn về cơ sở pháp lý bảo vệ rừng

Ngày 19-6, các đại biểu Quốc hội làm việc ở hội trường, thảo luận và biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc bổ nhiệm 2 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Phiên làm việc diễn ra dưới sự điều khiển của 2 Phó Chủ tịch Quốc hội: Uông Chu Lưu, Phùng Quốc Hiển.

Đại biểu Nguyễn Văn Sơn (Hà Tĩnh) đồng tình với Tờ trình của Chính phủ là đổi tên Luật Bảo vệ và phát triển rừng thành Luật Lâm nghiệp để khẳng định rõ vị trí pháp lý của ngành mang tính toàn diện trong phạm vi điều chỉnh của lĩnh vực lâm nghiệp.

Bảo vệ và phát triển rừng nằm trong chuỗi hoạt động của lâm nghiệp, theo đó mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật ở các hoạt động. Theo ông Sơn, về phân loại và phát triển rừng nên phân 2 loại rừng cho dễ hiểu và dễ thực hiện. Đó là rừng bảo vệ và rừng sản xuất. Trong rừng bảo vệ thì có rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và một số rừng đặc dụng theo vùng biên cương, biên giới... Quy định này quy định rõ các tiêu chí trong luật để Chính phủ và Bộ Nông nghiệp hướng dẫn và tổ chức thực hiện phân loại một cách chính xác.

Liên quan đến phân loại về danh giới rừng, ĐB Sơn cho rằng: Ranh giới rừng gắn với đất nên bổ sung trong giải thích từ ngữ về đất rừng, danh giới rừng phải gắn với định vị về đất đai, nhất là rừng sản xuất. Vì khi thu hoạch rừng rồi thì vẫn còn đất lâm nghiệp và mối quan hệ với Luật Đất đai nên điều chỉnh cho phù hợp.

Thời gian vừa qua, việc giao đất, giao rừng và những tranh chấp lớn nhất không chỉ tranh chấp về rừng mà cơ bản là những tranh chấp về đất đai cần có vai trò vào cuộc rõ nét của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường để xử lý vấn đề này.

Về chính sách bảo vệ và phát triển rừng, ĐB Đinh Thị Phương Lan - Quảng Ngãi đặc biệt đồng tình với đại biểu Sơn đoàn Hà Tĩnh đề nghị rà soát và tập trung quy định các chính sách đối với bảo vệ và phát triển rừng vào trong một điều khoản và quy định các nội dung cụ thể là nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng rừng đầu tư lao động vốn công nghệ, áp dụng khoa học, công nghệ bảo vệ và phát triển rừng.

Có chính sách bảo vệ và phát triển rừng phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng. Có chính sách hỗ trợ chủ rừng, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư có điều kiện thuận lợi trong tiếp cận bảo vệ và phát triển diện tích rừng có đất xấu nằm trên vùng sườn núi dốc hay thuộc rừng nghèo hệ sinh thái và hệ động, thực vật bị suy giảm chất lượng, trữ lượng và giá trị đa dạng sinh học bị suy giảm.

Có chính sách ưu tiên giao rừng cho người dân sinh sống tại chỗ. Có chính sách hỗ trợ tạo điều kiện cho chủ rừng liên doanh, liên kết phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu, đào tạo, bảo vệ và phát triển rừng. Đặc biệt, cùng với cơ chế hỗ trợ sau đầu tư và đầu tư cần bổ sung quy định về cơ chế tài chính hỗ trợ cho chủ rừng, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tiếp cận được các nguồn vốn vay ưu đãi với thời gian thích hợp.

ĐB Đinh Thị Phương Lan - Quảng Ngãi đồng tình với nhiều đại biểu là không thể tách được quyền sử dụng rừng và quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, nó ở trong 2 luật khác nhau nên ĐB Lan đề nghị rà soát lại nội dung liên quan đến quyền sử dụng rừng và quyền sử dụng đất.

Giải trình thêm về nội dung này, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết, mục đích phân loại rừng là tạo khung pháp lý cho công tác quy hoạch, hoạch định chính sách quản lý rừng có hiệu quả, phù hợp với chức năng cơ bản của các khu rừng, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong các quy định của hệ thống pháp luật, nhất là chế định về phân loại đất tại Luật Đất đai.

Việc thay đổi phân loại rừng chắc chắn sẽ gây xáo trộn về cơ chế quản lý, đòi hỏi phải sửa đổi nhiều văn bản pháp luật liên quan và phải mất nhiều năm mới ổn định. Một số khu rừng phòng hộ chuyển thành rừng bảo vệ sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của người dân vì lý do bảo vệ, bảo tồn rừng.

Nghiên cứu pháp luật quốc tế cho thấy, việc phân loại rừng rất khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của quốc gia đó và các tổ chức quốc tế không khuyến nghị quy định phân loại rừng chung đối với các quốc gia. “Chúng tôi sẽ nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội về thể chế hóa quy định rừng biên giới, rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư để bổ sung, hoàn thiện luật trong thời gian tới”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh.

ĐB Mùa A Vảng (Điện Biên) nhấn mạnh cuộc sống của người dân gắn chặt với rừng, chỉ khi nào người dân thấy bảo vệ rừng đảm bảo cuộc sống của họ thì rừng sẽ được bảo vệ tốt hơn. Thực tế, khi Nhà nước thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng thì rừng đã xanh tươi trở lại.

Theo đại biểu Mùa A Vảng, các quy định như trong dự án Luật là chưa đủ, chưa khuyến khích và chưa nâng cao trách nhiệm của người dân tham gia bảo vệ rừng; cần quy định cụ thể hơn chính sách của Nhà nước trong bảo vệ và phát triển rừng. Theo đó, đại biểu Mùa A Vảng đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung quy định: “Nhà nước có chính sách khuyến khích các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ rừng, tái sinh rừng tự nhiên đồng thời giao Chính phủ quy định chính sách đặc thù cho vùng, miền để bảo vệ tốt rừng, khu vực xung yếu, biên giới và khu vực cung cấp các nguồn nước chính cho các thủy điện lớn”.

Cùng ngày, QH cũng tiến hành Biểu quyết thông qua Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015; Biểu quyết thông qua Luật chuyển giao công nghệ (sửa đổi); Biểu quyết thông qua Luật thủy lợi; Biểu quyết thông qua Luật du lịch (sửa đổi)...

Trong phần Biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án thành phần để triển khai Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành; với 403/449 ĐBQH có mặt tán thành, Quốc hội đã đồng ý tách dự án thành phần giải phóng mặt bằng, đền bù, tái định cư cho sân bay Long Thành.

Với 403/449 ĐBQH có mặt tán thành nhưng dự án thành phần giải phóng mặt bằng, đền bù, tái định cư cho sân bay Long Thành vẫn đạt tỷ lệ tán thành thấp nhất

Tỷ lệ tán thành thấp nhất trong các nội dung được Quốc hội biểu quyết thông qua trong kỳ họp này (có đến 41 ĐB không tán thành, 5 ĐB không biểu quyết). Giải trình ý kiến băn khoăn của ĐBQH về những hệ lụy nếu đã chi 23.000 tỷ đồng giải phóng mặt bằng nhưng Quốc hội không thông qua báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cho rằng: Việc đầu tư Dự án Cảng HKQT Long Thành là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong thực hiện đột phá chiến lược về cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Việc nghiên cứu, đánh giá sự cần thiết, địa điểm triển khai, thời gian thực hiện Dự án đã được Chính phủ xem xét thận trọng trong một thời gian dài, Quốc hội khóa XIII khi quyết định chủ trương đầu tư Dự án cũng đã cân nhắc kỹ lưỡng trên nhiều góc độ, nhiều mặt và cũng thấy rõ sự cần thiết của Dự án này.

Sự quá tải của Tân Sơn Nhất và nhu cầu vận tải hàng không ngày càng tăng cao nên việc triển khai Dự án càng trở nên cấp bách hơn. Do đặc thù công tác giải phóng mặt bằng thường mất nhiều thời gian, phát sinh khó khăn, vướng mắc, làm tăng chi phí nếu quá trình thực hiện kéo dài.

Do vậy, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho phép tách nội dung thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Dự án Cảng HKQT Long Thành thành Dự án thành phần để thực hiện trước, nhằm bảo đảm tiến độ của Dự án, tiết kiệm chi phí và đáp ứng nguyện vọng của người dân. Với vị trí thuận lợi của Dự án, quỹ đất đã thu hồi sẽ được sử dụng hiệu quả cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. (Công An Thành Phố Hồ Chí Minh Online 19/6) Về đầu trang

Đại biểu Quốc hội lo ngại Tây Nguyên bị sa mạc hoá

Theo bà Ksor Phước Hà, không những rừng bị tàn phá nặng nề mà "người ta còn đào đất rừng mang đi".

Thảo luận về dự án Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) ngày 19/6, đại biểu Quốc hội Ksor Phước Hà - Phó trưởng Công an thị xã Ayun Pa (Gia Lai) nêu thực trạng, mỗi năm cả nước xảy ra 7.000 vụ phá rừng, 20.000 vụ vận chuyển chế biến lâm sản trái phép. Theo vị đại biểu này, rừng không chỉ là những thân cây to và tán lá rộng mà còn là hệ sinh thái thảm thực vật.

"Các sinh vật đang ngày đêm tìm cách sinh tồn dưới sự truy sát của con người. Trong khi đó con người cũng đang vật vã, hổn hển, khi một người trưởng thành phải hít khoảng 6 triệu tấn ôxy mỗi năm, và sẽ tìm đâu ra khi nhà nhà điều hòa, xe máy, ôtô...", bà Ksor Phước Hà nói.

Theo bà Ksor Phước Hà, Tây Nguyên đang ngày càng bị sa mạc hóa. Không những rừng bị tàn phá nặng nề mà đến đất rừng cũng bị đào bới mang đi. "Đất rừng còn bị mang đi bán thì trồng rừng bằng niềm tin hay sao? Ta có nên gọi đối tượng này là địa tặc hay không? Tôi đề xuất cần phải xử lý việc lấy đất rừng cũng như xử lý việc phá cây rừng", bà nói.

Đại biểu Nguyễn Minh Hoàng - Thiếu tướng, Phó Chính ủy Quân khu 7 cũng cho rằng, rừng giàu tài nguyên đã bị cạn kiệt, liên tục suy giảm về chất lượng, khiến các động, thực vật trong rừng bị đe doạ. Theo ông Hoàng, mặc dù hệ thống quản lý, bảo vệ rừng đã được thiết lập từ trung ương đến cơ sở, nhưng tình trạng vi phạm còn diễn ra phổ biến tại một số địa phương, đặc biệt tại các khu rừng phòng hộ, giàu trữ lượng gỗ quý hiếm.

"Tôi khẩn thiết đề nghị Quốc hội quy định cụ thể việc đóng cửa rừng tự nhiên và dừng ngay việc khai thác gỗ rừng tự nhiên trong phạm vi cả nước", ông Hoàng nói.

Đại biểu Hoàng khẳng định vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng biên giới trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, hiện đời sống nhân dân tại các khu vực này rất khó khăn với hơn 60% hộ nghèo. Thu nhập từ rừng của họ chỉ đảm bảo cuộc sống từ 8% - 10% trong năm, với mức từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng một ha.

