Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 19/6/2017

Điểm báo ngày 19/6/2017

Cập nhật ngày : 19/06/2017 2:41:38 CH

ĐIỂM BÁO

LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 19 tháng 6 năm 2017)

Bảo vệ và phát triển rừng

Hôm nay 19-6, Quốc hội sẽ thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Qua quá trình nghiên cứu, dự án đã được cả cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra thống nhất đề nghị đổi tên thành Luật Lâm nghiệp.

Dự án luật không chỉ thu hút sự quan tâm của cộng đồng dân cư, tổ chức, doanh nghiệp trong nước…, mà còn là tâm điểm chú ý của các tổ chức quốc tế về bảo vệ môi trường.

Về “bảo vệ và phát triển rừng”, nội dung cốt lõi của dự thảo luật này, trong một cuộc trao đổi với phóng viên Báo SGGP, ông Lương Quang Hùng, Trưởng đại diện Trung tâm vì Con người và rừng (RECOFTC) cho biết, từ kinh nghiệm nhiều năm hoạt động tại Việt Nam và nhiều nước trong khu vực, tổ chức này khuyến nghị luật cần quy định cộng đồng dân cư được sở hữu rừng và cần được đảm bảo có quyền bình đẳng như những chủ rừng khác. “Gắn quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng dân cư như những chủ rừng thật sự sẽ phát huy được sức mạnh tinh thần trách nhiệm của người làm chủ. Hiệu quả bảo vệ rừng sẽ được tăng cao khi cộng đồng có cơ hội thực hành tri thức truyền thống tốt trong quản lý rừng, sử dụng thiết chế tự quản, tự giám sát và thành viên trong cộng đồng tuân thủ một cách nghiêm ngặt các luật tục của cha ông đã truyền lại”, ông Lương Quang Hùng giải thích. Thừa nhận và phát huy tri thức truyền thống và luật tục của cộng đồng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng - nguyên tắc và điều kiện cần thiết trong phát triển rừng bền vững - cũng là kiến nghị quan trọng từ đại diện RECOFTC. Theo tổ chức này, trên thực tế, đồng bào dân tộc thiểu số có rất nhiều luật tục và tri thức truyền thống trong việc sử dụng và quản lý rừng một cách bền vững. Chẳng hạn, ở Tây Nguyên, luật tục M’nông quy định về trách nhiệm phòng, chữa cháy rừng: “Rừng bị cháy mà không dập tắt, người đó sẽ không có rừng, người đó sẽ không có đất”. Ở miền núi phía Bắc, luật tục dân tộc Thái cũng có đoạn dặn dò rất kỹ: “Không nạn nào hơn nạn lửa, nạn nước; dùng nước phải biết tránh luồng nước; dùng lửa hãy phòng ngừa nạn cháy”… Ngoài ra, luật tục Ê đê, Bana, M’nông đều có những quy định về khai thác có chọn lọc, không săn bắn con cái, không săn bắn vào mùa sinh sản; cấm khai thác tại những diện tích rừng đầu nguồn, khu vực sinh sản của thú rừng...

Đặc biệt, ưu tiên khuyến khích phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia trong lĩnh vực quản lý rừng bền vững cũng là một khuyến nghị rất đáng lưu ý. Phụ nữ, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số, là những người đóng góp rất lớn vào công tác quản lý và sử dụng rừng: tham gia khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ, sử dụng cây thuốc, giáo dục con cái. Hơn thế, họ còn có quyền quyết định lớn đến việc canh tác nương rẫy.

Quả thực, rừng quan trọng với tất cả mọi người, nhưng trước hết, rừng là một phần không thể tách rời trong cuộc sống của các dân tộc anh em từ Bắc chí Nam. Những kinh nghiệm đúc rút từ đời sống thực tế của những người đang sống với rừng, sinh kế gắn liền với rừng rất cần được luật hóa. (Sài Gòn Giải Phóng Online 19/6; Sài Gòn Giải Phóng 19/6, tr2) Về đầu trang

Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi): Vai trò kiểm lâm trong bảo vệ và phát triển rừng

Được thành lập năm 1973, trải qua 44 năm xây dựng và phát triển, đến nay lực lượng kiểm lâm đã đạt được nhiều thành tựu, khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Một là: Chủ động tham mưu, xây dựng góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đáp ứng và phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn. Từ Pháp lệnh Bảo vệ rừng năm 1972 đến Luật Bảo vệ và phát triển rừng được ban hành năm 1991, sửa đổi, bổ sung năm 2004 và tiếp tục trình QH xem xét sửa đổi, bổ sung tại Kỳ họp thứ 3 và 4 Khóa XIV, cùng với nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác về công tác quản lý bảo vệ rừng đã được ban hành, từng bước đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Hai là: Tình trạng vi phạm các quy định pháp luật về quản lý bảo vệ rừng giảm cả về số vụ và mức độ thiệt hại. Lực lượng kiểm lâm đã thường xuyên bám rừng, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng; trong 5 năm gần đây (từ 2010 - 2016) lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 186.401 vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng.

Ba là: Công tác quản lý bảo vệ rừng từng bước được nâng lên. Lực lượng kiểm lâm đã hoàn thành dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng, góp phần phục vụ công tác rà soát, đánh giá, quy hoạch tổng thể rừng cấp quốc gia và cấp vùng phục vụ kế hoạch quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Đã tổ chức giao được trên 11 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp (đặc dụng 2,043 triệu ha, phòng hộ 2,985 triệu ha, sản xuất 6,230 triệu ha) cho các chủ thể quản lý. Hướng dẫn gần 40.000 cộng đồng dân cư thôn, bản xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng; tổ chức thành lập được 33.000 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng ở cơ sở. Từ kết quả thực hiện của nhiều biện pháp đồng bộ theo chủ trương xã hội hóa đã góp phần đưa độ che phủ của rừng từ 39,5% năm 2010 lên 41,19% năm 2016. Hiện toàn quốc có 14,37 triệu ha rừng; trong đó, rừng tự nhiên là 10,24 triệu ha, rừng trồng 4,13 triệu ha.

Bốn là: Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng tiếp tục được mở rộng. Kiểm lâm đã được giao và tham gia tích cực các hoạt động hợp tác quốc tế như: Hiệp định khói mù xuyên biên giới; chống biển đổi khí hậu và nước biển dâng; Hiệp định đối tác tự nguyện VPA/FLEGT-LACEY; Mạng lưới thực thi pháp luật về động thực vật hoang dã... đã cơ bản hoàn thành trách nhiệm của nước thành viên, nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế có liên quan.

Cùng với thành tựu cơ bản trên, hiện nay lực lượng kiểm lâm cũng đang còn nhiều tồn tại và đối mặt với những khó khăn thách thức đó là: Tình trạng vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng còn diễn biến phức tạp ở một số địa phương, như phá rừng tự nhiên để lấy đất sản xuất, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích, đặc biệt ở các tỉnh vùng Tây Nguyên. Diễn biến thời tiết, biến đổi khí hậu bất thường là nguyên nhân khách quan còn xảy ra cháy rừng ở nhiều nơi. Tình hình chống người thi hành công vụ ngày càng phức tạp, tính từ năm 2010 đến nay đã xảy ra 350 vụ chống người thi hành công vụ, trong đó có 96 vụ rất nghiêm trọng, làm chết 6 người, bị thương 277 người, trong khi quyền hạn của kiểm lâm còn nhiều hạn chế; việc bảo vệ người thi hành công vụ, giải quyết chế độ, chính sách đối với công chức kiểm lâm khi bị thương, hy sinh trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.

Trong thời gian tới để lực lượng kiểm lâm đáp ứng được với nhiệm vụ được giao cần hội tụ được điều kiện sau: Thứ nhất: Cần hoàn thiện hệ thống cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm lâm theo hướng thống nhất hệ thống một đầu mối quản lý, bảo đảm cơ chế chỉ đạo, điều hành thông suốt, có hiệu quả từ trung ương tới địa phương. Đồng thời phải quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, hệ thống tổ chức, chế độ chính sách, các điều kiện bảo đảm hoạt động của kiểm lâm vào trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi, để nâng cao tính pháp lý, thẩm quyền của kiểm lâm.

Thứ hai: Do điều kiện hoạt động của kiểm lâm có tính chất đặc thù, khó khăn, thường xuyên đối mặt với các đối tượng vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng nên cần thiết phải bảo đảm các điều kiện hoạt động để kiểm lâm hoàn thành nhiệm vụ, như vũ khí, công cụ hỗ trợ, các trang thiết bị cần thiết, bảo đảm chế độ, chính sách đối với công chức kiểm lâm.

Thứ ba: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức kiểm lâm, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho công chức kiểm lâm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ của công chức kiểm lâm, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm tác phong, đạo đức, tiêu cực, thiếu trách nhiệm trong công tác, không hoàn thành nhiệm vụ được giao. (Đại Biểu Nhân Dân Online 18/6) Về đầu trang

Dựa vào dân để giữ rừng

Hôm nay, theo nghị trình, Quốc hội sẽ thảo luận tại hội trường về dự án luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi).

Trong bối cảnh mặc dù Thủ tướng đã ra lệnh đóng cửa rừng nhưng báo chí phản ánh rừng ở nhiều tỉnh vẫn bị phá tràn lan, thì việc sửa đổi dự luật này rất đáng được chờ đợi.

Tuy vậy, qua thảo luận ở tổ mới đây về dự luật, vẫn còn ý kiến cho rằng dự luật chưa gắn với thực tiễn cuộc sống người dân - đối tượng được cho là quan trọng nhất trong bảo vệ, phát triển rừng, trong khi nói như đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang - thiếu tướng Sùng Thìn Cò, "kẻ thù của rừng là con người, bạn thân của rừng cũng là con người".

Đại biểu Sùng Thìn Cò kể, tuy chúng ta đã có một số cơ chế chính sách để chăm sóc, bảo vệ rừng tái sinh, nhưng phải làm sao cho thích hợp với từng vùng. Ông ví dụ, các khu vực rừng đặc dụng, theo quy định của pháp luật là không được bố trí dân cư ở gần. Ở Hà Giang hay nhiều tỉnh miền núi Tây Bắc, người đông, đất ít, núi đá nhiều, rừng đặc dụng có một chút đất song cũng không giao cho dân. "Không ai bỏ cuộc sống được, ai cũng phải kiếm kế sinh nhai. Người ta ở gần rừng đặc dụng từ xa xưa rồi. Chúng tôi vào bảo sao lại không giao cho dân, lại để thế này. Thế là cha chung không ai khóc. Ai phá thì cứ phá, giữ thì chả có cơ sở. Kiểm lâm vào giao một số cây nhưng không có văn bản và chế độ kèm theo, nên không giữ được", ông Sùng Thìn Cò dẫn chứng.

Một câu chuyện khác, cũng được chính vị thiếu tướng này nhắc lại, là ở địa phương ông, có thời kỳ thương lái nước ngoài tổ chức thu mua gỗ để phá hoại, nên dân hò nhau đi vác gỗ. Chỉ qua một đêm, tiền vác gỗ bằng tiền đi làm cả năm, mua được điện thoại nên rừng bị phá kinh khủng. Chỉ đến khi bộ đội biên phòng vào cuộc, cùng kiểm lâm, dân quân lập các chốt vừa giữ rừng, vừa tuyên truyền thì mới hạn chế được. Kinh phí tuyên truyền được dùng để mua trâu bò tặng dân, tổ chức những bữa cơm rượu thịt quân - dân rồi tuyên bố đoàn kết, biểu quyết từ nay không phá rừng. Thế là dân rất khoái. Ông Sùng Thìn Cò khẳng định rừng Hà Giang đến giờ giữ được một phần nhờ vậy.

Tương tự là vấn đề kêu gọi tăng trồng rừng công nghiệp, nhưng công nghiệp chế biến, rồi sản xuất đồ gỗ thay thế đồ gỗ tự nhiên lại không phát triển tương thích. Điều này, theo ông Sùng Thìn Cò, là lý do chính khiến người dân quê ông bị “người ta” ép giá, đồng bào không thu được bao nhiêu cả, đâm ra nản.

Kể lại những câu chuyện như thế, vị đại biểu nói "rất tâm huyết với vấn đề bảo vệ rừng", đúc kết rằng "trồng rừng cũng là dân, phá rừng cũng là dân". Vậy nên, để bảo vệ và phát triển rừng, phải có các giải pháp cụ thể, chứ nếu không chỉ là hô khẩu hiệu. Theo đó, chính sách pháp luật về rừng cần phải coi người dân là trung tâm, phải thích hợp cho từng vùng. "Nói cách khác, luật phải lo, nghĩ, tính toán cho dân. Như thế mới khuyến khích được dân trồng rừng, giữ rừng", ông Sùng Thìn Cò trăn trở. (Thanh Niên Online 19/6; Thanh Niên 19/6, tr8) Về đầu trang

Tuần này, Quốc hội xem xét thông qua nhiều dự thảo luật, nghị quyết quan trọng

Tuần này, Quốc hội xem xét thông qua nhiều dự thảo luật, nghị quyết quan trọng

Trước đó, Quốc hội nghe Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga trình bày báo cáo kết quả thảo luận ở đoàn về vấn đề này. Cùng ngày, Quốc hội sẽ thảo luận ở hội trường về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi).

Trong những ngày làm việc tiếp theo, Quốc hội sẽ xem xét thông qua hàng loạt dự thảo luật quan trọng, gồm Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi); Luật Thủy lợi; Luật Du lịch (sửa đổi); Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi); Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi); Luật Cảnh vệ; Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi) và đặc biệt là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13.

