Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 14/8/2017

Điểm báo ngày 14/8/2017

Cập nhật ngày : 14/08/2017 1:16:59 CH

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 14 tháng 8 năm 2017)

 

Bảo đảm quyền lợi cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng

Dân cư địa phương không phải chủ rừng cần được hưởng lợi từ rừng - đây là ý kiến được nêu ra tại Hội thảo góp ý dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ NN - PTNT tổ chức cuối tuần qua.

Nhiều đại biểu băn khoăn khi dự thảo Luật chưa có các quy định về quyền hưởng lợi từ rừng của cộng đồng dân cư địa phương không phải là chủ rừng.

Theo GS. TSKH Đặng Hùng Võ, rừng được coi như không gian sinh tồn gắn với đời sống, kinh tế nghìn đời nay của cộng đồng dân cư địa phương. Xuất phát từ cơ chế quản lý rừng hiện nay thì đa số rừng tự nhiên đều được giao cho các tổ chức sự nghiệp hoặc doanh nghiệp quản lý, sử dụng. Song từ thực tế, các tổ chức này không bao giờ đủ người để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng và ngân sách nhà nước cũng không đủ kinh phí để chi trả cho công sức bảo vệ. Hệ quả tất yếu là nạn chặt phá rừng vẫn diễn ra thường xuyên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng. Trong khi đó, với cộng đồng dân cư địa phương thì rừng chính là sinh kế của họ, nên họ sẽ là lực lượng quan trọng kết hợp cùng với các tổ chức này bảo vệ rừng. Do vậy, GS.TSKH Đặng Hùng Võ cho rằng, dự thảo Luật nên đưa ra cơ chế đồng quản lý giữa các tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý rừng với cộng đồng dân cư địa phương gắn với quyền hưởng lợi trong phạm vi nhất định của cộng đồng địa phương, đơn cử như cộng đồng sống xung quanh rừng.

Chủ tịch Hội Chủ rừng Việt Nam Hứa Đức Nhị phân tích, liên quan đến rừng, gắn bó với rừng và có nhiều lợi ích từ rừng, ngoài chủ rừng được giao đất giao rừng, còn hàng triệu hộ gia đình, nhiều cộng đồng dân cư không được giao đất, giao rừng. Họ có thể đã gắn bó với rừng từ nhiều đời nay, nhưng những khu rừng đó hiện thuộc về các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng hay của các chủ rừng khác. Do vậy, họ hiện là người ngoài cuộc và trở thành đối tượng xâm hại rừng của tổ chức quan quản lý và chủ rừng. Vì vậy, ông Nhị đề nghị, dự thảo Luật cần có quy định bảo đảm quyền lợi của các hộ gia đình và cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng, đặc biệt là quyền của các nhóm yếu thế; tăng quyền tiếp cận của người dân đối với rừng như quyền sở hữu, quyền khai thác, định đoạt tài sản…

Thực tế cho thấy, bảo vệ và phát triển rừng là sự nghiệp của nhân dân với vai trò chính là cộng đồng dân cư tại địa phương có đời sống và sinh kế gắn với rừng. Do vậy, dù dự thảo Luật đã quy định chi tiết quyền hưởng lợi từ rừng của các chủ rừng trong từng trường hợp cụ thể, song cần bổ sung quy định cụ thể về quyền hưởng lợi từ rừng của cộng đồng dân cư địa phương không phải chủ rừng.

Theo chương trình, đầu tuần tới, UBTVQH cho ý kiến về một số vấn đề còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Những ý kiến nêu trên có lẽ cũng cần được cân nhắc, nhằm phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo vệ, phát triển rừng, nhất là trong bối cảnh nạn chặt phá rừng vẫn diễn ra phổ biến, với nhiều hình thức khác nhau ở nhiều nơi. (Đại Biểu Nhân Dân Online 13/8) Về đầu trang

Bảo vệ và phát triển rừng: Quyết tâm đã rõ nhưng giải pháp chưa tương xứng

Khai thác rừng tự nhiên bền vững có thể mang lại cơ hội kinh tế, tạo động lực phục hồi và làm giàu rừng ở Việt Nam. Tuy nhiên, làm sao để nâng cao giá trị rừng tự nhiên, thúc đẩy và thu hút đầu tư trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh liên quan đến rừng tự nhiên lại vẫn đang là vấn đề mà Việt Nam phải giải quyết.

Bảo vệ và phát triển rừng: Quyết tâm đã rõ nhưng giải pháp  chưa tương xứng

Ảnh minh họa

Đây là nhận định của các đại biểu tại Diễn đàn về các cơ hội cho quản lý rừng tự nhiên bền vững do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), Ban Kinh tế Trung ương, Liên Hợp quốc và các đối tác tổ chức trong tuần qua.

Theo chương trình, sáng nay (14/8), Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Trước đó, ngày 11/8, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phối hợp với Bộ NN&PTNT tổ chức Hội thảo góp ý kiến cho dự án. Tại Hội thảo, nhiều đại biểu đề nghị xem xét lại quy định về xã hội hóa hoạt động lâm nghiệp, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của chủ rừng, cộng đồng dân cư địa phương và các tổ chức, cá nhân hoạt động lâm nghiệp được nêu trong dự thảo Luật.

Tại Diễn đàn, ông Nguyễn Văn Hà - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT - cho biết, độ che phủ của rừng ở Việt Nam vào năm 2016 đã đạt khoảng 41%; trong đó, rừng tự nhiên chiếm 71% diện tích rừng hiện có. Dù cách tính hiện nay được cho là vẫn chưa xác định đầy đủ giá trị nhưng rừng tự nhiên vẫn là nền tảng ổn định xã hội, phát triển kinh tế của tất cả các ngành trong nước. Rừng tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc giữ đất và bảo vệ nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, điện, đô thị; giảm thiểu biến đổi khí hậu bằng cách thu giữ CO2...

Khai thác rừng tự nhiên bền vững có thể mang lại cơ hội kinh tế, tạo động lực phục hồi và làm giàu rừng ở Việt Nam bởi rừng tự nhiên cung cấp các lâm sản ngoài gỗ có giá trị. Trong năm 2010, ngành công nghiệp tre nứa ở Việt Nam đã tạo việc làm cho 400.000 người lao động với tổng doanh thu khoảng 250 triệu USD hàng năm từ măng, các chuỗi xử lý công nghiệp và cung ứng sản phẩm thủ công. Trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu đạt 20 tỉ USD mỗi năm và tiếp tục tăng, các nghiên cứu cho thấy Việt Nam có thể tăng gấp 3 số việc làm và thu nhập  từ ngành công nghiệp này.

Không chỉ cung cấp gỗ, rừng tự nhiên còn là nguồn cung nhiều loại lâm sản có giá trị như cây dược liệu. Theo thống kê, doanh thu nội địa của ngành dược liệu của Việt Nam hiện đạt khoảng 1,5 tỉ USD nhưng nước ta vẫn nhập khẩu 1,7 tỉ USD dược liệu mỗi năm mặc dù có đủ tiềm năng hoàn toàn tự cung, tự cấp và trở thành một trong những quốc gia hàng đầu thế giới xuất khẩu mặt hàng này. 90% trong số 4.000 cây dược liệu ở Việt Nam sinh trưởng trong rừng tự nhiên và mới chỉ có 5% số loài được thu hái và mua bán. Trong bối cảnh thị trường dược liệu toàn cầu tăng 15% mỗi năm, đây là một ngành đầy tiềm năng đối với Việt Nam.

Bên cạnh đó, rừng tự nhiên còn gắn với cảnh quan, đa dạng sinh học vốn là tiềm năng lớn thu hút du lịch. Theo các đánh giá, Việt Nam xếp thứ 33 thế giới về tài nguyên thiên nhiên và văn hóa nhưng hiện nước ta vẫn chưa thành công trong việc biến những tiềm năng này thành cơ hội kinh tế và lợi nhuận từ du lịch, góp phần đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

Tiềm năng là vậy nhưng ông Nguyễn Văn Hà thừa nhận giá trị kinh tế mà rừng tự nhiên mang lại đối với nền kinh tế nước ta hiện còn rất khiêm tốn. Thống kê chính thức cho biết, mức đóng góp trực tiếp của ngành lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 4% GDP nông nghiệp và khoảng 1% tổng GDP quốc gia năm 2010.

Từ khi Chính phủ ra lệnh đóng cửa rừng tự nhiên thì khai thác kinh tế từ rừng tự nhiên chủ yếu trông chờ vào khoản thu phí dịch vụ môi trường rừng do những doanh nghiệp hưởng lợi từ rừng tự nhiên như các doanh nghiệp làm thủy điện, du lịch, khai thác nguồn nước… chi trả. Số tiền thu được được trả cho những đối tượng bảo vệ, trồng và phát triển rừng tự nhiên. Nhưng hiện nay, chi trả thù lao dịch vụ môi trường rừng chỉ tương đương hơn 300 nghìn/mỗi ha rừng. Đây là mức giá quá thấp và đem lại lợi ích kinh tế gần như không đáng kể cho các đối tượng phát triển rừng tự nhiên.

Theo Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020, nước ta đang đặt mục tiêu tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp, bao gồm cả chế biến lâm sản và dịch vụ môi trường rừng, lên khoảng 3,5-4% mỗi năm và GDP từ lâm nghiệp tăng lên khoảng 2 đến 3% GDP quốc gia. Để đạt được mục tiêu này, các đại biểu cho rằng cần xây dựng cơ chế chính sách để phát huy hết tiềm năng của rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên và phát huy các giá trị về môi trường.

Chương trình mục tiêu quốc gia về lâm nghiệp bền vững dự kiến sẽ phải huy động “nguồn lực xã hội hóa” cho hơn 70% tổng nhu cầu tài chính. Mặc dù vậy nhưng theo nhiều chuyên gia, chiến lược huy động đầu tư từ các doanh nghiệp và cá nhân vào lĩnh vực lâm nghiệp nói chung, thu hút đầu tư bền vững vào rừng tự nhiên nói riêng của Việt Nam hiện chưa được thiết kế có hệ thống, toàn diện và cụ thể, kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

Tại Diễn đàn, các đại biểu cho rằng, song song với việc huy động nguồn lực tài chính vào lĩnh vực lâm sản cũng cần phải xây dựng các quy định về thu/chi để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các mô hình kinh tế dựa trên rừng tự nhiên. Cùng với đó cũng cần cải thiện chính sách và tăng cường hệ thống giám sát, đánh giá về các mô hình kinh tế và lâm sản ở cấp địa phương và quốc gia.

Các cơ chế chia sẻ lợi ích như chi trả dịch vụ môi trường rừng cần tiếp tục cải thiện, đặc biệt trong việc tái đầu tư nguồn tài chính này có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao hơn trong các hoạt động liên quan đến rừng tự nhiên, mở rộng phạm vi dịch vụ và tăng giá trị các dịch vụ cung cấp. Ngoài ra, một số ý kiến đề nghị xem xét giao hoặc khoán rừng tự nhiên cho một số dịch vụ du lịch sinh thái hoặc thí điểm mô hình sinh kế ngoài gỗ.

