Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 11/9/2017

Điểm báo ngày 11/9/2017

Cập nhật ngày : 11/09/2017 10:52:50 SA

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 11 tháng 9 năm 2017)

Cần công nhận cộng đồng dân cư là chủ rừng

Nhiều địa phương không có kinh phí để thực hiện việc đo đạc, lập hồ sơ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình. Nếu cộng đồng dân cư, hộ gia đình không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nghiễm nhiên không được hưởng các quyền chuyển nhượng, quyền thế chấp, quyền tổ chức sản xuất trên chính mảnh đất lâm nghiệp của mình. Theo Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc CAO THỊ XUÂN, thực tế này cho thấy thoát nghèo bằng kinh tế rừng vẫn còn xa vời.

- Bà đánh giá như thế nào về kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 - 2016 tại các địa phương?

- Chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi là chính sách lớn của Đảng, Nhà nước. Những năm qua, thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng, đã góp phần ổn định đời sống người dân, tạo đà cho phát triển lâm nghiệp.

Tuy nhiên, giám sát tại các địa phương cho thấy, việc triển khai thực hiện còn nhiều bất cập, hạn chế. Đơn cử, về hành lang pháp lý, mặc dù chúng ta đã có Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các nghị định, thông tư hướng dẫn đi kèm, song một số địa phương lại không chấp hành nghiêm các văn bản pháp luật này. Một số địa phương vẫn giao đất, giao rừng theo Nghị định 163/1999/NĐ - CP ngày 16.11.1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Các Nghị định 23/2006/NĐ - CP của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Thông tư số 38/2014/TT - BNNPTNT của Bộ NN - PTNT về phương án quản lý rừng bền vững, Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT - BNNPTNT-BTNMT của Bộ NN - PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp chưa được thực hiện.

- Có những văn bản pháp luật đã được ban hành gần chục năm nhưng lại không được triển khai thực hiện tại địa phương. Điều này ảnh hưởng như thế nào đến quyền lợi của cộng đồng dân cư, hộ gia đình, thưa bà?

- Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau này đều chú trọng hơn đến lợi ích của người dân, với mong muốn giúp người dân sống được bằng nghề rừng nhưng một số địa phương lại không thực hiện. Đây cũng là một trong những yếu tố khiến người dân không sống được bằng nghề rừng, nghèo vẫn hoàn nghèo.

Xét về chủ rừng được giao rừng ở các địa phương thì các công ty nông, lâm trường, doanh nghiệp được giao rừng, cho thuê rừng tổ chức sản xuất không hiệu quả, lại chưa bị thu hồi đất, rừng. Trong khi đó, các hộ dân là người dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất vẫn còn rất lớn. Ví dụ, ở Nghệ An, có hơn 16.000 hộ dân sống ở vùng miền núi và hộ gia đình là người dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất. Hiện, quy hoạch của tỉnh mới chỉ có 2.000 hộ dân được giao đất, giao rừng. Còn lại 14.000 hộ dân phải chuyển đổi nghề. Đây là thách thức lớn đối với người dân tộc thiểu số, hộ gia đình sống ở vùng núi, vùng cao. Họ sống giữa đất rừng mà không sống được bằng nghề rừng.

- Những hạn chế nêu trên, theo bà có phải là do sự thiếu quan tâm, sự vào cuộc thiếu quyết liệt của chính quyền địa phương hay không?

- Vướng mắc lớn nhất ở các địa phương là kinh phí dành cho phát triển kinh tế lâm nghiệp còn hạn chế. Nhiều địa phương không có kinh phí để thực hiện đo đạc, lập hồ sơ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình. Nếu cộng đồng dân cư, hộ gia đình không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nghiễm nhiên không được hưởng các quyền lợi như quyền chuyển nhượng, quyền thế chấp, quyền tổ chức sản xuất trên chính mảnh đất lâm nghiệp của mình. Tôi cho rằng, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đều phải quan tâm nhiều hơn nữa đến 14% người dân tộc thiểu số trên cả nước, để họ có thể thoát nghèo bằng kinh tế rừng.

- Sau giám sát, Hội đồng Dân tộc sẽ có những kiến nghị gì tới QH, Chính phủ để nâng cao hiệu quả thực hiện giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình, thưa bà?

- Hội đồng Dân tộc sẽ kiến nghị QH sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng theo hướng công nhận cộng đồng dân cư là chủ rừng. Đồng thời, đề nghị, Bộ NN - PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT - BNNPTNT-BTNMT hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp theo hướng quy định rõ nguồn kinh phí của Trung ương là bao nhiêu, ngân sách của địa phương là bao nhiêu để thực hiện giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp.

Chúng tôi cũng sẽ làm rõ trách nhiệm của Bộ NN - PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường trong quản lý nhà nước về giao đất, giao rừng. Trách nhiệm của Bộ Tài chính trong việc bố trí các nguồn vốn thực hiện giao đất, giao rừng. Ở các địa phương, sự phối hợp chức năng, nhiệm vụ giữa Sở NN - PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường cũng cần được làm rõ. Cụ thể, Sở NN - PTNT giao rừng, Sở Tài nguyên và Môi trường giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa hai Sở này, khiến giao đất chưa gắn liền với giao rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 11/9, tr1+3; Đại Biểu Nhân Dân Online 11/9) Về đầu trang

Khó ngăn chặn nạn phá rừng trái phép tại Bắc Kạn

Việc bảo vệ rừng đang là vấn đề cấp bách hiện nay. Để công tác bảo vệ rừng có hiệu quả, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chức năng, chính quyền và nhân dân. Tuy nhiên, thực tế mối liên kết giữa các bên trong thời gian qua lại chưa thực sự được chú trọng, trách nhiệm của mỗi bên chưa rõ ràng. Vì thế việc ngăn chặn triệt để tình trạng chặt phá rừng trái phép rất khó khăn. Câu chuyện tại Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là một ví dụ.

Hơn 240 m3 gỗ, tương đương 36 cây gỗ nghiến cổ thụ đã bị các đối tượng lâm tặc chặt hạ trái phép gần 1 năm qua. Cây lớn có đường kính hơn 2m, cây nhỏ thì đường kính gần 1m. Đáng lưu ý, 70% số cây nghiến bị chặt hạ trái phép lại nằm trong phần diện tích gần 1.000 ha mà Vườn Quốc gia Ba Bể giao cho Bộ đội và Công an huyện bảo vệ, trông coi. Tuy nhiên, ngay từ năm 2011, khi có chủ trương giao cho các đơn vị này trông coi với số tiền nhận giao khoán, bảo vệ rừng gần 200 triệu đồng mỗi năm, địa phương đã có nhiều ý kiến phản đối.

Vườn Quốc gia Ba Bể hiện có 9 xã nằm trong vùng lõi và vùng đệm. Đời sống người dân hiện gặp nhiều khó khăn. Riêng xã Nam Mẫu có đến 45% dân số là hộ nghèo. Việc không giao rừng cho người dân quản lý, bảo vệ mà lại giao cho Bộ đội và Công an đã khiến việc ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng ở đây rất khó khăn.

 

Hàng loạt cán bộ, kiểm lâm của Vườn Quốc gia đã bị kỷ luật hoặc cảnh cáo. Chỉ gần đây, sau khi UBND tỉnh Bắc Kạn kiên quyết xử lý nghiêm tình trạng chặt phá rừng trái phép với việc tăng cường lực lượng Công an ở các trạm chốt thì tình trạng này mới tạm dừng tái diễn.

Những trạm chốt barie được tăng cường, kiểm tra tất cả các xe trên 24h là một trong những giải pháp của tỉnh Bắc Kạn để ngăn chặn tình trạng chặt phá, vận chuyển lâm sản trái phép. Tuy nhiên để quản lý tốt, bên cạnh sự vào cuộc của cơ quan chức năng, rất cần sự đồng thuận của chính quyền địa phương và nhân dân. (VTVNews 10/9) Về đầu trang

Nghệ An: Giao đất, giao rừng cũng như không?

Chủ trương giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình được người dân huyện Quỳ Châu đánh giá là đúng đắn. Tuy nhiên, chủ trương này lại chưa đến được với đông đảo người dân. Theo báo cáo của UBND huyện Quỳ Châu với Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc, đất do các hộ gia đình được giao quản lý tại địa phương chỉ khoảng 40.023ha; số hộ gia đình được giao đất lâm nghiệp là 8.335 hộ. Ước tính mỗi hộ chỉ được giao khoảng 4ha đất lâm nghiệp. Trong khi đó, huyện Quỳ Châu vẫn còn đất giao cho các lâm trường như Lâm trường Quỳ Châu với 9.000ha, Lâm trường Cô Ba với 6.224ha.

Nghịch lý ở chỗ, trên địa bàn huyện Quỳ Châu vẫn còn 1.635 hộ thiếu đất sản xuất. Trong đó, riêng tại xã Châu Bình còn đến 930 hộ thiếu đất sản xuất. Người dân phải đi làm thuê cho lâm trường theo hình thức phát canh, thu tô. Xót xa trước thực trạng này, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Cao Thị Xuân cho rằng, người dân sống ngay tại đất rừng, trên mảnh đất cha ông để lại, nay lại trở thành người làm thuê là rất đáng phải suy ngẫm.

Đáng chú ý hơn, Nghị quyết 112/2015/QH13 của QH ngày 27.11.2015 về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, Ban Quản lý rừng và các tổ chức hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng đã chỉ rõ những yếu kém trong quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường. Đồng thời, đề nghị Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện rà soát, xác định ranh giới, cắm mốc giới, đo đạc, lập bản đồ địa chính và hồ sơ ranh giới sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất, xác định giá đất, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo đúng quy định của pháp luật đối với các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp. Tiếp tục rà soát, thu hồi diện tích đất sử dụng không hiệu quả, sử dụng không đúng mục đích và giao lại cho địa phương để giao cho người dân, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu hoặc không có đất ở, đất sản xuất ở địa phương quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.      

Nghị quyết này đã được huyện Quỳ Châu thực hiện, lâm trường đã giao đất cho UBND tỉnh Nghệ An để giao về cho người dân. Nhưng đa phần đất lâm trường bàn giao lại là đất khô cằn, đất xấu hoặc ở quá xa khu dân cư nên người dân không thể canh tác được. Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Cao Thị Xuân khẳng định, với cách làm này thì nói là giao đất nhưng cũng như là không giao. Đất lâm trường quản lý vẫn không mang lại hiệu quả và người dân thì vẫn không có đất sản xuất, nghèo càng thêm nghèo.

Giải thích thêm về vấn đề này, lãnh đạo huyện Quỳ Châu cho biết, diện tích đất rừng ít giao cho hộ gia đình vì chưa có kinh phí hỗ trợ hộ gia đình bảo vệ và phát triển rừng. Các hộ gia đình, người dân tộc thiểu số nghèo nên không đủ sức để tự khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Đối với đất ở các lâm trường, đúng là vì lợi ích nên khi lâm trường trả đất về cho địa phương, chỉ toàn là nơi xa dân cư, khó canh tác, sản xuất - Phó Chủ tịch UBND huyện Quỳ Châu Nguyễn Thanh Hoài thừa nhận.

Để sớm chấm dứt tình trạng bất cập trong giao đất, giao rừng, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Cao Thị Xuân đề nghị, tỉnh Nghệ An cần chỉ đạo sát sao hơn, thu hồi các diện tích đất sử dụng không hiệu quả ở các công ty nông, lâm trường giao đất về cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Như đề nghị của các hộ gia đình thiếu đất sản xuất ở các bản:Bình 3, Lầu 1, Can, Thung Khang ở xã Châu Bình đó là, muốn xóa đói giảm nghèo phải có đất sản xuất, muốn sống với nghề rừng phải có đất, có rừng thì người dân mới phát triển lâm nghiệp được. (Đại Biểu Nhân Dân Online 10/9) Về đầu trang

Nghệ An: Kiểm tra xác minh thông tin rừng giao theo Nghị định 163 bị chặt phá nghiêm trọng

Mới đây, qua thông tin phản ánh rừng được Nhà nước giao cho người dân tại xã Nam Sơn theo Nghị định 163 của Chính phủ đang bị chặt phá nghiêm trọng, lực lượng chức năng huyện Quỳ Hợp đã tiến hành thành lập đoàn kiểm tra, xác minh.

Trong hai ngày 8 và 9/9 đoàn kiểm tra gồm các lực lượng Kiểm lâm huyện, Công an huyện, Đội kiểm lâm Cơ động số 3 thuộc Chi cục Kiểm lâm Nghệ An và UBND xã Nam Sơn đã trực tiếp vào khu vực Khe Ngọa, Bản Quảng, xã Nam Sơn để xác minh làm rõ sự việc. Toàn bộ khu vực rừng này chủ yếu là rừng đã giao cho người dân theo Nghị định 163 của Chính phủ.