Nhiều nghị quyết quan trọng cũng sẽ được cơ quan lập pháp biểu quyết thông qua trước khi bế mạc kỳ họp, bao gồm Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015; Nghị quyết về việc tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án thành phần để triển khai dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành; Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Hình sự; Nghị quyết về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng…

Bên cạnh đó, sau khi có phiên họp riêng, Quốc hội dự kiến biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về việc sửa đổi điểm khởi đầu của đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào; Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. (Sài Gòn Giải Phóng Online 19/6; Vietnamnet.vn 19/6; Quân Đội Nhân Dân Online 18/6) Về đầu trang

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) và dự án Luật Thủy sản (sửa đổi)

Vừa qua, trong khuôn khổ chương trình Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) và dự án Luật Thủy sản (sửa đổi).

Việc sửa đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 là rất cần thiết nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về lâm nghiệp: quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp trên cơ sở đẩy nhanh và làm sâu sắc hơn chủ trương xã hội hóa nghề rừng. Kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, bổ sung những quy định mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn; bảo đảm tính liên tục, tính thống nhất và đồng bộ giữa quy định của Luật này với các luật khác có liên quan, hài hòa hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.

Có chính sách tạo nguồn và thu hút các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ và phát triển bền vững rừng, đa dạng sinh học rừng; phát triển lâm nghiệp phải bảo đảm hài hòa các lợi ích của Nhà nước, chủ rừng và người làm nghề rừng, đóng góp ngày càng tăng vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển lâm nghiệp đồng bộ từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng, từ trồng rừng, cải tạo rừng đến khai thác chế biến lâm sản, dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái.

Dự thảo Luật gồm 12 Chương, 97 điều đã quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, kinh doanh, chế biến và thương mại lâm sản cơ bản là hợp lý. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị bố cục cần phải bảo đảm cân đối hơn giữa các quy định về bảo vệ với phát triển rừng; sắp xếp các chương, mục, điều, khoản bảo đảm tính logic và khoa học hơn.

Thảo luận tại tổ, đại biểu Chau Chắc (đoàn An Giang) cho rằng: Nếu giữ tên gọi là Luật Bảo vệ và phát triển rừng thì đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục điều chỉnh phạm vi luật cho phù hợp với tên gọi. Phải sửa các nội dung và kết cấu các nội dung của luật cho phù hợp. Theo đại biểu Nguyễn Mai Bộ (đoàn An Giang), nếu lấy tên là Luật Bảo vệ và phát triển rừng thì nguyên tắc trong Điều 4 lại là “Nguyên tắc hoạt động lâm nghiệp”. Rõ ràng nguyên tắc này không ăn nhập gì với tên gọi của luật như trong dự thảo luật. Theo đại biểu Nguyễn Mai Bộ, ngay khung xương của luật đã có vấn đề nên nếu luật này thông qua rồi sẽ xảy ra xung đột với những luật khác như Luật Thương mại bởi trong dự thảo cũng đề cập đến kinh doanh lâm sản. Vì vậy, đề nghị ban soạn thảo lưu tâm vấn đề này.

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa (đoàn TP Hồ Chí Minh) cho rằng: Cấm khai thác tài nguyên khoáng sản nhưng cần thêm nội dung cấm những hình thức kinh doanh khác làm thay đổi cảnh quan tự nhiên của hệ sinh thái rừng hoặc những hoạt động tương tự. Theo đại biểu Trương Trọng Nghĩa, về vấn đề chủ rừng cũng phải phân tích rõ. Có những chủ rừng là ban quản lý do Nhà nước thành lập thì phải chịu trách nhiệm bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Như vậy, ban quản lý này sẽ chịu trách nhiệm cả đất, cây, sinh cảnh…Nhưng nếu chủ rừng là cá nhân gây dựng nên như trồng rừng bạch đàn, rừng thông để khai thác thì cũng gọi họ là chủ rừng thì lúc đó trách nhiệm đối với phần còn lại của khu rừng ấy ra sao. Vấn đề này cũng phải được xác định rõ.

Đại biểu Dương Ngọc Hải (đoàn TP Hồ Chí Minh) cho rằng: băn khoăn nhất là vấn đề kinh doanh rừng. Theo đại biểu Dương Ngọc Hải, kinh doanh rừng là kinh doanh sản phẩm trên rừng hay là được bán đất rừng. Đất thì không thể bán được mà kinh doanh thì làm dịch vụ, khai thác, bán sản phẩm rừng thế nào? Vì vậy, đại biểu đề nghị phải quy định rõ nội dung này. Diễn đạt, giải thích phải quy định rõ nếu không sẽ khó áp dụng, nếu áp dụng có thể có những văn bản dưới luật. (Baovemoitruong.org.vn 17/6) Về đầu trang

Lâm Đồng: Núp bóng dự án, đào khoáng sản trái phép

Nhiều năm qua, các cơ quan chức năng tỉnh Lâm Đồng hầu như bất lực trước nạn khai thác khoáng sản trái phép tại khu vực Đồi Cù (thuộc Tiểu khu 446, thôn 6, xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm). Các thế lực bảo kê đã biến nơi đây thành lãnh địa riêng, mặc sức kiếm tiền từ cao lanh và cát khai thác được.

Trong vai những người săn ảnh, chúng tôi tiếp cận khu vực Đồi Cù với lời cảnh báo của người dân địa phương: "Cẩn thận với đám giang hồ dưới trướng Hùng "con". Không khéo chẳng có đường về".

Đây là khu vực nằm trong diện tích 300 ha đã được UBND tỉnh Lâm Đồng cấp phép cho Công ty TNHH An Việt thực hiện dự án "Nông - Lâm kết hợp". Không hiểu sao công ty này lại để nhiều doanh nghiệp khác khai thác cát và cao lanh trái phép làm tan nát cả một vùng rừng núi. Hiện trường khu vực này nham nhở với những đồi cát, hố sâu ngay tại cửa rừng. Tại thời điểm chúng tôi đến, khu vực này có 3 máy đào, 1 máy hút đãi cát và 5 xe ben liên tục vận chuyển khoáng sản đi tiêu thụ.

Địa bàn xã Lộc Tân có nhiều đơn vị được cấp phép khai thác khoáng sản nhưng đều đã hết hiệu lực hoạt động từ nhiều năm nay. Thế nhưng, tình trạng khai thác trái phép vẫn diễn ra rầm rộ dù các cơ quan chức năng huyện Bảo Lâm nhiều lần yêu cầu chấm dứt. Người dân địa phương cho biết tại Tiểu khu 446 có 3 điểm khai thác khoáng sản lớn của bà Vân, ông Vương và ông Kiên. Khi lực lượng chức năng vào cuộc thì các công trường này tạm ngưng vài hôm, xong lại tiếp tục. Nhiều lần người dân thôn 6, xã Lộc Tân tổ chức chặn xe vào bãi khai thác nhưng không có kết quả.

Ông Nguyễn Bá Đông, Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) huyện Bảo Lâm, cho biết tình trạng bán đất, chiếm đất, khai thác khoáng sản tại Tiểu khu 446 thuộc Công ty TNHH An Việt thường xuyên xảy ra. Đã nhiều lần, Phòng TN-MT đề nghị thu hồi giấy phép đối với công ty này nhưng vẫn chưa làm được.

"Chúng tôi đã tổ chức nhiều đoàn liên ngành kiểm tra và tham mưu cho UBND huyện ban hành nhiều văn bản yêu cầu UBND xã Lộc Tân có trách nhiệm quản lý tài nguyên khoáng sản nhưng không có kết quả" - ông Đông nói. Phòng TN-MT đã 3 lần xử phạt hành chính với số tiền hơn 110 triệu đồng và tịch thu nhiều phương tiện của các đơn vị khai thác khoáng sản nhưng thực trạng vẫn không thay đổi.

Theo các tài liệu mà chúng tôi có được, ngày 7-3-2014, Phòng TN-MT huyện Bảo Lâm có công văn gửi UBND xã Lộc Tân đề nghị UBND xã này thường xuyên kiểm tra, giám sát và ngăn chặn tình trạng khai thác khoáng sản trên địa bàn.

Ngày 7-3-2017, Công ty TNHH An Việt có văn bản gửi UBND huyện Bảo Lâm về việc cho thu hồi cao lanh tồn ở bãi. Ngày 9-3, UBND huyện Bảo Lâm có công văn cho phép Công ty TNHH An Việt vận chuyển cao lanh tồn với khối lượng 3.400 m3. Đến ngày 8-6, UBND huyện Bảo Lâm có công văn yêu cầu Công ty TNHH An Việt dừng mọi hoạt động do đã hết thời hạn vận chuyển nhưng tình trạng này vẫn rầm rộ.

Theo ông Nguyễn Bá Đông, nếu xã không phối hợp thì các cơ quan chức năng của huyện không thể ngăn chặn việc khai thác khoáng sản ở đây. "Công ty TNHH An Việt nằm biệt lập trong lòng chảo sát rừng, đường sá đi lại khó khăn, qua nhiều địa bàn khác nhau. Khi chúng tôi nhận được tin có tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, triển khai lực lượng ngăn chặn thì các đối tượng đã biết trước tẩu tán hoặc cho phương tiện lên vườn như đang làm việc cho dự án nông - lâm sản thì chúng tôi bó tay…" - ông Đông phân bua. Đặt vấn đề có ai "bảo kê" cho các điểm khai thác này thì ông Đông nói rằng mình không biết.

Trong khi đó, ông Nguyễn Trung Kiên, Chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm, cho biết huyện phân công cho Phó Chủ tịch UBND huyện là ông Nguyễn Trung Thành trực tiếp giải quyết vấn đề này. "Tôi khẳng định không có lãnh đạo nào của huyện "bảo kê" cho hoạt động khai thác khoáng sản trái phép này cả" - ông Kiên nêu rõ.

Còn ông Huỳnh Thiên Tính, Trưởng Phòng Khoáng sản thuộc Sở TN-MT Lâm Đồng, khẳng định sau khi nhận được báo cáo nhanh của Phòng TN-MT huyện Bảo Lâm về tình hình khai thác khoáng sản trái phép ở xã Lộc Tân, sở đang chờ báo cáo kết quả xử lý cuối cùng của UBND huyện rồi sẽ tổng hợp chung báo cáo lên UBND tỉnh. Hiện tại, toàn huyện Bảo Lâm chỉ có 7 đơn vị được phép khai thác khoáng sản, còn lại là đã hết hạn khai thác, trong đó có Công ty TNHH An Việt. (Người Lao Động 19/6, tr5) Về đầu trang

Pháp luật quốc tế về bảo vệ rừng: Bảo đảm sinh kế để giữ rừng bền vững

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quy định về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng phải được xem xét trên cơ sở cân nhắc sinh kế của cộng đồng dân cư. Chính phủ các nước một mặt giáo dục và nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho người dân, một mặt vẫn tạo điều kiện chia sẻ lợi ích từ tài nguyên rừng hoặc tạo nguồn sinh kế khác để giảm phụ thuộc vào rừng. Có như vậy, công tác bảo vệ, bảo tồn tài nguyên rừng mới có hiệu quả lâu dài.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), khoảng hơn 1,6 tỷ người trên thế giới có sinh kế phụ thuộc vào rừng ở những mức độ khác nhau. Trong số đó, khoảng 60 triệu người bản địa và thổ dân hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào rừng. Khoảng 350 triệu người sống trong hoặc gần rừng phụ thuộc vào rừng ở mức độ cao về sinh kế và thu nhập. Ở các nước đang phát triển, khoảng 1,2 tỷ người dựa vào các hệ thống nông lâm kết hợp để duy trì năng suất nông nghiệp và tạo ra thu nhập.

Chẳng hạn, hoạt động chăn thả gia súc du mục trên các vùng núi cao vừa là lối sống, vừa là nghề kiếm sống của các bộ lạc thiểu số như Sherpas, Bhote và Tamang ở Nepal. Hoạt động này đóng góp cho nền kinh tế quốc gia và thương mại quốc tế vì cung cấp thịt, sữa, sức kéo và các mặt hàng len. Ở Guatemala, một số khu rừng cộng đồng trên núi cao vốn được quản lý bởi các thiết chế bản địa từ nhiều đời nay nhưng các tổ chức bảo tồn lại tính đến việc thành lập các khu bảo vệ và thiết lập các hành lang liên kết. Các quy định nhằm hạn chế chăn thả cừu đã tác động nặng nề đến đối tượng phụ nữ, và việc cấm chặt cây thông Noel đã làm mất đi một trong các nguồn sinh kế hiếm hoi của một cộng đồng nghèo ở Los Cuchumatanes.

WB cho rằng, tình trạng thiếu thông tin về những đối tượng và những cộng đồng mà sinh kế phụ thuộc vào rừng là một trong những vấn đề lớn đối với các nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp và các cơ quan hỗ trợ phát triển chịu trách nhiệm đưa ra các chính sách hỗ trợ người nghèo. Nếu không có số liệu rõ ràng về số lượng, cách thức người nghèo kiếm sống bằng rừng và thực trạng cuộc sống của họ, thì các nhà hoạch định rất có nguy cơ bỏ qua lợi ích của họ khi thiết kế các chính sách pháp luật liên quan đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Ngoài ra, khảo sát một số quốc gia ở châu Á, châu Âu và châu Phi cho thấy, các chính sách liên quan đến rừng có xu hướng phục vụ lợi ích của các tập đoàn lớn, trong khi bỏ qua lợi ích của các hộ gia đình, các cá thể hoặc các cộng đồng nhỏ và nghèo, vốn có kinh kế phụ thuộc vào rừng. Trong khi thực tế cho thấy, các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định thành bại của các chính sách pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Đánh giá đúng tầm quan trọng của các cộng đồng này, cũng như tầm quan trọng của việc bảo đảm sinh kế cho họ nhằm giảm phụ thuộc vào rừng sẽ là điều mà các nhà hoạch định cần tính đến khi đưa các chính sách liên quan đến rừng.

Khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) cho thấy, có một số biện pháp được các nước áp dụng để vừa bảo đảm sinh kế cho các cộng đồng phụ thuộc vào rừng, vừa giúp bảo vệ và phát triển rừng. Trước hết, phải thường xuyên cung cấp các thông tin về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng nhằm giải quyết các trường hợp xâm lấn, khai thác rừng thuộc phạm vi quản lý của cộng đồng. Thứ hai, cải cách quyền hưởng dụng rừng cho các cộng đồng, giống như một cách giao đất giao rừng, cho phép người dân lập, thiết kế và thực hiện kế hoạch quản lý bảo vệ rừng, xây dựng quy chế quản lý bảo vệ rừng, thiết lập và xây dựng quỹ bảo vệ rừng cộng đồng. Thứ ba, cung cấp kỹ năng và kiến thức về quản lý, bảo vệ, xây dựng, làm giàu rừng tự nhiên do cộng đồng quản lý. Thứ tư, phải có chính sách hỗ trợ người dân trong việc phát triển kinh tế dựa vào rừng thông qua hoạt động sinh kế như trồng trọt, chăn nuôi, nông lâm kết hợp. Biện pháp cải cách quyền hưởng dụng rừng được áp dụng khá rộng rãi tại Mỹ Latin những năm gần đây. Chẳng hạn ở Brazil, các quyền bản địa đã được thừa nhận trên khoảng 100 triệu ha. Chính phủ Bolivia cũng đang trong tiến trình chuyển giao 24 triệu ha cho 200.000 dân bản địa.

Nghèo đói và các tập tục sinh sống dựa vào rừng chính là một phần nguyên nhân của nạn chặt phá rừng. Do vậy, các nhà hoạch định chính sách, pháp luật về rừng chắc chắn không thể bỏ qua vấn đề sinh kế cho người dân để có thể bảo vệ rừng bền vững. (Đại Biểu Nhân Dân Online 18/6) Về đầu trang

Doanh nghiệp nhập khẩu gỗ gặp khó vì kiểm tra chuyên ngành

Theo phản ánh của các DN nhập khẩu gỗ qua cửa khẩu cảng Mỹ Thới, tỉnh An Giang, các DN đang gặp rất nhiều khó khăn do quy định về kiểm tra chuyên ngành về kiểm dịch thực vật.Căn cứ theo quy định của  Thông tư 30/2014/TT-BNNPTNT ngày 5/9/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ban hành Danh mục vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật; Danh mục vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật phải phân tích nguy cơ dịch hại trước khi nhập khẩu vào Việt Nam thì mặt hàng “gỗ tròn, gỗ xẻ” thuộc Danh mục hàng hóa phải kiểm dịch thực vật trước khi nhập khẩu vào Việt Nam. Căn cứ theo quy định tại Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính thì mặt hàng “gỗ” chỉ được phép thông quan khi có kết quả kiểm tra chuyên ngành của cơ quan Kiểm dịch thực vật.

Thời gian qua, tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Mỹ Thới- Cục Hải quan An Giang có phát sinh rất nhiều trường hợp mặt hàng gỗ nhập khẩu có xuất xứ Malaysia, Indonesia... có Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật của nước xuất khẩu gặp khó khăn khi làm thủ tục kiểm dịch thực vật theo quy định. Khi làm thủ tục kiểm dịch, cơ quan Kiểm dịch yêu cầu doanh nghiệp nộp giấy kiểm dịch của nước xuất khẩu để làm căn cứ cấp giấy kiểm dịch đủ điều kiện nhập khẩu. Khi tiếp nhận Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật của nước xuất khẩu mặt hàng gỗ, nếu có nghi ngờ về tính xác thực của “Giấy chứng nhận” thì tiến hành gửi nước xuất khẩu để xác minh, thời gian xác minh thường rất dài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của DN nhập khẩu mặt hàng gỗ; phát sinh rất nhiều chi phí lưu kho, lưu bãi,... Có những trường hợp, sau thời gian xác minh, cơ quan Kiểm dịch thông báo giấy chứng nhận không đủ điều kiện xác định, đề nghị tái xuất trong thời gian 30 ngày, nếu sau đó không tái xuất thì tiến hành kiểm dịch tại chỗ theo quy định.

Tại buổi làm việc mới đây giữa các DN NK gỗ với lãnh đạo Cục Hải quan An Giang, các DN kiến nghị khi tiếp nhận Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật của nước xuất khẩu, nếu có nghi ngờ thì cơ quan Kiểm dịch ở Việt Nam có thể tiến hành  kiểm dịch tại chỗ, chi phí do DN tự trả. Như thế, sẽ rút ngắn rất nhiều thời gian làm thủ tục cho DN. Ngoài ra, DN cũng kiến nghị Cục Bảo vệ thực vật (cơ quan kiểm dịch Trung ương) có những tiêu chuẩn cụ thể và mẫu biểu liên quan đến giấy kiểm dịch thực vật để thực hiện thống nhất, tránh nghi ngờ tràn lan dẫn đến nhiều lô hàng phải đi xác minh gây phiền phức cho DN.

Các DN cũng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có ý kiến chỉ đạo cơ quan Kiểm dịch thực vật rút ngắn thời gian xác minh đối với các “Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật” của nước xuất khẩu gỗ vào Việt Nam để tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của các DN nhập khẩu mặt hàng gỗ theo tinh thần Nghị quyết 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020. (Hải Quan Online 16/6) Về đầu trang

Ngành gỗ tìm cơ hội mở rộng thị trường châu Âu

Phát biểu tại hội thảo “Đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ vào thị trường châu Âu” vừa được tổ chức tại TP.HCM, ông Nguyễn Chánh Phương, Tổng thư ký Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM nhận định, ngành gỗ Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu 20 tỷ USD doanh thu xuất khẩu trong khoảng 7-10 năm tới.

Theo ông Phương, ngành gỗ đang có những điều kiện rất tốt về nguyên liệu, trình độ sản xuất, máy móc thiết bị cũng như các chính sách hỗ trợ của Nhà nước…, tạo lực đỡ vững chắc cho xuất khẩu. Trong đó, dù thị trường châu Âu mới chỉ chiếm trên 10% tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam, nhưng đây được xem là thị trường then chốt trong chiến lược phát triển lâu dài của ngành gỗ. Các chuyên gia dự báo, xuất khẩu gỗ và thủ công mỹ nghệ vào châu Âu được sẽ tăng trưởng khả quan trong thời gian tới nhờ các hoạt động xây dựng thị trường tại EU được đẩy mạnh, tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) dự kiến có hiệu lực từ năm 2018 và Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị rừng, thương mại gỗ và sản phẩm gỗ (VPA/FLEGT). Theo đó, sau gần 6 năm đàm phán, Việt Nam và EU đã ký tắt văn bản của VPA/FLEGT, đánh dấu sự hoàn tất chính thức các cuộc đàm phán. Hiệp định sẽ được Việt Nam và EU thông qua dựa trên văn bản đã ký tắt này.

VPA/FLEGT được xem là giấy thông hành để doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gỗ vào EU không phải giải trình về truy xuất gỗ hợp pháp khá phức tạp như trước đây. Qua đó giúp việc quản trị rừng bền vững và phát triển ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam được bền vững hơn. Theo số liệu của Bộ Công Thương, với kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam sang EU đạt 741,8 triệu USD trong năm 2016, châu Âu hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam sau Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc. Đây cũng là thị trường lớn của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, trong đó kim ngạch xuất khẩu mặt hàng mây tre lá vào thị trường này đạt 95,18 triệu USD và là thị trường lớn nhất, chiếm 35% trong tổng giá trị xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ vào thị trường này trong năm qua cũng ghi nhận sự tăng trưởng trên 4%, đạt 70,7 triệu USD.

Bà Jana Herceg, đại diện phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam cho biết, VPA/FLEGT sẽ mở ra các cơ hội kinh tế cho DN Việt Nam nhờ việc tiếp cận tốt hơn với thị trường EU thông qua cơ chế cấp phép FLEGT (kết hợp với các điều khoản FTA). Hiệp định này cũng thúc đẩy việc ban hành những quy định tốt hơn về tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ và gỗ nhập khẩu, thực thi luật hình sự và các tiêu chuẩn về môi trường, sức khoẻ, an toàn và lao động. Và trên hết, về lâu dài, VPA/FLEGT sẽ giúp cải thiện uy tín của lĩnh vực lâm nghiệp và công nghiệp gỗ Việt Nam trên trường quốc tế vốn là một yếu tố tạo động lực quan trọng.

Trong khi đó, với EVFTA, hầu hết các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và nội thất xuất khẩu từ Việt Nam sang châu Âu sẽ được hưởng mức thuế 0% khi hiệp định này đi vào hiệu lực. Ở chiều ngược lại, các mặt hàng nội thất và thủ công mỹ nghệ nhập khẩu từ EU vào Việt Nam cũng sẽ được hưởng mức thuế 0% từ EVFTA. Mức thuế này còn được áp dụng cho cả hệ thống máy móc, thiết bị chế biến gỗ nhập khẩu từ EU. Qua đó giúp các DN Việt Nam có cơ hội tiếp cận các thiết bị, máy móc chất lượng cao với mức giá thấp, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm.

Dù có nhiều triển vọng, nhưng ông Phương cũng nhấn mạnh, con đường hướng đến con số 20 tỷ USD không chỉ có màu hồng, bởi các DN gỗ Việt Nam vẫn đang rất yếu trong các khâu thiết kế, dịch vụ thương mại và thương hiệu. Hiện 95% DN xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vẫn làm gia công, nên khâu thiết kế và thương hiệu chưa được chú trọng. Ngoài ra, khi làm gia công, DN cũng không nắm được xu hướng, thị hiếu của người tiêu dùng, từ đó hạn chế sự sáng tạo. Trong khi đó, dù thị phần xuất khẩu gỗ của Việt Nam vào EU đang có chiều hướng giảm trong những năm gần đây, nhưng giá trị xuất khẩu lại tăng. Điều này cho thấy người tiêu dùng châu Âu đang có xu hướng sử dụng các sản phẩm gỗ có giá trị cao.

Bà Trần Như Trang, đại diện tổ chức SIPPO (Thụy Sỹ) tại Việt Nam cũng cho hay, tại châu Âu có những DN sản xuất đồ nội thất có thể tạo ra các xu hướng về nguyên vật liệu cũng như thiết kế cho thị trường và dẫn dắt thị trường. Dù rất khó khăn, nhưng đây cũng là hình mẫu mà các DN Việt Nam nên hướng tới và học tập để có thể phát triển bền vững và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho sản phẩm đồ gỗ Việt Nam.

Bên cạnh đó, để tận dụng mức thuế suất ưu đãi của Hiệp định thương mại, các DN xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc xuất xứ gỗ nguyên liệu hợp pháp. Theo bà Bùi Thị Việt Anh, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, đây là một thách thức đối với các DN. Bởi tỷ lệ rừng được cấp chứng nhận FSC của Việt Nam hiện mới chỉ đạt khoảng 2-3%. Còn gỗ nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu đến từ các nước Lào, Campuchia, Trung Quốc, châu Phi… nên gặp rủi ro không nhỏ về nguồn gốc gỗ nguyên liệu hợp pháp. Các chuyên gia khuyến cáo DN xuất khẩu khi nhập khẩu gỗ hoặc mua từ nguồn nguyên liệu trong nước cần lưu giữ chứng từ không chỉ vài tháng mà từ vài năm, đồng thời khuyến khích DN nhập gỗ nguyên liệu từ các nguồn hợp pháp dù chi phí sẽ cao hơn.

Ông Nicolas Audier, Phó Chủ tịch EuroCharm cũng chỉ ra rằng, các DN Việt Nam sẽ phải đối mặt với rất nhiều đối thủ trên sân chơi toàn cầu, trong đó có cả các DN sản xuất đồ gỗ tại châu Âu. Thêm vào đó, những hiệp định thương mại giữa EU và các quốc gia khác cũng có thể sẽ được ký kết trong tương lai.  (Hải Quan Online 18/6) Về đầu trang

Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại về lâm sản

Thực tiễn xét xử các vụ án về tội “Vi phạm các quy định về khai thác bảo và vệ rừng” tại Tòa án địa phương trong thời gian qua có nhiều vướng mắc, cần được bạn đọc trao đổi và có hướng giải quyết về phần dân sự đúng pháp luật.

Xin nêu một vụ án còn nhiều ý kiến khác nhau: Tháng 2/2016, Nguyễn Văn A mang cưa lốc hiệu STIL 381 vào khoảnh 4 tiểu khu 706 thuộc thôn I xã P là rừng đặc dụng đã cưa hạ 10 cây gỗ. Cưa hạ cây xong, Nguyễn Văn A mang cưa máy về nhà. Nguyễn Văn A chưa cưa xẻ, chưa cắt đoạn, các cây gỗ còn nguyên tại rừng, mục đích của Nguyễn Văn A để cho cây khô rồi sẽ thuê người vào cưa xẻ kéo về làm nhà ở.

Ngày 14/3/2016, Trạm kiểm lâm L kiểm tra phát hiện và báo cáo cho Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng TM; Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng TM đã tiến hành xác minh, điều tra theo quy định. Sau khi biết hành vi cưa hạ gỗ bị các cơ quan chức năng phát hiện, Nguyễn Văn A đã có đơn báo cáo thừa nhận hành vi cưa hạ gỗ trái phép của mình.

Ngày 16/3/2016 và ngày 25/5/2016, Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng TM phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra hiện trường xác định vị trí, tọa độ, số lượng và khối lượng lâm sản thiệt hại, chủng loại, loại rừng nơi Nguyễn Văn A khai thác. Quá trình kiểm tra có sự chứng kiến, chỉ dẫn của Nguyễn Văn A và các nhóm hộ có liên quan. Kết quả kiểm tra xác định có 10 cây gỗ bị cưa hạ, gỗ từ nhóm III-VII, có khối lượng 35m3 gỗ tròn; diện tích rừng thiệt hại không đáng kể, vì các cây gỗ ngã nằm liền kề khu vực đất trống.