Theo ông, khi quy định về giao rừng thì Ban soạn thảo cần ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại chỗ hoặc bổ sung thêm các quy định về quyền, nghĩa vụ của chủ rừng, nhằm bảo đảm đời sống bà con.

Đại biểu Đinh Thị Kiều Trinh đề nghị bổ sung quy định cụ thể về thẩm quyền giao rừng, cho thuê, thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng từ trung ương đến địa phương. Theo bà Trinh, cần làm rõ chủ rừng là các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng có được cho thuê lại rừng hay không. Đặc biệt nên cân nhắc kỹ việc giao thẩm quyền này cho cấp huyện, vì thực tế vừa qua nhiều huyện đã để xảy ra sai phạm nghiêm trọng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường khẳng định sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy định về giao rừng, cho thuê rừng để phù hợp với yêu cầu thực tiễn. "Giao rừng, cho thuê rừng để rừng có chủ thực sự là chủ trương nhất quán trong dự thảo Luật lần này", ông nói.

Về phía Bộ Nông nghiệp cũng sẽ bổ sung quy định về đóng cửa rừng tự nhiên, đẩy mạnh dịch vụ môi trường rừng, khuyến khích sản xuất nông lâm kết hợp và phát triển lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là cây dược liệu để tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người làm nghề rừng. (An Ninh Thủ Đô 20/6, tr3; Ngaynay.vn 19/6; VnExpress.net 19/6; Người Cao Tuổi 20/6, tr3) Về đầu trang

Đại biểu Quốc hội Võ Đình Tín góp ý về Dự thảo luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi): Bảo đảm cho đồng bào dân tộc miền núi có thể sống bằng nghề rừng

Sáng 19/6, Quốc hội thảo luận ở hội trường về Dự thảo luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Đại biểu Võ Đình Tín, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Nông tham gia góp ý Dự thảo luật.

Theo đại biểu Võ Đình Tín, cần nghiên cứu bổ sung một số điều khoản vào Dự thảo luật, ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số. Bảo đảm cho đồng bào dân tộc miền núi có thể sống bằng nghề rừng. Báo Đắk Nông giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đại biểu Võ Đình Tín.

Qua nghiên cứu tờ trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa hoc, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, tôi cơ bản nhất trí với việc sửa đổi luật Bảo vệ và phát triển rừng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, trong thời gian qua đã có khá nhiều bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Điển hình như cơ chế, chính sách hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc còn hạn chế, nguồn nhân lực phân tán, chưa đủ mạnh để tạo nguồn thu nhập ổn định giúp người dân yên tâm bảo vệ, phát triển rừng và sống được bằng nghề rừng. Trong khi đó, không thể phủ nhận được vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số đã tham gia bảo vệ rừng rất hiệu quả. Thế nhưng Dự thảo luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) chưa quy định vai trò bảo vệ rừng của đồng bào dân tộc thiểu số. Do vậy, tôi đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung một số điều khoản vào Dự thảo luật việc ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm cho đồng bào dân tộc miền núi có thể sống bằng nghề rừng, có thu nhập bảo đảm từ rừng.

Về tên gọi của luật, tôi tán thành với đề nghị đổi tên luật như tờ trình của Chính phủ là “luật Lâm nghiệp” thay cho luật Bảo vệ và phát triển rừng vì ngoài các lý do như trong tờ trình của Chính phủ đã nêu: Lâm nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, kinh doanh, chế biến và thương mại lâm sản, dịch vụ môi trường rừng v.v…Vì thế, tiêu đề luật Bảo vệ và phát triển rừng sẽ không bao hàm tất cả các hoạt động nêu trên, đồng thời đảm bảo đồng bộ với nội dung tại các điều luật trong dự thảo.

Về phân loại rừng, tôi đồng ý quy định 3 loại rừng như Dự thảo luật, vì: Thuận tiện cho việc tổ chức sắp xếp lại sản xuất trong ngành Lâm nghiệp. Thực hiện các chủ trương chính sách về đầu tư, giao rừng, khoán bảo vệ rừng, sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh.

Về phân định ranh giới rừng, tại Khoản 1, Điều 6 của Dự thảo luật quy định việc đánh số các tiểu khu, khoảnh, lô theo hướng từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam. Đề nghị xem xét lại quy định này bởi vì hiện nay đang quy định đánh số theo trình tự từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam (từ trái qua phải, từ trên xuống dưới), nếu đánh số từ Đông sang Tây như trong Dự thảo sẽ ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý lâm nghiệp vì tất cả các hồ sơ quản lý, hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng, hồ sơ giao đất, cho thuê đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… sẽ phải điều chỉnh lại. Việc đánh số từ Đông sang Tây (từ phải qua trái) thực tế cũng không phù hợp với cách trình bày trên văn bản của người Việt Nam. Ngoài ra không nên quy định số hiệu tiểu khu được đánh số theo ký tự số La Mã tại Điểm a, Khoản 1, Điều 6 vì hiện nay tại nhiều địa phương đang đánh số tiểu khu theo ký tự số Ả Rập. Nếu thay đổi sẽ gây nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh hồ sơ quản lý của các địa phương.

Về một điều luật cụ thể tôi xin góp ý như sau:

Điểm a, Khoản 2 (Đối với khu rừng bảo vệ cảnh quan) và Điểm b, Khoản 3 (đối với khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học), Điều 66 có nội dung: “Được tận thu gỗ, củi …”. Đề nghị điều chỉnh nội dung này thành: Được tận dụng gỗ, củi … vì khai thác gỗ trong quá trình thực hiện các biện pháp lâm sinh hoặc trong phạm vi giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình là khai thác tận dụng chứ không phải khai thác tận thu.

Đề nghị điều chỉnh nội dung tại khoản 3, Điều 69: “Được phép khai thác các loại lâm sản khác ngoài gỗ…” thành nội dung: Được phép khai thác lâm sản ngoài gỗ… vì trong lâm nghiệp hiện nay chỉ có hai thuật ngữ là gỗ và lâm sản ngoài gỗ nên việc điều chỉnh như trên sẽ chính xác hơn.

Tại Khoản 1, Điều 77 thêm cụm từ “và hệ sinh thái nông nghiệp có trồng cây lâm nghiệp” vào sau rừng quy hoạch cho lâm nghiệp.

Tại Điểm c, Khoản 1, Điều 88 thêm vào đầu câu cụm từ “Chi bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất giao cho chủ rừng thực hiện nhiệm vụ công ích”.

Đề nghị xem xét lại nội dung tại Khoản 1, Điều 95: “Kiểm lâm là tổ chức có chức năng bảo đảm chấp hành luật về lâm nghiệp; trực tiếp bảo vệ rừng thuộc sở hữu toàn dân ở nơi Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê…”. Theo các quy định hiện hành về việc phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức quản lý, bảo vệ diện tích rừng nhà nước chưa giao, chưa cho thuê và có trách nhiệm xây dựng phương án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để giao lại cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân diện tích rừng này để rừng thực sự có chủ cụ thể. Vì vậy, nếu quy định như trong Dự thảo luật ở trên thì sẽ xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong công tác bảo vệ diện tích rừng chưa có chủ; UBND cấp xã sẽ không có trách nhiệm trong việc triển khai công tác giao rừng, cho thuê rừng và điều đó sẽ kéo dài tình trạng rừng không có chủ thực sự, dẫn đến việc rừng sẽ bị lấn chiếm vì trong thực tế Kiểm lâm không đủ lực lượng để trực tiếp bảo vệ diện tích này một cách lâu dài do hầu hết diện tích chưa có chủ đều phân bố manh mún, rải rác. Vì vậy, cần phân cấp trách nhiệm đối với chính quyền địa phương, đặc biệt là UBND cấp xã trong việc quản lý bảo vệ diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê như quy định hiện hành. (Baodaknong.org.vn 19/6) Về đầu trang

ĐBQH đề nghị chấm dứt xây thủy điện để bảo vệ rừng

 “Đề nghị chấm dứt không cho xây thủy điện nữa. Bởi, nói đến rừng không chỉ nói tới những thân cây to, tán lá rộng mà còn là đến hệ sinh thái, thảm thực vật, các sinh vật đang ngày đêm tìm cách sinh tồn dưới sự truy sát của con người".

Đây là ý kiến của Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Ksor Phước Hà (Gia Lai) góp ý tại hội trường sáng ngày 19/6 về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi).

ĐBQH Ksor Phước Hà (Gia Lai): "Nói đến rừng không chỉ nói tới những thân cây to, tán lá rộng mà còn là đến hệ sinh thái, thảm thực vật, các sinh vật đang ngày đêm tìm cách sinh tồn dưới sự truy sát của con người".

Theo ĐB Ksor Phước Hà, theo con số thống kê công khai hàng năm, cả nước xảy ra 7.000 vụ phá rừng, hơn 20.000 vụ vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép. Cùng với sự phát triển vượt trội của cây công nghiệp, bạt ngàn cao su, cà phê, hồ tiêu… là hàng loạt những công trình thủy điện lớn nhỏ, trải dài theo những khe suối, con sông và việc xả lũ “đúng quy trình” cho con bò, con trâu lên mái nhà.

“Vậy nay tôi đề nghị chấm dứt không cho xây thủy điện nữa. Bởi, nói đến rừng ta không chỉ nói tới những thân cây to, tán lá rộng mà ta nói đến hệ sinh thái, thảm thực vật, các sinh vật đang ngày đêm tìm cách sinh tồn dưới sự truy sát của con người. Trong khi đó con người chúng ta đang vật vã, hổn hển khi người trưởng thành phải hít 6 triệu tấn oxy mỗi năm, khi người người nhà nhà dùng xe máy, ô tô”- ĐB Ksor Phước Hà nhấn mạnh.

Theo bà Phước Hà, Tây Nguyên đang ngày càng bị sa mạc hóa, không chỉ rừng bị tàn phá nặng nề mà đất rừng còn bị đào bới mang đi. Vì vậy, ĐB Ksor Phước Hà đề nghị “cần xử lý việc lấy đất rừng như đối với lấy cây rừng”.

Trong khi đó, ĐB Mùa A Vảng (Điện Biên) nhất trí với tên luật - Luật bảo vệ và Phát triển rừng - vì nó phù hợp với quá trình phát triển của thực tiễn. Bởi lẽ Luật bảo vệ và Phát triển rừng có từ năm 2004 đã được triển khai rộng rãi trong thời gian dài, được người dân quen với tên gọi này, đặc biệt là đồng bào vùng cao, dân tộc thiểu số.