Quá trình kiểm tra cho thấy, tại địa phận rừng của hộ gia đình ông Lê Văn Thành có khoảng hơn 5 khối gỗ thuộc nhóm 7- 8 các loại đã bị lâm tặc đốn hạ. Trong đó có hơn một nửa là số gỗ trước đó ngày 25/8 lực lượng Kiểm lâm huyện đã phát hiện, lập biên bản và giao cho chính quyền địa phương phối hợp lên kế hoạch mang toàn bộ tang vật về trụ sở UBND xã, tuy nhiên do thời gian qua mưa triền miên nên chưa thể vận chuyển số gỗ đó ra khỏi rừng.

Khu vực rừng bị lâm tặc chặt phá này của hộ ông Lê Văn Thành  nhận chuyển nhượng lại từ nhiều người dân xã Nam Sơn. Theo thống kê của lực lượng chức năng thì hiện tại ông Thành có nhận chuyển nhượng lại của rất nhiều người dân với số diện tích lên tới trên 160 héc ta.

Nguyên nhân dẫn tới việc chặt phá số lâm sản nói trên là do chủ rừng không trực tiếp sinh sống tại địa phương nên việc quản lý, bảo vệ dường như bị bỏ ngỏ. Trước thực trạng đó ông Thành cũng đã có đơn gửi các cơ quan chức năng huyện Quỳ Hợp để được giúp đỡ.

Quá trình nhận được đơn thư của ông Lê Văn Thành, lực lượng chức năng địa phương, chủ đạo là lực lượng Kiểm lâm cũng đã nhiều lần phối hợp với ông Thành để kiểm tra, đo đếm số gỗ, gốc bị lâm tặc chặt phá. Tuy nhiên, quá trình triển khai gặp rất nhiều khó khăn vì thời gian qua mưa diễn ra triền miên. Lực lượng Kiểm lâm cùng với chủ rừng mới chỉ xác định được số gỗ bị lâm tặc chặt, chưa thể đo đếm, xác định được số gốc gỗ bị chặt phá.

Ngày 28/8 vừa qua, tuy lực lượng chức năng địa phương chưa làm xong thủ tục theo quy định, nhưng chủ rừng là ông Thành đã tự ý cho phương tiện vào sâu trong rừng để kéo số gỗ tang vật ra khỏi rừng. Phát hiện sự việc,UBND xã Nam Sơn và lực lượng Kiểm lâm huyện Quỳ Hợp đã đình chỉ không cho chủ rừng vận chuyển hết số gỗ tang vật khi chưa làm rõ theo quy định của pháp luật.

Ông Lương Văn Thành - Chủ tịch xã Nam Sơn (người đứng) cho rằng các đơn vị chức năng huyện cần làm rõ những đối tượng thu gom, nhận chuyển nhượng hàng trăm héc ta rừng một cách bất thường.

Kết thúc quá trình kiểm tra thực địa khu vực rừng bị lâm tặc chặt phá, tại cuộc làm việc ở trụ sở UBND xã Nam Sơn, ông Trần Đức Lợi – Hạt trường Hạt Kiểm lâm huyện Quỳ Hợp cho rằng cần phải xác minh rõ toàn bộ số gỗ, gốc gỗ bị chặt phá. Cùng với đó, cần phải đo đếm chính xác số lượng, nếu đủ theo quy định thì yêu cầu phía Công an huyện vào cuộc điều tra và xử lý nghiêm những đối tượng vi phạm, liên quan.

“Cần thiết phải có biện pháp, nhắc nhở chủ rừng trong việc phải tham gia chặt chẽ, phối hợp với lực lượng chức năng vào công tác quản lý, bảo vệ rừng đã được giao. Tránh tình trạng nhận giao, nhận chuyển nhượng hàng trăm héc ta nhưng cứ bỏ ngỏ để rồi công tác quản lý tại địa phương gặp khó khăn.

Chủ rừng cần phải nâng cao vai trò, thực hiện theo đúng quy định đã được nêu chi tiết trong Nghị định 163 của Chính phủ khi nhận rừng giao khoán. Đối với cán bộ tham gia quản lý bảo vệ rừng, nếu phát hiện những hành vi tiếp tay, sai trái thì cần xử lý nghiêm. Đồng thời giao trách nhiệm rõ ràng, khu vực thuộc quản lý bị phá thi người đứng đầu phải nhận trách nhiệm nếu không tìm được thủ phạm.” – Ông Lợi nhấn mạnh.

Ông Lương Văn Thành – Chủ tịch UBND xã Nam Sơn cho rằng, việc các chủ rừng được giao rừng mà không chịu hợp tác với chính quyền địa phương để thực hiện cho tốt công tác quản lý, bảo vệ khiến chính quyền địa phương gặp nhiều khó khăn trong quá trình quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.

Ông Thành đề nghị UBND huyện Quỳ Hợp, các đơn vị chức năng cần phải làm rõ những vấn đề liên quan tới việc chuyển nhượng, mua bán gom hàng trăm héc ta rừng một cách bất thường diễn ra trên địa bàn.

Nếu việc chuyển nhượng, mua bán là trái luật thì yêu cầu phải chấm dứt, xử lý, đồng thời thu hồi để giao lại cho những người dân địa phương có nhân lực, nhu cầu tham gia phát triển kinh tế rừng nhưng không được giao rừng.

Thời gian qua, trước diễn biến trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện có nhiều phức tạp, nổi cộm lên một số vấn đề như có hiện tượng rừng bị chặt phá, xâm lấn, chuyển đổi trái quy định…Huyện ủy, cũng như UBND huyện Quỳ Hợp đã có nhiều văn bản chỉ đạo các đơn vị liên quan thực hiện nghiêm túc, chủ động trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Tăng cường tuần tra, kiểm soát thực địa, phát hiện sai phạm phải xử lý nghiêm không riêng gì bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. (Phapluatdansinh.vn 9/9) Về đầu trang

Kon Tum: Phát hiện 3 bãi gỗ lậu cách đường tuần tra biên giới 15m

Sáng 9.9, ông Nguyễn Tấn Liêm - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Kon Tum cho biết, các cơ quan chức năng vẫn đang xác minh nguồn gốc số gỗ vừa được phát hiện tại khu vực đường tuần tra biên giới thuộc huyện Ia H'Drai. Đến sáng hôm nay, chi cục vẫn chưa nhận được báo cáo mới nhất về vụ việc. Theo đó, vụ việc đã được bàn giao cho Chủ tịch UBND huyện Ia H’Drai chủ trì thành lập đoàn kiểm tra phối hợp với Đồn biên phòng, Công an huyện Ia H'Drai và UBND Ia Đal để điều tra.

Theo thông tin của Dân Việt, từ ngày 3.9 người dân ở khu vực biên giới xã Ia Đal phát hiện nhiều bãi tập kết gỗ lậu dọc tuyến biên giới với Campuchia nên trình cáo với UBND xã. Sau đó, chính quyền địa phương đã báo cáo với các cơ quan chức năng huyện Ia H'Drai để xuống hiện trường xác minh thông tin.

Qua kiểm tra hiện trường tại khu vực cột mốc 13 và 14, cách đường tuần tra vùng biên chừng 15m phát hiện 3 bãi tập kết gỗ. Sau đó, lực lượng chức năng lập biên bản hiện trường, thống kê có khoảng 30m3 từ nhóm II-VIII (trong đó, có khoảng 10m3 gỗ quý thuộc nhóm II). Đây là khu vực thuộc Đồn Biên phòng Suối Cát quản lý.

Bước đầu, phía Đồn Biên phòng Suối Cát thừa nhận, vị trí gỗ được phát hiện thuộc khu vực quản lý của mình nhưng cho rằng, số gỗ này có thể là gỗ do doanh nghiệp nhập khẩu về qua lối mở chưa chuyển đi hết, không phải gỗ lậu.

Theo Chi cục Kiểm lâm Kon Tum, số gỗ nhập khẩu qua lối mở biên giới đã hết thời hạn từ ngày 30.6 và toàn bộ số gỗ nhập khẩu này đã được vận chuyển đi nơi khác. Đồng thời, phía doanh nghiệp trực tiếp nhập gỗ cũng khẳng định, gỗ của đơn vị đã chuyển đi hết từ lâu, không còn ở khu vực mà cơ quan chức năng vừa phát hiện.

Nguồn tin mới đây từ Chi cục Kiểm lâm Kon Tum cho biết, ban đầu dự kiến ngày 9.9 có báo cáo về vụ việc. Tuy nhiên, do vụ việc cần mở rộng xác minh thêm ở các vùng phụ cận nên phải kéo dài đến thứ 2 (11.9) các cơ quan chức năng mới hoàn thành báo cáo gửi UBND tỉnh Kon Tum. (Danviet.vn 9/9) Về đầu trang

Đà Nẵng: Thả 2 cá thể khỉ về bán đảo Sơn Trà

Chiều 8-9, ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng cho biết, Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng (Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng) vừa phối hợp với phòng Cảnh sát môi trường (Công an thành phố Đà Nẵng) tổ chức thả 2 cá thể khỉ (1 cá thể khỉ đuôi lợn nặng 14kg và 1 cá thể khỉ mốc nặng 8kg) về môi trường tự nhiên, tại tiểu khu 51 bán đảo Sơn Trà.

Trước đó, ngày 31-8, Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng phối hợp với Đội 3 Phòng Cảnh sát môi trường tiếp nhận 2 cá thể khỉ này từ ông Ng. T. S., trú tại tổ 52 phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê. (Sài Gòn Giải Phóng Online 10/9) Về đầu trang

Bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng:Phải coi trọng sự giám sát của nhân dân

Bản báo cáo về Sơn Trà đã được Đà Nẵng gửi Thủ tướng nhưng những quan điểm về phát triển, bảo tồn bán đảo với hệ sinh thái đặc biệt này đang đón nhận nhiều ý kiến trái chiều.

TS-KTS Tô Văn Hùng, Trưởng ban Đô thị HĐND TP Đà Nẵng, cho hay với các tiêu chí đưa ra trong quá trình rà soát là rất khoa học. Cụ thể như về độ cao chỉ cho phép khai thác dưới 100 m, cho phép xây dựng các công trình kiến trúc phục vụ lưu trú ngắn hạn (không có hình thức cư trú); trên 100 m thì chỉ tổ chức các loại hình dịch vụ du lịch kiểu sinh thái; việc quy hoạch xây dựng tuân thủ mật độ xây dựng, đảm bảo yếu tố quốc phòng, an ninh.

Đặc biệt, yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học rất được chú trọng và cụ thể hóa bằng các giải pháp rất cụ thể như: Không khai thác phát triển du lịch vùng cư trú của voọc chà vá chân nâu, tạo hành lang xanh đảm bảo việc di chuyển của voọc; không khai thác các khu rừng đặc dụng; bảo vệ các loài thực vật quý hiếm...

Điểm đáng lưu ý là lần đầu tiên địa phương sử dụng phương pháp chồng ghép các bản đồ (địa hình, phân bổ rừng đặc dụng, khu vực sinh sống của voọc, khu vực bảo vệ nghiêm ngặt an ninh, quốc phòng...) để xác định vùng được phép khai thác, vùng hạn chế và vùng không được phép khai thác. Đây là phương pháp khoa học, phù hợp chuyên môn đối với lĩnh vực quy hoạch cảnh quan, đảm bảo việc quy hoạch du lịch đáp ứng các chỉ đạo của Thủ tướng và Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng.

“Bài học ở đây, theo ý kiến cá nhân tôi, trước hết là xem xét và giải quyết vấn đề dưới góc độ tổng thể, mang tính hệ thống, chú trọng phát triển kinh tế nhưng đồng thời phải đảm bảo các vấn đề về môi trường, an ninh, quốc phòng... Tất nhiên, trước đây trong quá trình thực hiện công tác quản lý và phát triển đô thị đều chú trọng các yêu cầu này. Nhưng tôi nhắc lại là phải xem xét một cách có hệ thống. Như đã nói trên, việc áp dụng phương pháp chồng lớp bản đồ là một giải pháp đảm bảo yêu cầu này.

Hai là phải coi trọng công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên. Bởi lẽ đây chính là tài sản vô giá, là yếu tố mang lại bản sắc cho đô thị Đà Nẵng, nhất là mục tiêu hướng đến là TP môi trường.