Căn cứ vào điểm tọa độ đã xác định tại vị trí các cây gỗ bị cưa hạ, đối chiếu với bản đồ quy hoạch 3 loại rừng …thì khu vực rừng cưa hạ cây gỗ trái phép là rừng đặc dụng thuộc lâm phận quản lý của Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên TM.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-ĐG ngày 21/6/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Giá trị thiệt hại khối lượng gỗ do khai thác trái phép tại khoảnh 4 tiểu khu 706 thuộc xã P, huyện K, tỉnh Q là 60.000.000 đồng và thiệt hại về môi trường là không đáng kể.

Ngày 12/7/2016, Công an huyện K đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 08 bằng hình thức chuyển giao cho Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng TM tổ chức thu gom số gỗ tròn tận thu được là 25m3, số gỗ còn lại 10m3 không tận thu được đã tiêu hủy. Ngày 7/9/2016, Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng TM đã tổ chức nghiệm thu và định giá số gỗ thu gom thực tế được 120 phách gỗ có khối lượng 25 m3 gỗ các loại (từ nhóm III-VII). Ngày 21/10/2016, Hội đồng định giá bán đấu giá  được 100.000.000 đồng. Chi phí công tác bảo quản, xử lý bán và các chi phí liên quan đến khi hoàn thành việc xử lý tài sản là 70.000.000 đồng.

Với vụ án nêu trên, phần trách trách nhiệm dân sự còn có nhiều quan điểm khác nhau như sau:

Quan điểm thứ nhất: Cho rằng bị cáo Nguyễn Văn A không phải bồi thường thiệt hại về lâm sản. Vì theo định giá thiệt hại về lâm sản 35m3 gỗ tròn có giá trị 60.000.000 đồng. Trong đó số gỗ tận thu được 25m3 gỗ tròn đã bán đấu giá 100.000.000 đồng tức là đã vượt mức so với thiệt hại bị cáo gây ra là 60.000.000 đồng nên bị cáo không phải bồi thường (theo hướng có lợi cho bị cáo).

Quan điểm thứ hai: Trong trường hợp này bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường thiệt hại về lâm sản là 60.000.000 đồng theo kết luận định giá tài sản. Còn việc bán đấu giá gỗ tận thu 25m3 gỗ tròn được 100.000.000 đồng thì đây là xử lý vật chứng của vụ án; tức là không được trừ cho bị cáo. Còn 30.000.000 đồng còn lại sau khi trừ các khoản chi phí phải sung công quỹ Nhà nước.

Quan điểm thứ ba: Trong trường hợp này bị cáo Nguyễn Văn A chỉ phải bồi thường thiệt hại về lâm sản với số tiền 30.000.000 đồng. Vì bị cáo Nguyễn Văn A gây thiệt hại về lâm sản 35m3 gỗ tròn theo định giá là 60.000.000 đồng nhưng đã tận thu 25m3 gỗ tròn và đã bán đấu giá 100.000.000 đồng. Trong đó đã trích các khoản chi phí hết 70.000.000 đồng còn lại 30.000.000 đồng cho nên bị cáo còn phải bồi thường thiệt hại 30.000.000 đồng.

Quan điểm thứ tư: Nếu số gỗ bị cáo Nguyễn Văn A đã cưa hạ trái phép 10 cây gỗ các loại với khối lượng 35m3 gỗ tròn, theo định giá tài sản có giá trị 60.000.000 đồng nhưng không tận thu được khối nào để bán đấu giá thì bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường thiệt hại về lâm sản 60.000.000 đồng.

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ ba là phù hợp và theo hướng có lợi cho bị cáo. Vì về nguyên tắc bị cáo Nguyễn Văn A gây thiệt hại đến đâu thì phải bồi thường thiệt hại đến đó theo quy định tại Điều 42 BLHS năm 1999 và các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015. Trong vụ án nêu trên, bị cáo Nguyễn Văn A đã có hành vi cưa hạ trái phép 10 cây gỗ các loại có khối lượng 35m3 gỗ tròn, theo kết luận định giá có giá trị 60.000.000 đồng; nhưng số gỗ tận thu được 25m3 gỗ tròn và đã bán đấu giá 100.000.000 đồng; trừ các khoản chi phí hết 70.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng; trong trường hợp này bị cáo Nguyễn Văn A chỉ phải bồi thường 30.000.000 đồng chứ không phải 60.000.000 đồng theo định giá thiệt hại là đúng pháp luật.

Còn nếu trường hợp số gỗ do bị cáo cưa hạ với khối lượng 35m3 gỗ tròn mà không tận thu được thì rõ ràng bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về lâm sản là 60.000.000 đồng theo kết luận định giá là đúng pháp luật.

Do còn nhiều quan điểm khác nhau về việc bị cáo có phải bồi thường thiệt hại hay không bồi thường thiệt hại về lâm sản theo ví dụ trên. Để thống nhất việc áp dụng pháp luật, rất mong nhận được nhiều sự đóng góp ý kiến của quý bạn đọc.   (Công Lý Online 18/6) Về đầu trang

Gồng mình trước biến đổi khí hậu - Bài cuối: Tơi tả áo giáp xanh

Hiện trạng những điểm sạt lở nghiêm trọng ven biển miền Tây có chung đặc điểm không còn dải rừng phòng hộ. Áp lực dân sinh, quản lý lỏng lẻo, khai thác quá mức đã làm suy thoái rừng phòng hộ và hàng ngàn hộ dân lay lắt dưới tán rừng tơi tả, yếu đuối trước sóng gió.

Rừng phòng hộ ven biển miền Tây được mệnh danh là chiếc áo giáp xanh che chở, bao bọc cho bờ biển. Dải rừng phòng hộ từ Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu… vốn không lành, mỏng manh để lộ những bờ biển trơ trơ trước sóng gió. Tại hàng trăm điểm sạt lở và có nguy cơ sạt lở đều không còn rừng cây mắm, cây đước để cản sóng, phá sóng.

Đứng trên cầu Chiên Túp, thuộc xã Vĩnh Trạch Đông (thành phố Bạc Liêu), ông Võ Hồng Ngoãn nhìn về phía biển sóng đang vỗ mạnh. Bờ biển được gia cố bằng bê- tông nhưng vẫn sạt lở nhiều năm qua. “Diễn thế của vùng đất này, nơi nào không còn rừng là sạt lở. Chân cầu này, mỗi đợt triều cường lên cao, sóng biển mạnh, xói lở sâu thêm thấp thỏm lắm!”.

Gia đình bà Phan Thị Nga, ở ấp Khánh Hưng A, xã Khánh Hải (Trần Văn Thời, Cà Mau), sống dựa vào gần 2 ha đất vuông trong rừng phòng hộ được giao khoán. Bà Nga kể, vợ chồng bà về mua đất lập nghiệp ở địa phương khoảng năm 2001. Bà lập vuông tôm theo con nước, mỗi lần thu từ 2- 3 triệu đồng, sống tạm được. Không lâu sau, biển lở miết, đánh tan dải rừng phòng hộ, bể cả bờ vuông tôm.

Bờ biển Tây trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hơn 200 km, khu vực cửa sông, cửa biển đang sạt lở nghiêm trọng. Ông Nguyễn Văn Tâm, Giám đốc Sở NN&PTNT Kiên Giang nói: “Qua khảo sát, đánh giá toàn tuyến bờ biển Tây, tổng chiều dài sạt lở khoảng 40 km, nhiều đoạn không còn rừng phòng hộ, sóng biển kết hợp với triều cường đánh thẳng vào đê kè”.

Ông Ngô Hoàng Sơn, Hạt trưởng Hạt quản lý rừng phòng hộ biển Tây cho biết: “Năm 2009, diện tích rừng do đơn vị quản lý hơn 4.100 ha thì nay còn khoảng 2.700 ha, có 635 ha đất ven biển chưa có rừng”.

Trên tuyến bờ biển bao bọc tỉnh Cà Mau khoảng 250 km giáp Kiên Giang đến Bạc Liêu, xuất hiện nhiều điểm sạt lở do mất rừng phòng hộ, mức độ sạt lở ăn vào đất liền từ 20 đến 25 m/năm, xuất hiện các điểm sạt lở với tổng chiều dài hơn 100 km, mỗi năm mất 450 ha.

Chủ trương xã hội hóa nghề rừng, cơ quan quản lý, bảo vệ và phát triển rừng giao khoán cho dân trồng rừng kết hợp với nuôi trồng thủy sản. Nhưng việc nuôi tôm dưới tán rừng đã làm suy giảm mật độ rừng, khai thác rừng bừa bãi làm suy giảm tài nguyên rừng phòng hộ.

Bạc Liêu còn chưa đến 4.000ha rừng phòng hộ ven biển chạy trên 30km bờ biển thuộc địa bàn thành phố Bạc Liêu, huyện Hòa Bình, Đông Hải. Nhiều năm qua, Bạc Liêu đã nỗ lực trong việc trồng, tái tạo rừng, nhất là rừng phòng hộ. Đầu tháng 5, Bạc Liêu cho tỉa thưa trên 26,3ha và gây ra những phản ứng trái chiều.

Hạt kiểm lâm Nhà Mát (thành phố Bạc Liêu) cho tỉa thưa khu rừng phòng hộ tại xã Vĩnh Hậu A (huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu) của 31 hộ với trên 26,3 ha rừng trồng hơn 10 năm. Ông Nguyễn Văn Phúc, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Bạc Liêu cho biết, rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu khoảng 4.000 ha.

Ông Sáu Chọn (Bạc Liêu) được nhận giao khoán từ người khác, ông được khai thác không quá 30% trên diện tích nuôi tôm, 70% trồng và bảo vệ rừng. Nhưng người dân được tỉa thưa rừng nên ai cũng mừng để lấy mặt nước rộng để nuôi tôm. “Lợi dụng tỷ lệ này, người dân tỉa thưa quá nhiều để lấy gỗ đem bán”.

Ông Nguyễn Văn Đăng nói: “Tôi có 1,25 ha nằm trong diện phải tỉa thưa đợt này. Họ không vệ sinh rừng mà đưa cho tôi 745.194.000 đồng. Tôi xin thêm 3 triệu đồng nữa các anh ấy cũng cho. Nhưng thật ra, tôi bỏ ra trên 7 triệu để thuê người ta vệ sinh rừng mới có được rừng tốt như hôm nay”.

Những người dân nhận khoán đất rừng ở xã Vĩnh Hậu A (Hòa Bình, Bạc Liêu) được tỉa thưa rừng lần này cho rằng, tỉa thưa rừng quá tay, làm mất rừng. Nhưng ông Trịnh Hoài Thanh, Phó GĐ Sở NN&PTNT Bạc Liêu nói: “Tỉa thưa rừng là để phát triển rừng”?

Trước thực trạng giao khoán rừng phòng hộ làm suy giảm tài nguyên rừng do nuôi trồng thủy sản, Sở NN&PTNT Cà Mau quyết định thanh lý hợp đồng với 630 hộ dân ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Phú Tân. Ông Phạm Văn Oanh, Hạt phó Hạt kiểm lâm rừng phòng hộ biển Tây (Cà Mau) nói: “Chúng tôi đã thanh lý hợp đồng với 630 hộ dân được giao khoán, nhưng chưa có chỗ tái định cư, bà con chưa di dời”.

Ông Nguyễn Ngọc Châu, ở khóm 1, thị trấn Sông Đốc (Trần Văn Thời, Cà Mau) cho biết: “Tôi chưa được Hạt kiểm lâm rừng phòng hộ biển Tây kiểm kê tài sản, di dời đi đâu. Tôi đã sang nhượng thành quả lao động giá trị hơn 20 cây vàng, rồi đầu tư hơn 10 ha nuôi tôm, trồng rừng. Nay, Nhà nước thu hồi lại, tôi chưa biết phải đi đâu về đâu?”.

Vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Châu có 5 người con, sống bằng nghề nuôi tôm dưới tán rừng. Sau khi mua lại phần đất của người dân trong vùng, ông hợp thức hóa hợp đồng với Hạt kiểm lâm rừng phòng hộ biển Tây, thời hạn 15 năm. “Quy định thu hồi lại đất rừng mà không tính toán di dời, tái định cư và bồi thường thành quả lao động thì dân biết bấu víu vào đâu vì bỗng dưng mất trắng”.

Ở gần mảnh đất “tôm- rừng” của ông Châu là ông Trần Trường Giang, 52 tuổi, nhận khoán 10 ha. Ông Trần Trường Giang nói: “Sóng biển làm xói lở gần tới vuông tôm, còn khoảng 40 m. Tôi đang làm đơn xin cho cơ giới vào đào đắp để bảo vệ vuông tôm. Nếu Hạt kiểm lâm rừng phòng hộ biển Tây không cho, tôi kiện vì đã đầu tư bạc tỷ vào đây rồi”.

Chia sẻ với người dân sống trên lâm phần rừng phòng hộ biển Tây, ông Ngô Hoàng Sơn, Hạt trưởng Hạt quản lý rừng phòng hộ nói: “Đa số những hộ dân nhận khoán đất rừng đều nghèo khó. Họ đã bám biển, bám rừng là sinh kế bấy lâu nay. Họ rất cần có chính sách hỗ trợ để bớt được khó khăn, sớm ổn định cuộc sống”.

Ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cho biết, chủ trương thanh lý hợp đồng với người dân nhận khoán đất rừng phòng hộ biển Tây đang là chủ trương mạnh tay để bảo vệ rừng. Một câu hỏi đặt ra, hiện lực lượng kiểm lâm có bảo vệ, quản lý được toàn bộ rừng phòng hộ và người dân sẽ đi về đâu?