Ông Cao Đức Phát – Phó trưởng ban Kinh tế Trung ương: Đảm bảo lợi ích và cuộc sống của người dân mới bảo vệ được rừng

“Bảo vệ và phát triển rừng là giải pháp quan trọng hàng đầu mà Việt Nam cần phải thực hiện và có thể thực hiện được để đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững. Nhưng bảo vệ và phát triển rừng chỉ có thể bền vững khi nó đảm bảo lợi ích và cuộc sống của người dân. Vì thế nên việc tìm kiếm và khai thác những lợi ích từ rừng để cải thiện đời sống của người dân sinh sống trong rừng và làm nghề rừng là hết sức quan trọng. Nhận thức rõ điều đó nên Việt Nam đã có chủ trương hỗ trợ tích cực cho người dân phát triển sinh kế liên quan đến rừng, đặc biệt là nông nghiệp, nông thôn. Để thực hiện những chủ trương đó, chúng tôi nhận thấy phải tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để khuyến khích người dân, doanh nghiệp gắn bó hơn với rừng, đầu tư vào rừng và những hỗ trợ kỹ thuật, tài chính cho họ”.

Ông Kamal Malhotra - Điều phối viên thường trú Liên Hợp quốc tại Việt Nam: Cần có sự chuyển đổi lớn

“Cần có sự chuyển đổi lớn để xây dựng một môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và quốc tế để phát triển và hưởng lợi từ việc đầu tư vào phát triển rừng tự nhiên bền vững. Liên Hợp quốc sẽ vẫn là một đối tác chiến lược và cam kết quan trọng của Chính phủ Việt Nam nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý rừng bền vững thông qua hợp tác với khu vực kinh doanh trong nước và quốc tế để đạt được những lợi ích chung”.

Ông Nguyễn Văn Tiến – Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp - nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương: Quyết tâm thì đã rõ…

“Sức ép của phát triển kinh tế - xã hội đã làm cho rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên đứng trước nguy cơ bị đánh đổi bởi các dự án phát triển kinh tế - xã hội khác. Để tăng cường bảo vệ, phát triển rừng nhất là rừng tự nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển rừng bền vững, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 13 ngày 12/1/2017 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Quyết tâm thì đã rõ nhưng các giải pháp để tạo ra cơ hội, môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư vào quản lý bền vững rừng tự nhiên còn chưa tương xứng với các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra. Việc chuyển đổi đất rừng ở một số địa phương gần đây cho thấy nhu cầu cấp thiết phải cải thiện không chỉ công tác thực thi pháp luật, tính minh bạch trách nhiệm giải trình mà còn phải lượng hóa đầy đủ các giá trị của rừng tự nhiên để cân nhắc trước khi đánh đổi rừng và các mục đích kinh doanh không bền vững khác”.

Ông Erik Solheim – Tổng Giám đốc điều hành chương trình môi trường Liên Hợp quốc: Phải cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ rừng

“Bảo vệ rừng là bảo vệ đa dạng sinh học. Do đó, chúng ta phải cân bằng, tìm ra giải pháp để vẫn có thể đảm bảo lợi ích kinh tế và bảo vệ rừng. Các công ty trên thế giới đã cho thấy họ vừa có thể sản xuất nhiều sản phẩm vừa đảm bảo trách nhiệm bảo vệ rừng. Vì thế nên chúng ta cần thay đổi suy nghĩ của mình. Nếu phát triển kinh tế bằng mọi giá, phá hủy thiên nhiên, đa dạng sinh học, tiêu diệt cây cối thì sẽ dẫn đến không bảo vệ được tương lai bền vững của con người. Chúng ta phải làm sao để đảm bảo các thành phần kinh tế khác nhau sử dụng rừng bền vững”. (Pháp Luật Việt Nam 14/8, tr6; Pháp Luật Việt Nam Online 14/8) Về đầu trang

Giám sát việc thực hiện giao đất, giao rừng: Chưa chuyển mạnh theo hướng xã hội hóa

Chủ trương giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung để thực hiện chính sách xã hội hóa trong bảo vệ rừng; tạo động lực cho đồng bào sống được bằng rừng, gắn bó và bảo vệ rừng. Thế nhưng, hiện nay, giao đất, giao rừng chưa chuyển mạnh theo hướng xã hội hóa - Đây là một trong vấn đề Hội đồng Dân tộc sẽ triển khai giám sát chuyên đề.

Báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 - 2016, đại diện Bộ NN - PTNT cho biết, tính đến 31.12.2016, đã có khoảng 78% (11.258.730ha) diện tích rừng của cả nước được giao. 22% còn lại (tương đương với trên 3.118.952ha) chưa được giao mà đang được quản lý bởi UBND cấp xã. Phần diện tích 11.258.730ha được giao cho 8 nhóm đối tượng sử dụng khác nhau, bao gồm Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp 100% vốn ngoài nhà nước, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng, đơn vị vũ trang, các tổ chức khác. Trong đó, Bộ NN - PTNT đã giao được 1.128.096ha rừng và đất lâm nghiệp cho cộng đồng.

Tuy nhiên, theo Giám đốc Trung tâm tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á (Cirum) Trần Thị Hòa, số liệu giao rừng và đất lâm nghiệp cho hộ gia đình của Bộ NN - PTNT chưa chính xác. Phải chăng Bộ đang nhầm lẫn giữa giao khoán rừng và khoán bảo vệ rừng? Bà Trần Thị Hòa cho biết, năm 2014, Bộ NN - PTNT thông báo đã giao được 524.000ha rừng và đất lâm nghiệp cho cộng đồng, năm 2016 con số đã lên đến hơn 1 triệu hecta là chưa hợp lý. Bởi lẽ, giai đoạn 2015 - 2016, việc giao đất và giao rừng ở các địa phương rất ít.

Theo Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Nguyễn Lâm Thành, diện tích giao đất và giao rừng cho cộng đồng ước tính trung bình mỗi hộ khoảng 2ha, như vậy giao đất, giao rừng rất ít, không tác động nhiều đến đời sống dân sinh. Đây là vấn đề Bộ NN - PTNT cần làm rõ. Đáng lưu ý, chúng ta không có chủ trương giao đất và rừng cho UBND xã, nhưng vì sao, vẫn còn 22% diện tích đất, rừng giao do UBND xã? Có trường hợp, UBND xã tự ý quy hoạch chuyển đổi diện tích rừng tự nhiên, rừng đầu nguồn sang rừng sản xuất. Vấn đề này Bộ có quản lý được không?

Đối với quy mô, diện tích rừng được giao cho hộ gia đình, cộng đồng dân cư, theo Bộ NN - PTNT, diện tích rừng được giao tương đối nhỏ, không đủ để tổ chức sản xuất kết hợp với ở của hộ gia đình đông con. Có trường hợp tổ chức triển khai thực hiện giao đất, giao rừng chưa tốt đã làm phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp đất đai tại một số địa phương. Giao đất ưu tiên cho các đối tượng là công ty lâm nghiệp, ban quản lý làm mất cơ hội cho các hộ tiếp cận với nguồn sản xuất. Thiếu đất sản xuất là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn đất đai giữa người dân và công ty lâm nghiệp, ban quản lý tại nhiều địa phương.

Giải trình thêm cho những vấn đề nêu trên, đại diện lãnh đạo Bộ NN - PTNT cho biết, rừng không được giao cho UBND xã, mà là theo Điều 2, Quyết định số 7/2012/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng thì UBND cấp xã quản lý diện tích, ranh giới các khu rừng; các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn. Tạm thời, vì 22% diện tích rừng này nằm ở vùng sâu, vùng xa, chưa giao được cho đối tượng nào, nên UBND xã tiếp nhận quản lý.

Theo Thường trực Hội đồng Dân tộc, chủ trương giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung để thực hiện chính sách xã hội hóa trong bảo vệ rừng. Đây là phương thức quản lý truyền thống nhằm tạo động lực cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi sống được bằng rừng, gắn bó và bảo vệ rừng. Nếu như giao cho một hộ, chỉ có một người kiểm tra, bảo vệ rừng, thì giao cho cộng đồng, có thể kiểm tra, kiểm soát được diện tích rừng lớn hơn. Thế nhưng, hiện trạng nêu trên cho thấy, rõ ràng giao đất, giao rừng của chúng ta chưa chuyển hóa mạnh theo hướng xã hội hóa.

Một vấn đề nữa phát sinh là, phải chăng, Bộ NN - PTNT còn buông lỏng quản lý nên việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình chưa đạt kết quả như mong muốn? Đơn cử, Bộ đã ban hành Quyết định 2740/QĐ/BNN - KL về phê duyệt Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2007 - 2010. Nhưng đến nay, mới có 22 tỉnh xây dựng xong Đề án và được phê duyệt, 9 tỉnh xây dựng xong Đề án, chưa được phê duyệt, 12 tỉnh chưa xây dựng Đề án, 20 tỉnh chưa xây dựng xong Đề án… Trách nhiệm của Bộ NN - PTNT trong chỉ đạo, kiểm tra, giám sát như thế nào. Và trách nhiệm của các địa phương trong vấn đề này ra sao?

Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Cao Thị Xuân cho biết thêm, sắp tới Hội đồng Dân tộc sẽ chia thành 4 Đoàn giám sát, làm việc thực tế ở các địa phương về kết quả thực thực hiện giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 - 2016. Qua giám sát sẽ chỉ rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương. Sự phối hợp giữa Bộ NN - PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở NN - PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc thực hiện giao đất, giao rừng như thế nào. Có vướng mắc gì trong cơ chế, chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng hay không?

Những vấn đề này sẽ sớm được làm sáng tỏ, nhằm đánh giá đúng, chính xác về hiệu quả giao đất, giao rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 14/8, tr1+3) Về đầu trang

Tăng cường quản lý, bảo vệ, phát triển rừng

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Nghị quyết ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Theo chương trình hành động mới, Chính phủ đặt ra yêu cầu xác định rõ vai trò của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, người đứng đầu các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ NN-PTNT triển khai có hiệu quả sau khi Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi được ban hành và có hiệu lực. Tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về phân công trách nhiệm cho các bộ ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, đầu tư ứng dụng công nghệ viễn thám để quản lý lửa rừng và giám sát mất rừng, tăng cường trang thiết bị hiện đại phục vụ chữa cháy rừng.

Bộ NN-PTNT tham mưu Chính phủ ban hành cơ chế quản lý đối với gỗ và sản phẩm gỗ xuất nhập khẩu, tránh tình trạng lợi dụng để khai thác gỗ bất hợp pháp từ rừng tự nhiên, hạn chế tình trạng xuất khẩu gỗ nguyên liệu từ rừng trồng trên lãnh thổ Việt Nam ra nước ngoài. Phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ KHĐT nghiên cứu đề xuất Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách xã hội hóa trong đầu tư, thu hút các thành phần kinh tế cùng tham gia công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Công thương, Bộ Tài chính và các lực lượng khác tham gia đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng; ngăn chặn hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản qua biên giới và gian lận thương mại trong xuất nhập khẩu lâm sản. Phối hợp với Bộ Công thương tham mưu Chính phủ ban hành cơ chế quản lý gỗ và sản phẩm gỗ xuất nhập khẩu.