Thứ ba, công tác quy hoạch phát triển đô thị cần được cụ thể hóa bằng các quy chế quản lý kiến trúc, các khu vực nhạy cảm là phải có quy chế riêng. Cuối cùng là coi trọng công tác giám sát của nhân dân, ý kiến phản biện của hiệp hội nghề nghiệp, chuyên gia trong các lĩnh vực trước khi thực hiện các dự án xây dựng”- ông Hùng nói. (Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh Online 11/9)Về đầu trang

8 tháng, Quảng Ninh trồng hơn 12 ngàn ha rừng tập trung

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh, 8 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã trồng khoảng 12.100 ha rừng tập trung, đạt 107% kế hoạch, tương đương so vời cùng kỳ; trồng rừng thay thế khoảng 140 ha; số lượng cây phân tán các loại được trồng đạt hơn 530 ngàn cây.

Hội Chữ thập đỏ tỉnh Kyushu (Nhật Bản) trồng rừng ngập mặn tại TX Quảng Yên

 Trồng cây chõi để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển du lịch Cô Tô

Cô Tô tổ chức trồng cây chõi tại rừng nguyên sinh để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển du lịch

Về lượng gỗ khai thác, trong tháng 8 toàn tỉnh khai thác ước đạt 20.850 m3, tính chung 8 tháng khoảng 210.000 m3, tăng 2,4% so với cùng kỳ.

Bên cạnh trồng rừng, ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng chú trọng công tác quản lý, bảo vệ rừng, tăng cường đầu tư nguồn lực cho công tác bảo vệ rừng.Nhờ đó, việc bảo vệ, quản lý khai thác, mua, bán, vận chuyển, kinh doanh lâm sản trên địa bàn tỉnh cơ bản được thực hiện tốt, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Phần lớn các vụ vi phạm Luật bảo vệ và Phát triển rừng đã được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, không có các điểm nóng về tàn phá rừng, số vụ vi phạm đều giảm so với cùng kỳ.

Tuy nhiên tình hình vi phạm về khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật vẫn xảy ra. Trong tháng 8/2017, đã lập hồ sơ xử lý 12 vụ, tính chung 8 tháng đã xử lý 104 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng (giảm 54 vụ so với cùng kỳ), thu nộp ngân sách nhà nước  tháng 8 hơn 189 triệu đồng và 8 tháng là hơn 837 triệu đồng. (Qtv.vn 9/9) Về đầu trang

Tình trạng phá rừng ở Mường Nhé, Điện Biên: Cơ bản đã ngăn chặn được

Ngày 9/9, UBND tỉnh Điện Biên tổ chức hội nghị sơ kết 6 tháng thực hiện kế hoạch giải quyết tình trạng phá rừng và di cư tự do tại huyện Mường Nhé.

Thực hiện kế hoạch này, Công an tỉnh Điện Biên – đơn vị được giao nhiệm vụ thường trực đã thành lập các tổ công tác trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tại 11/11 xã của huyện Mường Nhé.

Sau 6 tháng thực hiện kế hoạch, 100% các bản, cụm dân cư của huyện Mường Nhé đã được tổ chức ký cam kết không di cư tự do, không phá rừng trái phép. Qua quá trình rà soát, các tổ công tác đã thống kê có 870 hộ, gần 5.000 khẩu di cư đến Mường Nhé; từ đó tiến hành cấp sổ hộ khẩu cho 674 hộ, gần 4.000 khẩu đủ điều kiện; vận động, bố trí phương tiện đưa về nơi ở cũ đối với 40 hộ, 174 khẩu...

Theo đánh giá của UBND tỉnh Điện Biên và Công an tỉnh Điện Biên, tình trạng phá rừng tại Mường Nhé được cơ bản ngăn chặn, tình trạng di cư tự do đã được kiềm chế. Qua tuyên truyền đa số người dân đã hiểu, chấp hành chủ trương của tỉnh, huyện, tích cực cùng với chính quyền tham gia đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn.

Tuy nhiên, một số vụ phá rừng vẫn còn xảy ra ở Mường Nhé. Nguyên nhân để xảy ra tình trạng này là do năng lực, quản lý bảo vệ rừng của một số cộng đồng dân cư, thôn bản khi được giao rừng còn nhiều hạn chế, một số thành viên trong cộng đồng còn thiếu tinh thần trách nhiệm khiến rừng bị phá nhưng không ngăn chặn được. Một số hộ thiếu đất sản xuất vẫn lên các điểm quy hoạch rừng để dựng nhà ở tạm và canh tác …

Để tiếp tục thực hiện kế hoạch giải quyết tình trạng phá rừng và di cư tự do tại huyện Mường Nhé, Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên Mùa A Sơn cho biết: Từ các các ý kiến, kiến nghị của tổ công tác, dựa vào những kết quả trong quá trình kiểm tra thực địa, UBND tỉnh Điện Biên sẽ yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Điện Biên và UBND huyện Mường Nhé khẩn trương hoàn thiện công tác giao đất, giao rừng, công bố quy hoạch 3 loại rừng, thực hiện cắm tăng mốc để người dân hiểu rõ những vùng rừng bị cấm chặt phá.

Các đơn vị liên quan tiếp tục thực hiện tốt việc bố trí sắp xếp dân cư; đồng thời phối hợp chặt chẽ với huyện Mường Nhé giải quyết dứt điểm các vấn đề còn bức xúc ở cơ sở. (TTXVN/Bnews.vn 9/9) Về đầu trang

Kỳ bí chuyện săn voi giữa đại ngàn

Nhắc đến Tây Nguyên người ta thường nghĩ đến hình ảnh những chú voi nhà đã thuần dưỡng trong các buôn làng. Nhưng đàn voi nhà hiện đã già nua, còn việc bổ sung nguồn voi rừng thì từ khi có lệnh của nhà nước cấm săn bắt, đến nay những chuyến hành trình săn voi kỳ bí giữa rừng thiêng, nước độc chỉ còn lại trong kí ức của các Gru (thợ săn voi) giờ mái đầu đã bạc trắng.

Buổi chiều se lạnh, chúng tôi tới xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, nghe vị Gru nổi tiếng một thời kể về hành trình săn voi rừng. Trong ngôi nhà sàn gỗ, người đàn ông ngăm đen, khỏe khoắn ngồi trầm tư. Ông là Ama Đăng, năm nay đã ngoài 70 tuổi.

Ánh mắt xa xăm, giọng trầm đều ông kể: Ngày xưa Buôn Đôn được biết đến là nơi có nhiều voi rừng nhất Tây Nguyên. Người dân ở đây chủ yếu sinh sống bằng nghề săn bắt, thuần dưỡng voi để lấy sức kéo, buôn bán và trao đổi hàng hóa. Ngày ấy, mỗi chuyến đi săn kéo dài năm, bảy ngày, có khi cả tháng. Điều quan trọng nhất là phải có voi nhà.  Các Gru phải nhờ già làng thực hiện nghi lễ cúng Giàng (trời) cầu mong chuyến đi gặp nhiều may mắn. Lễ cúng gồm ché rượu cần, gà, heo…phải treo một cành cây xanh ở trước cửa, ngọn quay xuống đất. Trước khi đi, thợ săn chỉ được ăn cơm với muối, không uống rượu, tránh cãi nhau, kiêng ngủ với vợ, không được tắm bằng xà bông thơm trong suốt 1 tuần… Nếu trong ngày xuất quân, trong buôn có người chết hay có người sinh đẻ thì chuyến đi đành phải bỏ”.

Mỗi đội săn voi thường có ít nhất 4 người, họ mang theo lương thực, quần áo vào rừng tìm nơi ẩn cư của đàn voi, hai người điều khiển một con voi nhà. Khi xác định được vị trí ẩn cư và quy trình sinh học của bầy voi, tất cả người trong đoàn phải mai phục, xác định cho mình con voi ưng ý, sau đó tìm cách bắt giữ. Bằng kinh nghiệm săn bắt lâu đời, các Gru sẽ phân biệt được lứa tuổi của voi. Thường họ chỉ bắt những con voi từ 2-5 năm tuổi, cao không quá 2m. Dưới 2 tuổi voi còn quá non, voi trên 5 tuổi đã hình thành tính cách, chúng thường rất hung hăng và khi đưa về buôn thì việc thuần hóa vô cùng khó khăn. Trong suốt hành trình,  thợ phụ chỉ được đóng khố, ở trần, không được ăn cá màu trắng, ngủ phải nằm thẳng, không được co chân… Khi nào tự mình bắt được voi rừng mới chính thức được xem là Gru. Đến khi bắt được 5 con voi rừng, được mặc quần áo, được che mưa, ăn cá trắng… “Người M’nông chủ yếu sinh sống bằng nghề săn bắt, thuần dưỡng voi để lấy sức kéo. Riêng già, đã săn được hơn 20 voi rừng, nhưng từ khi việc săn voi bị nhà nước cấm thì đồng bào tuân thủ bỏ nghề. Trong tất cả các màu voi, những con voi có màu da trắng, lông  trắng được gọi là Bạch tượng linh thiêng, biểu tượng cho sự may mắn, uy quyền. Họ quan niệm loài voi này là “vua” của các loài voi, cực kỳ thông minh, quý hiếm, ông Ama Đăng cho hay.

Người Êđê có truyền thuyết voi trắng có liên quan đến hoa văn Mnga Kteh, một mẫu hoa văn giá trị nhất trên trang phục. Trong lịch sử săn bắt và thuần dưỡng voi ở Buôn Đôn, có ông Y Thu K’nul người từng được coi là vua săn voi đã bắt được vài con bạch tượng. Năm 1861, ông mang tặng vua Xiêm (Thái Lan) một con. Để tỏ lòng biết ơn, kính trọng, vua Xiêm đã phong tước hiệu Khunjunob (Vua săn voi) cho ông. Y Thu còn dùng voi chuộc lại nô lệ từ các tay tù trưởng trong vùng.

Khi voi mới được săn bắt, thuần dưỡng về, đều phải làm các nghi lễ nhập buôn, cúng sức khỏe. Khi voi mệt mỏi, ốm đau phải được chăm sóc, nghỉ ngơi và không được bóc lột sức lao động của voi quá mức. Người dân Tây Nguyên khi vào mùa đều tổ chức các lễ hội đua voi.

Ông Ama Phương (trưởng dòng tộc K’nul, 63 tuổi, buôn trưởng buôn Trí B, xã Krông Na) chia sẻ: “Trong cộng đồng các tộc người ở Tây Nguyên, loài voi được coi như bạn thân thiết của con người. Mối quan hệ độc đáo này cũng là một nét bản sắc văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc bản địa. Voi là hiện thân của sức mạnh và sự giàu có của mỗi buôn làng. Hình tượng con voi cũng đi vào sử thi, thần thoại, đi vào các lễ hội, các nghi thức cúng bến nước, cúng sức khỏe, mừng mùa hàng năm của cộng đồng. Ngày xưa rừng còn nhiều, voi sinh sôi đông đúc, nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng được xem là nghề truyền thống của một số đồng bào dân tộc ở Buôn Đôn. Các Gru săn bắt voi dùng để lấy sức kéo hay trao đổi hàng hóa, chứ không bao giờ giết thịt.

Hành trình săn voi nào cũng vô cùng nguy hiểm, nhiều Gru đã trả giá vì gặp phải tai nạn . Khi đưa được voi về buôn, các Gru phải làm lễ cúng Giàng để tạ ơn và giao cho một Gru đứng ra thuần dưỡng. Mỗi tuần, người thuần dưỡng voi phải làm lễ cúng Giàng một lần. Nghi lễ gồm một nắm xôi nếp, một ché rượu cần và một con gà. Đến khi nào bé voi rừng được thuần hóa thành công, thì chuỗi nghi lễ mới tạm kết thúc.

Về quá trình thuần dưỡng voi, ông Ama Phương kể : Sau khi bắt voi ở rừng về, chúng tôi đem ra một bãi đất rộng cách xa buôn, xích bằng đoạn dây ngắn vào một cây cổ thụ. Hai chân trước của voi lồng trong một cùm mây hình số 8, cổ voi đóng khít lại trong một chiếc gông có gai nhọn, đầu dây cột gông được treo trên cành cao. Người ta dùng lông nhím xỏ một lỗ trên tai voi, đeo vào đó một sợi dây, đánh dấu voi đã có chủ. Voi con bị bỏ đói vài ba ngày cho đến khi sắp lả đi, người thợ thuần dưỡng voi đến gần đưa cỏ non hoặc mía làm thân. Vài lần như thế cho voi quen dần với con người, khi đó mới bắt đầu đưa ra các mệnh lệnh của giai đoạn tập xỏ còng. Xong mới đến việc tập cho voi nghe các hiệu lệnh điều khiển của nài. Giai đoạn tiếp theo là tập để voi quen với việc tắm dưới nước, tập cho voi làm quen với trọng lượng nặng dần lên ở trên lưng. Thời gian thuần dưỡng voi có thể kéo dài 5 - 7 tháng, con nào khó tính có khi kéo dài vài năm. Khi voi con đã thuần phục biết nghe mệnh lệnh thì mới được đưa về buôn. Nhập buôn là một thời điểm quan trọng đối với cả gia đình chủ và voi nên được tổ chức rất chu đáo. Gia chủ phải chuẩn bị sẵn một mâm cúng gồm một ché rượu, một con gà,  đôi khi là chiếc đầu và đuôi con heo nhỏ.