Ông Lê Văn Hải nói: “Chúng tôi chỉ đạo Hạt kiểm lâm rừng phòng hộ biển Tây phối hợp với Chi cục phát triển nông thôn Cà Mau khảo sát thực trạng, xây dựng phương án di dời, tái định cư cho người dân theo hướng ổn định cuộc sống cho người dân”.

Tỉnh Bạc Liêu ì ạch triển khai dự án di dời hơn 900 hộ dân sống ven biển, trong rừng phòng hộ đến nơi an toàn. Nhưng người dân e ngại di dời khỏi nền kinh tế “đánh bắt, hái lượm” bao đời của họ. Ông Thạch Sơn, ở kinh 14, xã Vĩnh Hậu A (Hòa Bình, Bạc Liêu) nói: “Ở ven biển sợ giông bão, nước dâng nhưng còn có cái ăn. Vào khu tái định cư yên thân mà bụng đói sao chịu nổi?”.

Sở NN&PTNT Cà Mau vừa thống kê, từ năm 2013- 2016, có thêm 1.144 hộ, 4.577 khẩu di dân tự do. Ông Tô Quốc Nam, Phó GĐ Sở NN&PTNT Cà Mau nói: “Việc di dời dân cư ven rừng, ven biển, di cư tự do đang gặp khó bởi nguồn đầu tư và sinh kế người dân”.

Khu dân cư Hương Mai, ấp 7, xã Khánh Tiến (U Minh, Cà Mau) có sức chứa 270 hộ, tiếp nhận dân cư từ năm 2011. Ông Nguyễn Châu Á, Ấp đội trưởng, kiêm Tổ tự quản Khu dân cư Hương Mai cho biết: “Hiện nay, có 45 hộ đã di dời vào khu tái định cư. Trước đây, bà con đến nhận nền đất 7 m x 30 m rất đông, khoảng 80%, nhưng chỉ một thời gian ngắn bà con bỏ đi nơi khác vì không tư liệu sản xuất, không làm ăn được”.

Vợ chồng ông Lê Văn Hẹ, 60 tuổi và bà Nguyễn Thị Hè, 57 tuổi, ở Khu dân cư Hương Mai nói: “Gia đình tôi có 6 người con thì đi Bình Dương làm công nhân hết 5 đứa. Vợ chồng già, con gái út và mấy đứa cháu nội ngoại còn ở đây. Bà con vào khu dân cư này ở thì sướng, có điện, có nước nhưng không làm ra tiền để sống”.

Ông Phan Văn Đậu, 71 tuổi, ở Khu dân cư Hương Mai nói: “Vào khu tái định cư chúng tôi thấy bế tắc vì không tìm ra kế sinh nhai. Bà con tái định cư rất cần đất sản xuất hoặc phương tiện để khai thác biển mới sống được”.

Ông Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cho hay: “Giai đoạn 2016-2020 và lộ trình đến 2025, Cà Mau cần khoảng 1.400 tỷ đồng để di dời thêm 4.800 hộ dân ở nơi bị ảnh hưởng biến đổi khí hậu vào nơi ở ổn định theo cụm, tuyến dân cư”. (Tiền Phong Online 17/6) Về đầu trang

Dịch vụ môi trường rừng: “Chìa khóa” bảo vệ rừng ở Hà Giang

Nếu trước đây rừng bị chặt phá bừa bãi, nay hầu như những cánh rừng đều đã có chủ. Đều đặn hàng năm, những chủ rừng này nhận được một khoản tiền không nhỏ từ việc chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Đây được coi là “chìa khóa” để bảo vệ những cánh rừng trước nạn khai thác bừa bãi hiện nay…

Thôn Quang Tiến, thị trấn Vinh Quang (huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang) được giao quản lý hơn 300ha rừng, bao gồm cả rừng sản xuất và rừng phòng hộ. Hầu hết các hộ đều đều được giao khoán rừng để bảo vệ, đồng thời các hộ phải cam kết bảo vệ đối với thôn và cán bộ kiểm lâm huyện.

Ông Lù Xín Cải, thôn Quang Tiến là một trong hàng ngàn hộ dân ở Hà Giang được giao khoán bảo vệ rừng và hưởng chính sách chi trả DVMTR. Ông Cải vui vẻ cho biết: “Gia đình được giao hơn 2ha rừng, hàng năm ngoài việc được nhận tiền chăm sóc, bảo vệ rừng còn được vào rừng khai thác và sử dụng sản phẩm phụ trong rừng. Nhờ có tiền DVMTR, gia đình đã mua được tivi, xe máy và lợn, bò giống để chăn nuôi”.

Chia sẻ về vấn đề này, ông Lù Văn Thanh - Trưởng thôn Ma Lù Súng, xã Bản Nhùng (Quang (Hoàng Su Phì, Hà Giang) cho biết, từ nhiều năm nay thôn đã có quy ước về việc bảo vệ rừng. Theo đó, tất cả người dân không được tự tiện vào rừng chặt cây. Khi hộ nào cần gỗ làm nhà, phải xin ý kiến thôn đồng ý mới được chặt, nếu không sẽ bị xử phạt hoặc báo cáo lên chính quyền.

Ngoài các hộ bảo vệ rừng được nhân tiền chi trả DVMTR, còn có các tổ chức như hội người cao tuổi, cựu chiến binh, đoàn thanh niên… cũng được nhận tiền DVMTR và họ đã góp lại lập quỹ để giúp nhau trong phát triển kinh tế. Điển hình như các hộ dân ở xã Tả Nhìu (Xín Mần, Lào Cai) đã xây dựng được quỹ lên đến hàng tỷ đồng. Từ nguồn quỹ này đã giúp cho hàng chục hộ nghèo trong thôn vay với lãi xuất thấp hoặc không lãi để phát triển kinh tế.

Nếu trước đây, người dân thôn Vai Lung, xã Tả Nhìu chỉ biết phát nương làm rẫy, vào rừng tìm kiếm sản vật, thì nay nhờ vốn từ tiền quỹ nhiều hộ đã có tiền để mua lợn đen về nuôi, thậm chí có hộ vay để mua trâu, bò. Sau vài năm, quỹ đi vào hoạt động đã giúp cho hàng chục hộ dân nơi đây có của ăn của để, có hộ từ hai bàn tay trắng nay đã có đàn lợn lên tới hàng chục con.

Bà Lò Thị Mẩy, một người dân ở Vai Lung vui vẻ cho hay: “Năm 2015, nhà mình được vay 10 triệu đồng tiền quỹ, mình đã mua lợn đen về nuôi. Chỉ sau hơn 1 năm mình đã có đủ tiền để trả gốc, hiện mình có 12 con lợn đen, nếu bán hết cũng phải được vài chục triệu đồng. Ở thôn mình cũng có nhiều người được vay quỹ, hiện đời sống kinh tế cũng khấm khá hơn, nên ai nấy đều có ý thức bảo vệ rừng”.

Không chỉ giúp các hộ nghèo phát triển kinh tế, từ nguồn quỹ này, các thôn đã chủ động được trong việc xây dựng đường bê tông nông thôn, giúp nhau di dời nhà cửa khỏi nơi nguy hiểm có nguy cơ sạt lở đất, lũ lụt, xây nhà văn hóa… Làm tốt công tác này phải kể đến xã Xuân Minh. Theo thống kê của xã, từ năm 2016 đến nay, xã đã làm mới được 1,2km đường từ thôn Minh Sơn đến thôn Minh Tiến, 1,5km từ thôn Minh Sơn đi thôn Lang; 330m kênh mương tại thôn Minh Sơn.  Nâng cấp 2,7km đường 4m vào thôn Pắc Péng…

Tương tự, tại thôn Na Quang, xã Bát Đại Sơn (Quản Bạ, Hà Giang), năm 2015, thôn có 72 hộ được chi trả tiền DVMTR, với số tiền là 80 triệu đồng. “Chúng tôi thống nhất góp toàn bộ số tiền này để thuê máy xúc về làm đường. Giờ trời mưa cũng như trời nắng xe máy, ôtô đều đi được hết, nên bà con vui lắm. Bà con đang bàn, năm nay sẽ sửa lại cái nhà văn hóa, mua đôi loa để thuận tiện mỗi khi hội họp” – ông Lý Seo Giáo thôn Na Quang cho biết.

Tuy nhiên, theo đánh giá DVMTR hiện đang có một số bất cập. Cụ thể, trong Nghị định 99 có một số điểm không còn phụ hợp với thực tế triển khai; thông tư hướng dẫn cơ chế quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR và thông tư hướng dẫn chế độ quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng chưa kịp thời…Việc chi trả được tiến hành theo từng lưu vực không có cơ chế cân đối, nên có sự chênh lệch khá lớn từ vài nghìn đồng/ha đến vài trăm nghìn/ha nên dễ gây thắc mắc giữa các chủ rừng trên cùng địa bàn…

Ông Cao Đạo Quang – Giám đốc Ban quản lý rừng đặc dụng Tây Côn Lĩnh (Hà Giang) cho biết, việc thực hiện chi trả DVMTR đã tác động lớn đến ý thức của người dân, họ không còn phá rừng làm nương rẫy nữa, mà chủ yếu vào rừng lấy củi vì bà con sống gần đó.

“Tiền chi trả DVMTR tuy ít, song bền và ổn định, ngoài ra người dân còn được hưởng hoa lợi dưới tán rừng. Song do địa hình phức tạp, việc xác định chất lượng rừng, lưu vực rất khó khăn, việc chia trả chưa thực sự công bằng, nên đôi khi gây ra tranh cãi, thắc mắc giữa các chủ rừng và đơn vị chia trả” – ông Quang cho biết.

Một khó khăn nữa là, một số công ty vẫn còn chậm nộp tiền DVMTR, thậm chí chầy ỳ không chịu nộp, nên việc chi trả cho người dân thường bị chậm, hoặc chi trả theo kiểu gối vụ.  (Danviet.vn 17/6) Về đầu trang

Cảnh sát đeo bám 20 km bắt bè gỗ lậu ở Quảng Nam

Rạng sáng 18/6, Công an huyện Đại Lộc (Quảng Nam) phát hiện ca nô kéo phía sau một chiếc ghe di chuyển trên sông Vu Gia, đoạn qua xã Đại Hưng.

Lực lượng chức năng đeo bám gần 20 km, khi đến xã Đại Quang, cảnh sát áp sát kiểm tra thì chủ ca nô cắt dây nhấn ga tẩu thoát.

Tiến hành kiểm tra, nhà chức trách phát hiện một bè gỗ 20 phách, khối lượng hơn 3 m3; số gỗ này được kết thành bè và buộc dây vào hai bên thành ghe.

“Gỗ được đưa từ thượng nguồn sông Vu Gia về hạ du tiêu thụ. Chúng tôi đang phối hợp với lực lượng kiểm lâm xác định chủng loại và điều tra vụ việc”, một lãnh đạo công an huyện Đại Lộc nói. (Phununews.vn 18/6; VnExpress.net 18/6) Về đầu trang

Quảng Ninh: Thông tin thêm về dự án phát triển du lịch tại xã đảo Quan Lạn

Sau khi các bài phản ánh về dự án phát triển du lịch tại xã đảo Quan Lạn (Vân Đồn - Quảng Ninh) được đăng tải, PV đã làm việc với công ty VIT Hạ Long và cơ quan chức năng về dự án này.

Ngày 14/6, làm việc với báo Người Đưa Tin, ông Nguyễn Gia Thái – Giám đốc công ty VIT Hạ Long (Chủ đầu tư dự án) cho biết: “Tháng 4/2006 công ty VIT Hạ Long được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt cho thuê diện tích 8,7 ha để xây dựng Khu du lịch sinh thái tại xã Quan Lạn. Sau khi được giao đất, công ty đã xây dựng một số hạng mục theo quy hoạch của dự án, tuy nhiên do gặp khó khăn không có nước ngọt nên công ty đã báo cáo tỉnh xin tạm dừng để tìm nguồn nước ngọt cho dự án".

Ông Thái có đưa ra dẫn chứng một số văn bản về quá trình thực hiện dự án, trong đó tại Văn bản số 4608/UBND-XD1 ngày 24/11/2009, UBND tỉnh Quảng Ninh đã đồng ý cho phép công ty VIT Hạ Long đầu tư cải tạo nâng cấp hồ chứa nước ngọt tại khu vực núi Đầu Làng để khai thác nước ngọt phục vụ phát triển du lịch và dân sinh.

Sau khi hồ xây xong, do vị trí từ hồ đến khu dự án khá xa (khoảng 1,5km) đồng thời kinh phí làm hồ cũng lớn nên công ty đã đề nghị và được UBND tỉnh đồng ý cho phép nghiên cứu lập quy hoạch mở rộng dự án trồng rừng và phát triển du lịch sinh thái tại xã Quan Lạn, trên diện tích khoảng 87 ha, bao trùm lên diện tích đã xây hồ, kênh và diện tích 8,7 ha đã được giao từ năm 2006. Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 dự án mở rộng này đã được phê duyệt tại Quyết định số 938/QĐ-UBND ngày 26/4/2012.

Nói về những sai phạm của công ty trong thời gian xây hồ, kênh chứa nước ngọt và lập quy hoạch mở rộng dự án, ông Thái cho biết: Trong giai đoạn 2009-2011, sau khi được tỉnh đồng ý cho làm hồ chứa nước ngọt và lập quy hoạch mở rộng dự án, do nôn nóng và muốn tranh thủ xây dựng trước một phần hạ tầng cho dự án, công ty đã san gạt một số vị trí trên bãi cát để xây dựng hồ chứa nước ngọt và các đoạn kênh dẫn nước phục vụ tưới tiêu và làm cảnh quan cho dự án.