Thủ tướng cũng yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành quyết định phân công cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước cho chính quyền cơ sở, quy rõ trách nhiệm người đứng đầu chính quyền, cơ quan, tổ chức về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở kết quả dự án “Tổng điều tra kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016” vừa công bố, giao trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp đến chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã và chủ rừng. UBND các tỉnh thực hiện nghiêm túc việc dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên. Quản lý chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên, đột xuất các cơ sở chế biến gỗ; xử lý nghiêm, đúng quy định, kiên quyết đình chỉ hoạt động cơ sở chế biến gỗ vi phạm.  (Đấu Thầu Online 13/8; Baogialai.com.vn 13/8; Sài Gòn Giải Phóng Online 13/8; TTXVN/Nhân Dân Online 13/8; Công An Nhân Dân 14/8          , tr1; Đại Biểu Nhân Dân 14/8, tr7; Nhân Dân 13/8 tr1+2) Về đầu trang

Quảng Bình: Ai bức tử rừng bần?

Rừng bần ngập mặn ở hai thôn Hòa Bình, Quảng Xá (Tân Ninh, Quảng Ninh,bị tàn sát không thương tiếc khiến người dân bức xúc, lo lắng, sợ sạt lở, bị lũ cuốn. Nhiều người đấu tranh thì bị dọa nạt, đòi trả thù, trong khi cấp xã buông lỏng quản lý khiến rừng bị bức tử.

Đoạn sông Kiến Giang chảy qua xã Tân Ninh được trồng bần thành rừng để che chắn làng từ hàng trăm năm nay. Mỗi người dân sinh ra ở đây đã được giáo dục cách giữ gìn từng cây bần để đối phó với mưa lũ hằng năm. Ông Trần Ngọc Chuyển cho biết: “Nếu không có rừng bần thì thôn Hòa Bình hay Quảng Xá cũng khó tồn tại được. Nhờ có rừng bần mà cả hai làng trù phú”. Nhưng chẳng may, cánh rừng ngập mặn xung yếu, có cảnh quan đẹp lại đang bị tàn sát không thương tiếc.

Ông Dương Quang Huỳnh, người có hồ nuôi cá tự khoanh trong rừng bần cho biết: “Không biết ai đồn là đào ao hồ xong cứ khai bị nhiễm độc, ảnh hưởng bởi Formosa là được đền bù nên người ta ra đào ồ ạt”. Cụ ông Nguyễn Văn Dược bức xúc: “Họ phá kiệt bần, ra nói làm như vậy là sai, đừng phá bần mà trôi nhà trôi người vào mùa lũ, kẻ phá quát nạt rồi nói trồng lại lo gì. Họ ngoạm cả vào đê quốc gia, rứa mà địa phương không xử lý gì cả, nhìn rừng bần bị bức tử mà xót xa vô cùng”. Bà Nguyễn Thị Mãn cho hay, đền bù do Formosa gây ra đã hết rồi, các hộ này có đào lên thì cũng không ai đền được. Cứ nghe tin đồn mà phá nát rừng bần làm hại cả làng là thất đức.

Một cán bộ UBND xã Tân Ninh cho biết, có 12 hộ ra đào hồ nuôi trồng thủy sản trong vòng một tháng nay. Họ đồn đoán cứ có hồ là được đền bù, nhưng chứng thực niêm yết của xã cuối năm 2016 đã nói rõ những hộ này có giấy tờ cấp mặt nước nuôi thủy sản nhưng khi đi thực tế là không có hồ nên không thể bồi thường. Qua tìm hiểu, được biết 12 hộ của Hòa Bình, Quảng Xá phá rừng ngập mặn đắp hồ là có thật. Họ được UBND huyện Quảng Ninh cấp phép nuôi cá từ năm 1994 đến 2014 là hết hạn, có hộ đến năm 2015. Trong thời gian này, trong số 12 hộ này có hộ nuôi, có hộ không nuôi, không đào đắp hồ, đùng một cái thì mới đây họ đào ồ ạt, tàn sát rừng bần chỉ vì tin đồn vu vơ.

Tại khu vực hiện trường, hàng chục hồ nuôi trồng thủy sản được đào sơ sài, qua loa, mục đích không phải để nuôi mà với một dụng ý khác dẫn đến nhiều hồ đào cạn, nhiều hồ đào qua loa, đắp đê không chắc chắn, không đúng kỹ thuật nuôi trồng khiến bần bị triệt hạ, chết trụi hàng loạt.

Cụ Nguyễn Văn Cử (ở thôn Hòa Bình), người đi đầu trồng bần và giữ bần cho biết: “Tui bảo vệ bần kiên cường lắm nhưng vẫn bị dọa giết. Hồi trước, tui trồng trong vùng Hà cạnh sông Kiến Giang 300 cây, thôn trả thù lao 50.000 đồng, ở phía ngoài sông Kiến Giang tui trồng gần 5.000 cây, xã thù lao 500.000 đồng. Tiền không lớn nhưng công lao của tui, của dân làng Hòa Bình hay Quảng Xá thì lớn lắm. Rứa mà bây chừ lần hồi từng năm người ta cứ phà dần, phá mòn bức tường bảo vệ làng như vậy”. “Cách đây mấy năm, bần cao vút, thân cây hai người ôm không xuể, người ta đào hồ, khoanh bần lại, tui ra bảo vệ bần họ nói bần của làng chứ của ông đâu mà dám. Một mình tui làm không nổi với họ, nhiều lần tui làm mạnh, đám phá bần dọa giết, trả thù, rồi ném mìn xuống hồ cá nhà tui. Có năm tui thề “đổ máu” với chúng”, cụ Cử chia sẻ.

Bà Nguyễn Thị Mãn ở thôn Quảng Xá thì nói: “Phản ánh phá rừng bần cứ lo sợ cán bộ gây đủ thứ chuyện khi cần lên xã chứng thực giấy tờ. Nhiều người cũng ngại như rứa, nhưng chừ họ phá quá khiếp, phá còn hơn cả trận bão lớn mấy năm trước thì sức đâu mà bảo vệ làng trước thiên tai mùa lũ sắp tới nên ai cũng phản ứng”. Còn ông Nguyễn Văn Được cho biết: “Chúng tôi yêu cầu bảo vệ rừng bần ngập mặn là để cả làng an toàn chứ không phải vì mục đích nào khác. Ngày trước chỉ cần chặt một cành thôi đã bị phạt. Nếu không bảo vệ rừng bần bên sông Kiến Giang một cách nghiêm túc thì mất làng như chơi”.

Ông Lài, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Tân Ninh cho biết: “Việc phá rừng bần kéo dài nhiều năm, nhiều người đứng ra phản đối, kiến nghị bao nhiêu lần mới có đoàn về kiểm tra thì tình hình lắng xuống nhưng kẻ phá bần lại tiếp tục khi thấy ít động tĩnh. Người đấu tranh bảo vệ bần nhiều lúc bị cô lập, như tôi đây cũng từng bị đe dọa”.

Khi đề cập vấn đề này, ông Nguyễn Đại Thọ, Chủ tịch UBND xã Tân Ninh cho biết, ông nhận lỗi việc quản lý không chặt chẽ, chưa sâu sát tình hình khiến việc phá rừng bần diễn ra một tháng trời. Tuy nhiên, về tin đồn đào hồ để chờ Formosa đền bù thì ông Thọ bác bỏ vì cho rằng việc đền bù đã thực hiện xong. Nhưng nhiều người dân đánh giá việc này đang bị lãnh đạo xã né tránh với lý do trách nhiệm chính trị là phải đảm bảo an toàn trật tự trên địa bàn trong và sau khi đền bù do Formosa gây ra. Nay xuất hiện tin đồn này, cấp ủy và chính quyền xã Tân Ninh phải giải trình nguyên nhân trước cấp trên nên chối bay đi.

Ngoài ra, ông Thọ cho biết xã đã đình chỉ việc đào hồ nuôi trồng thủy sản, kiểm kê lại số bần hiện tại. Chết cây nào thì các hộ dân phải trồng lại cây đó. Những hộ dân có diện tích đất chỉ 1.000 m2 mà đào lên 5.000 m2 phải hoàn trả lại mặt bằng, trồng bần lại đúng vị trí.

Ông Thọ thừa nhận có 12 hộ dân đã hết hạn được nhà nước giao đất 20 năm, có hộ hết hạn từ năm 2014, có hộ hết hạn năm 2015. Nghĩa là các hộ này hết quyền sử dụng đất đã 3 năm trở lại đây nhưng chính quyền địa phương không tiến hành rà soát, không có thông báo cho các hộ dân, không giám sát chặt chẽ khiến cho việc phá rừng bần diễn ra như ở chốn không người.

Ông Thọ nói lý do không biết việc phá rừng bần ngập mặn là do mỗi ngày đi làm từ sớm, tối mịt mới về; trong khi đó các hộ phá bần là láng giềng trong xóm nhà ông, nơi bần bị phá cách nhà ông chỉ mấy trăm bước chân. (Motthegioi.vn 14/8, Anh Sơn) Về đầu trang

Thừa Thiên- Huế: Tin nóng bất ngờ vụ 'xẻ thịt' rừng dẻ làm sân golf

Sáng 11/8, Ban Chỉ huy quân sự huyện Phú Lộc cho biết, chủ đầu tư dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô (đang xây dựng tại thôn Phú Hải, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc) đã xin cấp nhiều diện tích đất có giá trị cấp độ 1 về quốc phòng an ninh cho dự án này.

Cụ thể, chủ đầu tư dự án là Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Phong Phú Lăng Cô xin cấp 40ha trong tổng số khoảng 200ha đất có giá trị cấp độ 1 về quốc phòng an ninh ở khu vực ven biển thôn Phú Hải để điều chỉnh quy hoạch dự án.

Thượng tá Trần Quốc Khánh, Phó chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự huyện Phú Lộc cho biết: Việc Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Phong Phú Lăng Cô xin cấp diện tích đất trên đã được các cơ quan liên quan nhất trí, trong đó có Cục Tác chiến của Bộ Quốc phòng.

Theo thượng tá Khánh, mặc dù được các cơ quan liên quan nhất trí nhưng để chủ đầu tư được cấp đất thì phải có sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ.

Thượng tá Khánh cho biết thêm, nếu được cấp diện tích đất trên để thực hiện dự án thì Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Phong Phú Lăng Cô cũng không được xây dựng các công trình trên đất này. Nguyên nhân là bởi đất có giá trị cấp độ 1 về quốc phòng an ninh không được thay đổi hiện trạng, không được xây dựng các công trình kiên cố, theo Dân Việt.

Trong tổng số diện tích đất cấp cho dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô (253ha) có tới 63,9ha là rừng dẻ. Khu rừng dẻ này là rừng phòng hộ đã được UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế giao cho cộng đồng dân cư thôn quản lý, bảo vệ.

Người dân xã Lộc Vĩnh từng bày tỏ sự bức xúc trước tình trạng khu rừng dẻ có tuổi đời hàng trăm năm được cấp cho dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô, dẫn tới nguy cơ rừng bị phá.

Từng trao đổi với Đất Việt hồi tháng 4/2017, ông Nguyễn Văn Thanh- Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Phú Lộc cho biết:

63,9 ha rừng dẻ tại thôn Phú Hải nằm trong dự án sân golf đều là đất rừng sản xuất và đã được UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế quy hoạch để thu hồi, phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội.