Bây giờ, những người thuần thục nghề săn bắt thuần dưỡng voi rừng không còn nhiều, phần lớn họ đã về với tổ tiên, với Giàng. Thêm vào đó, nạn săn bắn voi để lấy ngà, lấy thịt, cướp lông khiến quần thể voi ngày càng suy giảm. Số lượng voi nhà ở Buôn Đôn không những không sinh sản mà còn chết dần, chết mòn. Mỗi con voi ở đây chết, là thêm một nài voi bỏ nghề. Rừng ngày càng bị thu hẹp, săn bắt voi rừng đã bị cấm, những cảnh săn bắt nay chỉ còn trong những lời kể của các Gru, hay được tái hiện cảnh săn bắt trong hội đua voi được tỉnh tổ chức hằng năm.

Theo Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, hiện nay tỉnh Đắk Lắk có 44 con voi nhà (trong đó có 2 cá thể voi rừng mới được Trung tâm cứu hộ đưa về chăm sóc). Voi trong độ tuổi từ 20-40 chỉ còn 25 con. Năm 1980 có 502 cá thể voi, từ năm 2007 đến nay, đã có 26 voi nhà bị chết. Đầu tháng 1/2017, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Tổ chức động vật châu Á phối hợp với Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, Tổ chức chăm sóc voi quốc tế, Vườn thú North Carolina và Tổ chức phúc lợi Động vật hoang dã tổ chức Hội thảo quản lý voi với quy mô lớn nhất tại Việt Nam từ trước tới nay. Tại hội thảo, bác sĩ Willem công bố: Voi mẹ H’Ban Nang của chủ voi Y Tứ tại huyện Lắk đã mang bầu và dự sinh vào tháng 9/2017. BS Willem cho biết, ở Đắk Lắk có 7 con voi còn có thể mang bầu. Số voi này nếu được chăm sóc tốt thì có thể sinh nở, và tới năm 2.045 số voi nhà có thể tăng thêm hàng chục con nữa, nếu như... (Tiền Phong 9/9, tr9) Về đầu trang

Tăng cường quản lý, bảo vệ rừng khu vực biên giới Hà Tĩnh

Trong 2 ngày 8-9/9, tại thị trấn Thiên Cầm, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh phối hợp với Sở Nông lâm nghiệp Khăm Muộn và Bô Ly Khăm Xay (Lào) tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả phối hợp quản lý, bảo vệ rừng khu vực biên giới Việt - Lào.

Thời gian qua, các cơ quan chức năng tỉnh Hà Tĩnh, Khăm Muộn và Bô Ly Khăm Xay đã phối hợp tổ chức các đợt tuần tra, kiểm tra tình hình bảo vệ rừng khu vực giáp ranh biên giới giữa ba tỉnh. Từ đó, thiết lập mạng lưới trao đổi thông tin, phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm; đánh giá đúng thực chất tình hình khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các loài động vật hoang dã trái phép tại khu vực biên giới; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lâm nghiệp, vai trò của rừng và biến đổi khí hậu cho người dân dọc biên giới Việt - Lào.

Từ năm 2016 đến nay, lực lượng chức năng đã bắt giữ, xử lý 25 vụ, tịch thu 114,62 m3 gỗ các loại, 359,8 kg động vật hoang dã, 12 phương tiện; nộp ngân sách nhà nước trên 330 triệu đồng; đẩy đuổi hàng trăm lượt người vi phạm các quy định khi hoạt động ở khu vực rừng giáp ranh.

Tại hội nghị, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến liên quan đến kế hoạch phối hợp tuần tra, quản lý tình trạng khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ trái phép tại khu vực biên giới; giải pháp kiểm soát xuất nhập khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ qua cửa khẩu quốc tế Nậm Phao, cửa khẩu Cha Lo và cửa khẩu quốc tế Cầu Treo.

Hội nghị cũng sẽ tiến hành thảo luận các nội dung liên quan đến biên bản ghi nhớ về phối hợp kiểm soát khai thác gỗ trái phép vùng giáp ranh các tỉnh Hà Tĩnh - Khăm Muộn - Bô Ly Khăm Xay. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/9, tr6) Về đầu trang

Giải quyết đúng luật nhưng cần hài hòa, linh động

Trả lời phỏng vấn Báo Lao Động, ông Điểu Mưu - Quyền Vụ trưởng vụ Dân tộc - Tôn giáo, Ban chỉ đạo Tây Nguyên - cho biết, hiện, biện pháp giải quyết vấn đề ổn định dân di cư tự do của các cấp chính quyền ở các tỉnh Tây Nguyên đang gặp nhiều khó khăn. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho rằng giải quyết vấn đề di dân tự do ở các địa phương trên địa bàn vùng Tây Nguyên không những đúng pháp luật, mà còn cần phải hài hòa, linh hoạt, đồng bộ từ các cấp, các ngành và các chính sách kinh tế-xã hội, làm sao để người dân di cư có cuộc sống ổn định và phát triển.

- Thưa ông, xin ông cho biết thực trạng di dân tự do trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên hiện nay?

- Qua nắm tình hình, báo cáo của địa phương và của Bộ NN&PTNT, từ năm 1976 đến nay toàn Tây Nguyên có 189.846 hộ, 937.564 khẩu thuộc dạng dân di dân tự do. Cụ thể, tỉnh Kon Tum có 7.243 hộ với 21.708 khẩu; Gia Lai có 6.250 hộ với 23.624 khẩu; tỉnh Đắk Lắk có 2.986 hộ với 8.038 khẩu; tỉnh Đắk Nông có 5.391 hộ với 23.694 khẩu và tỉnh Lâm Đồng có 3.862 hộ với 14.639 khẩu.

Thực tế, từ năm 2005 đến nay, tình trạng dân di dân tự do từ các tỉnh miền núi phía Bắc đến Tây Nguyên có giảm cả về số lượng và quy mô, mức độ di cư nhỏ lẻ. Song, tình trạng dân di cư tự do vẫn diễn biến phức tạp gây hệ lụy đến tài nguyên, môi trường sinh thái do đồng bào di cư vào đến các khu rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, vùng sâu, vùng xa, cách xa khu trung tâm, tránh kiểm soát của chính quyền sở tại, đời sống khó khăn, nghèo đói, con cái không học hành, chính quyền rất khó quản lý…

Một số địa phương hiện đang gặp khó khăn trong việc di dời số đồng bào đã xâm canh và ở trong khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng khi họ đã tự hình thành cụm dân cư, bản làng. Chưa kể các dự án bố trí dân cư tập trung vào vùng quy hoạch hiện cũng đang khó thực hiện vì quỹ đất và nguồn gốc đất xâm canh đất lâm nghiệp, khó chuyển đổi mục đích sử dụng đất và không có kinh phí triển khai dự án...

Hệ lụy nữa là tình trạng di cư tự do ngoài kế hoạch khiến công tác quy hoạch bố trí dân cư, quy hoạch sản xuất, quản lý dân cư, đảm bảo an ninh, trật tự và phòng chống tệ nạn xã hội tại các địa phương này, việc kiểm soát của các cấp chính quyền gặp nhiều khó khăn.

Thời gian qua, chính quyền địa phương các tỉnh khu vực Tây Nguyên và Ban chỉ đạo Tây Nguyên đã có những giải pháp gì để giải quyết ổn định đời sống dân cư trên địa bàn, thưa ông?

- Nhiều năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương (nơi có dân đi và nơi có dân đến) đã có những biện pháp tích cực triển khai, huy động nguồn lực thực hiện chính sách phát triển kinh tế-xã hội, ổn định đời sống cho đồng bào. Điều này thể hiện qua việc thực hiện các Chương trình 135, 755, 1776, 570.. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững… Trong đó, chỉ riêng thực hiện chính sách bố trí, ổn định dân di cư tự do tại các địa phương vùng Tây Nguyên đã lập và thực hiện khoảng 55-57 dự án…

Đối với Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, từ năm 2005 đến nay, chúng tôi đã chủ trì, phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương bằng nhiều hình thức như: Kế hoạch, chương trình phối hợp khảo sát, đánh giá, kiểm tra, đôn đốc, nắm tình hình và đề xuất giải pháp giải quyết tình hình di cư tự do trên địa bàn. Cụ thể, từ năm 2005-2006, đơn vị đã phối hợp với Ủy ban Dân tộc (Vụ Địa phương II) khảo sát tình hình vùng đồng bào Mông trên địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Trung đoàn 720, 726 thuộc Binh Đoàn 16 (Bộ Quốc phòng)...

Hiện nay Ban Chỉ đạo Tây Nguyên tiếp tục tập trung chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện mục tiêu đề ra các dự án quy hoạch bố trí, ổn định dân di cư tự do theo các chủ trương và Quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ... Quan điểm của chúng tôi là các địa phương cần ưu tiên bố trí ổn định dân cư theo hình thức xen ghép, nhằm giảm chi phí; tháo gỡ khó khăn về quỹ đất...

Có một thực tế là một bộ phận di dân tự do có hoàn cảnh rất khó khăn. Họ sống trong những cánh rừng sâu, không điện đường, trường trạm; trẻ con không được đi học; xảy ra tình trạng tranh chấp đất sản xuất với các đơn vị quản lý rừng… Quan điểm của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đối với những vấn đề này như thế nào?

- Đối với số hộ dân di cư đang sống trong vùng xung yếu, trọng điểm của rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, quan điểm của chúng tôi là các địa phương cần có biện pháp xử lý đúng theo quy định của pháp luật; kiên quyết đưa dân ra khỏi rừng, để bố trí dân cư vào dự án theo quy hoạch…

Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cũng đã đề nghị các địa phương tăng cường quản lý, đăng ký nhân, hộ khẩu và thực hiện các chính sách an sinh xã hội, tạo điều kiện cho con em được đi học, khám chữa bệnh. Đẩy mạnh thực hiện các chính sách dân tộc và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

Các địa phương cũng cần chủ động đề nghị các bộ, ban ngành nghiên cứu quy định về chế tài để quản lý dân di cư tự do đảm bảo đủ pháp lý, nhằm điều chỉnh ràng buộc người di cư tự do đến nhiều địa phương hoặc “chạy theo” dự án để trục lợi, gây bất ổn trong nhân dân và địa phương.

Dù thế nào thì họ cũng là con dân Việt Nam, nhưng một số địa phương, đơn vị, cơ quan chức năng đôi lúc đã dùng nhiều biện pháp xử lý quá mạnh tay (như cưỡng chế, chặt phá cây trồng của họ, hay bắt bớ, gọi hỏi…), trong khi chưa tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý xã hội, quản lý dân cư và công tác tuyên truyền, vận động đồng bào còn hạn chế, ít quan tâm đến chính sách anh sinh xã hội cho người dân di cư tự do. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

- Chúng tôi cho rằng, cơ quan chức năng, lực lượng bảo vệ rừng với trách nhiệm thực thi pháp luật, không riêng dân di cư tự do mà bất cứ cá nhân nào vi phạm luật đất đai, vi phạm luật bảo vệ phát triển rừng thì họ thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền thực thi pháp luật theo đúng quy định. Tuy nhiên, vẫn xảy ra ở một số nơi, có trường hợp cơ quan chức năng, lực lượng bảo vệ rừng sử dụng biện pháp quá mạnh đối với người dân rất dễ dẫn đến các mâu thuẫn, xung đột đáng tiếc.

Chúng ta phải nhìn nhận rằng, phần lớn dân di cư tự do là người dân tộc thiểu số đều có xuất thân từ các vùng do điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khó khăn, không có đất sản xuất, nghèo khó, vì kế sinh nhai họ phải rời bỏ quê hương tìm vùng đất mới để có cuộc sống tốt hơn. Chính vì vậy, chúng ta cần có những biện pháp, hướng xử lý hài hòa, linh hoạt làm sao vừa đúng quy định của pháp luật nhưng ổn định và phát triển xã hội.