Tuy vậy, con số 957.290m2 mà công ty đã san gạt nêu trong một biên bản lập ngày 13/5/2010 như báo đã nêu rõ ràng là không đúng với thực tế, chắc có sự nhầm lẫn, bởi vì toàn bộ diện tích công ty được giao để lập quy hoạch chỉ có khoảng 87 Ha (!?). Ngoài ra, công ty có giữ 1 biên bản do UBND xã Quan Lạn lập cùng ngày 13/5/2010 trong đó ghi diện tích san gạt là 873m2, không có cây bị đốn hạ.

Những sai phạm nói trên của công ty đã được Thanh tra tỉnh làm rõ và nêu trong văn bản Kết luận số 17/KL–TTr ngày 1/10/2012. Trên cơ sở những kết luận này, UBND tỉnh đã chỉ đạo công ty khắc phục các hậu quả. Từ năm 2012, sau khi có kết luận của Thanh tra, công ty đã hoàn toàn không tiến hành bất kỳ hoạt động xây dựng hay san gạt nào, chỉ tập trung trồng mới và chăm sóc cây xanh để hoàn nguyên môi trường, tạo cảnh quan cho dự án sau này.

Tại Văn bản số 1598/KKT-ĐT ngày 19/10/2015, ban Quản lý khu kinh tế (BQL KKT) Quảng Ninh xác nhận công ty đã khắc phục xong hậu quả các sai phạm như trồng cây xanh hoàn nguyên môi trường, tháo dỡ một số khung nhà xây sai vị trí, nộp tiền bồi thường số cây phi lao bị đốn hạ vào ngân sách Nhà nước theo quyết định của UBND huyện Vân Đồn.

Trên cơ sở báo cáo và đề nghị của BQL KKT tại Văn bản 1598/KKT-ĐT, ngày 11/11/2015, UBND tỉnh Quảng Ninh có Văn bản số 6851/UBND-XD1 đồng ý giao công ty VIT Hạ Long làm chủ đầu tư dự án Trồng rừng và phát triển du lịch sinh thái tại xã Quan Lạn, đồng thời yêu cầu công ty tiến hành lập điều chỉnh quy hoạch, hoàn thành các thủ tục pháp lý theo quy định đối với dự án.

Công ty đã hoàn thành điều chỉnh quy hoạch và trình BQL KKT phê duyệt tại Quyết định số 352/QĐ-BQLKKT ngày 27/12/2016. Đến ngày 28/4/2017, công ty đã xong bộ hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận điều chỉnh đầu tư đối với dự án để từ đây làm thủ tục ký quỹ, đền bù, giao đất theo quy định. Đáng tiếc là thời điểm công ty nộp đủ hồ sơ lên BQL KKT đúng là thời gian tỉnh đang tập trung rà soát các dự án trên toàn bộ địa bàn huyện Vân Đồn nên việc trình và phê duyệt hồ sơ của công ty phải dừng lại.

Hiện tại, hồ sơ dự án công ty đã hoàn thành và nộp BQL KKT đợi trình duyệt. Nói về mong muốn của công ty VIT Hạ Long, ông Thái bày tỏ: “Công ty đã đầu tư rất nhiều vào dự án, điều đó cho thấy mong muốn góp sức xây dựng và phát triển xã Quan Lạn nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung. Công ty mong muốn UBND tỉnh tạo điều kiện, xem xét một cách khách quan để công ty được tiếp tục tiến hành dự án nhằm phát triển kinh tế ở nơi đây. Nếu như được UBND tỉnh phê duyệt, chúng tôi sẽ triển khai và hoàn thành trong 5 năm”. (Nguoiduatin.vn 18/6) Về đầu trang

Đà Nẵng: Giám sát kỹ việc xin chuyển biệt thự trái phép thành khu du lịch

Ngày 17.6, ông Nguyễn Nho Trung, Phó chủ tịch HĐND TP.Đà Nẵng, xác nhận việc ông Ngô Văn Quang, Giám đốc Công ty vàng Phước Minh (tại Quảng Nam), đã có đơn xin xây dựng khu du lịch trên khu đất trước đây ông Quang xây khu biệt thự trái phép tại P.Hòa Hiệp Bắc (Q.Liên Chiểu, TP.Đà Nẵng).

Với chiếc điện thoại di động, công dân có thể nhanh chóng chụp hình, nêu ý kiến và gửi về cho cơ quan chính quyền xử lý. 

Sau khi nhận được đơn, HĐND TP đã giao Ban Pháp chế thực hiện kiểm tra, giám sát và sẽ báo cáo trước khi kỳ họp HĐND TP diễn ra vào tháng 7. Cũng theo ông Trung, HĐND TP.Đà Nẵng phải giám sát kỹ “bởi một công trình trái phép đã có chủ trương tháo dỡ, bây giờ để lại thì phải có cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn đầy đủ”.

Như Thanh Niên đã thông tin, cuối năm 2015, do xây dựng trái phép khu biệt thự rộng 1,5 ha trên đất rừng đặc dụng nam Hải Vân với 27 hạng mục nhà cổ, nhà rường bằng gỗ quý, cơ quan chức năng TP.Đà Nẵng đã ra quyết định yêu cầu ông Quang tháo dỡ trong thời hạn 50 ngày.

Tuy nhiên, đã gần 2 năm với nhiều lý do khác nhau, ông Quang vẫn chưa tháo dỡ hết công trình; đến thời điểm này, công trình vẫn còn nhiều hạng mục với toàn bộ tường rào kiên cố cao 2 m. Cổng khu biệt thự sau khi dỡ bỏ được thay lại bằng cổng sắt kiên cố cùng nhiều hạng mục công trình còn nguyên hoặc chỉ tháo dỡ phần mái và chừa lại thân nhà…

Ông Đàm Quang Hưng, Chủ tịch UBND Q.Liên Chiểu, cũng xác nhận, đã nhận được đơn của ông Quang về việc xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất để làm khu du lịch. “HĐND đã chuyển đơn về để địa phương có ý kiến. Quan điểm của UBND quận là việc này (cho phép chuyển đổi khu biệt thự sang khu du lịch - PV) không phá vỡ các quy hoạch trước đó. UBND quận sẽ đưa vấn đề này ra họp bàn và sẽ trình lên HĐND và UBND TP.Đà Nẵng để giải quyết nguyện vọng của ông Quang”, ông Hưng nói. (Thanh Niên Online 18/6) Về đầu trang

Thần dược trên đỉnh Ngọc Linh, Quảng Nam: Hồi sinh sâm trên “đất vàng”

Người dân ở núi Ngọc Linh thấu hiểu sâu sắc giá trị của rừng nên tìm mọi cách để bảo vệ. Với họ, bảo vệ rừng tức là bảo vệ cây sâm. Nhờ cây sâm, vùng đồi núi này ngày càng phát triển, thay da đổi thịt...

Hàng ngày, báo chí vẫn đưa tin về nơi này, nơi kia phá rừng. Nhưng, khi đến núi Ngọc Linh, chắc chắn, mọi người sẽ bất ngờ vì đồi núi vẫn phủ kín cây xanh. Đáng nói, đây là rừng nguyên sinh chứ không phải cây nhỏ, mới trồng. Thi thoảng, lọt thỏm giữa rừng xanh là các thửa ruộng bậc thang. Nhiều đồng bào Xơ Đăng hồ hởi: “Người dân ở đây không phá rừng đâu. Ngày xưa, dân giữ rừng để có nước trồng lúa. Từ ngày biết giá trị của sâm, mọi người lại càng giữ rừng để trồng sâm”.

Ông Hồ Văn Xuân (làng Tắk Ngo, xã Trà Linh) chia sẻ: “Dân ở đây ai cũng biết, không phải nơi nào cũng có thể trồng sâm. Cây sâm chỉ sống ở độ cao từ 1.200m trở lên và phải có rừng cao che phủ mới giữ được độ ẩm, độ mát cho cây sâm phát triển vào mùa nắng. Ngọc Linh may mắn lắm mới hội tụ đủ điều này”. Khi được so sánh về việc phá và giữ rừng đối với những vùng đất khác, nhiều người Xơ Đăng không ngần ngại chia sẻ: “Bọn mình chỉ phá rừng khi không có việc làm, không có cái ăn. Dân ở đây nhờ trồng sâm sống được mà, tại sao lại phải phá rừng”.

Tại xã Trà Linh (tỉnh Quảng Nam), làng Tà Lang được gọi là “đất sâm” vì là nơi đồng bào Xơ Đăng biết trồng và bán sâm sớm nhất. Tà Lang không chỉ có độ cao thích hợp mà rừng nguyên sinh vẫn còn giữ gần như nguyên vẹn. Hai bên đường đi là những hàng cây cổ thụ chen nhau. Theo người dân, trước đây, đất ở Tà Lang trồng sâm rất nhiều. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, giá sâm cao, nhiều người từ miền xuôi lên, tìm mọi cách nhổ trộm. Tà Lang là vùng đất thấp nhất có thể trồng sâm nên “sâm tặc” dễ dàng đột nhập. Tình trạng nhổ xâm xảy ra nhiều nên người dân tìm lên chỗ núi cao, hiểm trở hơn để trồng.

Phía trên làng Tà Lang là các làng Tắk Ngo, Cam Bin, Măng Lùng. Ở những vùng này, rừng cũng được người dân bảo vệ. Mặc dù Măng Lùng chỉ cách Tà Lang hơn một giờ đi bộ nhưng lại là vùng đáng mơ ước để trồng sâm vì hiểm trở, thời tiết lạnh hơn. “Cách không xa nhưng Măng Lùng có nhiều điều kiện trồng sâm, trộm cũng khó tìm ra cây sâm được dân trồng”, ông Hồ Văn Lang (Bí thư chi bộ thôn 2) chia sẻ.

Cách đây vài năm, chúng tôi từng lên Ngọc Linh. Từ trung tâm xã đến một số khu vực dù quãng đường không xa lắm nhưng phải lội bộ hơn ngày vì không thể chạy xe vào. Đường lại nhiều dốc ngược, khe sâu. Thế nhưng, đến nay, các con đường này đã được bê tông hóa. Đồng thời, đường ở xã, làng cũng được xây, thuận tiện cho việc đi lại của người dân.

“Trước đây, người Xơ Đăng cứ nghĩ, con đường nào cũng làm bằng đất, đi đâu cũng phải lội bộ. Thế nhưng, từ khi đường được cấp trên xây, nhiều nhà dân mua xe máy, đi đâu cũng nhanh. Đường xây như là cổ tích của người dân đồng bào”, ông Hồ Văn Hươu cho biết. Cũng theo ông Hươu, sở dĩ đường được bê tông hóa từ khi giá trị sâm được mọi người biết đến và được chính quyền chú ý phát triển.

Nhờ những con đường bê tông hóa, đồng bào trên núi Ngọc Linh được thông thương, tiếp xúc với nhiều kiến thức hơn. Từ đó, họ có thể cập nhật giá sâm, biết cách trồng, bảo vệ sâm. Trước đây, người dân chỉ biết đến giá trị trước mắt, nhổ sâm từ hai đến ba năm tuổi bán non để lấy tiền. Nhưng, bây giờ, người dân chẳng bao giờ nhổ sâm non, vì giá trị kinh tế thấp. Sâm thấp nhất được nhổ bán là 6 đến 7 tuổi.

Trước đây, sâm tự nhiên nhiều, người dân tận diệt vì thương lái đến hỏi mua với giá rẻ mạt. Khi biết giá trị thật thì sâm tự nhiên đã cạn, một số người dân tìm cách trồng sâm. Mười năm trôi qua, số hộ dân trồng sâm tăng lên nhanh chóng. Được biết, năm 2014 xã Trà Linh có 110 hộ trồng sâm, đến nay tăng hơn 900 hộ, đăng ký 1.200 héc-ta để trồng sâm.

Do số lượng người và diện tích trồng sâm tăng nên cây giống bị thiếu. Sở dĩ thiếu cây giống vì cây sâm có hạn chế chỉ có thể nhân giống bằng hạt. Để đáp ứng nhu cầu cây giống, đề án phát triển sâm Ngọc Linh, huyện Nam Trà My đã lập trại giống Tắk Ngo ở xã Trà Linh được 5 năm.

Ông Trịnh Minh Qúy – Giám đốc trại giống cho biết, trại giống mở ra nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất giống sâm Ngọc Linh bền vững, cung cấp giống chất lượng cho việc phát triển sâm tại địa phương. Trại sâm này bên cạnh tạo nguồn cây sâm con cung cấp cho người dân còn là nơi bảo tồn nguồn gien, thực nghiệm, đúc kết kỹ thuật trồng sâm Ngọc Linh nhằm hoàn thiện “công nghệ” nhân trồng loại sâm quý.

Theo ông Qúy, sâm tự nhiên rất ít khi bị bệnh, nhưng khi được trồng chung thì rất dễ nhiễm bệnh. Gần đây, các kỹ sư của trại phát hiện bệnh thối củ vào mùa mưa, trong khi đó, ở cây sâm, củ có giá trị nhất. Từ đó, các kỹ sư đã tìm ra cách khắc phục bằng cách khơi rãnh. Điều đáng nói, cách khơi rãnh phải phù hợp, không quá sâu và phải tìm cách giữ đất vì đây là khu vực dốc, đất dễ bị dòng nước cuốn theo. Các kỹ sư hạn chế điều này bằng cách dùng thân cây chắn... Ở trại, cây sâm được bón mỗi năm hai lần bằng lá mục, cành gỗ mục để cung cấp chất mùn tự nhiên, tạo lớp mùn phù hợp, độ ẩm cho luống...

Cây sâm có đặc tính ngủ đông từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau mới “hồi sinh”. Khi ngủ đông, lá trụi hết, sức đề kháng giảm. Đến tháng 2, cây đâm chồi trở lại. Trước đây, không hiểu đặc tính này, người dân trồng cây giống từ tháng 9 đến tháng 10, đây là thời gian ngủ đông nên cây chưa kịp bén rễ thì đã bị trụi lá, thường chết. Nhờ tìm ra đặc tính ngủ đông nên kỹ sư trại giống phổ biến cho người dân, giảm tình trạng cây sâm giống chết.