''Nếu đất rừng sản xuất dùng để xây dựng các công trình sân golf, khu nghỉ dưỡng Lăng Cô thì theo quy định không có gì vi phạm cả. Tuy nhiên do rừng dẻ này có tuổi đời lâu năm nên người dân cũng có gì đó tiếc nuối'', ông Thanh khẳng định.

Trước đó, vào tháng 2/2016, ông Hồ Trọng Cầu- Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Lộc đã có văn bản kiến nghị gửi đến Sở NNPTNT tỉnh Thừa Thiên- Huế phản ánh về vụ việc.

Văn bản nêu rõ, từ khi được giao quản lý rừng dẻ phòng hộ, cộng đồng dân cư thôn Phú Hải đã thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, nên đã phát huy tốt tính năng, tác dụng phòng hộ của rừng, kết hợp nâng cao giá trị cảnh quan môi trường rừng trên địa bàn xã Lộc Vĩnh nói riêng, của Khu kinh tế Chân Mây- Lăng Cô nói chung.

Trên cơ sở đó, UBND huyện Phú Lộc đề nghị Sở NNPTNT tham mưu UBND tỉnh giữ nguyên quy hoạch rừng phòng hộ đối với diện tích rừng dẻ này.

Tuy nhiên sau đó khu rừng vẫn được UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế điều chỉnh quy hoạch từ rừng phòng hộ thành rừng sản xuất để cấp cho dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô.

Trong khi đó, ông Lê Văn Tuệ, Nguyên nguyên Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, hiện là Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Kinh tế, công nghiệp tỉnh Thừa Thiên - Huế khẳng định thông tin báo chí nêu không chính xác.

Ông Tuệ nhấn mạnh, khu vực ven biển thôn Phú Hải (xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc) không có rừng phòng hộ.

''Khu vực đó làm gì có rừng phòng hộ. Toàn bộ đều là rừng sản xuất. Ở đó lâu nay theo quy hoạch là rừng sản xuất và có quyết định của UBND tỉnh về vấn đề này'', ông Tuệ khẳng định.

Việc sử dụng đất ven biển thôn Phú Hải  phục vụ cho dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô, ông Tuệ cho biết nằm trong quy hoạch theo đúng chỉ đạo của Trung ương và không hề có sự chuyển đổi từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất như phản ánh của báo chí. (Đất Việt Online 13/8) Về đầu trang

Thừa Thiên Huế giải cứu “nữ hoàng” của các loại linh trưởng

Chiều 13/8, nhận được tin báo, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế đã phối hợp với Công an huyện Phú Lộc triển khai lực lượng làm rõ thông tin một người dân đang giữ 1 cá thể Voọc chà vá chân nâu.

Theo thông tin từ Hạt Kiểm lâm huyện Phú Lộc, ông Nguyễn Quang bước đầu cho biết, ông phát hiện cá thể Voọc này khi phát hiện thấy bị chó đuổi chạy vào nhà. Cá thể Voọc còn non, nặng khoảng 4-5kg, hiện đang bị thương ở chân.

Lực lượng chức năng tiếp tục làm rõ vụ việc, xem xét thẻ trạng của cá thể Voọc này đồng thời sẽ liên hệ với Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp Cúc Phương để có hướng xử lý tiếp theo.

Ông Nguyễn Đại Anh Tuấn- Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết: “Hiện tại, chúng tôi đang xem xét, lấy lời khai để xem họ bắt chỗ nào. Hướng xử lý của chúng tôi là từ lời khai sẽ điều tra ngược lại, không loại trừ khả năng giăng bẫy. Nếu giăng bẫy thì phải xử lý nghiêm”.

Theo ghi nhận của Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế, tại khu vực rừng đặc dụng bắc Hải Vân hiện có khoảng 3 đàn với hàng chục cá thể Voọc chà vá chân nâu.

Voọc chà vá chân nâu (hay còn gọi là Chà vá chân đỏ hoặc Voọc ngũ sắc) được tổ chức bảo vệ động vật hoang dã quốc tế tôn vinh là “nữ hoàng” của các loài linh trưởng.

Loài này thuộc danh mục nhóm IIB ở mức nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam. Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới cũng xếp Voọc chà vá chân nâu vào danh sách các loài động vật cần được bảo vệ vô điều kiện.

UBND TP.Đà Nẵng cũng đã chọn Voọc chà vá chân nâu làm hình ảnh đại diện cho thành phố, nhân sự kiện APEC 2017. (VOVNews 13/8) Về đầu trang

Bảo vệ rừng để bảo vệ chính cuộc sống của người dân

Cả nước đang hướng về miền phía Bắc, về Mù Cang Chải (Yên Bái) – nơi chịu nhiều tổn thất nhất từ trận lũ quét, lũ ống hồi đầu tháng. Những nỗ lực của chính quyền và hành động thiện nguyện “lá lành đùm lá rách” sẽ giúp bà con nơi đây dần vực lại cuộc sống.

Song tổn thất này một lần nữa nhắc nhở về trách nhiệm bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ thiên nhiên để đổi lại được sự bảo vệ, chở che của tự nhiên nhằm giảm thiểu nguy cơ cũng như sự tàn phá của thiên tai, nhất là lũ và sạt lở đất.

Theo các chuyên gia khí tượng thủy văn, sự hình thành của lũ quét có liên quan mật thiết đến cường độ mưa, điều khí hậu,. đặc điểm địa hình, các hoạt động của con người cũng như điều kiện tiêu thoát nước. Các nguyên nhân gây lũ quét gồm mưa lớn tập trung trên lưu vực nhỏ miền núi, hẻo lánh nhưng điều kiện tự nhiên hầu như vẫn giữ nguyên hoặc trên các lưu vực có độ dốc lớn có hoạt động của người mạnh mẽ, phá vỡ cân bằng sinh thái làm biến đổi lớp phủ, mặt đệm thay đổi chế độ dòng chảy, thay đổi khả năng trực nước của đất, đất dễ xói mòn, sạt lở. Nguyên nhân nữa gây ra lũ quét là do phá rừng khai thác gỗ, cây cối cùng với đá sỏi, rác rưởi bị cuốn trôi tạo thành các barie ngăn nước tạm sau bị đổ vỡ tràn xuống gây lũ với sức tàn phá tăng lên gấp bội.

Khoa học đã chứng minh, hệ sinh thái rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hạn chế lũ quét, sạt lở đất. Cách đây 7 năm, nghiên cứu của TS.Vũ Thị Thanh Minh (Trưởng khoa Quản lý nhà nước về công tác dân tộc, Trường Cán bộ dân tộc) đã chỉ rõ, tài nguyên rừng ở các tỉnh miền núi phía Bắc đang bị suy thoái nặng nề, độ che phủ rừng đã giảm sút đến mức báo động. Nhưng khảo sát của các chuyên gia, đến năm 2016 độ phủ rừng còn rất thấp, chỉ đạt 30-40%. Báo cáo của Bộ NN&PTNT cũng thừa nhận, tốc độ tàn phá rừng lớn hơn nhiều lần tốc độ trồng rừng. Rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ đầu nguồn cũng bị tàn phá.

Hậu quả của “đất trống đồi trọc” là lũ quét, lũ ống, sạt lở đất và đó cũng là một trong những yếu tố làm suy giảm môi trường tự nhiên ở các tỉnh miền núi. Sau vụ sạt lở đất ở huyện Yên Châu (Sơn La), tại bãi vàng Mà Sa Phìn (Văn Bàn, Lào Cai) năm 2016, các nhà khoa học đã cảnh báo, tình trạng sạt lở đất nghiêm trọng diễn ra trên diện rộng này “mạnh nhất trong 10 năm qua” do phát triển thiếu quy hoạch. Trong đó nổi lên là tình trạng phá rừng và khai thác khoáng sản tràn lan đã đẩy nhanh quá trình sạt lở đất vốn tiềm ẩn tại khu vực này, nhất là khi có mưa lớn kéo dài.

Không những thế, việc phát triển ồ ạt các thủy điện nhỏ trong 10 năm qua (như Hà Giang và Cao Bằng đã quy hoạch trên 100 dự án thủy điện) đã biến nhiều diện tích đất nông nghiệp, đất rừng thành hồ chứa, làm thay đổi các dòng chảy, ảnh hưởng đến chế độ thủy văn, môi trường và tiềm ẩn nguy cơ gây thảm họa cho con người.

Vì vậy, nhận định tình hình chung cho thấy, những năm gần đây, lũ quét, sạt lở đất có xu hướng ngày càng tăng về số lượng và sức tàn phá do nhiều tố, mà nguyên nhân chủ yếu là do việc phát triển dân số, kinh tế ở khu vực miền núi, việc chặt phá rừng đầu nguồn, do xây dựng các công trình chắn ngang dòng chảy, làm tắc nghẽn các đường thoát lũ. Các tỉnh nằm trong vùng nguy hiểm sạt lở là Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Kạn, Nghệ An, Kon Tum, Quảng Nam, Hà Tĩnh, Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Thuận. Dự kiến năm 2020 mới có bản đồ chi tiết quy hoạch vùng sạt lở. Vì thế cho đến lúc đó, cuộc sống của hàng nghìn người dân vẫn luôn bị tình trạng sạt lở và lũ khi có mưa lớn đe dọa.

Đánh giá của các tổ chức quốc tế cảnh báo, thiệt hại do thiên tai (mưa lũ, sạt lở đất) ở Việt Nam “vào loại lớn nhất trên thế giới” nhưng tình trạng phá rừng vẫn chưa được ngăn chặn triệt để, thậm chí rừng còn bị tàn phá nặng nề, ngang nghiên vì “thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật bảo vệ và phát triển rừng không nghiêm”.

Trận lũ quét tại miền núi phía Bắc vừa qua, nhất là tại Yên Bái, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu… được nhận định là “trận lũ quét lịch sử”. Tổng hợp từ Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng, chống thiên tai, đã có 23 người chết, 16 người mất tích, 64 người bị thương, 228 căn nhà bị cuốn trôi, 377 hộ dân phải đi sơ tán và hơn 288 ha lúa, 128 ha ngô, lạc , 5 ha đất ruộng bị sạt lở, 144 công trình thủy lợi và 2.000 m kè bờ suối thuộc huyện Mường La (Sơn La) bị thiệt hại…

Cuộc sống của nhiều người dân ở mấy tỉnh miền phía Bắc đã trôi theo dòng nước khi những trận lũ quét, lũ ống chạy qua. Giờ tang thương vẫn đang bao trùm những ngôi làng tan hoang và hằn sâu trong ánh mắt khắc khoải của những người sống sót. Khắc phục hậu quả sau lũ, các địa phương lưu ý dọn vệ sinh, bảo đảm môi trường, phòng chống dịch bệnh khu vực xảy ra thiên tai.

Tuy nhiên, đó chỉ là những giải pháp trước mắt trong ngắn hạn để nhanh chóng ổn định cuộc sống của người dân sau thiên tai. Còn về lâu dài, cần khắc phục triệt để những nguyên nhân gây lũ ống, lũ quét, sạt lở đất ở khu vực miền núi để mỗi khi mưa lớn, tập trung có thể hạn chế tối đa những dòng nước lũ, cũng như giảm được sự tàn phá của nước lũ khi đi qua xóm làng, đồng ruộng.