Ban chỉ đạo Tây Nguyên và các địa phương có gặp khó khăn gì lớn, cần sự can thiệp và hỗ trợ của các ban ngành và Chính phủ?

- Phải xác định công tác bố trí, ổn định dân di cư tự do là vấn đề cấp thiết trong chiến lược ổn định dân cư và phát triển bền vững của các vùng (đặc biệt là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên); gắn với thực hiện Chương trình bố trí dân cư từ nay đến năm 2020 theo Chương trình của Chính phủ.

Về giải pháp lâu dài, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đề nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo và giao Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp các tỉnh có kế hoạch điều tra cụ thể, trên cơ sở đó xây dựng đề án tổng thể báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giải quyết một cách căn cơ.

Một trong những vấn đề cần giải quyết cần được các bộ, ngành tháo gỡ là những hộ dân đã cư trú ổn định thành cộng đồng cư trú lâu năm trên đất rừng sản xuất, chúng ta cần linh động cho phép chuyển đổi đất lâm nghiệp sang đất nông nghiệp để ổn định dân cư tại chỗ.

Riêng đối với số dân cư trú trên đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì địa phương cần căn cứ tình hình cụ thể về quy mô khu dân cư từ đó đề xuất Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đưa ra phương án giải quyết dứt điểm.

Hiện nay, theo báo cáo chưa đầy đủ của các địa phương trong vùng và của Bộ NN&PTNT, từ năm 2005 đến nay vẫn còn nhiều dự án đã phê duyệt, đang thực hiện dở dang nhưng do không có hoặc chưa bố trí kinh phí nên chưa thực hiện, đề nghị các bộ, ngành liên quan và các địa phương có dự án tiếp tục kiến nghị Thủ tướng Chính Chính phủ sớm xem xét, cân đối nguồn kinh phí để bố trí cho các địa phương triển khai hoàn thành dứt điểm dự án, để người dân trong vùng dự án có được cuộc sống ổn định... (Lao Động 9/9, tr7; Lao Động Online 9/9Về đầu trang

Quảng Nam: Hai đối tượng bí ẩn trốn thoát để lại 1 bè gỗ lậu

Ngày 9/9, tin từ đội CSGT đường thủy, Công an tỉnh Quảng Nam cho biết, đơn vị vừa bàn giao tang vật trong một 1 vận chuyện gỗ lậu cho các cơ quan có thẩm quyền khác điều tra, xử lý.

Cũng theo nguồn tin này, rạng sáng cùng ngày, CSGT đường thủy Quảng Nam tiến hành tuần tra trên khu vực sông Yên, xã Điện Tiến, thị xã Điện Bàn (Quảng Nam) đã phát hiện 2 đối tượng đang vận chuyển gỗ lậu bằng ghe máy.

Tiến hành áp sát kiểm tra, 2 đối tượng này lợi dụng đêm tối đã cắt bỏ dây neo gỗ. 1 đối tượng nhảy sông, đối tượng còn lại tăng ga chạy trốn.

CSGT đường thủy sau đó tiến hành lập biên bản, trục vớt số gỗ nói trên. Theo kiểm đếm của lực lượng này, có 16 phách gỗ chưa rõ chủng loại được đẽo thành khối vuông.

Theo một nguồn tin, số gỗ này rất có thể được vận chuyển từ rừng về xuôi để mang đi tiêu thụ. (Antt.vn 9/9; TTXVN/Tin Tức Online 10/9; Moitruong.net.vn 10/9; Người Lao Động Online 9/9; Doanhnghiepvn.vn 9/9; Nông Nghiệp Việt Nam Online 9/9; News.zing.vn 9/9; Nguoiduatin.vn 9/9; Thanh Niên Online 9/9; Công Lý Online 9/9) Về đầu trang

Lâm Đồng: Bị phát hiện chở gỗ lậu, lâm tặc tự đốt xe tẩu thoát

Tối 8/9, Công an huyện Đạ Huoai khám nghiệm hiện trường, điều tra làm rõ nhóm người chở gỗ lậu đã có hành vi tự đốt xe, cản trở người thi hành công vụ.

Thông tin ban đầu cho biết trong khi đi tuần tra, lực lượng của Hạt Kiểm lâm Đạ Huoai và Đội Kiểm lâm cơ động (Đội 12) đã phát hiện 3 đối tượng chạy 3 chiếc xe máy không rõ biển kiểm soát chở nhiều lóng gỗ.

Khi lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe để kiểm tra thì nhóm người này đã hất gỗ xuống khỏi xe, một trong số này đã tự ý đốt xe rồi cả ba đã bỏ chạy.

Sau đó, các đối tượng đã huy động nhiều người khác đến hiện trường gây hấn với lực lượng chức năng để "giải thoát" số gỗ đang bị thu giữ. Hạt Kiểm lâm đã phải báo với Công an huyện Đạ Huoai để cử lực lượng đến hỗ trợ.

Tại hiện trường, cơ quan chức năng đã thu giữ 5 lóng gỗ (chưa xác định được chủng loại) dài từ 2m đến 2,5m với đường kính từ 16cm đến 20cm, một chiếc xe máy "chuyên dụng" để đi rừng và một chiếc khác đã bị đốt cháy. (VOVNews 9/9) Về đầu trang

Lo ngại khi Lâm Đồng khai thác gần 750ha rừng thông ba lá

Ông Võ Doanh Tuyên, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Lâm Đồng vừa cho biết, từ nay đến năm 2020, gần 750ha rừng thông có độ tuổi từ 25 năm trở lên, thuộc đối tượng rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh này sẽ được khai thác theo quyết định UBND tỉnh Lâm Đồng.

Với việc khai thác hết 750ha rừng thông này, ước tính trữ lượng gỗ tròn đạt 103.440m3. Bán với giá 1,6 triệu đồng/m3, tỉnh Lâm Đồng sẽ thu về 165,5 tỷ đồng. Trừ chi phí, lợi nhuận trước thuế còn khoảng 53 tỷ đồng.

Có 5 công ty được UBND tỉnh Lâm Đồng cho phép tham gia khai thác. Toàn bộ số gỗ tròn sau khai thác bị cấm bán ra khỏi địa phương. Theo Sở NN&PTNT Lâm Đồng, việc khai thác rừng sản xuất này chỉ gây ảnh hưởng môi trường cục bộ tại khu vực khai thác. Công tác trồng lại rừng sẽ được tiến hành trong năm.

Tuy nhiên, dư luận địa phương lo ngại quyết định khai thác gần 750ha rừng thông 3 lá tại Lâm Đồng sẽ phát sinh nhiều hệ lụy nếu không được giám sát chặt chẽ. Tỉnh Lâm Đồng hiện có 532.634ha rừng, trong đó diện tích rừng trồng sản xuất là 56.198ha, diện tích rừng trồng sản xuất từ 25 năm trở lên tính đến năm 2020 là 4.451ha. (Nông Nghiệp Việt Nam Online 9/9) Về đầu trang

Quảng Ngãi: Chính quyền muốn chặt 50ha dừa nước, nhà khoa học nói phải giữ

Trước việc tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ quan điểm chặt bỏ 50ha dừa nước Cà Ninh (xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) để làm hồ chứa nước Thái Cân, phục vụ cấp nước cho Nhà máy Bột-Giấy VNT19 và Khu kinh tế Dung Quất…thì các nhà khoa học vẫn quyết tâm giữ lấy rừng dừa nước.

Ngày 9-9, nhóm nghiên cứu gồm nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã có chuyến thực tế tại rừng dừa nước Cà Ninh. PV Báo SGGP đã thực hiện cuộc phỏng vấn ngắn với 2 nhà nghiên cứu gồm PGS.TS Võ Văn Minh, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng và KTS Hồ Duy Diệm, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ lưu vực và dải biển Việt Nam, phụ trách miền Trung và Tây Nguyên (Trung ương Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam).

PV: Trước việc tỉnh Quảng Ngãi quyết định chặt bỏ 50ha rừng dừa nước và thực hiện bằng biện pháp trồng rừng thay thế. Về mặt khoa học, việc phục hồi được lý giải như thế nào thưa PGS.TS Võ Văn Minh?

PGS.TS Võ Văn Minh: Rừng dừa nước ở xã Bình Phước là một hệ sinh thái đặc biệt, có vai trò rất quan trọng cần được giữ gìn. Hệ sinh thái đất ngập nước có độ đa dạng sinh học cao. Hệ sinh thái rừng dừa nước xã Bình Phước mang đặc trưng chuyển tiếp quan trọng của hệ sinh thái cửa sông-nơi giao thoa giữa hệ sinh thái biển và hệ sinh thái nước ngọt, trên cạn, dưới nước. Chính quyền tỉnh Quảng Ngãi có chủ trương chặt bỏ 50ha dừa nước và thực hiện trồng lại thì không thể gọi là phục hồi. Việc trồng mới chỉ gọi là tồn tại, chưa thể gọi là phát triển. Một hệ sinh thái phải mất hàng trăm năm mới hình thành được, do vậy, việc giữ rừng dừa nước quan trọng hơn là trồng mới.

Chúng tôi đã thực hiện chuyến đi thực tế tại khu vực trồng mới rừng dừa nước phía trên khu vực rừng dừa Cà Ninh với diện tích gần 38ha. Tuy nhiên, rừng này vẫn chưa phát triển, nếu tích nước làm hồ thì diện tích dừa nước này sẽ chết, gây lãng phí tài nguyên.

PV: Theo xác định của địa phương, diện tích dừa nước được người dân quản lý và sử dụng là 40ha, còn 10ha là các chủ hộ sở hữu nhưng đã đi xa làm ăn. Trước khi xây dựng phương án, chính quyền tỉnh đã thực hiện tham vấn cộng đồng và được người dân chấp nhận chặt bỏ, nhận đền bù. Theo ông, về mặt pháp lý thì như thế nào?

PGS.TS Võ Văn Minh: Về mặt pháp lý, đến bây giờ vẫn chưa có điều nào chứng minh rằng đây là rừng trồng, bởi lẽ, việc thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho dân vẫn được Nhà nước thực hiện. Sinh kế của người dân ở đây không chỉ có người trực tiếp sở hữu mà còn sinh kế của người đánh bắt cá dọc rừng dừa. Một khi rừng dừa nước bị chặt bỏ thì người dân không đánh bắt được cá, thậm chí nguồn lợi thủy sản ở vùng biển ven bờ một khi bị ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái sẽ dẫn đến cạn kiệt, ảnh hưởng đến ngư dân đánh bắt cá gần bờ. Như vậy, sẽ có một khu vực và lượng lớn người dân bị ảnh hưởng.

Người dân chỉ thấy cái lợi trước mắt là họ nhận tiền đền bù cao hơn so với ngày công lao động làm dừa nước, nên nhiều người đã đồng ý chấp nhận giao rừng. Tuy nhiên, trên cương vị là chính quyền, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chúng ta phải nghĩ cho người dân, nhìn xa hơn cho thế hệ mai sau.

PV: Được biết KTS Hồ Duy Diệm đã từng tham gia xử lý nước thải tại Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ (tỉnh Thái Nguyên), nếu như chính quyền Quảng Ngãi vẫn giữ quan điểm chặt bỏ 50ha dừa nước làm hồ chứa nước, việc này có hệ lụy gì không?

KTS Hồ Duy Diệm: Hơn 55 năm trước, tôi từng được tham gia xử lý nước thải Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, tỉnh Thái Nguyên, phục vụ Chiến khu Việt Bắc. Nhà máy này đã làm 1 hồ nước để ngâm cây nứa, họ dùng chất NaOH, loại dùng trong ngành công nghiệp giấy… để cây nứa mục ra rồi mới làm thành bột giấy. Thời điểm này đã gây ô nhiễm Sông Cầu. Bấy giờ, chỉ còn một cách là dùng axít trung hòa nước thải ra nhưng hồi đó làm không được, vì axít phải vận chuyển từ Việt Trì qua Thái Nguyên, vòng qua núi, nhà máy không đủ tiền. Xác định là nhà máy phục vụ cho cả kháng chiến chống Pháp và về sau này nên dù nhà máy đã giảm công suất, đưa thiết bị hiện đại về để giảm thời gian ngâm nhưng rất khó xử lý triệt để.

Tôi đã nhiều lần đến rừng Sác, huyện Cần Giờ, TPHCM. Ở đây, rừng dừa nước hàng ngàn hecta, ghi dấu những chiến công lừng lẫy. Điều quan trọng là ngay khi xây dựng nông thôn mới, đô thị mới, người ta vẫn không chặt bỏ nó, vẫn giữ gìn hệ sinh thái. Nó trở thành lá phổi xanh của cả TPHCM.