Để cây sâm phát triển tốt, các kỹ sư cũng tìm ra cách tưới vào mùa nắng và che chắn luống sâm vào mùa mưa. Họ tìm các loại cành lá xanh ủ cho những luống sâm bị nước từ cành cây trên cao dột xuống vào mùa ngủ đông. Lá xanh khi được ủ trong khoảng thời gian dài sẽ tạo ra độ mùn, chất hữu cơ bón luôn cho cây...

Tại trại sâm này, cây được trồng khoảng 3 năm sẽ ra hoa, kết trái. Trái sẽ được nhân giống tạo ra cây mới. Riêng cây mẹ được bứng trồng ở một khu riêng vừa để bảo tồn, vừa dùng nghiên cứu. Từ 2013 đến 2016, trại trồng hơn 5,6 héc-ta sâm với 207 nghìn cây, thu được 462 nghìn hạt giống, gieo sống được 124 nghìn cây con. Số cây con này vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân.

Cần nhắc lại rằng, hiện nay, rất ít đơn vị, tổ chức có khả năng ứng dụng công nghệ bảo tồn, nuôi trồng, phát triển sâm Ngọc Linh. Ngoài trại giống Tắk Ngo, một số công ty cũng đã bước đầu theo đuổi việc bảo tồn, phát triển cây sâm quý. Đại diện công ty sâm Ngọc Linh Quảng Nam cho biết, bước đầu là tập trung những gốc sâm tự nhiên nằm rải rác trong khu vực núi Ngọc Linh về trạm dược liệu. Thời gian đầu, do chưa hiểu đặc tính của cây nên chỉ khoảng 30% sống sót. Tuy vậy, sau khi nghiên cứu, loại bỏ các loại hạt lép, hư, kết hợp với hoán đổi thời vụ gieo hạt, điều chỉnh thời điểm ươm cây, tỉ lệ sống đã tăng lên 70%. (Đời Sống & Pháp Luật Online 18/6) Về đầu trang

Quảng Nam: Khuyến khích phát triển cây quế Trà My

Quế Trà My là loại cây gắn bó với cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở miền núi tỉnh Quảng Nam qua nhiều thế hệ. Sản phẩm quế Trà My được nhiều người biết đến, tuy nhiên, lâu nay do đầu ra và giá cả bấp bênh, cho nên diện tích trồng quế bị thu hẹp. Mới đây, tỉnh Quảng Nam đã ban hành nghị quyết chuyên đề về quy hoạch, cơ chế khuyến khích phát triển cây quế Trà My.

Quế Trà My có nguồn gốc là cây quế rừng đã được đồng bào Xơ Đăng, Mơ Nông… đem về trồng trong vườn nhà. Lúc đầu, mỗi gia đình chỉ trồng vài cây trong vườn, sau đó phát triển thành các vườn, đồi và rừng quế. Vào những năm 80 của thế kỷ 20, khi cây quế Trà My được xuất khẩu ra nước ngoài, nhiều gia đình ở huyện Trà My giàu lên nhờ trồng quế. Có thời điểm, người dân khai thác một cây quế chừng vài chục năm tuổi thu được lợi nhuận rất cao. Tuy nhiên do thị trường bấp bênh, sản phẩm quế Trà My rớt giá khiến người dân lao đao. Mặt khác, sau những năm 90 của thế kỷ 20, do một số công ty đưa giống quế từ phía bắc vào trồng ồ ạt không chỉ làm cho diện tích quế Trà My thu hẹp mà còn làm cho chất lượng và thương hiệu quế Trà My bị ảnh hưởng. Trước tình hình đó, nhiều người phải chặt bỏ cây quế du nhập từ phía bắc, để trồng lại cây quế bản địa. Chính quyền các xã cũng chủ động tuyên truyền và và khuyến khích người dân nhân rộng giống quế bản địa. Và từ đó, cây quế Trà My có điều kiện được khôi phục.

Theo khảo sát mới đây, cây quế Trà My được trồng tập trung ở bốn huyện miền núi: Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước và Phước Sơn, với diện tích khoảng 4.560 ha. Trong đó, huyện Nam Trà My được mệnh danh là vùng đất trung tâm của cây quế. Hiện, loại cây này được trồng khắp huyện, với diện tích hơn 2.640 ha. Hầu như nhà nào trong huyện cũng trồng quế, hộ ít nhất cũng vài trăm cây.

Có dịp về xã Trà Leng, một trong những vùng trọng điểm quế của huyện Nam Trà My, chúng tôi bị cuốn hút bởi những vườn quế cổ thụ, có cây gốc to cả người ôm không hết. Ông Nguyễn Văn Thành ở thôn 1 cho biết, ông đã gắn bó với cây quế hơn 20 năm. Hiện tại, trong vườn của gia đình ông có đến hàng trăm cây quế từ 15 đến 20 năm tuổi. Mỗi năm, ông Thành chỉ chọn một số cây đủ tuổi khai thác để trang trải cuộc sống gia đình, còn lại làm “của để dành”. Từ đầu năm nay, giá quế có nhích lên so với những năm trước, vỏ quế tươi có giá từ 15 đến 20 nghìn đồng/kg, vỏ quế khô có giá từ 40 đến 60 nghìn đồng/kg tùy theo chất lượng. Tính ra, mỗi năm gia đình ông Thành thu từ cây quế khoảng 15 triệu đồng.

Ở xã Trà Leng, nhiều hộ có nguồn thu ổn định từ cây quế với số tiền khoảng từ 10 đến 15 triệu đồng/năm. Nói về cây quế, Bí thư Đảng ủy xã Trà Leng Hồ Quốc Khánh cho biết: "Những năm qua, dù giá cả có lúc bấp bênh, nhưng người dân vẫn gắn bó với cây quế Trà My. Với phương châm lấy ngắn nuôi dài, hằng năm đến mùa thu hoạch, các gia đình khai thác từ 10 đến 20 cây quế đủ tuổi; mỗi cây bình quân thu được 20 kg quế vỏ (với số tiền gần một triệu đồng/cây). Từ số tiền này, các hộ có tiền để chi tiêu và đầu tư trồng mới lại những diện tích đã khai thác, cho nên năm nào, người dân cũng có sản lượng và nguồn thu ổn định từ cây quế...".

Không chỉ tập trung ở một vài xã trọng điểm mà những năm gần đây, cây quế được trồng khắp trên địa bàn huyện. Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My Hồ Quang Bửu cho biết: "Vào năm 2011, sau khi được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp chứng nhận xây dựng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Trà My” cho sản phẩm quế vỏ, huyện đã mạnh dạn xây dựng chiến lược phát triển cây quế Trà My. Theo đó, bên cạnh việc lồng ghép, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ, huyện còn hỗ trợ về cây giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc; đồng thời liên kết với các doanh nghiệp thu mua, chế biến nhằm hình thành chuỗi khép kín từ khâu sản xuất đến thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Nhờ cây quế mà những năm gần đây, tình trạng thiếu đói của đồng bào các dân tộc trong huyện đã được đẩy lùi, đời sống từng bước được cải thiện, số hộ đói nghèo giảm xuống rõ rệt...".

Để bảo tồn và đầu tư phát triển quế Trà My theo hướng sản xuất hàng hóa, đưa nghề trồng quế trở thành một nghề có thế mạnh trong sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh, cuối tháng 5-2017, HĐND tỉnh Quảng Nam đã ban hành nghị quyết chuyên đề về Quy hoạch phát triển cây quế Trà My đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, phấn đấu đến 2025, phát triển và ổn định vùng nguyên liệu với diện tích trồng đạt khoảng 7.770 ha, trong đó trồng mới 4.017 ha. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh cho biết: "Để đạt mục tiêu đề ra, tỉnh đã đưa ra tám nhóm giải pháp cơ bản về: Cơ chế chính sách, vốn đầu tư; quản lý, sử dụng đất; nguồn nhân lực, giống, khoa học công nghệ, thương mại, xúc tiến thị trường sản phẩm và hoàn thiện cơ sở hạ tầng...". (Nhân Dân Online 18/6; Moitruong24h.vn 19/6) Về đầu trang

Quảng Nam: Ghe chở hàng chục phách gỗ lậu bị bắt trên sông Vu Gia

Chiều 18/6, Công an huyện Đại Lộc (Quảng Nam) xác nhận vừa bắt giữ một chiếc ghe đang vận chuyển gỗ lậu trên sông Vu Gia (đoạn qua xã Đại Quang, huyện Đại Lộc).

Trước đó, tối 17/6, từ nguồn tin của quần chúng cung cấp, tổ tuần tra gồm 4 cán bộ chiến sĩ Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện Đại Lộc trinh sát và phát hiện trên sông Vu Gia (đoạn qua xã Đại Hưng, huyện Đại Lộc) một chiếc ca nô dẫn lái kéo theo sau một chiếc ghe đang di chuyển trên sông Vu Gia có biểu hiện nghi vấn.

Lực lượng công an đeo bám một quãng sông dài khoảng hơn 20km. Đến khoảng 0h30 ngày 18/6 khi đến đoạn qua xã Đại Quang, tổ công tác bất ngờ áp sát kiểm tra thì đối tượng trên ca nô cắt dây bỏ ghe phía sau lại rồi tăng tốc ca nô bỏ chạy. Còn đối tượng trên ghe lợi dụng đêm tối cũng nhảy xuống sông tẩu thoát.

Tại hiện trường, lực lượng chức năng phát hiện nhiều phách gỗ lậu được chở trên ghe và ngụy trang bằng cách kết thành bè và được cột bằng dây thừng vào hai bên thành ghe.

Qua kiểm đếm ban đầu, lực lượng chức năng xác định hai bên thành ghe có gần 20 phách gỗ lậu chưa xác định chủng loại.

Hiện vụ việc đang được Công an huyện Đại Lộc tiếp tục điều tra, làm rõ. (Thanh Niên 19/6, tr2; Tiền Phong 19/6, tr11; Giao Thông Online 18/6; Nhân Dân Online 18/6; Nguoiduatin.vn 18/6; Phununews.vn 18/6; Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh Online 18/6; Vietnamnet.vn 18/6; Nông Nghiệp Việt Nam Online 18/6; News.zing.vn 18/6; Thanh Niên Online 18/6; Công An Nhân Dân Online 18/6; Công Lý Online 18/6; Tài Nguyên & Môi Trường Online 18/6; Kbchn.net 18/6; Tuổi Trẻ Online 18/6; VnExpress.net 18/6; Dân Trí 18/6; Người Lao Động Online 18/6; Vietnammoi.vn 18/6; Công Lý Online 18/6; Đại Đoàn Kết Online 18/6) Về đầu trang

Lai Châu: Đẩy mạnh công tác trồng rừng

Năm 2017, tỉnh Lai Châu đặt chỉ tiêu trồng mới 3.261ha rừng. Hiện các đơn vị và người dân đang tích cực chuẩn bị cho công tác trồng rừng.

Năm 2016, chỉ tiêu trồng rừng trên đại bàn tỉnh Lai Châu là 2.235ha, trong đó bao gồm 350ha rừng phòng hộ, 1.885ha rừng thay thế các công trình thủy điện. Bằng nhiều nỗ lực, tỉnh Lai Châu đã hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng khi trồng mới được 3.176ha, trong đó chủ yếu là rừng thay thế chiếm trên 2.693ha.

Ông Nguyễn Văn Biển, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lai Châu cho biết: Năm 2017, UBND tỉnh Lai Châu giao chỉ tiêu trồng mới 3.261ha rừng. Đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh Lai Châu đã phát dọn thực bì trên 2.722ha, cuốc hố 1.453ha và trồng mới rừng được được gần 123ha rừng tại các huyện Sìn Hồ, Nậm Nhùn, Tân Uyên, Tam Đường. Cơ cấu các loại cây trồng là Quế, Sơn tra, Lát hoa, Thông mã vĩ, Vối thuốc, Giổi xanh... Trong đó, cây Quế chiếm diện tích lớn nhất với 2.090ha.

Cho đến nay, các đơn vị thực hiện trồng rừng đã chuẩn bị được 11 triệu cây giống (cây gieo ươm trong tỉnh 2,6 triệu cây; cây chuyển nơi khác đến là 8,4 triệu cây). Cây giống đảm bảo về nguồn gốc, tiêu chuẩn, chất lượng và thời gian gieo ươm theo quy định.

Mặc dù vậy, trong quá trình triển khai trồng rừng, Lai Châu cũng gặp phải không ít khó khăn do điều kiện địa hình xa, độ dốc lớn, giao thông đi lại không thuận lợi; đặc thù trên địa bàn tỉnh thời gian trồng rừng không dài (tập trung trong tháng 6), thời điểm trồng rừng trùng với thời gian thu hoạch lúa chiêm và gieo cấy vụ mùa của nhân dân dẫn đến khó khăn trong việc huy động người dân triển khai trồng rừng...

Ông Nguyễn Văn Biển cho biết thêm: Hiện nay đã bước vào mùa trồng rừng, trong khi đó nắng nóng phức tạp, để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch 2017, Chi cục đã tham mưu cho Sở NN-PTNT ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các chủ đầu tư, các cơ quan chuyên môn và Ban quản lý rừng phòng hộ phối hợp với Hạt Kiểm lâm tăng cường tuyên truyền về lợi ích của việc trồng rừng. Vận động người dân phát dọn thực bì, cuốc, lấp hố theo đúng quy trình kỹ thuật trước khi trồng cây.