ĐB Mùa A Vảng cho biết thêm, trên thực tế không ít vụ việc khai thác gỗ, săn bắt, buôn bán động vật hoang dã có sự tiếp tay, bao che của người có chức, có quyền và sự làm ngơ của lực lượng chức năng. Do vậy, Luật cần quy định cụ thể hành vi này tại Điều 9 để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Theo đại biểu Mùa A Vàng, về mục đích sử dụng rừng, Điều 24 quy định HĐND cấp tỉnh quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ dưới 20 ha; rừng phòng hộ chắn gió, chắn sóng lấn biển dưới 100 ha; rừng sản xuất dưới 200 ha. Trong khi đó, tại khoản 1, Điều 25 quy định UBND cấp tỉnh được quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng đối với tổ chức trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quy định như vậy là chưa chặt chẽ, chưa rõ ràng, đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu sửa đổi, tránh chồng chéo về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Cho rằng các chính sách về bảo vệ và phát triển rừng quy định trong dự thảo Luật không thực tiễn, không đảm bảo phát triển rừng theo chuỗi giá trị và bền vững, ĐB Lê Quang Trí (Tiền Giang) đề nghị bổ sung một điều riêng về Chính sách Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng quy định chi tiết các chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

“Đặc biệt là các chính sách thu hút nguồn lực trồng rừng, khuyến khích ứng dụng công nghệ trong canh tác rừng, phát triển các mô hình sản xuất lâm nghiệp - ngư nghiệp - nông nghiệp - du lịch sinh thái phối hợp; khuyến khích chuyển đổi giống cây rừng có giá trị cao, xúc tiến thương mại lâm sản…”, ĐB Lê Quang Trí nhấn mạnh.

Băn khoăn đối tượng chủ rừng trong dự thảo Luật có phải chủ sở hữu rừng hay không, ĐB Dương Tấn Quân (Bà Rịa - Vũng Tàu) cho rằng: “Nếu không nêu cụ thể các quyền của chủ rừng có thể dẫn đến nhầm lẫn chủ rừng có các quyền của người sở hữu rừng. Mặt khác, cần nêu mối quan hệ giữa sở hữu rừng với quản lý đất rừng. Ban soạn thảo cần cân nhắc đưa vào dự thảo Luật quyền của chủ rừng đến đâu”. (Pháp Luật Việt Nam 20/6, tr3; Infonet.vn 20/6) Về đầu trang

Cần xây dựng luật về lâm nghiệp phù hợp thời kỳ mới

Luật Bảo vệ và phát triển rừng lần đầu được ban hành vào năm 1991 trong bối cảnh tài nguyên rừng bị suy thoái nghiêm trọng, tỷ lệ che phủ rừng của cả nước chỉ còn khoảng 28%. Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là khôi phục rừng bằng các chương trình, dự án của Chính phủ để phủ xanh, đất trống núi trọc. Để kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2005 – 2015, Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã sửa đổi, bổ sung và được QH thông qua tại Kỳ họp thứ 6, Khóa XI ngày 3.12.2004.

Hơn 25 năm qua, Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng theo mục tiêu quản lý chuyển từ nền lâm nghiệp lấy quốc doanh là chủ yếu sang nền lâm nghiệp nhân dân, đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia; kinh tế lâm nghiệp từ chủ yếu dựa vào khai thác, lợi dụng rừng tự nhiên sang bảo vệ, phục hồi rừng tự nhiên và trồng rừng mới, gắn phát triển kinh tế lâm nghiệp với phát huy vai trò môi trường sinh thái, quốc phòng an ninh và an sinh xã hội, nhờ đó, diện tích rừng cả nước năm 2016 là 14, 377 triệu ha với độ che phủ rừng 41,19%, hàng năm có thể khai thác được gần 20 triệu m3 gỗ, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 7 tỷ USD với mức tăng trưởng xuất khẩu bình quân 10 – 15%/năm. Lâm nghiệp là phân ngành kinh tế có tăng trưởng cao nhất trong nhóm các phân ngành kinh tế nông nghiệp. Mặc dù đạt được một số thành tựu quan trọng, nhưng đến nay Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế trong ngăn chặn tình trạng phá rừng, suy giảm rừng tự nhiên, lấn chiếm đất rừng còn diễn ra phức tạp; sản xuất lâm nghiệp bị chia cắt thành các giai đoạn riêng lẻ, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp; công nghiệp chế biến lâm sản chủ yếu nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, năng suất, giá trị gia tăng thấp; đóng góp của ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế của cả nước rất thấp, thu nhập của người làm nghề rừng thấp…

Mặt khác, phát triển sản xuất lâm nghiệp theo chuỗi giá trị cung ứng lâm sản đang trở thành xu hướng chủ đạo nhằm bảo đảm thương mại gỗ và sản phẩm gỗ hợp pháp và hướng tới quản lý tài nguyên rừng bền vững. Trong quá trình hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, ngành Lâm nghiệp nước ta phải tham gia vào chuỗi cung ứng lâm sản toàn cầu, tuân thủ việc truy xuất nguồn gốc gỗ theo quy định quốc tế. Vì vậy, hình thành liên kết giữa người sử dụng lâm sản với chủ rừng thông qua một chu trình khép kín từ quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản trở thành một yêu cầu bức thiết.

Thực tiễn đang đòi hỏi mọi hoạt động lâm nghiệp phải được hình thành từ sự phân công lao động xã hội; là một phân ngành, ngành nghề trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, phải có sự liên kết theo chuỗi các hoạt động lâm nghiệp nhằm tạo ra rừng, sản xuất và cung ứng lâm sản đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, tạo dựng lòng tin và đời sống xã hội, đảm bảo chế biến và xuất khẩu lâm sản có trách nhiệm, tạo dựng lòng tin của khách hàng nước ngoài và xây dựng thương hiệu của đồ gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế. Trên thực tế, trong những năm gần đây, công nghiệp chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ đã trở thành động lực chính thu hút hàng triệu hộ nông dân trồng rừng, góp phần hình thành trên 4,1 triệu ha rừng trồng ở nước ta.

Xuất phát từ những lý do trên, Luật Bảo vệ và phát triển rừng cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để trở thành Luật Lâm nghiệp với phạm vi điều chỉnh theo chuỗi giá trị của lâm nghiệp gồm tạo rừng, quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng rừng, chế biến, thương mại và dịch vụ rừng thì mới phát huy đầy đủ tiềm năng để phát triển lâm nghiệp bền vững, quản lý bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả, hội nhập quốc tế sâu rộng, đem lại lợi ích trực tiếp cho cá nhân, tổ chức làm lâm nghiệp và cho đất nước.

Theo Phó Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Lê Quang Huy: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 là văn bản pháp lý cao nhất trong lĩnh vực lâm nghiệp. Hơn 12 năm thực thi Luật, có nhiều kết quả tích cực đáng ghi nhận: Độ che phủ rừng, sản lượng gỗ, kim ngạch xuất khẩu lâm sản của nước ta đều tăng… Tuy nhiên, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, không còn thích hợp với tình hình phát triển hiện nay. Do vậy, việc Chính phủ trình Quốc hội dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) là cần thiết.Thứ nhất, dự thảo Luật đã quy định lại các cơ chế, chính sách, đồng thời hướng dẫn một cách cụ thể, rõ ràng về chủ rừng, cho thuê rừng… để người dân được hưởng lợi từ việc bảo vệ và phát triển rừng. Bởi, hơn ai hết chính những người dân bản địa, những người dân sống tại khu rừng, chủ rừng là người có đóng góp tích cực cho việc bảo vệ và phát triển rừng.

Thứ hai, lâu nay trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng và nhiều văn bản pháp quy khác có nói đến giao đất giao rừng cho dân. Tuy nhiên, trên thực tế việc này chưa hiệu quả. Trong dự thảo Luật đã bổ sung quy định rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư được giao rừng, sẽ tạo động lực cho cộng đồng quản lý, bảo vệ, phát triển rừng tốt hơn.

Ngoài ra, liên quan đến cơ chế tạo nguồn tài chính cho bảo vệ, phát triển rừng, dự thảo Luật đã khuyến khích, mở rộng các hình thức kinh doanh dịch vụ môi trường rừng. Tôi được biết nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng hàng năm khoảng 1.300 tỷ đồng, chiếm 22% tổng đầu tư toàn xã hội cho ngành lâm nghiệp. Rõ ràng bất kỳ ai sử dụng môi trường rừng thì buộc phải đóng tiền để nguồn kinh phí này được sử dụng cho mục đích hỗ trợ nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường Minh Hoàng ý kiến: Với vai trò đại diện cơ quan thẩm tra, tôi cho rằng những nội dung của dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ và phát triển rừng. Đặc biệt, dự thảo Luật cũng không chồng chéo, mâu thuẫn với các luật có liên quan. Cụ thể:

Đối với Luật Đất đai: Không có bất cập hoặc chồng chéo giữa phân loại đất quy định tại Luật Đất đai năm 2013 và phân loại rừng tại dự thảo Luật này, theo đó, Luật Đất đai phân đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất; dự thảo Luật này cũng phân 3 loại rừng: Đặc dụng, phòng hộ, sản xuất; quy định giao rừng phải gắn với giao đất; thu hồi rừng phù hợp với thu hồi đất; điều tra rừng, kiểm kê rừng phối hợp chặt chẽ với thống kê, kiểm kê đất đai…

Đối với Luật Đa dạng sinh học: Việc quy định các loại rừng đặc dụng tại dự thảo Luật (gồm vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài, sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan) và quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý nhà nước về rừng đặc dụng không mâu thuẫn với phân cấp khu bảo tồn quy định tại Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và phù hợp với phân cấp quản lý của Chính phủ quy định tại Nghị định số 15/2017 về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Đối với Luật Đầu tư công: Quy định thẩm quyền giải quyết chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng trong dự thảo Luật phù hợp với tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia do QH quyết định tại Luật Đầu tư công.

Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang Ma Thị Thúy thì cho rằng: Xã hội hóa nghề rừng và tạo nguồn tài chính bền vững cho bảo vệ và phát triển rừng là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước từ nhiều năm nay. Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) lần này đã tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho việc triển khai thực hiện xã hội hóa nghề rừng theo đúng chủ trương, định hướng của Đảng và và Nhà nước, cụ thể: Tại Khoản 5 Điều 4 dự thảo Luật quy định về nguyên tắc hoạt động lâm nghiệp, trong đó phát triển lâm nghiệp bền vững là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; Nhà nước phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý lâm nghiệp, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động lâm nghiệp, bảo đảm sự tham gia của các thành phần kinh tế.

Ngoài ra, trong dự thảo Luật đã bổ sung một nội dung mới quy định về Dịch vụ môi trường rừng (Mục 4, gồm các Điều 75, 76, 77) – Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 chưa quy định. Thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ tạo lập được nguồn lực tài chính mới, ổn định, bền vững phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng (theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn từ năm 2011 – 2016 thu tiền dịch vụ môi trường rừng toàn quốc được: 6.510,7 tỷ đồng). Đây là nguồn tài chính quan trọng, đóng góp rất lớn vào công tác bảo vệ phát triển rừng, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên; góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; không những vậy, nguồn tiền từ dịch vụ môi trường rừng đã góp phần tháo gỡ khó khăn về kinh phí hoạt động cho các ban quản lý rừng, các công ty lâm nghiệp trong bối cảnh Chính phủ có chủ trương dừng khai thác chính gỗ từ rừng tự nhiên.