PV: Với cương vị là Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ lưu vực và dải biển Việt Nam, ông có thể chia sẻ kinh nghiệm và lời khuyên gì đối với tỉnh Quảng Ngãi trong việc liên quan đến 50ha rừng dừa nước?

KTS Hồ Duy Diệm: Trước hết, rừng dừa nước có giá trị sinh thái, giá trị phòng hộ rất lớn, ảnh hưởng cả vùng ven biển gần bờ, nguồn lợi thủy sản. Chúng ta cần bảo vệ lưu vực và bảo vệ đa dạng sinh học. Vì tính nhân văn, vì hệ sinh thái đã tồn tại hàng trăm năm, chúng ta không nên gây tổn thương đối với rừng dừa và cuộc sống người dân nơi đây và cả thế hệ mai sau. (Sài Gòn Giải Phóng Online 9/9) Về đầu trang

Quảng Nam: Quế Sơn vào mùa trồng rừng sớm

Những cơn mưa dông cuối hè diễn ra liên tiếp trong nhiều ngày qua đã góp phần làm cho mùa trồng rừng ở Quế Sơn đến sớm hơn mọi năm.

Trước đây, sau khi thu hoạch rừng trồng xong, bà con các xã có đất rừng sản xuất ở Quế Sơn đều cho đất nghỉ, chờ đến khi mùa mưa bắt đầu - thường là tháng 10, tháng 11 dương lịch, mới tiến hành phát dọn thực bì và tổ chức trồng rừng mới. Riêng năm nay, do mưa dông cuối mùa diễn ra liên tục với lượng mưa tương đối lớn nên nhiều người quyết định cho xuống giống sớm hơn.

Ông Nguyễn Quyết Tiến, một nông dân ở Quế Hiệp, cho biết gia đình ông vừa bán xong gần 6 sào keo lá tràm cách đây gần một tháng, đang “nghỉ xả hơi” thì trời mưa liên tục nên quyết định mua cây giống về trồng dần. “Xuống giống mà gặp đất êm chứ không quá khô hay quá ướt thì cây dễ bắt rễ, tỷ lệ cây sống cao hơn. Hơn nữa, làm sớm thì giá cây giống cũng rẻ hơn khoảng 50-100 đồng/cây so với lúc cao điểm” - ông Tiến cho biết. Tương tự ông Tiến, nhiều hộ nông dân có đất rừng sản xuất vừa thu hoạch ở các xã Quế Long, Quế Phong, Quế An, Quế Thuận, Quế Xuân 2... cũng sớm bắt tay vào việc phát dọn thực bì và bắt đầu mùa trồng rừng mới.

Việc nhiều người quyết định vào mùa trồng rừng sớm đã khiến cho không khí tại các vườn ươm cây giống trở nên nhộn nhịp. Thay vì chờ chủ vườn “ra chân” (tách cây giống ra khỏi luống) cho cây xong thì mới kiểm đếm số lượng để thanh toán tiền, nhiều chủ rừng đã đến các vườn ươm đặt tiền mua theo khoảnh rồi sau đó tự lấy cây giống mang đi. Cạnh đó, một số chủ vườn ươm cũng “đi trước một bước” bằng cách thuê người “ra chân” cây giống ngay cả khi chưa có người đặt hàng, để khi có người đến mua thì có thể giao hàng ngay.

Anh Nguyễn Văn Minh, người có thâm niên 6 năm làm nghề ươm giống keo ở thôn Thắng Đông 1, xã Quế An cho biết nửa tháng qua gia đình anh đã “ra chân” được khoảng 100 nghìn cây giống 4 tháng tuổi; một nửa trong số này đã có người mua, số còn lại cũng đã có người đặt cọc, chỉ vài hôm nữa là giao hàng. Hiện tại, gia đình anh đang tập trung làm đất, đóng bầu để đưa vào gieo ươm tiếp trên khoảnh vườn vừa xuất giống. “Hiện nay, giá keo giống 4 tháng tuổi là 350 đồng/cây, nếu chờ thêm khoảng một tháng nữa có thể tăng lên 370-400 đồng/cây. Tuy nhiên, tôi vẫn quyết định xuất bán vì cây giống cũng đã đủ tuổi, thêm nữa bán lúc này để còn gieo ươm trở lại, kịp có cây giống xuất bán trong mùa trồng rừng cao điểm vào cuối năm” - anh Minh nói. (Báo Quảng Nam Online 10/9) Về đầu trang

Quảng Nam: Thả 66 cá thể rùa ấp nở thành công về biển

Sáng 9/9, Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam đã tổ chức thả 66 cá thể rùa ấp nở thành công về biển.

Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm tổ chức thả về biển lứa rùa đầu tiên được ấp nở thành công tại hồ ấp Bãi Bấc (xã đảo Tân Hiệp, TP.Hội An), từ trứng rùa do Vườn quốc gia Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu) trao tặng.

Sau hơn 10 ngày ấp trứng tại Cù Lao Chàm, trước đó đã có 41 ngày ấp tại hòn Bảy Cạnh (Vườn quốc gia Côn Đảo), lứa rùa đầu tiên nở đạt tỷ lệ 100% với 66 cá thể/66 trứng.

Đây là một sự thành công ngoài mong đợi của các chuyên gia, kỹ thuật, bởi 450 trứng rùa tiếp nhận từ Vườn quốc gia Côn Đảo đợt vừa qua phải trải qua hành trình vận chuyển hơn 1.000km bằng đường biển, đường không và đường bộ. Số trứng rùa còn lại dự kiến sẽ nở và thả về biển trong ngày mai 10/9.

Sự thành công của quá trình ấp trứng rùa tại Cù Lao Chàm góp phần rất lớn trong chương trình đa dạng sinh học, sự bền vững của hệ sinh thái rạn san hô trong vùng bảo tồn biển sẽ tốt hơn.

Trước đó chiều 29/8, sau khi tiếp nhận trứng rùa Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã đưa số trứng rùa về trung tâm ấp trứng rùa tại khu vực Bãi Bấc, Cù Lao Chàm. Đây là khu vực để rùa biển đến sinh đẻ. (Công An Nhân Dân 11/9, tr1; Moitruong.net.vn 9/9; Giao Thông Online 9/9; Sài Gòn Giải Phóng Online 9/9; Dân Trí 9/9; VOVNews 9/9; Lao Động Online 9/9; Baoquangnam.vn 10/9) Về đầu trang

Quảng Bình: Rừng gỗ quý của lão nông huyện Tuyên

Sở hữu một khu rừng rộng 3ha, trồng toàn giống cây gỗ rừng bản địa quý như: lim, huỵnh, trầm gió…, ông Đinh Hữu Sinh (50 tuổi) ở thôn Tân Tiến, xã Cao Quảng, huyện Tuyên Hóa chỉ cần thu những sản phẩm phụ dưới tán rừng cũng đã có cuộc sống sung túc…

Chỉ rộng chừng 3ha nhưng khi vào thăm khu rừng của ông Sinh, chúng tôi có cảm giác như mình đang lạc vào một khu rừng nguyên sinh với hàng trăm loại cây rừng thẳng tắp cao hàng chục mét, xanh ngút tầm mắt...

Những cây gỗ huỵnh vừa được ông Sinh trồng chưa đầy 1 năm đã phát triển rất tốt.

Những cây gỗ huỵnh vừa được ông Sinh trồng chưa đầy 1 năm đã phát triển rất tốt.

Ông Sinh kể, trước đây cũng như bao người dân xã Cao Quảng khác, ông vốn là một “lâm tặc”, bởi cuộc sống của gia đình đều dựa cả vào việc vô rừng khai thác lâm sản trái phép của ông. Cao Quảng quê ông nằm giữa bốn bề là rừng, những cánh rừng bạt ngàn tưởng chừng như bất tận như thế mà cũng đến ngày bị cạn kiệt bởi sự khai thác của con người, trong đó có ông và những người anh em của ông. “Nhiều đêm đi rừng về dù rất mệt nhưng tôi vẫn không tài nào ngủ được.

Cứ nhắm mắt lại là hình ảnh những cây rừng bị đốn hạ và những khu rừng vốn ken dày gỗ bị tàn phá đến hoang tàn cứ mồn một hiện về, làm tôi dằn vặt mãi. Cuối cùng tôi quyết định từ giã nghề “lâm tặc” - ông Sinh tâm sự.

Theo lời ông Sinh, năm 1992, khi Nhà nước kêu gọi người dân phủ xanh đất trống đồi núi trọc, ông đã chuyển cả gia đình từ trung tâm xã vào sát bìa rừng nhận đất trồng rừng và để tiện cho việc trồng rừng. Khi được Nhà nước giao 3ha đất rừng, khác với mọi người ở thời điểm đó đều trồng rừng bằng các giống keo, tràm, ông Sinh quyết định đi kiếm các giống cây rừng bản địa về để trồng.

Ông Sinh cho biết, để có khu rừng toàn cây gỗ bản địa như hôm nay, ông đã mất gần 20 năm trồng và chăm sóc.“Chú trọng trồng các loại cây gỗ rừng bản địa, trong đó có nhiều loài gỗ quý như sưa, lim, vàng tim, huỵnh... Ngoài lợi ích kinh tế, tôi còn muốn giữ lại cho muôn đời sau một cánh rừng tự nhiên như vốn có, dù đó chỉ là một khu rừng rất nhỏ...” - ông Sinh chia sẻ.

Hiện trong khu rừng của ông có nhiều cây gỗ như: lim, huỵnh... mà nếu cưa lấy gỗ bán cũng đã thu được từ 30 đến 50 triệu đồng/cây. Nhiều người chơi cây cảnh cổ thụ đến khu rừng của ông Sinh cũng muốn mua những cậy lội, cây sưa với giá hàng chục triệu đồngmỗi cây.

Dù có giá trị lớn như vậy, nhưng ông Sinh chưa hề nghĩ đến việc khai thác hoặc bứng những cây gỗ rừng để bán. Những lần như thế, ông Sinh thường khéo léo trả lời những người hỏi mua: “Đó là của hồi môn mà tui muốn để dành cho con cháu mai sau!”.

 “Việc trồng và chăm sóc tốt những loại cây dược liệu, cây dứa dưới tán rừng  đã giúp gia đình có nguồn thu, giúp tôi theo đuổi việc trồng rừng cây gỗ bản địa.

Bởi với việc trồng rừng cây gỗ bản địa phải mất nhiều thời gian, có khi cả đời người mới có thu hoạch, chứ không phải như trồng keo, tràm, chỉ 5 năm là có thu rồi...” - ông Sinh chia sẻ.

Tuy không bán gỗ rừng, nhưng nhiều năm qua gia đình ông Sinh cũng đã sống tốt từ việc thu sản phẩm phụ của khu rừng. Ông Sinh cho biết, nhiều năm nay, dưới tán khu rừng, ông đưa giống cây dứa (thơm) vào trồng. Đây là loại cây mà theo ông Sinh trồng dưới tán rừng rất phù hợp, vừa giữ đất khỏi bị xói lở, tránh cây dại nhưng mỗi năm cũng đưa vềcho gia đình ông nguồn thu hơn 10 triệu đồng...

Bên cạnh đó, để giữ đất và không mất công phát cỏ, cây dại, ông Sinh còn vào rừng đào những cây dược liệu như: giảo cổ lam, hà thủ ô, thổ phục linh, bổ cốt toái, cây lá vằng; các loại cây có thể sử dụng làm rau như: lá trơng, lá bứa, rau tớn... về trồng và chăm sóc. Những loại cây này ít mất công chăm sóc, nhưng hàng năm cũng đưa về cho gia đình ông một nguồn thu đáng kể. Sản phẩm được các thương lái tìm đến nhà mua với số lượng không hạn chế.

Chưa hết, trong khu rừng của ông Sinh còn có các sản phẩm phụ khác như: Nấm lim, mật ong rừng, đặc biệt là với với việc sở hữu hàng chục cây dẻ cổ thụ, mỗi mùa hạt dẻ, ông Sinh cũng thu được tiền triệu từ việc nhặt hạt bán.

Ngoài việc trồng rừng, tận dụng vườn rộng, ông Sinh còn chăn nuôi thêm bò, gà thả vườn và trồng nhiều loại cây ăn quả như: cam, mít... giúp gia đình ông Sinh có thêm nguồn thu nhập, sống tốt mà không cần nghỉ đến việc phải bán gỗ rừng...