Đó là khơi thông dòng chảy, mở rộng diện tích rừng trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý để giữ đất, ngăn lũ, giữ nước và tránh làm cạn kiệt nguồn nước. Tiếp tục rà soát, di dời các hộ ở vùng sạt lở đến nơi an toàn, tránh xa các nơi có nguy cơ lũ quét cao, cũng như đẩy tăng cường tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng và triển khai có hiệu quả các hoạt động quản lý rủi ro, phòng chống thiên tai dựa vào cộng đồng theo phương châm “4 tại chỗ”.

Như Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng – Trưởng Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng chống thiên tai đã cảnh báo, còn tình trạng chủ quan khi ứng phó với thiên tai. Thực tế, Bộ TN&MT đã cảnh báo về những điểm có nguy cơ sạt lở đất tại 10 tỉnh miền núi phía Bắc nhưng “nhiều địa phương còn chủ quan, một bộ phận người dân thì bất cần” nên khi thiệt hại xảy ra, dù cứu trợ, cứu nạn rầm rộ cũng không còn tác dụng. Tăng cường hiệu quả công tác cảnh báo thiên tai, cả trước và sau bão. Nhiều vụ lũ quét, sạt lở đất diễn ra do ảnh hưởng của hoàn lưu sau bão khiến lực lượng chức năng và người dân “trở tay không kịp” do yên tâm vì “bão đã qua”.

Đồng thời, xây dựng hệ thống cảnh báo đối với những khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất; rà soát quy hoạch sử dụng đất lồng ghép với yêu cầu phòng chống thiên tai. Nâng cao đời sống của người dân vùng miền núi, khó khăn để hạn chế các hoạt động du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy. (Pháp Luật Việt Nam Online 13/8) Về đầu trang

Hà Tĩnh: Nắng to, lo phòng cháy rừng

Hà Tĩnh đang trải qua đợt nắng nóng gay gắt nên nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) không thể chủ quan, lơ là. Dù quản lý một diện tích rừng không lớn nhưng nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao nên đơn vị chủ rừng phòng hộ Hồng Lĩnh đã đồng loạt triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để PCCCR...

Với sự chủ động của Ban quản lý cũng như sự vào cuộc của người dân, 10 năm qua rừng phòng hộ Hồng Lĩnh được bảo vệ an toàn.

BQL Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh quản lý, bảo vệ 10.000 ha rừng. Khu vực này tiềm ẩn khá nhiều nguy cơ xảy ra cháy rừng. Toàn bộ diện tích rừng tại 19 xã, thị trấn thuộc 4 huyện, thị: Nghi Xuân, Can Lộc, Lộc Hà và TX Hồng Lĩnh được bao bọc bởi nhiều khu dân cư nên chỉ một sơ suất nhỏ do ý thức của người dân cũng khiến “bà hỏa ghé thăm”. Đặc biệt, nơi đây còn có hàng chục di tích văn hóa, tâm linh như: Chùa Thiên Tượng, chùa Hương, chùa Cực Lạc…, hàng ngày có nhiều người vào ra thăm viếng nên khả năng gây cháy rất lớn.

Trưởng BQL Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh Hồ Sỹ Quát cho rằng: Điểm khác biệt giữa rừng phòng hộ Hồng Lĩnh với các khu rừng khác trong tỉnh là khu vực này hiện còn sở hữu 1.500 ha rừng thông rất dễ bắt lửa. Trong khi đó, lực lượng chủ chốt của ban chỉ vẻn vẹn có 14 người, 9 người trực ở văn phòng ban và 5 người thường xuyên “cắm” tại 5 chòi canh.

Ông Quát hài hước nói thêm “lính chiến xông trận” có 14 người, kể cả trưởng ban, trong khi vòng ngoài ứng cứu lại có gần 50 người thuộc 4 hạt kiểm lâm. Đây là bất cập lớn trong công tác bảo vệ rừng trong cả nước nói chung, Hà Tĩnh nói riêng. Kinh phí bảo vệ, PCCCR năm 2017 lại giảm xuống 3/4, chỉ còn lại 350 triệu đồng nên mọi hoạt động rất khó khăn”.

Trước những bất cập trên, xác định trong 2 nội dung “phòng”, “chống” cháy rừng thì “phòng” vẫn là phương án tối ưu, lâu dài. Ngoài xây dựng phương án bảo vệ, PCCCR trên lâm phần được giao, BQL Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, phối hợp với đài truyền thanh - truyền hình các huyện, thị xây dựng các chuyên mục, phóng sự tuyên truyền bảo vệ, PCCCR trên kênh truyền hình (mỗi tuần phát 3 lần liên tục từ tháng 4 đến nay).

Bên cạnh duy trì “Câu lạc bộ Xanh” ở các trường trên địa bàn để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho học sinh về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; phát động tham gia cuộc thi “Rừng là cuộc sống của tôi”, BQL còn xây dựng quy chế phối hợp bảo vệ rừng với các đơn vị đứng chân trên địa bàn như: BQL các khu di tích chùa Hương, chùa Thiên Tượng, công an các huyện, thị, Đồn Biên phòng Cửa Sót, Lạch Kèn…

Cùng với việc tổ chức ký cam kết cho hàng ngàn hộ dân tại các huyện, thị, ký hợp đồng trực cháy tại 45 điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, BQL còn thường xuyên cử người trực 24/24h tại các chòi canh để phát hiện và xử lý kịp thời những vụ cháy rừng, không để lan rộng. Ngoài việc thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát, phát hiện những đối tượng sẻ phát, đốt rừng trái phép, BQL còn trích nguồn kinh phí khá lớn để tu bổ 154 km đường băng các loại; tu sửa 5 chòi canh; viết 500 khẩu hiệu, 14 biển tường; mua sắm nhiều trang thiết bị chữa cháy rừng…

Những giải pháp phòng ngừa được triển khai quyết liệt từ đầu năm nên liên tục 10 năm lại nay, tại khu vực thuộc chủ rừng Hồng Lĩnh quản lý chưa xảy ra 1 vụ cháy rừng lớn. Đó cũng là nét nổi bật nhất khiến năm nào BQL rừng phòng hộ đều nhận được bằng khen của UBND tỉnh.(Baohatinh.vn 14/8) Về đầu trang

An Giang: Nâng chất du lịch sinh thái tại rừng tràm Trà Sư

Hiện nay, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã công bố đề án cho thuê môi trường rừng tại rừng tràm Trà Sư. Đây là điều kiện để các doanh nghiệp (DN) tiếp cận với loại hình du lịch sinh thái tại “lá phổi xanh” này, đồng thời giúp người dân địa phương nâng cao thu nhập thông qua các hoạt động phục vụ du lịch.

Nói về mục tiêu của đề án, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Trần Phú Hòa cho biết: “Việc cho thuê môi trường rừng tại rừng tràm Trà Sư là chủ trương của UBND tỉnh nhằm đảm bảo việc giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý đối với rừng đặc dụng, đồng thời tăng tính chủ động trong việc kinh doanh du lịch sinh thái (DLST) tại khu vực này. Tuy nhiên, hoạt động DLST tại rừng tràm Trà Sư phải đảm bảo những nguyên tắc về bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng”.

Theo đó, việc cho thuê môi trường rừng tại rừng tràm Trà Sư sẽ tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, bảo vệ và phát triển rừng theo quy định hiện hành, hướng đến việc sử dụng nguồn lao động địa phương. “Khi DN tham gia kinh doanh DLST thì yếu tố tiên quyết là phải thực hiện tốt việc bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng và nguồn gen thực vật. Đây là dịp để chúng tôi thực hiện việc tuyên truyền, nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, bảo tồn thiên nhiên và cảnh quan môi trường bền vững” - ông Trần Phú Hòa cho biết thêm.

Theo đề án, diện tích cho thuê môi trường để kinh doanh DLST tại phân khu dịch vụ - hành chính là 159 héc-ta trong tổng diện tích 845 héc-ta của rừng tràm Trà Sư. Trong khu vực được cho thuê, các DN có thể xây dựng những công trình phục vụ hoạt động DL, các tuyến đường mòn, điểm dừng chân, bãi đổ xe… theo quy định về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng và căn cứ theo tình hình thực tế tại Khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư.

 “Thực tế, nếu xây dựng quá nhiều công trình trong khu vực cho thuê sẽ đánh mất “tính ST” của hoạt động DL. Qua nhiều năm phát triển DL tại rừng tràm Trà Sư, chúng tôi nhận thấy du khách rất thích thú khi được hòa mình vào cảnh sắc hoang sơ của rừng tràm. Họ đến đây là để tìm chất hoang sơ và hòa mình với thiên nhiên chứ không nhằm tận hưởng những dịch vụ tiện nghi theo kiểu DL thuần túy. Do đó, các DN khi làm DL tại đây cần nắm bắt “tâm lý” này mới có thể thu hút du khách” - ông Lê Văn Hoàng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, nhận định.

t7a.jpg

Khi đến với rừng tràm Trà Sư, du khách sẽ có dịp chìm đắm trong khung cảnh bao la, bát ngát của thiên nhiên. Họ có thể thỏa sức ngắm nhìn những loài chim nước tung cánh giữa sắc trắng chân quê của bông tràm hay thưởng thức đặc sản miền sông nước. Đặc biệt, Trà Sư còn sở hữu những loại rau rừng “siêu sạch” tạo được ấn tượng đặc biệt trong lòng thực khách. “Khi đến với rừng tràm Trà Sư, du khách có thể mua về mật ong rừng tràm chính gốc hay những món đồ lưu niệm đặc biệt như: Tranh bằng lá tràm, tinh dầu tràm, mô hình dụng cụ của nông dân bằng tre, nứa. Dự kiến, chúng tôi sẽ tiếp tục thiết kế các sản phẩm lưu niệm mang tính thiên nhiên đặc trưng của Trà Sư để phục vụ du khách trong năm nay” - ông Lê Văn Hoàng thông tin.

Từ những đặc sản có sẵn của rừng tràm Trà Sư, các DN có thể tận dụng lại và thiết kế thêm theo mục đích của mình. Với thời gian cho thuê tối đa 20 năm, họ có thể khai thác được những yếu tố thuận lợi của rừng tràm, đồng thời thực hiện được những kế hoạch phát triển DL “dài hơi” của mình. “Theo quy hoạch phát triển DL tại rừng tràm Trà Sư của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, phân khu dịch vụ - hành chính của rừng tràm sẽ có nhiều hoạt động hấp dẫn du khách trong tương lai, như: Bơi thuyền kayak khám phá rừng tràm theo sơ đồ tuyến, câu cá giải trí, trải nghiệm nuôi và thu hoạch mật ong dưới tán rừng, tham quan và mua sắm tại khu sản xuất sản phẩm mỹ nghệ từ tràm, tham gia thu hoạch các sản vật từ rừng, trải nghiệm ngủ tại rừng và tham gia các trò chơi dân gian tại khu cắm trại…” - ông Hoàng cho hay.