Do đó, Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) trình QH cho ý kiến lần này sẽ tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để Chính phủ, các cơ quan liên quan ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chuyển đổi ngành lâm nghiệp từ một ngành kinh tế có nhiệm vụ khai thác tài nguyên rừng là chính sang xây dựng ngành lâm nghiệp với nhiệm vụ cơ bản là xây dựng và phát triển vốn rừng; đẩy mạnh sản xuất lâm sản và phát triển các dịch vụ lâm nghiệp trên cơ sở vốn rừng và tài nguyên rừng được quản lý bền vững. (Baovemoitruong.org.vn 19/6) Về đầu trang

Đến năm 2020 tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42%

Đó là một trong những mục tiêu của Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 - 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Mục tiêu tổng quát mà Chương trình hướng tới là nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, tăng giá trị rừng sản xuất trên đơn vị diện tích; góp phần đáp ứng các yêu cầu về giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân làm nghề rừng, gắn với tiến trình xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.

Phấn đấu đến năm 2020, tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt từ 5,5% đến 6,0%/năm; tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42%, diện tích rừng các loại đạt 14,4 triệu ha; năng suất rừng trồng bình quân đạt 20 m3/ha/năm; giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt từ 8,0 đến 8,5 tỷ USD và duy trì ổn định 25 triệu việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng, gắn với xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an ninh, quốc phòng.

Giảm vi phạm về bảo vệ và phát triển rừng

Chương trình thực hiện từ năm 2016 đến hết năm 2020 với 3 nhiệm vụ chính: Bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên; phát triển và nâng cao năng suất, chất lượng rừng; nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm lâm nghiệp.

Trong đó, Chương trình hướng tới đảm bảo 15% diện tích hệ sinh thái rừng bị suy thoái được phục hồi và bảo tồn, đặc biệt là hệ thống rừng đặc dụng; đến năm 2020, tăng thêm khoảng 100.000 ha rừng đặc dụng. Số lượng loài nguy cấp, quý, hiếm bị đe dọa tuyệt chủng và số lượng quần thể các loài được cải thiện; tăng cường năng lực thực thi pháp luật, giảm căn bản tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, trong đó diện tích rừng bị thiệt hại và số vụ vi phạm giảm 30 - 35% so với giai đoạn 2011 - 2015... (Báo Chính Phủ Điện Tử  19/6; Đấu Thầu Online 19/6; Thoibaotaichinhvietnam.vn 19/6; Xây Dựng Online 19/6) Về đầu trang

Một năm đóng cửa rừng Tây Nguyên: Rừng vẫn tiếp tục chảy máu

Mặc dù đã có lệnh đóng cửa tự nhiên cách đây 1 năm nhưng chỉ trong 5 tháng đầu năm, Tây Nguyên đã xảy ra tới hơn 2.100 vụ, với gần 300 ha rừng bị...

Một vụ vận chuyển lâm sản với khối lượng rất lớn bị lực lượng biên phòng Gia Lai phát hiện và bắt giữ vào cuối năm 2016. 5 xe tải chở gần 100m3 được tổ chức thành đoàn đã cố tình chống trả lực lượng chức năng để tẩu tán khi bị phát hiện.

Rừng liên tiếp bị phá, gỗ liên tục bị đưa ra khỏi rừng đã đặt ra nhiều dấu hỏi về công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng như kiểm soát lâm sản tại Tây Nguyên. Rất nhiều vụ việc có dấu hiệu yếu kém, thiếu trách nhiệm của lực lượng bảo vệ rừng, thậm chí cấu kết với lâm tặc để rút ruột rừng.

Liều thuốc "cầm máu" cho rừng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và cam kết của chính quyền các địa phương vẫn chưa thực sự hiệu quả. Ở đây, vấn đề "trong sạch" của lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ rừng đang là một dấu hỏi lớn. Bên cạnh đó, việc xử lý các vụ phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép tuy đã có nhưng chưa thật sự quyết liệt. Hầu hết các vụ việc này mới chỉ dừng lại ở phần ngọn mà không tìm ra kẻ cầm đầu. Như thế, việc máu rừng Tây Nguyên vẫn liên tục chảy cũng là điều dễ hiểu. (VTVNews 19/6) Về đầu trang

Về đầu trang

Thừa Thiên - Huế: Phát triển rừng trồng gỗ lớn và quản lý bền vững

Ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên - Huế xây dựng kế hoạch phát triển trồng rừng gỗ lớn trong giai đoạn 2017 - 2020; trong đó toàn tỉnh đưa vào 13.000 ha rừng trồng cây gỗ lớn.

Trong số diện tích trồng rừng gỗ lớn vừa nêu, các địa phương đặt mục tiêu nâng tỷ lệ rừng được cấp chứng chỉ FSC- Forest Stewardship Council (Hội đồng quản lý rừng) lên 40% so với diện tích rừng gỗ lớn, tương đương 5.000 ha rừng trồng sản xuất sử dụng giống cây lâm nghiệp thân thiện với môi trường.

Năm 2017, toàn tỉnh có kế hoạch mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ FSC tại 6 huyện, thị xã với 32 xã, phường, thị trấn tham gia.

Chi cục Kiểm lâm và Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên - Huế phối hợp Công ty Scansia Pacific triển khai kế hoạch quản lý rừng bền vững theo hướng kinh doanh gỗ lớn có chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC.

Qua khảo sát, đánh giá của Tổ chức Tư vấn Quốc tế (GFA), trên địa bàn tỉnh hiện có gần 4.000 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC; trong đó, trên 3.000 ha rừng của Công ty Lâm nghiệp Tiền Phong và trên 950 ha rừng của 14 nhóm hộ (241 hộ) tại 11 xã, phường thuộc 4 địa phương (huyện Phong Điền, Phú Lộc và thị xã Hương Trà, Hương Thủy).

Theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên - Huế, việc trồng rừng gỗ lớn và quản lý rừng theo chứng chỉ FSC là điều kiện thuận lợi và cơ hội cho các sản phẩm rừng trồng của nông hộ, doanh nghiệp tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế; đồng thời nâng cao giá trị sản phẩm gỗ rừng trồng, phát triển kinh tế, góp phần an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, khó khăn cho các nhóm hộ tham gia trồng rừng gỗ lớn hiện nay là phải có nguồn vốn để kéo dài tuổi rừng. Công ty Scansia Pacific cam kết hỗ trợ nguồn vốn với mức lãi xuất thấp đối với rừng 4 năm tuổi trở lên và sẽ thu mua gỗ rừng trồng gỗ lớn của các hộ dân đã được cấp chứng chỉ FSC với giá mua cao hơn thị trường từ 15 - 20%.

Đối với cây giống, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên - Huế giao Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Tiền Phong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp, sản xuất cây con bằng phương pháp nuôi cấy mô thay thế lai hom trên cây keo lai.

Đối với cây keo lai, rừng trồng từ keo lai hom trước đây thường có tuổi thọ 6 - 7 năm, sau thời gian này cây có hiện tượng rỗng ruột, ra hoa, cây bị nấm bệnh. Điều này đã được khắc phục bằng biện pháp nhân giống vô tính bằng nuôi cấy mô cây keo lai.

Ưu điểm của nuôi cấy mô keo lai là tái tạo được sự non trẻ (hay làm trẻ hóa những cây thân gỗ). Giống keo lai được sản xuất từ phương pháp nuôi cấy mô đỉnh sinh trưởng có sức sống cao, ưu thế hơn trong sản xuất gỗ lớn, tuổi thọ keo lai mô kéo dài đến hơn 10 năm.

Đến nay, cây giống sản xuất bằng phương pháp này được các đơn vị trồng rừng, người dân ưa chuộng vì chất lượng cây trồng đảm bảo, ít bị gãy đổ do gió bão. Nếu những năm trước, năng suất gỗ rừng trồng chỉ đạt khoảng 50 - 60m3/ha thì nay do nguồn giống được cải thiện, chất lượng tốt nên năng suất đạt 100 - 120 m3/ha, tăng gấp hai lần.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết, các địa phương trong tỉnh phát triển trên 85.000 ha rừng trồng và hơn 9.000 ha rừng trồng cây công nghiệp, đặc sản.

Tuy nhiên, người trồng rừng thường chỉ trồng và chăm sóc trong khoảng 4- 5 năm đã khai thác để bán nguyên liệu gỗ dăm nên giá trị sản phẩm gỗ nhỏ rất thấp, bình quân khoảng 60 - 80 triệu đồng/ha/cây. Trong lúc đó, nếu nuôi dưỡng rừng theo hướng trồng rừng gỗ lớn đến 7- 8 năm, có thể cho giá trị bình quân khoảng 200 - 250 triệu đồng/ha, cao hơn gấp 3 lần.

Thời gian tới, tỉnh Thừa Thiên - Huế tập trung phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn, đảm bảo tính lâu dài và bền vững trong phát triển trồng rừng kinh tế cung cấp gỗ lớn cho công nghiệp chế biến lâm sản ở những địa bàn có tiềm năng phát triển rừng. Tỉnh thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho người trồng rừng tham gia vào việc quản lý rừng trồng bền vững theo tiêu chuẩn FSC, giảm thiểu thiệt hại cho người trồng rừng trước những rủi ro thiên tai gây ra.. (Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 19/6) Về đầu trang

Đà Nẵng : Yêu cầu cung cấp số điện thoại di động của Chi cục trưởng Kiểm lâm cho báo chí

Lãnh đạo thành phố đã yêu cầu cung cấp số điện thoại di động của Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố cho báo chí phục vụ việc phòng chống buôn bán động vật hoang dã trái phép.

Theo đó, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được yêu cầu chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm thành phố tăng cường tuần tra, kiểm tra, xử lý đúng quy định pháp luật việc buôn bán động vật hoang dã trên địa bàn. Đồng thời, số điện thoại di động của Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, số điện thoại trực của Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng cần được cung cấp đến các cơ quan truyền thông trên địa bàn. Sau khi cung cấp số điện thoại, đề nghị thông báo, tuyên truyền cho các tổ chức, cá nhân biết; nếu phát hiện có buôn bán động vật hoang dã cần kịp thời điện báo để Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cử lực lượng xử lý theo đúng quy định. (Drt.danang.vn 19/6) Về đầu trang

Bình Định tăng cường phòng cháy chữa cháy rừng

Nhằm bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng, 11/11 huyện, thị xã và thành phố Quy Nhơn của tỉnh Bình Định đã thành lập 136 ban chỉ huy bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng tại các phường, xã, thị trấn và lập 549 tổ, đội bảo vệ phòng cháy chữa cháy rừng ở các địa bàn trọng yếu với trên 5.720 người tham gia; tổ chức nhiều đợt tuyên truyền về phòng cháy chữa cháy rừng.

Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định đã trang bị 27 máy thổi gió loại lớn cùng nhiều phương tiện và dụng cụ phòng cháy chữa cháy khác cho các hạt kiểm lâm. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định cũng triển khai thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy rừng theo “4 phương châm tại chỗ ”(lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ).

Ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định cho biết, nhờ chủ động các biện pháp phòng cháy rừng kết hợp với công tác tuần tra, kiểm soát bảo vệ rừng nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh Bình Định chỉ xảy ra 3 vụ cháy rừng trồng, gây thiệt hại 1,62 ha rừng, giảm 17 vụ so với năm 2016.