Cùng với đó, chỉ đạo các đơn vị thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, nắm bắt những khó khăn vướng mắc phát sinh trong qúa trình thực hiện trồng rừng để tham mưu cho lãnh đạo Sở và UBND tỉnh có phương hướng giải quyết kịp thời. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 18/6) Về đầu trang

Bắt thêm 3 đối tượng trong vụ phá rừng có quy mô lớn ở Lâm Đồng

3 đối tượng cùng băng nhóm của mình đang khai thác gỗ trái phép có quy mô lớn thì bị lực lượng chức năng phát hiện và truy bắt.

Ngày 17/6, ông Nguyễn Khang Thiên - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng cho biết, lực lượng chức năng đã bắt giữ thêm 3 đối tượng nằm trong băng nhóm phá rừng có tổ chức tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Qua điều tra mở rộng, lực lượng chức năng của tỉnh Lâm Đồng xác định Trương Quang Hưng (39 tuổi), K’Sáng (17 tuổi) và Đoàn Văn Thanh (37 tuổi) cùng trú tại xã Lộc Tân là 3 trong các đối tượng tham gia vụ án phá rừng có quy mô lớn xảy ra trên địa bàn huyện Bảo Lâm nên đã thực hiện bắt giữ vào ngày 15/6.

Trước đó, 3 đối tượng này cùng băng nhóm của mình đang khai thác gỗ trái phép có quy mô lớn tại 2 tiểu khu 455 và 468 thuộc địa bàn thôn 4, xã Lộc Tân thì bị lực lượng chức năng phát hiện và truy bắt.

Cầm đầu băng nhóm phá rừng này là Trịnh Văn Long (43 tuổi) và Quách Văn Luyến (25 tuổi), cùng ngụ tại thôn 4, xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm bị bắt giữ, những đối tượng còn lại đã chạy thoát.

Tại hiện trường có nhiều phương tiện, máy móc, 8 hộp gỗ, 20 cây gỗ kiền (thuộc nhóm 2) đã bị cưa xẻ và chặt hạ, tổng khối lượng gỗ trên 38m3.

Hiện cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam các đối tượng có liên quan đến vụ phá rừng có quy mô lớn này để tiếp tục điều tra, xử lý theo duy định của pháp luật. (VOVNews 17/6; Moitruong24h.vn 18/6) Về đầu trang

Quảng Bình: Hải quan Cha Lo phối hợp bắt 64 hộp gỗ Mun nhập lậu

Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo (Cục Hải quan Quảng Bình) vừa phát hiện xe ô tô chở 64 hộp gỗ Mun (1,83m3) nhập lậu từ Lào về Việt Nam.

Ngày 16/6, tại Mốc 528, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cha Lo chủ trì phối hợp với Đội Đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm, Bộ đội Biên phòng Quảng Bình và Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo phát hiện xe ô tô mang biển kiểm soát Lào chạy hướng từ Lào về Việt Nam, phát hiện sau thùng xe có 64 hộp gỗ Mun, có tổng khối lượng 1,83m3.

Người điều khiển xe ô tô không xuất trình bất cứ giấy tờ liên quan đến lô gỗ trên.

Hiện Tổ công tác tiến hành lập biên phản vi phạm hành chính, đồng thời tịch thu tang vật vi phạm theo quy định.

Theo nguồn tin từ Báo Hải quan, hoạt động mua bán, vận chuyển trái phép hàng hóa qua khu vực cửa khẩu quốc tế Cha Lo diễn ra nhỏ lẻ, không phức tạp so với khu vực cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị).

Hàng hóa vi phạm do lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ chủ yếu là: Động vật hoang dã, gỗ Trắc, pháo nổ... (Hải Quan Online 17/6) Về đầu trang

An Lão, Bình Định: Rừng giáp ranh với huyện Hoài Nhơn bị xâm hại nghiêm trọng

Thông tin này được ông Tướng Thoàn, Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện An Lão (gọi tắt là Ban Quản lý), cho biết vào ngày 15.6. Trước đó, Ban Quản lý phối hợp với lực lượng chính quyền xã An Hưng tiến hành kiểm tra, truy quét khu vực rừng giáp ranh với xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn và phát hiện nhiều diện tích rừng thuộc diện quản lý bảo vệ đã bị xâm hại nghiêm trọng.

Cụ thể, tại lô e, khoảnh 4, tiểu khu 6, xã An Hưng do Ban đang quản lý, có 3,5 ha rừng bị phá để trồng cây keo. Cũng tại khu vực này và tại lô c, khoảnh 4, tiểu khu 6 của xã còn bị Ban Quản lý phát hiện có 18 cây gỗ (đường kính từ 42-65cm) bị đốn hạ và vận chuyển ra khỏi rừng. Ngoài ra, tại tọa độ X-574778 và Y-1624171 do UBND xã An Hưng quản lý, Tổ công tác cũng phát hiện 2 ha rừng cũng bị phá để trồng cây keo; có đường để cho xe ô tô vận chuyển gỗ ra khỏi rừng đi về phía Ðông xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn.

Ông Thoàn nhận định, diện tích rừng bị xâm hại nói trên thuộc khu vực giáp ranh với huyện Hoài Nhơn, cách xa trung tâm huyện An Lão và địa hình cách trở, nên nhiều khả năng là do người ngoài địa phương làm. (Baobinhdinh.com.vn 17/6) Về đầu trang

Bình Định: Xử lý nhiều trường hợp vận chuyển gỗ keo không có hồ sơ nguồn gốc rừng trồng

Chiều 17.6, ông Phạm Lộc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Ân, cho biết: Tình trạng lái xe vận chuyển gỗ keo vi phạm thủ tục hành chính trong khai thác, vận chuyển lâm sản trên địa bàn huyện có chiều hướng gia tăng.

Đầu năm 2017 đến nay, Kiểm lâm huyện đã phát hiện, lập biên bản xử lý vi phạm hành chính 25 trường hợp vận chuyển gỗ nhưng không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc rừng trồng, với số tiền xử phạt hơn 22 triệu đồng. Để ngăn chặn hiện tượng này, Kiểm lâm huyện tiếp tục đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật. (Baobinhdinh.com.vn 17/6) Về đầu trang

Đắk Nông: Bắt đối tượng chuyên hoạt động bảo kê phá rừng

Ngày 18/6, Thượng tá Phạm Thanh Bình, người phát ngôn Công an tỉnh Đắk Nông cho biết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh vừa bắt đối tượng chuyên hoạt động bảo kê phá rừng tại địa bàn huyện Đắk Glong, thu giữ nhiều vũ khí các loại.

Cụ thể, đêm 17/6, thực hiện chuyên án về đấu tranh ngăn chặn tội phạm hủy hoại rừng trên địa bàn huyện Đắk Glong, lực lượng Công an tỉnh phối hợp với Công an huyện Đắk Glong đã thực hiện lệnh bắt khẩn cấp một đối tượng cầm đầu băng nhóm chuyên hoạt động bảo kê chặt phá rừng, mua bán lấn chiếm đất rừng trái phép, đòi nợ thuê và mua bán ma túy.

Khám xét nơi ở của đối tượng, cơ quan Công an phát hiện và thu giữ nhiều tang vật gồm: 1 quả lựu đạn, 1 khẩu súng Rulo bên trong súng có 2 viên đạn, 2 hộp chứa 98 viên đạn, 3 bịch nilong chứa Heroin cùng một số vật dụng, dao kiếm các loại...

Chiều 18/6, Đại tá Nguyễn Ngọc Chương, Giám đốc Công an tỉnh đã trực tiếp đến Công an huyện Đắk Glong chỉ đạo các đơn vị, Công an huyện tiếp tục triển khai các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh với các băng nhóm tội phạm và thưởng nóng tổ công tác Công an huyện Đắk Glong 5 triệu đồng. (Báo Đắk Nông 18/6) Về đầu trang

Gia Lai: Kéo giảm số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và PTNT, thời gian qua, công tác tuyên truyền lưu động và phổ biến các chính sách pháp luật về công tác quản lý bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm và các chủ rừng đã có nhiều chuyển biến rõ nét.

Theo đó, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh chỉ xảy ra 345 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 64 vụ so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, tập trung chủ yếu vẫn là tình trạng mua bán, cất giữ lâm sản trái phép 272 vụ; phá rừng trái phép 32 vụ; vi phạm quy định về khai thác gỗ, lâm sản 25 vụ và vi phạm khác 25 vụ…

Cơ quan chức năng đã tịch thu trên 669,88 m3 gỗ các loại, xử phạt vi phạm hành chính, thu nộp vào ngân sách nhà nước trên 4,49 tỷ đồng. (Baogialai.com.vn 18/6) Về đầu trang

Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa: Tập trung phòng, chống cháy rừng

Để bảo vệ đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Hòn Bà, bên cạnh chú trọng công tác bảo vệ rừng, Ban quản lý KBTTN Hòn Bà còn đẩy mạnh công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trong cao điểm mùa khô năm nay.

Ông Đỗ Anh Thy - Giám đốc Ban quản lý KBTTN Hòn Bà cho biết: “KBTTN Hòn Bà là nơi có tính đa dạng sinh học cao, có tiềm năng lớn về nghiên cứu khoa học, phát triển dịch vụ, du lịch sinh thái. Qua khảo sát, chúng tôi xác định trong cao điểm nắng nóng vào tháng 7, trong khu bảo tồn có 225,65ha rừng trồng chủ yếu là dầu con rái, sao đen, keo lá tràm tập trung ở các địa phương như: Cam Lâm, Diên Khánh và một số khu vực chịu tác động, ảnh hưởng từ hoạt động du lịch, sản xuất của người dân có nguy cơ cháy rất cao”.

Được biết, 5 năm qua, tại KBTTN Hòn Bà chưa xảy ra vụ cháy rừng nào gây thiệt hại về tài nguyên thiên nhiên, nhưng công tác PCCCR của đơn vị cũng gặp không ít khó khăn như: dân cư sống xen kẽ với rừng, việc đốt nương làm rẫy, săn bắt, sử dụng lửa trong rừng thường xuyên diễn ra. Ngoài ra, một số điểm du lịch nằm trong rừng, ven rừng nên chỉ cần bất cẩn là dẫn đến nguy cơ cháy rừng cao. Trong khi đó, lâm phận của KBTTN Hòn Bà rất lớn, địa hình phức tạp, mùa nắng nóng kéo dài trong khi nhân lực, phương tiện PCCCR còn hạn chế nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác PCCCR của đơn vị.

Khó khăn lớn nhất trong công tác PCCCR tại KBTTN Hòn Bà là việc quản lý các hoạt động sản xuất nương rẫy của người dân. Hiện nay trong khu vực KBTTN Hòn Bà có 168 hộ dân canh tác, sản xuất với tổng diện tích 464,79ha. Khi các hộ tiến hành đốt nương làm rẫy thì nguy cơ cháy rừng rất lớn. Để giải quyết vấn đề này, Ban quản lý KBTTN Hòn Bà đã vận động người dân ký cam kết PCCCR, trước khi đốt rẫy phải tiến hành dọn đường ranh cản lửa, khi đốt rẫy phải có lực lượng chức năng theo dõi, hỗ trợ… Bên cạnh đó, để chủ động trong công tác PCCCR, nâng cao năng lực chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra, Hạt Kiểm lâm Hòn Bà đã tiến hành diễn tập phòng, chống cháy rừng trong tháng 4, với sự tham gia của nhiều lực lượng.

Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà có tổng diện tích hơn 19.285ha (trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt hơn 9.519ha, phân khu phục hồi sinh thái hơn 9.553ha, phân khu dịch vụ - hành chính hơn 213ha), trải dài trên địa bàn 4 huyện gồm: Cam Lâm, Diên Khánh, Khánh Vĩnh và Khánh Sơn.

Theo ông Lê Kim Hoàn Vũ - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hòn Bà, để thực hiện tốt công tác PCCCR trong cao điểm mùa khô năm nay, bên cạnh kiện toàn lực lượng, mua sắm thiết bị PCCCR, đơn vị đã tiến hành thi công, bảo dưỡng 14,3km đường ranh cản lửa, thực hiện các biện pháp nhằm giảm nguồn vật liệu cháy, tăng cường quản lý hoạt động canh tác nương rẫy của người dân, diễn tập chữa cháy rừng… “Trong những ngày nắng nóng, chúng tôi tổ chức canh lửa 24/24 giờ tại các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy cao như: Đá Trắng, Đá Hàn (xã Suối Cát), Dốc Cầy (xã Suối Tân), Hòn Chuông (xã Suối Tiên), Láng Nhớt (xã Diên Tân), Ma O, Chi Chay (xã Sơn Trung), Ngã Hai (xã Khánh Phú)… Bên cạnh đó, chỉ đạo các tổ, trạm phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành 20 đợt tuyên truyền công tác PCCCR, vận động 310 hộ dân cam kết bảo vệ rừng và PCCCR… Nhờ chủ động các biện pháp PCCCR nên từ đầu năm đến nay, trong lâm phận KBTTN Hòn Bà không xảy ra vụ cháy nào”, ông Vũ cho hay. 

Ông Đỗ Anh Thy cho biết, trước tình hình thời tiết khô hanh, nắng gắt, Ban quản lý KBTTN Hòn Bà đã có công văn yêu cầu Hạt Kiểm lâm Hòn Bà kiểm tra, rà soát kỹ các phương án PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ, bố trí nhân lực, phương tiện tổ chức tuần tra, canh gác tại các khu vực trọng điểm dễ cháy; đẩy mạnh kiểm soát việc sử dụng lửa của người dân ở những khu vực gần rừng, trong rừng, nhất là việc đốt nương làm rẫy; tiếp tục tuyên truyền người dân nâng cao ý thức PCCCR, bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, theo dõi thường xuyên cảnh báo cháy rừng trên hệ thống thông tin cảnh báo cháy rừng sớm của Cục Kiểm lâm để phát hiện, xử lý kịp thời các đám cháy... (Baokhanhhoa.com.vn 18/6) Về đầu trang