Việc đưa DN đến với rừng tràm Trà Sư là biện pháp ổn định, lâu dài và cần thiết nhằm chuyên nghiệp hóa hoạt động DL tại đây, đồng thời góp phần phát huy giá trị kinh tế rừng, giải quyết việc làm cho lao động địa phương và nâng cao ý thức bảo vệ rừng của cộng đồng dân cư. (Atv.org.vn 12/8) Về đầu trang

Tủa Chùa - Điện Biên: Vượt khó để bảo vệ, quản lý rừng hiệu quả

Diện tích tự nhiên rộng, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn; lực lượng kiểm lâm mỏng, trình độ dân trí của một số bà con còn thấp… nên công tác quản lý, bảo vệ rừng ở huyện Tủa Chùa (Điện Biên) còn nhiều gian nan, vất vả...

Với 12 xã, thị trấn, Tủa Chùa có diện tích tự nhiên 68.374,8ha, trong đó diện tích rừng là 23.512,68ha; diện tích đất chưa có rừng là 34.330,97ha. Độ che phủ rừng đến hết năm 2016 của huyện là 34,4%.

Kết quả tuy chưa lớn, song chúng tôi tin rằng với sự đồng thuận cao của cấp ủy, chính quyền và người dân, rừng ở Tủa Chùa sẽ ngày một phát triển”.

Lởi tâm sự của ông Lò Văn Sân - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tủa Chùa đã lý giải nhiều vấn đề:  Địa hình chia cắt phức tạp, độ dốc lớn; đường giao thông chưa phát triển, rất khó khăn cho việc đi lại để tuyên truyền vận động bà con giữ rừng…

 Nơi đây, bà con dân tộc chủ yếu sống dựa vào nương rẫy, du canh du cư, tình trạng di dân tự do vẫn còn, hiện tượng phá rừng làm nương trái phép gây ảnh hưởng lớn đến tài nguyên rừng và môi trường sinh thái. Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm còn thiếu tới gần 50% quân số hiện có; nguồn kinh phí phục vụ cho việc phòng chống, cháy rừng còn ít...

“Hạt chúng tôi phải được bổ sung thêm 13 kiểm lâm viên nữa mới đủ biên chế so với diện tích rừng ở Tủa Chùa. Nhưng dù còn khó khăn thì vẫn phải nỗ lực làm việc tốt hơn” – ông Sân bảo vậy.

Ông Sân cũng thật lòng cho biết: “Hiện, 4 xã phía nam (Mường Đun, Xá Nhè, Tủa Thàng, Huổi Só) còn khá nhiều cây nghiến bị lâm tặc đốn hạ từ năm 2007 – 2010 để lấy lu, mắt nghiến. Các đối tượng đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để khai thác, cất giấu, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép”.

Để khắc phục khó khăn cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn ở Tùa Chùa luôn tăng cường công tác tuyên truyền vận động để bà con hiểu và tham gia giữ rừng; tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cơ sở; phối hợp với dân quân tự vệ; dựa vào già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ… để nâng cao hiệu quả bảo vệ vốn rừng.

Trong 6 tháng đầu năm nay, Hạt Kiểm lâm huyện đã triển khai tuyên truyền, học tập phổ biến pháp luật trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) cho 5.590 lượt người tham gia; tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR với 1.830 hộ gia đình và các chủ rừng cũng như với UBND cấp xã; thành lập 253 tổ, đội PCCCR ở các thôn, bản có rừng với 1.893 thành viên thường xuyên tuần tra ở những khu vực trọng điểm.

Không chỉ tăng cường công tác tuần tra, bảo vệ, xử lý vi phạm, Hạt Kiểm lâm đã phối hợp tốt với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Điện Biên, tiến hành chi trả tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng đợt 2 năm 2016 cho 12 xã, thị trấn với tổng số tiền: 5.286 triệu đồng. “Tuy chỉ đạt mức chi trả hơn 200.000 đồng/ha/năm, nhưng số tiền ấy đã giúp người dân hiểu đúng hơn giá trị của rừng, có trách nhiệm hơn đối với rừng được giao khoán quản lý” – chị Giàng Thị Mảy- Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Sính Phình chia sẻ.

Nhờ sự đồng thuận ngày một cao của người dân, hiện tượng khai thác lâm sản bừa bãi ở Tủa Chùa đã giảm mạnh. Đặc biệt, từ đầu năm đến nay trên địa bàn huyện không xảy ra vụ cháy rừng nào. Cũng trong 6 tháng đầu năm 2017, tại các xã Mường Báng, Xá Nhè, Sính Phình, Sín Chải… đã trồng được 182ha rừng với nhiều giống cây: Thông mã vĩ, keo, sa mộc, sơn tra… (Dân Việt 14/8) Về đầu trang

Đất nhiều sổ đỏ, nhiều hecta rừng tại Đồng Nai bị san ủi

Tại một số nơi thuộc tỉnh Đồng Nai, trong khi người dân đang trồng rừng trên mảnh đất của mình thì bị các doanh nghiệp cũng có giấy chứng nhận sử dụng đất đến san ủi.

Khu đất đã cấp sổ đỏ cho người này, rồi lại cấp cho người khác. Kết quả là trong khi người dân đang trồng rừng, canh tác trên mảnh đất của mình, thì bị các doanh nghiệp, cũng có giấy chứng nhận sử dụng đất đến chặt phá, san ủi. Vụ việc kỳ lạ này đang diễn ra tại một số địa phương ở tỉnh Đồng Nai. (VTVNews 13/8) Về đầu trang

Gia Lai: Bắt giữ ô tô chở 179 lóng gỗ lậu

Phát hiện một tô loại 12 chỗ đang lưu thông có nhiều nghi vấn, lực lượng CSGT dừng phương tiện kiểm tra thì phát hiện trện xe chở 179 lóng gỗ không rõ nguồn gốc.

Công an thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai cho biết đang tạm giữ chiếc ô tô loại 12 chỗ cùng tang vật là 179 lóng gỗ không rõ nguồn gốc.

Trước đó, khoảng 22h ngày 9/8/2017, trên quốc lộ 19, đoạn qua phường An Phú, thị xã An Khê, quá trình tuần tra lực lượng CSGT phát hiện xe ô tô mang BKS 77H-5507 có dấu hiệu vi phạm luật giao thông.

Sau đó, tổ công tác ra hiệu lệnh dừng xe nhưng tài xế không chấp hành mà tăng ga vượt đèn đỏ bỏ chạy. Ngay lập tức, lực lượng CSGT tiến hành truy đuổi, buộc tài xế phải dừng xe để làm việc.

Tại thời điểm kiểm tra, lực lượng CSGT phát hiện bên trong xe chứa 179 lóng gỗ căm xe (nhóm III). Tài xế điều khiển phương tiện tên Văn Thanh Khôi (SN 1990, trú tại phường An Phú, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai) không có bằng lái xe, không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ trên.

Sau đó, lực lượng CSGT tiến hành tạm giữ đưa người và tang vật về trụ sở công an để điều tra, làm rõ. (Nguoiduatin.vn 13/8; Tapchigiaothong.vn 12/8) Về đầu trang

Gia Lai: Bảo vệ rừng gỗ hương hàng trăm năm tuổi

Ngày 13/8, UBND tỉnh Gia Lai cho biết vừa có công văn chỉ đạo Sở NN&PTNT, UBND huyện Kbang và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp Krông Pa khẩn trương bổ sung và có những phương án thiết thực nhằm bảo vệ 300 cây gỗ hương cổ thụ hàng trăm năm tuổi nằm trong lâm phần của công ty, thuộc địa bàn huyện Kbang.

Theo đó, việc tuần tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên, nếu cần huy động lực lượng bộ đội thuộc Tỉnh đội Gia Lai. Cuối mỗi quý, các đơn vị trên phải có báo cáo UBND tỉnh về thực trạng rừng giáng hương cổ thụ nhằm bảo vệ nguồn gien quý. (Thanh Niên 14/8, tr8) Về đầu trang

Đức Cơ, Gia Lai: Có 8.257 ha đất rừng bị lấn chiếm

Đoàn kiểm tra số 01 của Ban Chỉ đạo thu hồi đất rừng bị lấn chiếm tỉnh Gia Lai do ông Nguyễn Duy Lân-Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm làm trưởng đoàn vừa có buổi làm việc về tình hình thu hồi đất rừng bị lấn chiếm và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2017 tại huyện Đức Cơ.

Toàn huyện Đức Cơ hiện có 8.257 ha đất lâm nghiệp bị lấn chiếm; trong đó, Ban Quản lý Rừng phòng hộ huyện quản lý 4.570 ha và các xã quản lý 3.867 ha. Theo dự kiến, đến năm 2019, huyện Đức Cơ sẽ thu hồi hơn 2.135 ha diện tích đất lâm nghiệp để chuyển cây trồng phù hợp với mục đích lâm nghiệp và trồng rừng. Tính đến thời điểm này, đã có 33 hộ dân thực hiện việc kê khai diện tích nương rẫy đang sản xuất trên đất lâm nghiệp với tổng diện tích hơn 56 ha. Bên cạnh đó, huyện cũng rà soát, phân loại đối tượng để có giải pháp phù hợp, giao lại trồng rừng hưởng lợi hoặc thu hồi đất để trồng rừng. Đối với việc trồng cây phân tán năm 2017, huyện đã mua gần 54.000 cây các loại gồm sao đen, xà cừ, bời lời theo đúng kế hoạch tỉnh giao. Đến nay, đã trồng được 40 ha tương ứng với 40.000 cây tại các tuyến đường trên địa bàn huyện, các vị trí công cộng, công viên, khuôn viên các trường học… Số cây còn lại dự kiến sẽ trồng hoàn thành trước ngày 15-8.

Tại buổi làm việc, Đoàn kiểm tra số 01 của Ban Chỉ đạo thu hồi đất rừng bị lấn chiếm tỉnh Gia Lai đã ghi nhận những kết quả đạt được của huyện Đức Cơ trong công tác thu hồi đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và thực hiện kế hoạch trồng rừng. Đoàn cũng yêu cầu, trong thời gian tới huyện cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động tới người dân; mặt khác, phải xây dựng các phương án để bảo vệ diện tích đất lâm nghiệp đã được thu hồi, không để xảy ra tình trạng tái lấn chiếm. (Baogialai.com.vn 13/8) Về đầu trang

Hà Nội: Bảo đảm phòng cháy chữa cháy 2.095ha rừng ở huyện Sóc Sơn

Ban Quản lý rừng phòng hộ – đặc dụng Hà Nội vừa triển khai thực hiện kết luận của Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Nguyễn Văn Sửu tại cuộc họp kiểm điểm, rút kinh nghiệm về công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trên địa bàn thành phố.

Ban Quản lý rừng phòng hộ – đặc dụng Hà Nội cho biết, đơn vị được giao quản lý được giao quản lý 2.095ha rừng phòng hộ và đất lâm nghiệp ở huyện Sóc Sơn. Cùng với những diễn biến phức tạp của thời tiết của mùa hè năm 2017, địa hình cao dốc, thực bì dưới tán rừng và lớp thảm mục dày chủ yếu là tế guột, cỏ lau, cỏ tranh tốt và rậm rạp nhiều năm chưa làm vệ sinh rừng.

Ngoài ra có nhiều khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nên thu hút du khách thập phương đi lễ, tham quan… Cùng với sự bùng nổ của các mô hình leo núi, du phượt tự phát đã làm tăng số lượng lượt học sinh sinh viên ra vào rừng… nên tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao, khó lường trước.