Từ đầu năm 2017 đến nay, lực lượng kiểm lâm các cấp trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 25 vụ phá rừng tự nhiên, so với năm 2016 giảm 49 vụ. Lực lượng Kiểm lâm các cấp tổ chức 724 đợt tuần tra bảo vệ rừng, qua đó phát hiện xử lý nhiều vụ khai thác gỗ, lò đốt than, lán trại trong rừng. (Dantocmiennui.vn 19/6) Về đầu trang

Na Hang, Tuyên Quang: Diễn tập ứng phó với cháy rừng

Với phương châm Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, các tổ chức đoàn thể tham mưu, lấy lực lương Công an, Quân đội, Kiểm lâm làm nòng cốt. Cuộc diễn tập ứng phó với tình huống cháy rừng tại xã Thanh Tương được chia làm 2 giai đoạn: Diễn tập phần cơ chế với tình huống cháy rừng tại địa phương đã đặt ra các vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ rừng và ứng phó với tình huống chữa cháy rừng trên địa bàn. Giai đoạn 2 diễn tập thực binh, thực hành chữa cháy rừng tại thôn.

Với phương châm 4 tại chỗ, sau gần một giờ tiến hành các biện pháp chữa cháy, làm đường băng cản lửa, không cho đám cháy lan rộng, các lực lượng đã khống chế và dập tắt khu vực rừng bị cháy, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và tài sản của nhân dân. 

Na Hang hiện có trên 54.000 ha rừng, trong đó dự báo khả năng cháy rừng tập trung chủ yếu ở khu vực rừng nguyên sinh, nơi có nhiều loại cây giang, nứa khô, có tầng thực bì dày, có nhiều vật liệu dễ cháy.

Để thực hiện tốt công tác phòng và ứng phó kịp thời với các tình huống cháy rừng xảy ra, huyện Na Hang đã tập trung tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra rừng, nắm chắc tình hình thời tiết, thường xuyên thông báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để nhân dân nâng cao ý thức phòng, chống cháy rừng.

Qua cuộc diễn tập giúp cho Ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng huyện Na Hang bổ sung Kế hoạch điều chỉnh, phương án phòng cháy, chữa cháy rừng sát với tình hình thực tế của địa phương. (Tuyenquangtv.vn 19/6) Về đầu trang

Tuyên Quang: Na Hang tổng tiền phạt các vụ vi phạm quản lý bảo vệ rừng lên đến 1,3 tỷ đồng

Trong 6 tháng đầu năm, lực lượng Kiểm lâm huyện Na Hang đã tổ chức tuần tra, kiểm tra xử lý 66 vụ vi phạm quản lý và bảo vệ rừng, tịch thu 18,040 m3 gỗ tròn các loại; 15,203m3 gỗ xẻ các loại; 6 cá thể động vật rừng quý hiếm và 27 phương tiện, thu nộp vào ngân sách nhà nước trên 1,3 tỷ đồng.

Trong thời gian tiếp theo, Hạt Kiểm lâm Na Hang tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát các khu vực rừng trọng điểm, phối hợp tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, PCCCR bảo vệ tốt tài nguyên rừng, xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm quản lý và bảo vệ rừng. (Tuyenquang.gov.vn 19/6) Về đầu trang

Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tổ chức tuyên truyền chính sách và chi trả dịch vụ môi trường rừng cho nhân dân xã Hà Tây

Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Gia Lai vừa phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Chư Pah và UBND xã Hà Tây tổ chức buổi tuyên truyền chính sách và chi trả dịch vụ môi trường rừng cho nhân dân 3 làng: Kon Chang, Kon Hơng Lẽh và Kon Sơ Lăl, xã Hà Tây.

Tham gia buổi tuyên truyền có đại diện các ngành đoàn thể của địa phương và trên 250 hộ dân tham gia công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa bàn xã Hà Tây. Tại buổi tuyên truyền, đại diện Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Gia Lai, Hạt kiểm lâm huyện đã tuyên truyền cho bà con địa phương về mục đích, ý nghĩa trong việc quản lý, bảo vệ rừng; những nguồn lợi từ rừng mang lại cho con người; các chế độ chính sách đối với người dân khi tham gia bảo vệ tài nguyên rừng… Tại đây bà con cũng đã bày tỏ nguyện vọng, các ngành chức năng quan tâm hơn nữa đối với những người tham gia bảo vệ rừng, có chính sách phù hợp nhằm đảm bảo đời sống của người dân, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng…

Sau buổi tuyên truyền, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Gia Lai đã tiến hành chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng và tặng quà cho bà con, tổng số tiền chi trả đợt này là 150 triệu đồng. Được biết, địa bàn xã Hà Tây có gần 3.700ha rừng đã được giao khoán cho 251 hộ và 2 nhóm hộ quản lý, bảo vệ. Hàng tuần, các làng đã cử người vào rừng tuần tra bảo vệ, nhờ đó mà đã hạn chế được tình trạng đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản trái phép; ý thức, trách nhiệm của người dân ngày càng nâng cao, nên diện tích rừng trên địa bàn phát triển bền vững. (Gialaitv.vn 19/6) Về đầu trang

Tuyên Quang: Cần chính sách trợ giá để nâng cao chất lượng rừng trồng

Trồng rừng bằng giống keo lai mô, keo hạt nhập ngoại được đánh giá là một trong những giải pháp trọng tâm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng. Tuy nhiên, do giá bán giống cao hơn so với keo lai giâm hom, keo hạt nên diện tích này vẫn khá khiêm tốn.

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chiêm Hóa đưa cây keo lai mô vào trồng từ năm 2015. Trong năm nay, đơn vị tiếp tục trồng thêm khoảng 3 ha rừng bằng giống này, nâng tổng diện tích rừng trồng bằng giống keo lai mô lên 10 ha. Anh Ma Phúc Trượng, Phó trưởng Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật khẳng định, rừng trồng bằng keo lai mô có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích nghi với điều kiện thời tiết bất thường như hiện nay. Anh Trượng minh chứng, trận mưa bão tháng 4-2016 khiến 1,9 ha rừng trồng bằng keo lai mô của đơn vị bị cong lướt, tuy nhiên không cần tác động của con người, toàn bộ diện tích này sau đó tự hồi phục, vươn thẳng và sinh trưởng, phát triển bình thường.

Công ty Lâm nghiệp Hàm Yên hiện cũng đã trồng 220 ha rừng bằng giống keo lai mô. Anh Bùi Thiện Tôn, Trưởng Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật cho biết, rừng trồng bằng keo lai mô có độ đồng đều hơn do tỷ lệ cây bị chết, gãy đổ ít hơn so với keo lai giâm hom. Trong năm nay, đơn vị sẽ tiếp tục đưa vào trồng khoảng 80 ha rừng bằng giống keo này.

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, giai đoạn 2010 - 2016, bình quân mỗi năm toàn tỉnh trồng trên 14.500 ha rừng, trong đó diện tích rừng trồng bằng giống chất lượng cao chiếm tỷ lệ thấp. Cụ thể, keo hạt nhập ngoại là 3.726,7 ha, chiếm 4,9% tổng diện tích; rừng trồng bằng giống keo lai mô là 366,6 ha, chiếm 1% tổng diện tích. Bình quân 1 ha rừng/7 năm chỉ đạt 70 m3 gỗ, lợi nhuận của người trồng rừng đạt thấp, khoảng 5 triệu đồng/ha/năm.

Nguyên nhân là do người trồng rừng vẫn sử dụng cây giống gieo ươm từ hạt chất lượng thấp, không đảm bảo; nguồn cây giống được sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy mô chất lượng cao cung ứng cho rừng trồng còn thiếu. Thêm vào đó, giá bán keo lai mô khá cao, từ 3.000 - 4.000 đồng/cây giống, gấp từ 2 đến 3 lần so với keo lai giâm hom, keo hạt... nên hầu hết mới chỉ có các công ty lâm nghiệp đầu tư trồng rừng, hộ gia đình, cá nhân gần như rất ít tiếp cận với nguồn giống này.

Để đạt được mục tiêu 80% diện tích rừng trồng bằng giống chất lượng cao vào năm 2020, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cần có chính sách hỗ trợ thiết thực đối với người trồng rừng. Vì diện tích rừng trồng trong nhân dân chiếm đến 85% tổng diện tích rừng trồng mới mỗi năm nên việc hỗ trợ lần này sẽ tập trung vào các hộ gia đình, cá nhân. Hiện sở đã tham mưu cho UBND tỉnh, trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết về hỗ trợ giống cây lâm nghiệp chất lượng cao giai đoạn 2017- 2020 cho hộ gia đình, cá nhân.

Theo đó, tổng diện tích hỗ trợ giai đoạn này là 14.600 ha, trong đó, hỗ trợ diện tích rừng trồng bằng keo lai mô là 7.400 ha, diện tích rừng trồng bằng keo hạt nhập ngoại là 7.200 ha. Người trồng rừng khi có đủ diện tích từ 0,5 ha trở lên sẽ được hỗ trợ 1 lần toàn bộ cây giống để trồng rừng theo đúng mật độ, hỗ trợ chi phí vận chuyển cây giống đến trung tâm xã, hỗ trợ chi phí khảo sát, xác định vị trí, diện tích, ký kết hợp đồng trồng rừng...  (Baotuyenquang.com.vn 19/6) Về đầu trang

Thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh: Tăng cường thực hiện các biện pháp công tác PCCC.

Trước tình hình diễn biến phức tạp của thời tiết, nắng nóng kéo dài, nguy cơ về cháy, nổ luôn tiền ẩn, để chủ động phòng ngừa và hạn chế cháy nổ xẩy ra, nhiều đơn vị cơ sở trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh tăng cường thực hiện các biện pháp công tác PCCC.

Với phương châm: chủ động, phòng ngừa, UBND thị xã Hồng Lĩnh đã ban hành nhiều văn bản yêu cầu các ngành, đơn vị địa phương tăng cường thực hiện các biện pháp công tác PCCC, gắn với các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ. Chỉ đạo đài truyền thanh, truyền hình tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền về về những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến cháy, nổ, cách phòng tránh trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người biết, chấp hành.

Chi nhánh công nghiệp chất mỏ Hà Tĩnh, các đơn vị sử dụng VLNCN, Bệnh viện đa khoa Hồng Lĩnh, Trường THPT Hồng Lĩnh đã chủ động xây dựng kế hoạch, phối hợp với Đội cảnh sát PCCC&CNCH Hồng Lĩnh tổ chức huấn luyện nghiệp vụ PCCC cho lực lượng PCCC cơ sở, thực tập phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, qua đó đã nâng cao được chiến kỷ thuật, khả năng tổ chức chữa cháy cho CBCN viên khi có hỏa hoạn.

Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, phối hợp Thị đoàn, hạt kiểm lâm, UBND các xã, phường có rừng ra quân phát quang, thu dọn thực bì tại 140 km đường băng cản lữa và đường đi chữa cháy ở các huyện và thị xã Hồng Lĩnh, tăng cường quân số ứng trực, xây dựng cũng cố 44 điểm trực chữa cháy tại những khu rừng trọng điểm.