Mở một hướng đi mới về trồng rừng

Từ chỗ được mệnh danh là một xã “lâm tặc”, những năm gần đây người dân Cao Quảng đã dần dần từ bỏ việc khai thác rừng để chuyển sang trồng rừng phát triển kinh tế với diện tích lên đến hàng ngàn héc ta. Tuy nhiên, theo ông Mai Xuân Tuyên - Chủ tịch UBND xã Cao Quảng, người dân Cao Quảng chủ yếu trồng các giống cây rừng kinh tế đơn thuần như keo, tràm...

 “Việc ông Đinh Hữu Sinh trồng và khoanh nuôi thành công một khu rừng gỗ quý toàn cây bản địa đã gợi mở một hướng đi, cánh nhìn mới về trồng rừng phát triển kinh tế của địa phương chúng tôi trong thời gian tới.” - ông Tuyên nói.

Theo ông Tuyên, trồng rừng cây bản địa thì thời gian để có thể khai thác thường dài gấp đôi rừng trồng các loại giống cây nguyên liệu như: keo, tràm... tuy nhiên từ thực tế mô hình của gia đình ông Sinh có thể thấy rằng hiệu quả kinh tế của nó mang lại là gấp vài chục lần. Đặc biệt hơn, với việc trồng rừng cây bản địa không chỉ mang lại nguồn thu nhập khá, lâu dài cho bà con mà còn góp phần bảo vệ tốt môi trường và bảo tồn nhiều giống cây rừng quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên.

“Hiện nay nhiều giống cây rừng bản địa đã được nhiều nông dân trên địa bàn tỉnh ta gieo ươm thành công như giống huỵnh, sưa, trầm gió, vàng tim... nên việc trồng rừng bằng các giống cây bản địa này trở nên dễ dàng hơn đối với bà con nông dân ở xã Cao Quảng... Và chắc chắn việc trồng rừng với các giống bản địa là một hướng đi tốt, đầy triển vọng của địa phương chúng tôi” - ông Tuyên khẳng định. (Baoquangbinh.vn 10/9) Về đầu trang

Quảng Nam: Đầu tư 25,5 tỉ đồng trồng phục hồi rừng dừa nước Hội An

UBND tỉnh Quảng Nam ngày 8.9 cho biết đã quyết định đầu tư 25,5 tỉ đồng để triển khai dự án Trồng và phục hồi rừng dừa nước ven biển Cẩm Thanh (TP.Hội An).

Số kinh phí nêu trên từ nguồn vốn chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu và nguồn ngân sách địa phương.

Mục đích của dự án nhằm tái tạo, phục hồi, phát triển rừng dừa kết hợp đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái cộng đồng tại xã Cẩm Thanh.

Theo đó, điều chỉnh mật độ trồng mới rừng dừa từ 4.400 cây/ha lên 4.440 cây/ha; điều chỉnh mật độ trồng bổ sung từ 100 – 150 cây/ha thành 300 cây/ha đối với diện tích quy hoạch trồng bổ sung 61,15 ha và 500 cây/ha đối với diện tích quy hoạch 27 ha để hướng đến mật độ thành rừng dừa sau thời gian kiến thiết cơ bản, đảm bảo mật độ chung 3.300 – 3.500 cây/ha…

Rừng dừa nước Cẩm Thanh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội gắn với du lịch tại TP.Hội An. Ngoài ra, nơi đây cũng là khu vực mà các loài thủy hải sản chọn làm nơi sinh sản. (M oitruong24h.vn 10/9; Thanh Niên Online 10/9) Về đầu trang

Bình Định: Cư dân làng biển chung sức giữ rừng núi Cấm

Rừng phòng hộ trên núi Cấm được cư dân ở làng biển Tân Phụng 1 và Tân Phụng 2, xã Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ) coi như “báu vật”, bởi suốt gần 100 năm qua, cánh rừng rộng hơn 65 ha này đã trở thành “phên giậu” chắn cát bay, cản gió, giữ nước cho làng. Chính vì vậy, người dân làng biển nơi đây đang chung sức giữ rừng để những thảm cây xanh ngát mãi cộng sinh, trường tồn.

Làng biển Tân Phụng 1 được rừng phòng hộ núi Cấm bao bọc, ngăn chặn nạn cát bay, gió biển lùa nên cuộc sống luôn bình yên.

Đó là câu nói cửa miệng của ông Nguyễn Văn Ba, Chi hội trưởng Chi hội ngư dân thôn Tân Phụng 1 mỗi khi nhắc nhở, vận động, tuyên truyền bà con ở địa phương cùng chung sức, đồng lòng để giữ rừng núi Cấm. Ông bảo đây cũng là quan niệm dân gian được lưu truyền từ ngày đầu con người tới khai khẩn vùng đất này. Rừng cây trên núi Cấm vì vậy được người làng giữ gìn, coi như báu vật mang lại bình yên cho cuộc sống của họ.

Góp lời, ông Trần Thành Liên, Trưởng thôn Tân Phụng 1, kể: “Cư dân ở làng biển này không nhớ rõ lắm về quá trình hình thành núi Cấm. Nhưng, tôi chắc một điều núi Cấm là căn cứ hoạt động cách mạng của quân, dân ta trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ngày đó, bom đạn của quân thù thả xuống núi Cấm khá nhiều, nên cây cối cũng bị bom đạn cày xới. Khi chiến tranh lùi xa, cây lại phủ xanh và rừng giúp dân làng vượt qua bao tai ương biến chướng của thiên tai. Cứ thế, cư dân ở đây đều chung sức, đồng lòng để giữ rừng”.

Người dân ở thôn Tân Phụng 1 và Tân Phụng 2 cũng cho rằng: Cái lớn nhất mà rừng trên núi Cấm đem lại là chắn cát bay, cản gió, bão tố cho làng, xã. Bởi, thời gian qua, có không ít vùng ven biển khác của huyện Phù Mỹ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do cát bay, nhưng ở đây nhờ có rừng cây này mà cát biển được che chắn, cuộc sống bình yên.

Vào thời điểm nắng nóng gay gắt, ở nhiều làng biển khác bà con phải sống trong cảnh thiếu nước, phần vì không khí hầm hập đến ngột ngạt. Ấy vậy mà, làng biển Tân Phụng 1 và Tân Phụng 2 vẫn rợp bóng mát nhờ khu núi Cấm chắn phía biển. Để chứng minh giá trị của khu rừng này mang lại cho cư dân làng biển nơi đây, ông Trần Thành Liên vục tay xuống lớp cát, nói: “Dưới lớp cát trắng phau, thoạt đầu nhìn vào tưởng như không còn một chút ẩm nào, nhưng khi đào sâu xuống vài tấc đã thấy nước, đó là nhờ rừng cây đã giữ nước. Hơn nữa, nhiều diện tích đất trồng hoa màu của thôn nằm sát đồi cát, nhưng hiếm khi thấy bị hạn đến độ phải bỏ hoang”, ông Liên cho biết thêm.

Người dân ở làng biển Tân Phụng 1, Tân Phụng 2 coi rừng ở núi Cấm như báu vật. Ông Nguyễn Văn Ba lý giải cho tên gọi “núi Cấm” xuất phát từ ý nghĩa là để giữ rừng. Muốn giữ được rừng thì phải cấm tất cả các hành vi xâm hại tới rừng. Vì vậy, núi Cấm ra đời từ lý do này.

Phong trào giữ rừng núi Cấm có từ khi sau ngày đất nước giải phóng. Kể từ đó đến nay, hiện tượng xâm hại rừng chưa từng diễn ra. Để công tác giữ rừng mang lại hiệu quả, mỗi thôn thành lập một tổ bảo vệ rừng với sự tham gia của toàn bộ cư dân đang sinh sống ở địa phương. Ông Trần Thành Liên nhấn mạnh: Quy ước bảo vệ rừng ở đây đặt ra rất đơn giản là “nghiêm cấm xâm hại rừng dưới mọi hình thức”. Bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào xâm hại tới rừng đều bị xử lý công khai. Nhẹ thì kiểm điểm, khiển trách trước toàn thể cư dân. Nặng thì lập biên bản rồi mời xã, huyện và ngành chức năng xuống xử lý. Nhờ ý thức được tầm quan trọng trong việc giữ rừng nên hàng chục năm núi Cấm được bà con ở địa phương gìn giữ, bảo vệ nghiêm ngặt.

Chia sẻ về công tác giữ rừng, ông Nguyễn Văn Ba nói: Ở thôn Tân Phụng 1 có 3 xóm, thôn Tân Phụng 2 có 2 xóm. Theo đó, bà con Tân Phụng 1 có trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng nằm ở phía Tây của thôn. Người dân Tân Phụng 2 quản lý khu rừng nằm phía Đông của thôn. Hằng ngày, các xóm đều cử người tham gia tuần tra, kiểm tra rừng. Khi phát hiện có đối tượng xâm hại lập tức ngăn chặn, báo cáo với trưởng thôn để kịp thời giải quyết. Vào mùa nắng nóng, mỗi tháng bà con được thông báo đi phát tuyến để ngăn ngừa cháy rừng. Công tác giữ rừng hiện nay còn có sự giúp sức của bộ đội biên phòng, lực lượng bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ.

Nhận xét về quá trình giữ rừng của cư dân thôn Tân Phụng 1 và Tân Phụng 2, ông Trương Ngọc Hoàng, Chủ tịch UBND xã Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ), cho rằng: “Rừng núi Cấm thêm xanh là nhờ được cư dân làng biển nơi đây bảo vệ nghiêm ngặt. Người dân ở đây là tai mắt của chính quyền xã, ngành chức năng của huyện trong công tác giữ rừng. Để công tác giữ rừng trong cộng đồng khu dân cư phát huy được hiệu quả, hằng năm, huyện, xã đều hỗ trợ cho cư dân dụng cụ như rựa, cuốc, xẻng… tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân giữ rừng. Phong trào toàn dân giữ rừng núi Cấm cần được phát huy, nhân rộng ra nhiều địa phương khác trong tỉnh”. (Baobinhdinh.com.vn 10/9) Về đầu trang

Kon Tum: Phát hiện 3 bãi gỗ lậu cách đường tuần tra biên giới 15m

Sáng 9.9, ông Nguyễn Tấn Liêm - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Kon Tum cho biết, các cơ quan chức năng vẫn đang xác minh nguồn gốc số gỗ vừa được phát hiện tại khu vực đường tuần tra biên giới thuộc huyện Ia H'Drai. Đến sáng hôm nay, chi cục vẫn chưa nhận được báo cáo mới nhất về vụ việc. Theo đó, vụ việc đã được bàn giao cho Chủ tịch UBND huyện Ia H’Drai chủ trì thành lập đoàn kiểm tra phối hợp với Đồn biên phòng, Công an huyện Ia H'Drai và UBND Ia Đal để điều tra.

Theo thông tin của Dân Việt, từ ngày 3.9 người dân ở khu vực biên giới xã Ia Đal phát hiện nhiều bãi tập kết gỗ lậu dọc tuyến biên giới với Campuchia nên trình cáo với UBND xã. Sau đó, chính quyền địa phương đã báo cáo với các cơ quan chức năng huyện Ia H'Drai để xuống hiện trường xác minh thông tin.

Qua kiểm tra hiện trường tại khu vực cột mốc 13 và 14, cách đường tuần tra vùng biên chừng 15m phát hiện 3 bãi tập kết gỗ. Sau đó, lực lượng chức năng lập biên bản hiện trường, thống kê có khoảng 30m3 từ nhóm II-VIII (trong đó, có khoảng 10m3 gỗ quý thuộc nhóm II). Đây là khu vực thuộc Đồn Biên phòng Suối Cát quản lý.

Bước đầu, phía Đồn Biên phòng Suối Cát thừa nhận, vị trí gỗ được phát hiện thuộc khu vực quản lý của mình nhưng cho rằng, số gỗ này có thể là gỗ do doanh nghiệp nhập khẩu về qua lối mở chưa chuyển đi hết, không phải gỗ lậu.

Theo Chi cục Kiểm lâm Kon Tum, số gỗ nhập khẩu qua lối mở biên giới đã hết thời hạn từ ngày 30.6 và toàn bộ số gỗ nhập khẩu này đã được vận chuyển đi nơi khác. Đồng thời, phía doanh nghiệp trực tiếp nhập gỗ cũng khẳng định, gỗ của đơn vị đã chuyển đi hết từ lâu, không còn ở khu vực mà cơ quan chức năng vừa phát hiện.