Được sự quan tâm đầu tư của nhà nước, đời sống người làm lâm nghiệp trong nhiều năm qua được nâng cao. Rừng được bảo vệ phát triển tốt, cành lá khô cũng như thảm thực bì nhiều và tốt cho nên khi cháy rừng xảy ra thường rất khốc liệt, diễn biến phức tạp. Trong tháng 6 năm 2017, do thời tiết khắc nghiệt, nhiệt độ tăng mạnh, dẫn đến việc xảy ra cháy rừng trên diện rộng và khó kiểm soát.

Để khắc phục và hạn chế thiệt hại khi có cháy rừng xảy ra trong trường hợp thời tiết xấu và phức tạp như hiện nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ – đặc dụng Hà Nội đề xuất Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép tổ chức thi công các tuyến hạ cấp vật liệu cháy với chiều rộng 20m ở những vùng trọng điểm như khu quân sự và nơi có nguy cơ cháy rừng cao với diện tích là 52,16ha gồm 20 tuyến.

Năm 2017, Ban Quản lý rừng phòng hộ – đặc dụng Hà Nội được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao kế hoạch hạ cấp vật liệu cháy 109,32ha, trong đó trên diện tích rừng phòng hộ 104,32ha, rừng đặc dụng 5ha với dự toán kinh phí được phân bổ hơn 4 tỷ đồng. Tính đến thời điểm hiện nay đã hoàn thành 80% khối lượng hạ cấp vật liệu cháy.

Các tuyến hạ cấp vật liệu cháy còn lại đang thi công dở dang. Do lực lượng công nhân của ban nhận lương từ nguồn kinh phí tự chủ và khối lượng diện tích hạ cấp vật liệu cháy giao cho chủ nhân khoán bàn giao với đơn giá không bao gồm các khoản bảo hiểm xã hội, y tế, tai nạn, kinh phí công đoàn nên kinh phí được cấp trong nghiệp vụ hạ cấp vật liệu cháy năm 2017 còn dư 1,25 tỷ đồng.

Ban Quản lý rừng phòng hộ – đặc dụng Hà Nội đề xuất Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho chuyển phần kinh phí còn dư trên sang kinh phí thực hiện 52,16ha hạ cấp vật liệu cháy đối với các tuyến trọng điểm quân sự trong năm 2017.

Đồng thời cho tu sửa các tuyến đường phòng cháy chữa cháy rừng, đường lâm nghiệp để phục vụ cho các lực lượng tham gia chữa cháy rừng, xe cứu hỏa có thể tiếp cận được đám cháy khi có cháy rừng xảy ra; kế hoạch thực hiện năm 2018-2019. Đầu tư các trang thiết bị cần thiết cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng… (Moitruong.net.vn 13/8; Vietnam.biz 13/8) Về đầu trang

Hà Giang: Đem lại màu xanh từ HTX dân quân trồng rừng

Từ khi thành lập, HTX Dân quân trồng rừng xã Ngọc Minh (Vị Xuyên, Hà Giang) đã góp phần phát triển ngành lâm nghiệp trên địa bàn, biến lâm nghiệp thành thế mạnh phát triển kinh tế và góp phần bảo vệ môi trường (BVMT) sinh thái nhờ tăng độ che phủ rừng.

Cùng với nhiệm vụ thường xuyên huấn luyện, trực sẵn sàng chiến đấu, ứng phó kịp thời với các tình huống thiên tai, hỏa hoạn xảy ra trên địa bàn; tham gia giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội..., HTX Dân quân trồng rừng xã Ngọc Minh còn nhận thêm nhiệm vụ trồng rừng kinh tế, rừng lâm nghiệp xã hội.

HTX hiện có 50 thành viên, với vốn điều lệ 3,5 tỷ đồng. Tận dụng diện tích đất lâm nghiệp khá lớn tại địa phương, HTX đã triển khai nhiều chương trình, dự án trồng mới rừng nhằm nâng cao độ che phủ, thu nguồn lợi từ rừng.

Với diện tích đất rừng được giao, HTX đã triển khai phát dọn thực bì, liên hệ với những đơn vị cung ứng giống cây lâm nghiệp để bảo đảm chất lượng cây sau khi trồng.

Nhờ việc phát triển trồng rừng, HTX góp phần cung cấp củi và nguyên liệu chế biến gỗ cho các DN trên địa bàn. Theo hạch toán kinh tế cho 1 ha, chi phí đầu tư là 35,5 triệu đồng, sau 1 chu kỳ thu được 105m3 gỗ, bán với giá 1 triệu đồng/khối sẽ thu được 105 triệu đồng. Trừ chi phí đầu tư, thuế DN, HTX sẽ thu về lợi nhuận 52,125 triệu đồng.

Bên cạnh hiệu quả về kinh tế, HTX còn mang lại hiệu quả về xã hội, như giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các thành viên, tăng tỷ lệ che phủ rừng, BVMT sinh thái, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo bền vững...

Theo kế hoạch năm 2017, HTX dự kiến trồng mới 70 ha rừng bằng cây giống chất lượng cao, sau 5 - 7 năm, sản lượng thu hoạch phấn đấu đạt 100m3/ha trở lên, doanh thu ước tính thu về hơn 5 tỷ đồng.

Có thể khẳng định, việc thành lập mô hình HTX dân quân trồng rừng tại địa phương đã góp phần khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp, đáp ứng nhu cầu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, tạo nguồn nguyên liệu tập trung cho các nhà máy giấy, chế biến gỗ... Đồng thời góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân về phát triển kinh tế tập thể, nâng cao trình độ quản lý và tổ chức các phương án sản xuất, kinh doanh phù hợp.

Trong điều kiện thời tiết khí hậu có nhiều diễn biến khó lường như những năm qua, nhất là vào mùa hanh khô, HTX đã tăng cường công tác phòng chống cháy rừng (PCCR) để bảo đảm diện tích rừng đã và đang trồng, phát triển diện tích che phủ rừng.

HTX tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc về công tác PCCR; phối hợp với đài Truyền thanh - truyền hình xã, huyện, thành phố và lực lượng Kiểm lâm tăng cường thời lượng đưa tin, bài, chuyên đề có nội dung về công tác bảo vệ rừng và PCCR.

Vào mùa hanh khô, khi cấp dự báo cháy rừng ở cấp IV, cấp V, HTX tiến hành bố trí lực lượng thường trực 24/24giờ; lực lượng canh phòng ở những khu trọng điểm, không để phát sinh nguồn lửa hoặc phát hiện sớm điểm cháy để huy động các lực lượng tại chỗ xử lý kịp thời.

Bên cạnh đó, HTX đã tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về PCCR của các chủ rừng, nhất là hoạt động đốt nương làm rẫy, đốt dọn thực bì để trồng rừng của bà con.

Qua đó, HTX quy định cụ thể khu vực nghiêm cấm đốt dọn nương bãi và những hành vi dùng lửa khác trong thời kỳ khô hạn. Nếu phát hiện, HTX sẽ kết hợp với chính quyền và Kiểm lâm xử lý nghiêm những đơn vị, cá nhân thiếu trách nhiệm trong công tác PCCR, gây cháy rừng.

Nhờ đó, diện tích rừng do HTX quản lý và rừng trên địa bàn chưa xảy ra đợt cháy nào. Người dân đã nâng cao ý thức trong vấn đề PCCR, chỉ đốt nương, dọn thực bì trong vùng quy định để bảo vệ rừng và môi trường sinh thái.

Sự ra đời của HTX góp phần nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp, tăng cường hiệu quả sử dụng đất và chất lượng rừng trồng. Đồng thời tăng cường sức mạnh, nguồn lực của các thành viên HTX, tạo việc làm cho người dân địa phương, góp phần xóa đói, giảm nghèo.

 

Rừng đã trở thành thế mạnh trong phát triển kinh tế và xã hội tại địa phương. Bảo vệ và phát triển rừng là điều không thể thiếu với người dân nơi đây. (Thời Báo Kinh Doanh 14/8, tr8) Về đầu trang

Ninh Bình: Phú Long chủ động Phòng chống cháy rừng

Trong những ngày vừa qua, thời tiết nắng nóng kéo dài, cùng với các địa phương trong huyện Nho Quan, xã Phú Long đã và đang tích cực triển khai nhiều biện pháp Phòng chống cháy rừng (PCCR) nhằm bảo vệ các diện tích rừng một cách hiệu quả nhất.

Phú Long hiện có trên 800 ha rừng, là một trong những địa phương có diện tích rừng nhiều trên địa bàn huyện Nho Quan, chính vì vậy công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Để phòng tránh, hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng có thể xảy ra, Phú Long đã chỉ đạo Ban lâm nghiệp chủ động kiểm tra, hướng dẫn các thôn, xóm, người dân triển khai các biện pháp phòng chống cháy rừng.

Trong đó tập trung tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra các vùng trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao; tuyên truyền, hướng dẫn người dân tuân thủ đúng các quy trình khi đốt nương rẫy, đốt xử lý thực bì để đảm bảo an toàn trong công tác phòng chống cháy rừng.

Đồng thời khuyến cáo người dân thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết và căn cứ tình hình thực tế xây dựng đường băng cản lửa và thực hiện phương châm 4 tại chỗ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại nếu có cháy rừng xảy ra.

Hiện nay, nắng nóng vẫn diễn ra, do đó nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Chính vì vậy, bên cạnh sự vào cuộc tích cực của cơ quan chức năng, cấp ủy chính quyền địa phương, mỗi người dân cần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng. (Nbtv.vn 13/8) Về đầu trang

Kon Tum: Chặt hơn 110 ha rừng thông để trồng cây mắc ca

Rừng thông 117 ha, có độ tuổi trên 20 năm đã được khai thác, lấy đất cho doanh nghiệp trồng cây mắc ca.

Kon Plông (Kon Tum) nằm ở độ cao khoảng 1.300m so với mặt nước biển trong vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, quanh năm mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 18 đến 20ºC, trước đây là vùng đất hoang sơ, lạc hậu, ít bóng người. Nay đã chuyển mình thành trung tâm nông nghiệp kỹ thuật cao và điểm du lịch khám phá thú vị của Kon Tum. Vùng đất này đang chuyển mình, với mục tiêu biến thành “Đà Lạt thứ hai” của Tây Nguyên. Tuy nhiên những ngày qua, nhiều du khách đi qua đây bỗng giật mình khi thấy rừng thông xanh mướt, đẹp mê hồn ngày nào đã bị khai thác.

Theo tìm hiểu của phóng viên, vào tháng 1/2017, UBND tỉnh Kon Tum có quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng cho Công ty TNHH Đăng Vinh (TP. Quy Nhơn, Bình Định) thuê đất triển khai dự án trồng cây mắc ca với thời hạn 50 năm. Rừng thông bị khai thác là rừng trồng sản xuất, được trồng từ năm 1992, 1996, nằm tại khoảnh 8, 9, 12, 13 thuộc tiểu khu 481, xã Đắk Long, huyện Kon Plông. Tổng diện tích rừng là 198 ha, trong đó Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Kon Plông quản lý 187 ha (đất có rừng gỗ trồng là 117 ha, còn lại là không có rừng), UBND xã Đắk Long quản lý 11,16 ha (đất có rừng gỗ trồng là 5,3 ha, còn lại không có rừng).