Đội cảnh sát PCCC&CNCH Hồng Lĩnh phối hợp Công an thị xã, các phòng ban chức năng của UBND thị, các đơn vị cơ sở, tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn về an toàn PCCC tại các cơ sở, PCCR, chợ, nhà cao tầng, khu dân cư tập trung, các cơ sở kinh doanh Karaoke, nhà nghỉ, khách sạn, làng nghề, an toàn cháy, nổ trong bảo quản, vận chuyển và sử dụng VLNCN. Mở 4 lớp huấn luyện nghiệp vụ PCCC có trên 300 lượt CBCN viên của các đơn vị tham gia. Tổ chức thực tập 3 phương án chữa cháy tại các cơ sở trọng điểm. Phối hợp các cơ quan thông tin đại chúng viết đăng phát nhiều tin, bài và tổ chức nói chuyền truyên truyền công tác PCCC cho hàng trăm người nghe tại các cơ quan, đơn vị, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho người dân trong việc PCCC.

Nhờ chủ động tăng cường các biện pháp công tác PCCC, nên từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh cháy, nổ không xẩy ra, phục vụ có hiệu quả các hoạt động chính trị, kinh tế xã hội trên địa bàn. (Conganhatinh.gov.vn 19/6) Về đầu trang

Bạc Liêu: Phát huy vai trò của “Tổ tự quản rừng phòng hộ về ANTT” tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình

Rừng phòng hộ bị xâm hại là một vấn đề luôn được toàn xã hội quan tâm, nạn chặt phá rừng và tình hình mất an ninh trật tự xung quanh khu vực rừng phòng hộ còn diễn ra thường xuyên. Tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tình trạng này vẫn còn diễn biến khá phức tạp, gây bức xúc trong nhân dân.

 Trước tình hình trên, năm 2016 Đảng ủy, Ban chỉ huy Công an huyện Hòa Bình đã chỉ đạo các Đội nghiệp vụ và Công an xã Vĩnh Thịnh phối hợp với Ban chỉ huy Quân sự huyện Hòa Bình, Hạt kiểm lâm, tiến hành khảo sát tình hình liên quan đến an ninh trật tự và nạn chặt phá rừng phòng hộ trái phép khu vực ven biển tại xã Vĩnh Thịnh.

Công an huyện Hòa Bình đã tham mưu cho Giám đốc Công an tỉnh thành lập “Tổ tự quản rừng phòng hộ về ANTT”. Sau khi được thành lập và đi vào hoạt động, ban đầu “Tổ tự quản rừng phòng hộ về ANTT” gồm 20 thành viên. Các thành viên đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng tuyên truyền được 197 cuộc đến các hộ dân sống trong khu vực với hơn 2.300 lượt người tham dự. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kịp thời thông báo âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và các loại tội phạm; tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân không tham gia các hoạt động tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa mới, an toàn về ANTT tăng cường công tác bảo vệ rừng, không chặt phá, khai thác trái phép tài nguyên rừng, nhắc nhở bà con nhận khoán đất lâm nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh việc tháo xổ nước trong khu kết hợp sản xuất đảm bảo cho cây rừng phát triển.

Qua đó, ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người dân được nâng lên và chuyển biến rõ nét, những vụ việc vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội được kiềm chế, đặc biệt nạn chặt phá rừng giảm đáng kể so với trước.

Từ khi thành lập và đi vào hoạt động đến nay, Tổ tự quản đã tổ chức cho các thành viên phối hợp với các lực lượng chức năng tuần tra, kiểm soát tình hình ANTT trên địa bàn tuyến ven biển được 37 cuộc, với hơn với 296 lượt lực lượng tham gia. Qua đó đã phát hiện 31 vụ vi phạm về chặt phá rừng, đắp nền nhà trái phép trong khu vực rừng phòng hộ,... xử phạt vi phạm hành chính 6 vụ với số tiền hơn 16 triệu đồng, còn lại nhắc nhở người dân không tái phạm. Bên cạnh đó, Tổ tự quản cũng tích cực tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức của người dân sống trong khu vực về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên rừng phòng hộ ven biển. Qua đó, nhân dân đã cung cấp cho lực lượng chức năng 22 nguồn tin báo liên quan đến bảo vệ rừng như chặt phá cây rừng trái phép, các hộ dân tích tụ nước cao gây ngập úng cây rừng,...

Tổ tự quản cũng thường xuyên vận động nhân dân trong vực tuyến rừng phòng hộ tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phát hiện, tố giác tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Nhân dân đã kịp thời phát hiện và cung cấp cho lực lượng Công an nhiều nguồn tin có giá trị liên quan đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cũng như hoạt động của các loại tội phạm, giúp lực lượng Công an bắt, xử lý nhiều đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật và các loại tệ nạn xã hội, đảm bảo ổn định tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Ông Trần Văn Điều, người dân sống trong khu vực rừng phòng hộ chia sẻ: “Tổ tự quản rừng phòng hộ về ANTT được thành lập đã giúp người dân trong khu vực rừng phòng hộ sống hòa thuận, đoàn kết, tự giác, chấp hành tốt pháp luật. Ý thức, trách nhiệm tự bảo vệ tài sản, phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật cũng như tố giác các loại tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội của người dân được nâng lên rõ rệt”

Hy vọng rằng, với sự quyết tâm của các thành viên trong “Tổ tự quản rừng phòng hộ về ANTT” và sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo, mô hình “Tổ tự quản rừng phòng hộ về ANTT” sẽ phát huy hiệu quả hơn nữa, giúp nhân dân an tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương. (Conganbaclieu.gov.vn 19/6)Về đầu trang

Điện Biên nỗ lực ổn định dân cư và giữ rừng Mường Nhé

Nhiều năm qua, di cư tự do và phá rừng ở Mường Nhé, tỉnh Điện Biên vốn là vấn đề nóng. UBND tỉnh Điện Biên đã ban hành Kế hoạch 420 nhằm giải quyết dứt điểm tình trạng phá rừng và di cư tự do trên địa bàn huyện Mường Nhé.

Đến nay, việc triển khai kê hoạch đã có những hiệu quả bước đầu. Thời gian thực hiện kế hoạch vẫn còn dài và khó khăn, vất vả, tuy nhiên các lực lượng chức năng thực hiện công tác này đang nỗ lực với quyết tâm cao, ngăn chặn triệt để tình trạng phá rừng và di cư tự do, trả lại màu xanh cho những cánh rừng biên cương nơi cực Tây tổ quốc. (Quochoitv.vn 19/6) Về đầu trang

Điện Biên: Tuần Giáo phấn đấu hoàn thành sớm kế hoạch trồng rừng 2017

Năm 2017, huyện Tuần Giáo phấn đấu hoàn thành trồng mới 65,83ha rừng sản xuất, rừng phòng hộ và trồng rừng thay thế. Để đảm bảo mục tiêu kế hoạch đề ra, hiện nay huyện Tuần Giáo đang tích cực chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, chính quyền các xã tham gia trồng rừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân chuẩn bị những điều kiện cần thiết để trồng rừng.

Căn cứ tình hình thực tế của địa phương, UBND huyện Tuần Giáo xây dựng chương trình thực hiện và tập trung chỉ đạo các phòng chuyên môn, UBND các xã, thị trấn tiến hành rà soát quỹ đất để đăng ký trồng rừng; giao chỉ tiêu cho từng xã. Công tác tuyên truyền về cơ chế chính sách nhận giao khoán, trồng và chăm sóc rừng cũng được cấp ủy, chính quyền địa phương chú trọng nên hầu hết người dân đều nhận thức được lợi ích cũng như tầm quan trọng của việc trồng rừng, từ đó tích cực hưởng ứng, tham gia trồng rừng. Cùng với đó, công tác chuẩn bị cây giống cũng được triển khai thực hiện tốt.

Rút kinh nghiệm từ vụ trồng rừng năm 2016, huyện giao chỉ tiêu 60ha nhưng chỉ thực hiện được gần 17ha, do triển khai trồng vào đúng thời điểm nắng nóng nhất trong năm khiến một số diện tích rừng mới trồng bị chết. Vì vậy, năm nay UBND huyện đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tích cực triển khai công tác chuẩn bị trồng rừng từ sớm để đảm bảo khung thời vụ. Huyện yêu cầu 2 đơn vị cung ứng cây giống là Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tuần Giáo và Công ty Cổ phần Rừng việt Tây Bắc chủ động kế hoạch gieo ươm cây giống (chủ yếu cây mỡ và keo) và tiến hành các biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại cây giống để đảm bảo tỷ lệ sống cao nhất sau khi trồng.

Cùng với các cơ quan chuyên môn cấp huyện, các cơ sở tham gia trồng rừng cũng tích cực chuẩn bị cho mùa trồng rừng 2017. Ông Cà Văn Lả, Chủ tịch UBND xã Quài Tở, cho biết: Năm nay xã được giao chỉ tiêu trồng mới 10ha rừng sản xuất tập trung. Để sớm hoàn thành kế hoạch huyện giao, từ đầu tháng 2 xã đã tổ chức họp dân và tuyên truyền đến người dân về các chính sách trồng và bảo vệ rừng. Cán bộ lâm nghiệp huyện cũng hướng dẫn bà con phát dọn, xử lý thực bì, đào hố... Vì vậy công tác trồng rừng trên địa bàn diễn ra thuận lợi, đến nay xã đã hoàn thành kế hoạch trồng rừng.

Theo bà Phạm Thị Tuyên, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tuần Giáo, thì ngay từ cuối năm 2016, UBND huyện đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và UBND các xã, thị trấn tập trung rà soát, hoàn thành sớm việc thiết kế diện tích trồng rừng; chủ động sản xuất đủ cây giống đảm bảo chất lượng; hướng dẫn các tổ chức, cá nhân, hộ dân lập hồ sơ thiết kế trồng rừng theo đúng quy định, phân vùng từng loại cây lâm nghiệp phù hợp để nâng cao hiệu quả trồng rừng. Theo kế hoạch huyện giao, phải hoàn thành trước tháng 7, đến nay toàn huyện đã trồng mới được gần 40ha rừng sản xuất, chủ yếu tập trung tại các xã: Chiềng Đông, Quài Tở và Quài Nưa. Hiện còn gần 30ha phấn đấu sẽ hoàn thành trong khung thời vụ. Mỗi hộ dân tham gia trồng rừng sẽ được hỗ trợ 10 triệu đồng/ha đối với cây mỡ và 7 triệu đồng/ha đối với cây keo trong vòng 4 năm…

Công tác trồng rừng năm 2017 đang được huyện Tuần Giáo khẩn trương triển khai theo kế hoạch đã đề ra. Với sự chỉ đạo sát sao của UBND huyện, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn và hưởng ứng tích cực của nhân dân, huyện Tuần Giáo phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng trong tháng 6. (Baodienbienphu.info.vn 19/6) Về đầu trang

Điện Biên: Chuyện giữ rừng của những “kiểm lâm” già

Họ là những người đã đem công sức và nhiệt huyết để giữ từng mảnh đất, tán lá, cành cây của rừng. Họ, thậm chí còn đem cả tính mạng của mình để giữ cho rừng xanh mãi. Họ coi đó là trách nhiệm, là nhiệm vụ thiêng liêng, mặc dù chẳng ai bắt mình phải thế cả. Họ không ai khác là 65 ông già ở bản Tông Khao, xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Điều trước tiên cần khẳng định, công việc giữ rừng không chỉ một mình những người ở Tông Khao mới làm được, nhưng đúng là hiếm nơi nào lại có mô hình đặc sắc, quyết tâm giữ được tán rừng bất tận như ở Tông Khao. Theo ông Lò Văn Cu, Chi hội trưởng Hội NCT, diện tích rừng mà chị Hội tham gia bảo vệ với tổng diện tích 42,7ha, trong đó 30 ha là rừng tái sinh, 12,7 ha rừng trồng mỗi năm.