Nguồn tin mới đây từ Chi cục Kiểm lâm Kon Tum cho biết, ban đầu dự kiến ngày 9.9 có báo cáo về vụ việc. Tuy nhiên, do vụ việc cần mở rộng xác minh thêm ở các vùng phụ cận nên phải kéo dài đến thứ 2 (11.9) các cơ quan chức năng mới hoàn thành báo cáo gửi UBND tỉnh Kon Tum. (Danviet.vn 9/9) Về đầu trang

Kiên Giang: Người dân U Minh Thượng giao nộp mèo rừng

Ngày 10-9, Công an huyện U Minh Thượng (Kiên Giang) bàn giao cho Ban Quản lý rừng quốc gia U Minh Thượng cá thể mèo rừng, thuộc danh mục động vật nguy cấp, quý hiếm do anh Nguyễn Thanh Danh, ngụ ấp Công Sự, xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng giao nộp. Theo anh Danh, khoảng 2 năm trước, trong lúc thu hoạch mía của gia đình, anh phát hiện con vật mà không biết là loài mèo rừng quý hiếm nên bắt đem về nuôi. Thời gian gần đây, do chuẩn bị đi TP Hồ Chí Minh làm thuê nên có ý định bán vật nuôi trong nhà, trong đó có mèo rừng.

Sau khi nghe anh em công an giải thích việc nuôi nhốt động vật quý hiếm và vi phạm quy định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, anh Danh tự giác giao nộp mèo rừng cho cơ quan chức năng để thả về rừng. (Baocantho.com.vn 10/9) Về đầu trang

Hậu quả từ việc tự đốt lá phổi của nhân loại

Rừng được coi như lá phổi xanh của thế giới. Cây cối quang hợp sẽ sản sinh ra ô xy để nuôi dưỡng các sinh vật sống trên Trái đất. Bởi thế, khi diện tích rừng bị thu hẹp, những hiểm họa khổng lồ mang tính chất toàn cầu sẽ xảy ra: Biến dạng hệ sinh thái, tăng nguy cơ khan hiếm nước, thay đổi khí hậu, gia tăng các tai họa thiên nhiên...

Hậu quả của việc đốt phá rừng có thể nhìn thấy ngay trước mắt là nhiều loài sinh vật bị thiêu rụi, xác động vật bị cháy đen trông rất thương tâm. Nếu đó là những loài động vật quý hiếm thì một lần nữa chúng ta đánh mất đi cân bằng sinh thái.

Cháy rừng cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực tới diễn biến rừng, môi trường và đa dạng sinh học (ĐDSH). Những hậu quả do cháy rừng gây ra đối với ĐDSH xuất hiện vừa tức thời vừa lâu dài trên nhiều phương diện, đặc biệt trong điều kiện rừng nhiệt đới, hậu quả của cháy rừng đối với môi trường và ĐDSH là vô cùng to lớn.

Ví như tại vùng Borneo của Inđônêxia, hàng triệu ha rừng ẩm nhiệt đới bị đốt cháy vào những năm hạn hán (1982, 1983, 1997, 1998) đã gây nên tổn thất to lớn đối với ĐDSH và phát triển kinh tế của khu vực.

Hoặc vụ cháy rừng tràm ở VQG U Minh Thượng, U Minh Hạ vào tháng 3-4/2002 đã làm thiệt hại khoảng 4.300 ha rừng, làm cho 7 loài thú bị xóa sổ (dơi ngựa lớn, dơi ngựa Thái Lan, mèo cá, tê tê, cầy giông đốm, cầy vòi hương, mèo rừng), làm cho cấu trúc thành phần loài chim thay đổi do mất nơi cư trú như bồ nông xám, cốc đen, quắm đen, quạ đen, cú lợn lưng xám, các loài bò sát như kỳ đà, trăn đất, rắn ráo trâu, rắn hổ mang.

Sự thay đổi cấu trúc thành phần loài trong quần xã rừng tràm mà chủ yếu là các loài ở đỉnh tháp dinh dưỡng, bao gồm các loài ăn thịt lớn. Điều này sẽ dẫn đến hiện tượng mất cân bằng sinh thái, nạn dịch chuột và các sinh vật hại sẽ bùng phát.

Một nghiên cứu gần đây kết luận cháy rừng có thể đẩy sự ô nhiễm ôzôn đến mức độ vượt quá tiêu chuẩn sức khỏe của Hoa Kỳ. Nghiên cứu này, do các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia (NCAR) thực hiện, tập trung vào những đợt cháy rừng năm 2007 tại California.

Những đợt cháy rừng liên tiếp đẩy sự ô nhiễm ôzôn đến mức độ có tác hại đến sức khỏe trên diện rộng, bao gồm ngoại ô Californiam, cũng như vùng kế cận Nevada.

Mặc dù từ lâu các nhà khoa học đã biết rằng cháy rừng có thể ảnh hưởng đến chất lượng không khí bằng cách giải phóng các phần từ và khi vào khí quyển, nhưng những nghiên cứu về lĩnh vực này còn rất hạn chế.

Cháy rừng làm trầm trọng thêm mức độ ô nhiễm ôzôn bằng cách giải phóng nitơ oxit và hyđrô cácbon, từ đó ôzôn được hình thành qua phản ứng hóa học trong ánh sáng mặt trời gần đám cháy hoặc ở những vùng xuôi chiều gió.

Tất nhiên cháy rừng nếu xét sâu xa hơn thì chính con người là đối tượng chịu thiệt nhất. Hậu quả đầu tiên cần nhắc tới là chúng ta đã bị mất đi cánh rừng hàng chục năm, cũng có thể là hành trăm năm trong vào chục phút.

Còn lại gì sau những ngọn lửa đó, chắc mọi người chỉ thu lại được than củi nhưng thay vào đó chúng ta đã mất thêm hàng chục năm nữa mới có thể lấy lại những gì đã mất. (Giáo Dục & Thời Đại Online 9/9) Về đầu trang

Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa treo đèn giữa ban ngày

Phóng viên Báo Lao Động hôm 7.2 đã xác nhận phản ánh từ bạn đọc về tình trạng treo đèn giữa ban ngày của Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa.

Theo nhiều người dân đến Văn phòng thường trú Báo Lao Động tại Thanh Hóa phản ánh, tại cơ quan Chi cục Kiểm lâm đóng trên con đường lớn Hạc Thành nằm giữa lòng TP.Thanh Hóa đang thắp điện sáng trưng giữa ban ngày.

Chiều ngày 7.2, phóng viên đã trực tiếp đi xác minh và xác thực thông tin từ bạn đọc là đúng sự thực.

Ở trước cửa trụ sở Chi cục Kiểm lâm được đầu tư một bảng điện tử hoành tráng treo trang trọng ngay trước cửa ra vào của tòa nhà. Bảng điện tử này liên tục chạy những dòng chữ mang ý nghĩa chúc mừng, trong khi các phòng ban làm việc của Chi cục Kiểm lâm cửa đóng then cài im ỉm, khiến người qua lại tỏ ra rất bức xúc.

Một người dân đi sắm tết (xin không nêu tên) bức xúc nói: “Chi cục Kiểm lâm mua cả tấm bảng điện tử lớn trị giá hàng chục triệu đồng treo giữa tòa nhà, rồi cắm điện cho nó chạy giữa ban ngày thì quả là một việc đáng phê phán”. (Lao Động Online 8/9)Về đầu trang

Giấu 1,3 tấn ngà voi trong thùng nhựa đường

Theo Cục Hải quan TPHCM, sau khi hơn 6 tấn ngà voi lần lượt bị bắt giữ cuối năm 2016, hoạt động buôn lậu ngà voi quá cảnh qua Việt Nam tạm thời lắng xuống. Vụ việc 1,3 tấn ngà voi giấu trong thùng nhựa đường hé lộ thủ đoạn mới, tinh vi của tội phạm.

Ngày 10/9, lãnh đạo Tổng cục Hải quan cho biết, đang củng cố hồ sơ, điều tra mở rộng vận chuyển trái phép hàng hóa đối với Công ty TNHH Empire – Group (phường 3, quận Phú Nhuận, TPHCM). Tang vật bị thu giữ gồm 1,3 tấn ngà voi, nguồn gốc châu Phi.

Theo ông Lê Nguyên Linh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 (thuộc Cục Hải quan TPHCM), hơn 1,3 tấn ngà voi được các đối tượng cất giấu tinh vi. Đây là lần đầu tiên đơn vị phát hiện thủ đoạn này của giới buôn lậu.

Số hàng hóa trên được Công ty TNHH Empire – Group xếp trên 2 container, khai báo là nhựa đường, đóng trong hơn 100 thùng phuy, nhập từ cảng  Cotonou Benin (châu Phi) quá cảnh về Việt Nam để xuất sang Campuchia. Trước khi quá cảnh ở cảng Cát Lái (TPHCM), các đối tượng đã vận chuyển qua Malaysia. Tháng 8/2017, hàng cập cảng Cát Lái. Qua theo dõi nghi vấn lô hàng chứa hàng cấm, Chi cục Hải quan Cảng Sài Gòn khu vực 1 phối hợp với Đội Kiểm soát giám sát trọng điểm và thực hiện soi chiếu qua máy soi container. Lực lượng chức năng phát hiện trên hình ảnh soi chiếu có nhiều thùng phuy có hình ảnh lạ, bất thường nên đã thực hiện khám xét thực tế.

Sáng 6/9, tại cảng Cát Lái, 2 container trên được kéo về khu vực nhà kho C1 tại cảng. Chi cục Hải quan Cảng Sài Gòn khu vực 1 đã chủ trì, phối hợp với Đội Kiểm soát Hải quan - Cục Hải quan TPHCM, C74 - Bộ Công an, PC46 - Công an TPHCM và Đồn Biên phòng cảng Nhà Rồng thực hiện khám xét lô hàng quá cảnh này.

Đúng như dự đoán, lực lượng chức năng lần lượt lôi ra hàng trăm khúc ngà voi được cất giấu trong 13 thùng phuy, để lẫn với hàng trăm thùng phuy chứa nhựa đường khác. Đáng chú ý, để qua mặt lực lượng chức năng và máy soi chiếu, các đối tượng đã cắt khúc ngà voi từ 50-60cm, xếp đứng theo chiều thùng phuy. Mỗi thùng được xếp chặt 1-2 lớp tùy theo chiều dài của đoạn ngà voi, với khoảng 40-50 khúc, trọng lượng trên 100 kg. Sau đó các đối tượng phủ kín bằng mùn cưa, nén chặt, bên trên phủ lớp thạch cao, lớp trên cùng được phủ bằng nhựa đường cao khoảng 4-5 cm, đóng nắp thùng phuy như những chiếc thùng đựng nhựa đường khác.

Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 cho hay, cuối năm 2016, 7 vụ nhập khẩu trái phép hơn 6 tấn ngà voi đã bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ. Sau một thời gian tạm lắng, đến nay tình trạng lợi dụng loại hình quá cảnh để buôn lậu ngà voi lại tái diễn. (Tiền Phong 11/9, tr5; Tiền Phong Online 11/9) Về đầu trang

Nghệ An: Đâu rồi đàn bò tót Pù Huống

Trước đây lên Bình Chuẩn (Con Cuông) công tác, chiều về ngồi ở trụ sở UBND xã, nhìn lên ngọn núi trước một, thi thoảng thấy đàn bò tót xuất hiện. Khi mùa hè oi nóng, chúng còn xuống khe Chon uống nước.

Theo máy già làng ở bản Chồm Mét, bản Đình, bản Xiềng... thì đàn bò tót có 5 - 7 con, chúng sinh sống ở vùng núi này nhiều năm, không gây hại gì cho mùa màng và cả con người.

Gần đây khi con đường nối QL7A với QL48, nối huyện Tuơng Dương với Quỳ Hợp, đi xuyên qua xã Bình Chuẩn, cùng với nạn khai thác lâm sản đã vô tình xua đuổi đàn bò tót đi đâu mất. Tuy có chủ trương thành lập Khu BTTN Pù Huống, nhưng xem ra công tác bảo tồn khu rừng này không hiệu qủa.

Theo các già làng, bò tót bỏ đi do tiếng xe máy, xe ô tô chạy qua đây quá nhiều, thêm nữa nạn khai thác rừng làm cạn kiệt nguồn thức ăn và môi trường sổng của bò tót. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/9, tr1+9) Về đầu trang

Thanh Hóa “xé rào”: Hàng vạn hộ dân sẽ được hưởng lợi

Trong bối cảnh người dân "khát" đất rừng sản xuất đến cùng cực, thì việc tỉnh Thanh hóa quyết định "xé rào" bằng cách chuyển đổi gần 21.000 ha diện tích đất rừng phòng hộ kém xung yếu sang rừng sản xuất được ví như trận mưa rào giữa mùa nắng hạn...

Chi tiết xin vui lòng xem nội dung Scan phía dưới. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/9, tr1+6) Về đầu trang