Ghi nhận của phóng viên tại QL24, đoạn qua xã Đắk Long, nơi 117 ha rừng thông bị khai thác, cây cắt trơ trọi sát đất, cành nhánh vứt rải rác. Những vết hằn sâu xuống đất của bánh xe ba càng vào vận chuyển gỗ đi tiêu thụ càng làm khu rừng thêm tan hoang.

Theo ông A Bít - Trưởng thôn Kon Chốt, xã Đắk Long, trước đây khu rừng thông này là đồi trọc, sau đó có chủ trồng, người dân cũng tham gia chăm sóc, trông coi. Rừng thông là bóng mát, chắn gió cho thôn Kon Chốt khỏi những trận mưa bão, giờ rừng thông bị phá bỏ, trong làng ai cũng tiếc nuối.

Ông Bùi Thanh Phong - Chánh văn phòng UBND huyện Kon Plông cho biết, số diện tích rừng chuyển đổi sang trồng mắc ca trên địa bàn là rừng trồng. Trong dự án chuyển đổi này, huyện chỉ có vai trò giới thiệu đất và địa điểm. “Trên địa bàn, rừng thông trồng có mấy nghìn ha, tuy nhiên, huyện sẽ để lại làm cảnh quan chứ không khai thác, chuyển đổi toàn bộ diện tích” - Ông Phong nói. (Baodansinh.vn 13/8) Về đầu trang

Quảng Ninh: Chợ Đồn cấp hơn 420 giấy phép khai thác gỗ các loại

Từ đầu năm đến nay, huyện Chợ Đồn đã cấp hơn 420 giấy phép khai thác gỗ các loại với tổng khối lượng khai thác là hơn 6.600m3.

Trong đó, khai thác gỗ lớn rừng tự nhiên là hơn 100 giấy phép với tổng khối lượng trên 1.300m3; Khai thác gỗ vườn nhà cấp được trên 40 giấy phép với khối lượng hơn 400m3; Khai thác gỗ rừng trồng cấp được trên 250 giấy phép với khối lượng hơn 4.800m3.

Trước tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra ở một số xã, lực lượng kiểm lâm huyện Chợ Đồn đã tăng cường tuần tra, truy quét việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn; Đặc biệt chú trọng các điểm chốt chặn trên những tuyến đường giao thông, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật. Đồng thời, lực lượng kiểm lâm huyện cũng đẩy mạnh tuyên truyền để người dân làm đầy đủ các thủ tục cấp phép khai thác lâm sản theo đúng quy định. (Backantv.vn 13/8) Về đầu trang

Quảng Nam: Truy bắt cán bộ bảo vệ rừng trộm cả vườn sâm Ngọc Linh

Công an huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam đã làm rõ 2 đối tượng trộm hơn 500 gốc sâm Ngọc Linh, trong đó có 1 cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Tranh.

Sáng 7-3, ông Hồ Quang Bửu, Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam, cho biết Công an huyện Nam Trà My đã có báo cáo ban đầu về vụ trộm sâm Ngọc Linh “khủng” trên địa bàn huyện, bắt thêm một đối tượng.

Cụ thể, theo Công an huyện Nam Trà My, sáng1-3, ông Hồ Văn Dương cùng với ông Hồ Văn Diêm, Hồ Văn Hai, Hồ Văn Hải và Hồ Văn Bảy (cùng ngụ nóc Tăk Ngo, thôn 2, xã Trà Linh, huyện Nam Trà My) đi lên chốt trồng sâm chung tại sườn núi Ngọc Linh ở thôn 2 để thăm và kiểm tra vườn sâm thì phát hiện các vườn trồng sâm của mình bị kẻ gian đào bới trộm cắp củ sâm Ngọc Linh với số lượng lớn.

Số lượng sâm bị mất hơn 500 gốc sâm, với trọng lượng khoảng 9 kg, độ tuổi từ 2 đến 17, gây thiệt hại gần như toàn bộ tài sản của các hộ, ước tính trên 300 triệu đồng.

Sau khi nhận được thông tin, Công an huyện Nam Trà My đã triển khai 2 tổ công tác. Một tổ gồm lực lượng công an huyện, viện kiểm sát nhân dân huyện cùng lực lượng công an xã Trà Linh tiến hành tổ chức khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người bị hại, làm các thủ tục tố tụng ban đầu. Một tổ tiến hành rà soát các đối tượng nghi vấn có khả năng thực hiện hành vi trộm cắp sâm, thu thập thông tin, chứng cứ và lần theo dấu vết tội phạm.

Đến ngày 5-3, tổ công tác của Công an huyện Nam Trà My phối hợp với Công an TP Tam Kỳ phát hiện Nguyễn Bá Nguyệt (SN 1987, ngụ tại thôn Dương Bình, xã Trà Dương, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam) có mang theo gần 4 kg củ sâm Ngọc Linh chưa rõ nguồn gốc, nghi ngờ là tang vật của vụ trộm cắp nói trên nên tiến hành mời đối tượng về làm việc.

Qua đấu tranh, Nguyệt thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình. Qua đó, vào sáng 24-2, Nguyệt cùng Phan Quốc Duân (SN 1989, ngụ thôn Dương Bình) - Cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Tranh đi xe máy từ huyện Bắc Trà My lên đến cuối đường xã Trà Linh rồi đi bộ lên chốt sâm của các hộ dân nói trên để nhổ trộm sâm Ngọc Linh.

Sau khi “dọn” hơn 500 gốc sâm với trọng lượng gần 9 kg củ sâm Ngọc Linh, Nguyệt và Duân đi bộ về cuối đường lấy xe máy xuống TP Tam Kỳ. Sau khi bàn bạc, cả hai thống nhất Nguyệt sẽ đem sâm trộm cắp được vào tỉnh Bình Phước để tiêu thụ rồi quay về cùng nhau chia tiền. Sau đó, Nguyệt đón xe khách vào tỉnh Bình Phước để tìm nơi bán sâm. Tuy nhiên, do không bán được số sâm này nên Nguyệt quay về lại Tam Kỳ và đến ngày 5-3 thì Nguyệt bị công an bắt khi đang đi tìm nơi tiêu thụ.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Trà My đã tạm giữ 3,7 kg sâm Ngọc Linh do 2 đối tượng nhổ trộm. Số Sâm còn lại, Duân khai đem đi cất giấu tại nhà người quen ở huyện Tiên Phước. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Trà My đã tiến hành bắt khẩn cấp đối với Duân và tạm giữ được toàn bộ số sâm Duân cất giấu.

Hiện tại, vụ việc đang được Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Trà My điều tra làm rõ.

Theo ông Hồ Quang Bửu, sau vụ trộm sâm “khủng” trên, UBND huyện Nam Trà My đã có văn bản chỉ đạo các đơn vị liên quan và các chủ hộ tăng cường các biện pháp bảo vệ vườn sâm. Sâm Ngọc Linh là dược liệu quý, có giá trị kinh tế rất cao và chỉ có duy nhất trên đỉnh Ngọc Linh (thuộc 2 tỉnh Quảng Nam và Kon Tum). Hiện nay giá mỗi ký sâm từ hàng chục đến cả trăm triệu đồng tùy vào độ tuổi. Nhờ vào cây sâm, nhiều người dân sống trên đỉnh Ngọc Linh xa xôi trở thành tỉ phú. Vào tháng 6 này, lễ hội sâm núi Ngọc Linh lần đầu tiên được tổ chức tại huyện Nam Trà My, đây là một trong những hoạt động trong chuỗi các sự kiện của Festival Di sản Quảng Nam 2017. (Người Lao Động Online 13/8) Về đầu trang

Quảng Nam: Xác lập rừng bảo vệ cảnh quan di tích Mỹ Sơn

UBND tỉnh Quảng Nam vừa có công văn đồng ý chủ trương xây dựng Đề án xác lập khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử văn hóa Mỹ Sơn (H.Duy Xuyên, Quảng Nam), nhằm bảo tồn các giá trị về văn hóa và cảnh quan tự nhiên của khu rừng này.

Theo đó, rừng bảo vệ cảnh quan tại di tích Mỹ Sơn có diện tích 1.158 ha, giáp ranh với các địa phương xã Duy Phú, Duy Hòa, Duy Sơn (H.Duy Xuyên) và xã Sơn Viên, Quế Trung (H.Nông Sơn, Quảng Nam).

Hiện nay, tồn tại nhiều loài động thực vật có giá trị. Theo điều tra khảo sát của Viện Sinh thái và bảo vệ công trình thực hiện đề tài nghiên cứu “Đa dạng sinh thái rừng đặc dụng Mỹ Sơn” thì có nhiều loại động thực vật nằm trong Sách đỏ, nhiều loài lần đầu mới phát hiện ở rừng nhiệt đới miền trung VN. (Thanh Niên Online 14/8; Thanh Niên Online 14/8, tr2) Về đầu trang

Nghệ An: Lão nông gàn "ôm" cả khu rừng quý hiếm

20 năm trước ông Pày Cả Nam, trú tại bản Xiềng Nứa, xã Yên Na, huyện Tương Dương tự nhận khoanh nuôi, trồng và bảo vệ khu rừng săng lẻ rộng hơn 3ha. Trải qua thời gian, đến nay ông Nam đã có cả một cơ ngơi đồ sộ, hàng năm thu nhập hàng trăm triệu đồng từ diện tích 30ha rừng được mở rộng với đủ loại gỗ từ săng lẻ, lát hoa, xoan, keo...

Chi tiết xin vui lòng xem bản Scan phía dưới. (Nông Thôn Ngày Nay 14/8, tr4) Về đầu trang

Cháy rừng tại Bolivia khiến hàng chục người thương vong

Theo phóng viên TTXVN tại Nam Mỹ, ít nhất 2 người đã thiệt mạng và 10 người bị thương trong trận cháy rừng kéo dài 4 ngày qua tại bang Tarija, miền Nam Bolivia.

Giới chức nước này ngày 12/8 cho biết lực lượng cứu hỏa đã kiểm soát được vụ cháy tuy nhiên hậu quả là tổng cộng 7.000 ha rừng bị tàn phá.

Phát biểu với báo giới, Bộ trưởng Quốc phòng Reymi Ferreira  cho biết 2 nạn nhân gồm một cảnh sát và nông dân đã thiệt mạng khi tìm cách thoát khỏi hỏa hoạn lan rộng và bị rơi xuống vách đá. Hiện các nhà chức trách đang đánh giá thiệt hại về môi trường và giải quyết hậu quả.

Ngày 9/8 vừa qua, đám cháy bắt đầu bùng phát tại khu vực Ceibal  , phía Tây bang Tarija. Do gió mạnh, lửa đã lan rộng tới 5 khu vực khác. Chính phủ Bolivia đã điều 2 máy bay trực thăng, nhiều xe cứu hỏa đến dập tắt đám cháy và trợ giúp người bị thương.

Đây là vụ cháy thứ 2 trong tuần này tại khu vực rừng được bảo vệ tại Bolivia. Trước đó, hỏa hoạn đã thiêu trụi 300 ha rừng Tunari tại thành phố Cochabamba. (TTXVN/Bnews.vn 13/8; VTVNews 13/8) Về đầu trang