Tôi theo chân ông Lò Văn Cu trong một sáng đi tuần rừng. Vẫn như mọi khi, công việc được bắt đầu từ 5h sáng cho đến cuối buổi chiều. Ông Lò Văn Cu dắt một con dao rựa đằng sau lưng, chuẩn bị túi rết, cơm nắm muối vừng, thế là lên đường. Vừa đi ông vừa giới thiệu từng loại cây mà ông và những người trong chi hội đang gìn giữ bằng tất cả tâm sức của mình. Ông Cu bảo, rừng là lá phổi xanh, là bà mẹ thiên nhiên và cánh tay lôi nhiệm màu nâng đỡ cho hệ sinh thái của chúng. Thế nhưng, buồn thay, mấy năm trở lại đây, rừng bị tàn phá ghê gớm, bị khai thác một cách vô tội vạ, nhìn cảnh tượng đó không ai không chạnh lòng. Đặc biệt, tình trạng đốt nương làm rẫy, cách thức sống du mục, đã giết hại một số cánh rừng nguyên sinh. Những cánh rừng xanh bất tận bao đời mới có được cứ dần mất đi vì bàn tay tàn ác của con người. Một số nơi rừng bị tróc nã, núi đồi trơ khấc hệt như một ông sự bị cạo trọc đầu.

Đứng trước thực trạng nhức nhối đó, sau khi nghỉ hưu, 12 thành viên gồm toàn những người nhiệt huyết như ông Lò Văn Cu, Lường Văn Ân, Lường Văn Yến, Lò Văn Cụt, Lò Văn Ngọc, Lò Văn Chinh, Phùng Văn Muôn, Lò Văn Én, Lò Văn Pánh, Lường Văn Nhói, Lường Văn Lả, Lò Văn Ọm…hội tụ nhau lại để chung sức chung lòng cứu lấy những cánh rừng xanh thẳm. “Chúng tôi khoanh được cả thể 4ha rừng, tiến hành cải tạo rừng khu, tiến hành trồng hột xoan nhưng không có kết quả gì. Đến năm 1995, có dự án 327 do xí nghiệp cây công nghiệp huyện Điện Biên (thuộc tỉnh Lai Châu cũ) đầu tư với mục đích phủ xanh đồi núi trọc. Thấy rằng đây là một dự án hữu ích trong vấn đề bảo vệ thiên nhiên, chúng tôi đã rủ nhau cùng làm. Bàn giao xong, họ chở 10 vạn cây giống gồm cây lát, keo để trồng thí điểm trước. Sau 3 tháng trồng trên diện tích ban đầu, khảo sát tỉ lệ đạt 85% cây sống sót. Thành công bước đầu ấy đã đem lại niềm tin để mọi người có thêm động lực để tiếp tục theo đuổi công việc”.

Ông Lò Văn Cu thở hắt – bảo: Công việc trồng rừng vốn đã khó nhưng việc giữ được rừng thì quả là một hành trinh đầy gian gian. Do diện tích đất rừng quá rộng, nên chi Hội đã tiến hành phân công, cắt cử từng thành viên trong chi Hội thay phiên nhau bảo vệ rừng. “Chúng tôi chia làm 4 tổ, mỗi tổ trông coi một tháng. Sau mỗi tổ lại chia cắt cử từng hội viên đi kiểm tra vào mỗi ngày nhất định. Trong quá trình đi kiểm tra rừng, nếu phát hiện mất dấu dù chỉ một cành cây cũng phải tìm ra nguyên nhân. Nếu không có lý do chính đáng, thì hội viên đó phải chịu trách nhiệm trước chi Hội”.

Ông Cu bảo, những cái khó ở đây nữa là, việc trông rừng cũng chỉ thực hiện được trong ban ngày, còn đêm thì không thể kiểm soát hết được. Bởi đêm là khoảng thời gian thuận lợi để các đối tượng chặt rừng hoạt động mạnh, mà lực lượng của Hội khá mỏng, không thể kiểm soát hết được nên rừng liên tiếp bị chặt trộm, bị đốn hạ một cách vô tội vạ. Có nhiều trường hợp, người ta còn đến nhận xằng nhận bừa rừng nữa. “Khi rừng còn bé, chúng tôi bảo vệ, chăm sóc và nâng niu nhưng khi rừng lớn, một số cá nhân cứ đến nhận là đất rừng do họ trồng. Chúng tôi phải nhờ đến sự can thiệp của các cấp chính quyền địa phương mới giải quyết” ông Cu chia sẻ.

Để minh chứng cho những “lời thề giữ rừng” này, ông Cu, ông Ọm, một số hội viên của Hội đã dẫn chúng tôi đi vào sâu khu rừng do Hội trực tiếp quản lý và bảo vệ. Rừng ở đây cứ xanh bời bời, đua nhau vươn lên trời xanh như biểu hiện của một sức sống bất diệt. Rừng xanh với keo, lát, tre, vầu, những cây thảo mộc cứ thế đan cài vào nhau như mạng nhện, tạo thành một hệ sinh thái phong phú, đa dạng. Có một cái lối mòn nhỏ, đó là nơi hằng ngày các hội viên thường lần theo để đi tuần rừng. Chim chóc hót hú vang dọc cánh rừng như một bản nhạc hội mùa xuân đa giọng điệu.

Buổi đi tuần của các “chiến sĩ kiểm lâm già” vẫn được duy trì đều đặn, bất kể ngày mưa ngày nắng. Bởi theo các ông, nếu công việc tuần rừng không duy trì sẽ là cơ hội cho các đối tượng chặt phá rừng…nổi dậy. Càng vào thời tiết khắc nghiệt lại càng phải kiểm tra gắt gao hơn, nghiêm túc hơn. Và cứ sau mỗi buổi đi tuần, các hội viên có nhiệm vụ báo cáo lại với Chi Hội trưởng về hiện trạng, rồi tiếp tục bàn giao cho tổ kiểm tra khác. Vì tính kỷ luật này và dưới bàn tay của các “kiểm lâm già”, mà suốt bao nhiêu năm qua, rừng ở đây hầu như đều giữ vẫn được bảo vệ nguyên vẹn.

Ông Lường Văn Ọm cũng bày tỏ rằng, ở đây chúng tôi không đủ lực lượng để kiểm soát hết hành động phá hoại rừng của một số người. Có khi người ta lợi dụng những đêm trăng sáng rồi đi lấy củi, hái măng, nhưng kỳ thực lại lén lút chặt phá rừng. Điều này gây bất lợi cho công tác kiểm tra, bảo vệ rừng. Ông cũng mạnh dạn đề xuất rằng, vì ranh giới giữa rừng cá nhân và rừng chung còn chưa rõ ràng nên rất cần sự giúp đỡ của chính quyền địa phương trong việc minh bạch hóa vấn đề này. Thứ nữa là, vào những mùa khô, hanh, rừng rất dễ bị cháy, vì thế chúng tôi mong muốn có băng cả lửa để khi xảy ra trường hợp đó còn có dụng cụ kịp thời chữa cháy. Chẳng hạn như dao, ủng, bảo hộ những thứ rất cần cho việc đi rừng, tuần rừng và bảo vệ rừng thì hầu như chúng tôi không có”.

Chúng tôi rời cánh rừng của các “kiểm lâm già” khi ánh mặt trời đã xuống núi. Càng cảm phục trước hành động cao cả của các ông lại càng thấy xót xa bấy nhiêu. Bởi, ở đâu đó, người ta vẫn đối xử với rừng một cách bạc bẽo, vẫn đốn hạ, quật ngã rừng một cách không thương tiếc. Rừng chảy máu. Những cánh rừng nguyên sinh kia cứ dần mất đi chỉ còn lại núi đồi trơ khấc. Nghĩ thế, tôi chợt nhớ tới lời của các Hội viên ở đây. Họ bảo, thôi thì họ phá rừng thì đã có chúng tôi trồng rừng. Chúng tôi còn sống ngày nào thì rừng sẽ được bảo vệ, sẽ không bao giờ mất đi màu xanh bất tận này. Đã có các thầy cô giáo tận tâm với sự nghiệp “trồng người”, hãy để các già này “trồng rừng” để cho đời…xanh mãi. (B aovemoitruong.org.vn 19/6) Về đầu trang

Lai Châu: Đẩy mạnh công tác trồng rừng

Năm 2017, tỉnh Lai Châu đặt chỉ tiêu trồng mới 3.261ha rừng. Hiện các đơn vị và người dân đang tích cực chuẩn bị cho công tác trồng rừng.

Năm 2016, chỉ tiêu trồng rừng trên đại bàn tỉnh Lai Châu là 2.235ha, trong đó bao gồm 350ha rừng phòng hộ, 1.885ha rừng thay thế các công trình thủy điện. Bằng nhiều nỗ lực, tỉnh Lai Châu đã hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng khi trồng mới được 3.176ha, trong đó chủ yếu là rừng thay thế chiếm trên 2.693ha.

Ông Nguyễn Văn Biển, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lai Châu cho biết: Năm 2017, UBND tỉnh Lai Châu giao chỉ tiêu trồng mới 3.261ha rừng. Đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh Lai Châu đã phát dọn thực bì trên 2.722ha, cuốc hố 1.453ha và trồng mới rừng được được gần 123ha rừng tại các huyện Sìn Hồ, Nậm Nhùn, Tân Uyên, Tam Đường. Cơ cấu các loại cây trồng là Quế, Sơn tra, Lát hoa, Thông mã vĩ, Vối thuốc, Giổi xanh... Trong đó, cây Quế chiếm diện tích lớn nhất với 2.090ha.

Cho đến nay, các đơn vị thực hiện trồng rừng đã chuẩn bị được 11 triệu cây giống (cây gieo ươm trong tỉnh 2,6 triệu cây; cây chuyển nơi khác đến là 8,4 triệu cây). Cây giống đảm bảo về nguồn gốc, tiêu chuẩn, chất lượng và thời gian gieo ươm theo quy định.

Mặc dù vậy, trong quá trình triển khai trồng rừng, Lai Châu cũng gặp phải không ít khó khăn do điều kiện địa hình xa, độ dốc lớn, giao thông đi lại không thuận lợi; đặc thù trên địa bàn tỉnh thời gian trồng rừng không dài (tập trung trong tháng 6), thời điểm trồng rừng trùng với thời gian thu hoạch lúa chiêm và gieo cấy vụ mùa của nhân dân dẫn đến khó khăn trong việc huy động người dân triển khai trồng rừng...

Ông Nguyễn Văn Biển cho biết thêm: Hiện nay đã bước vào mùa trồng rừng, trong khi đó nắng nóng phức tạp, để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch 2017, Chi cục đã tham mưu cho Sở NN-PTNT ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các chủ đầu tư, các cơ quan chuyên môn và Ban quản lý rừng phòng hộ phối hợp với Hạt Kiểm lâm tăng cường tuyên truyền về lợi ích của việc trồng rừng. Vận động người dân phát dọn thực bì, cuốc, lấp hố theo đúng quy trình kỹ thuật trước khi trồng cây.

Cùng với đó, chỉ đạo các đơn vị thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, nắm bắt những khó khăn vướng mắc phát sinh trong qúa trình thực hiện trồng rừng để tham mưu cho lãnh đạo Sở và UBND tỉnh có phương hướng giải quyết kịp thời. (Moitruong24h.vn 19/6) Về đầu trang

Khen thưởng 15 cá nhân chữa cháy rừng Sóc Sơn

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung vừa ký quyết định tặng bằng khen cho 9 tập thể và 15 cá nhân có thành tích đột xuất trong công tác cứu, chữa cháy rừng xảy ra ngày 5/6 tại xã Nam Sơn (Sóc Sơn).

Theo đánh giá, vụ cháy khiến khoảng 50ha rừng bị thiệt hại và được cho là vụ cháy rừng phòng hộ lớn nhất xảy ra từ trước tới nay. Khoảng gần 2.000 cán bộ chiến sỹ kết hợp với các lực lượng chuyên môn, nhân dân tham gia cứu chữa và khống chế đám cháy sau 12 giờ đồng hồ. (Tiền Phong 20/6, tr10) Về đầu trang

Hương Trà, Thừa Thiên - Huế: Xin đừng xả rác ở Rú Chá

Rừng Rú chá ở làng Thuận Hòa, xã Hương Phong là khu rừng ngập mặn nguyên sinh hiếm hoi còn lại trên vùng phá Tam Giang.

Từ một khu rừng hoang vắng, Rú Chá được biết đến nhiều qua báo chí và du khách đến tham quan ngày một nhiều hơn. Cũng từ đó môi trường khu rừng này bắt đầu bị đe dọa bởi nạn xả rác bừa bãi của du khách.

Mới đây, phsong viên đến rừng Rú Chá thì thấy dưới những bụi cây có nhiều hộp đựng thức ăn, chai nước, bao xốp, vỏ bánh kẹo... vứt vương vãi và treo cả trên cành cây. Một số rác thải lâu ngày nổi lềnh bềnh trên mặt nước. (Tuổi Trẻ 20/6, tr8) Về đầu trang

Bồ Đào Nha: Ít nhất 62 người thiệt mạng do cháy rừng

Thảm họa cháy rừng tại miền Trung Bồ Đào Nha cho đến nay đã cướp đi sinh mạng của ít nhất 62 người, trong khi trên 60 người bị thương, trong đó có 5 người trong tình trạng nguy kịch.

Hiện trường vụ cháy rừng ở Pedrogao Grande ngày 17/6. Ảnh: EPA/TTXVN

Ngày 19/6, hơn 1.000 lính cứu hỏa vẫn đang tiến hành các biện pháp ứng phó với vụ cháy rừng tồi tệ, gây thiệt hại nghiêm trọng nhất về người trong nhiều năm gần đây ở Bồ Đào Nha.

Mặc dù nhiệt độ tại khu vực "chảo lửa" Pedrogao Grande ngày 19/6 đã giảm nhẹ, song cháy rừng vẫn tiếp tục tại nhiều nơi, lan sang cả các khu vực lân cận như Castelo Branco và Coimbra. Hiện lực lượng cứu hộ vẫn đang tích cực tiếp tục tìm kiếm các thi thể, trong khi Thủ tướng Bồ Đào Nha Antonio Costa cảnh báo số nạn nhân thực sự có thể còn tiếp tục gia tăng.

Trước đó, Thủ tướng Costa tuyên bố nước này sẽ để tang 3 ngày từ ngày 18/6 để tưởng nhớ các nạn nhân mà hầu hết trong số họ là những người đã cố gắng chạy thoát bằng ô tô.

Lửa đã bùng phát từ chiều 17/6 tại khu vực rừng núi thuộc thành phố Pedrogao Grande, cách thủ đô Lisbon 200 km về phía Đông Nam.

Nhiệt độ cao cùng với gió mạnh đã khiến đám cháy lan rộng. Bồ Đào Nha đang phải hứng chịu một đợt nóng nghiêm trọng, nhiệt độ vượt quá mức 40 độ C ở nhiều nơi. Năm 2016, nước này cũng đã phải chứng kiến nhiều trận hỏa hoạn, phá hủy tổng cộng 40 ngôi nhà và thiêu rụi 5.400 hécta đất trồng. (TTXVN/Bnews.vn 19/6; Nhân Dân Online 19/6; Công An Đà Nẵng Online 19/6; Tapchigiaothong.vn 19/6; Voh.com.v 19/6; Thuonghieuvaphapluat.vn 19/6)Về đầu trang

Điện chia buồn về vụ cháy rừng tại miền Trung Bồ Đào Nha

Được tin vụ cháy rừng ngày 17/6 vừa qua tại miền Trung Bồ Đào Nha đã gây nhiều thiệt hại nặng nề về người và tài sản, ngày 19/6, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã gửi điện chia buồn và thăm hỏi tới Tổng thống Marcelo Rebelo de Sousa.

Cùng ngày, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cũng đã gửi điện chia buồn và thăm hỏi tới Bộ trưởng Ngoại giao Bồ Đào Nha Augusto Santos Silva.

Lửa đã bùng phát từ chiều 17/6 tại khu vực rừng núi thuộc thành phố Pedrogao Grande, cách thủ đô Lisbon 200km về phía Đông Nam. Nhiệt độ cao cùng với gió mạnh đã khiến đám cháy lan rộng.

Bồ Đào Nha đang phải hứng chịu một đợt nóng nghiêm trọng, nhiệt độ vượt quá mức 40 độ C ở nhiều nơi.

Con số thương vong trong vụ cháy rừng tại miền Trung Bồ Đào Nha đã lên tới 57 người thiệt mạng trong khi ít nhất 59 người khác bị thương. (VietnamPlus.vn 19/6; Nhân Dân Online 20/6; Báo Chính Phủ Điện Tử  19/6; Tapchicongsan.org.vn 19/6) Về đầu trang

Nơi ngắm những động vật có một không hai trên trái đất

 Nhiều loài động vật quý hiếm của thế giới đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng và chỉ còn sinh sống ở một vài nơi đặc biệt trên trái đất.

Quokka (Australia): Từng phổ biến ở miền Tây Australia, giờ đây Quokka là loài đang nằm trong sách đỏ. Tuy nhiên, chúng vẫn xuất hiện khá nhiều ở đảo Rottnest ngoài khơi Pert. Quokka thu hút khách du lịch nhờ vẻ ngoài như trong phim hoạt hình.

Cáo đảo (Mỹ): Loài cáo nhỏ này là động vật bản địa của sáu trong số tám đảo của quần đảo Channel ngoài khơi California (Mỹ).

Chúng chủ yếu ăn chuột, côn trùng và hoa quả. Những người cắm trại được cảnh báo không nên cho cáo đảo ăn.

Chim cánh cụt Galapagos (Ecuador): Đây là loài cánh cụt quý hiếm nhất và đang có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất. Không giống như cánh cụt nước lạnh, cánh cụt Galapagos có nhiều đặc điểm khác biệt để thích nghi với khi hậu ấm, như có ít mỡ và lông hơn để thoát nhiệt dễ hơn. Cơ thể chúng cũng khá nhỏ nên không cần quá nhiều thức ăn để sinh tồn. Hiện tại, chỉ còn 2.000 cá thể tồn tại trong tự nhiên.

Vượn cáo Madagascar (Madagascar): Loài vật nổi tiếng của hòn đảo Madagascar được mô tả giống như lai giữa mèo, sóc và chó. Đảo có hơn 100 loại vượn cáo, trong đó nổi tiếng nhất là loại đuôi vằn. Chúng đang bị đe dọa do tốc độ phá rừng khủng khiếp.

Kỳ giông mù Texas (Mỹ): Loài lưỡng cư sống trong hang quý hiếm này có mang ngoài màu đỏ để hấp thụ oxy từ nước và có thể đạt chiều dài lên tới 16 cm. Để thích nghi với cuộc sống trong hang động, chúng không có mắt mà chỉ có hai chấm đen dưới da.

Chúng chỉ sống ở hạt Hays, Texas. Tình trạng ô nhiễm nước và nước ngầm khiến sự sinh tồn của loài kỳ giông này trở nên mong manh hơn bao giờ hết.

Hải cẩu lông Guadalupe (Mexico): Do bị săn bắt tràn lan, hải cẩu lông đã biến mất ở vùng biển California (Mỹ) vào năm 1825. Hiện nay, chỉ còn một quần thể sinh sản sống trên đảo Guadalupe ngoài khơi Mexico. Chúng khá giống hải cẩu lông miền bắc nhưng nhỏ hơn và con đực có màu nâu sáng hơn.

Vaquito (Mỹ và Mexico): Vaquita là động vật biển có vú quý hiếm nhất thế giới và đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng. Là họ hàng của cá heo, Vaquita có thể đạt chiều dài 1,5 m. Đến tháng 12/2015, trên thế giới chỉ còn 60 cá thể.

Chim chích Kirtland (Mỹ): Loài chim này sinh sản ở Michigan, với một số cộng đồng biệt lập ở Wisconsin và Ontario. Chúng chỉ làm tổ trên mặt đất ở các rừng thông non với cây có độ tuổi từ 5 tới 20 năm. Vào mùa đông, chúng di cư đến Bahamas, Turks and Caicos, và Cuba.

Rùa cạn Pinta (Ecuador): Đến cuối thế kỷ 19, phần lớn rùa đảo Pinta thuộc quần đảo Galapagos đã bị con người săn bắt. Đến giữa thế kỷ 20, loài này được cho là đã tuyệt chủng cho tới khi một cá thể đực được phát hiện vào năm 1971. Cá thể này chết năm 2012 sau nhiều nỗ lực phối giống với loại rùa khác không đem lại kết quả. Tuy nhiên, 17 con rùa lai thế hệ đầu đã xuất hiện ở núi lửa Volcano trên đảo Isabela (Galapagos). Chúng khá nhỏ nên có thể bố mẹ của chúng vẫn còn sống đâu đó trên đảo.

Tuatara (New Zealand): Loài bò sát đặc biệt này đã sống sót qua những kỷ băng hà, núi lửa phun trào và sự xâm lấn của con người. Tuy nhiên, chúng có thể sẽ tuyệt chủng do hiện tượng nóng lên toàn cầu. Với lớp vảy nhọn phủ kín từ đầu đến chân và làn da thô ráp màu xám, tuatara là một trong những sinh vật sống thọ nhất thế giới. (News.zing.vn 19/6) Về đầu trang