Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 11/5/2017

Điểm báo ngày 11/5/2017

Cập nhật ngày : 11/05/2017 8:48:03 SA

ĐIỂM BÁO

LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 11 tháng 5 năm 2017)

Bao giờ rừng thôi bị “chảy máu”?

Theo Bộ NN-PTNT, nguyên nhân khiến rừng còn bị “chảy máu” là do nhận thức về lâm nghiệp của các ngành, các cấp chưa đầy đủ.

Hiện nay, tình trạng phá rừng ở nhiều địa phương diễn biến phức tạp. Ngoài những tổ chức, cá nhân phá rừng, còn có không ít chính quyền địa phương chủ trương chặt phá rừng để chuyển đổi sang mục đích khác. Trước tình hình này, để thực hiện mục tiêu đến năm 2020, cả nước có 14,4 triệu ha rừng, độ che phủ rừng đạt 45% theo quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt, cần rất nhiều việc phải làm.

Tỉnh Bình Phước được xem là địa phương có tốc độ phá rừng nhanh nhất cả nước. Nếu như năm 2002, diện tích rừng tự nhiên nơi đây là 127.800 ha, thì đến nay, tỉnh này chỉ còn hơn 58.000 ha. Mới đây nhất, dự án chăn nuôi, kết hợp trồng rừng trên diện tích hơn 575 ha tại Tiểu khu 69, Nông lâm trường Bù Đốp, huyện Bù Đốp đang triển khai, đã bị Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (C49) đình chỉ để điều tra. Hiện nay, hơn 100ha rừng trong tiểu khu này đã bị chặt phá hoàn toàn.

Gần 20 năm gắn bó với nghiệp bảo vệ rừng ở huyện Bù Đốp, ông Nguyễn Văn Ách, nguyên Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Bù Đốp cùng các đồng nghiệp đã không sợ hiểm nguy để bảo vệ cho 6.400ha rừng của huyện được an toàn. Ông từng đưa ra nhiều dẫn chứng khoa học để chứng minh với lãnh đạo rằng, khu rừng này không phải rừng nghèo kiệt.

Ông Nguyễn Văn Ách chua xót: “Mình nhục vì mình là người lính giữ rừng, nhưng đứng nhìn rừng mất mà không có biện pháp gì có thể ngăn chặn được. Dù đó là phá hợp pháp hay bất hợp pháp thì mình cũng có tội lớn lắm. Mà quan trọng nhất là nó phá vỡ khả năng quản lý, bảo vệ những khu rừng còn lại”.

Không chỉ riêng Bình Phước, tình trạng phá rừng đang diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước. Tại tỉnh Phú Yên, hàng chục ha rừng với cây gỗ có đường kính 40 - 50cm bị chặt hạ để Công ty Cổ phần Chăn nuôi Phú Yên… nuôi bò. Việc chủ Dự án Khu du lịch liên hợp cao cấp New City Việt Nam tại Phú Yên phá trắng 115 ha rừng phòng hộ dù chưa được Bộ TN-MT phê duyệt, đánh giá tác động môi trường, chưa có quyết định giao đất, thuê đất cũng đang được các cơ quan chức năng điều tra, làm rõ. Hiện nay, cả nước chỉ còn 14 triệu ha rừng. Trong đó, rừng Tây Nguyên đang bị suy giảm nhanh cả về diện tích và chất lượng. Trong 5 năm (từ 2010-2014), tổng diện tích rừng Tây Nguyên đã giảm tới hơn 300.000 ha, độ che phủ của rừng giảm còn 48,5%.

Theo Bộ NN-PTNT, nguyên nhân khiến rừng còn bị “chảy máu” là do nhận thức về lâm nghiệp của các ngành, các cấp chưa đầy đủ. Một số cán bộ kiểm lâm tiêu cực, tiếp tay cho lâm tặc, trong khi lực lượng kiểm lâm thiếu sự phối hợp với các lực lượng khác trong công tác bảo vệ rừng và xử lý các vi phạm về lâm nghiệp. Bên cạnh đó, việc phân công, phân cấp về quản lý, bảo vệ rừng chưa rõ ràng, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này còn hạn chế. 

Thứ trưởng Thường trực Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn cho biết: Để công tác quản lý rừng bền vững đến năm 2030, Chính phủ đang hoàn thiện chính sách, pháp luật, khung hành động của chương trình giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng. Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng đã ban hành Chỉ thị số 13, ngày 12/1/2017 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng”. Các bộ, ngành cũng đang rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng rừng và đất rừng. Một việc quan trọng mà các địa phương đang thực hiện là cải thiện sinh kế cho người dân sống trong và gần rừng.

Ông Hà Công Tuấn nói: “Chúng ta triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Tăng cường kiểm tra, giám sát để chúng ta không để tình trạng phá rừng trái pháp luật xảy ra. Bây giờ ở Tây Nguyên, độ che phủ rừng chỉ còn khoảng 38%, nhưng rừng giàu và trung bình thì còn rất ít. Nếu không chung sức, đồng lòng, quyết tâm cao thì nguy cơ mất rừng khu vực này còn cao lắm”.

Ông Võ Đình Tuyên, Phó Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp, Văn phòng Chính phủ cho rằng, để công tác quản lý và phát triển rừng mang lại hiệu quả cao, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần làm việc với từng bộ ngành để thống nhất chương trình hành động cụ thể. Trong đó, chủ công để thực hiện việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là chính quyền các địa phương: “Hiện nay, Bộ NN-PTNT đang được giao nhiệm vụ rà soát lại quy hoạch rừng. Trong đó, có kế hoạch chuyển 1 triệu ha rừng phòng hộ sang rừng sản xuất. Theo quan điểm chúng tôi nhìn nhận thì cái này chúng ta cần hết sức cẩn trọng. Tránh tình trạng các địa phương lợi dụng việc này để làm việc khác, ví dụ như tỉnh Phú Yên đang triển khai”.

Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 hiện đang có nhiều điểm không còn phù hợp với điều kiện thực tế. Yêu cầu bức thiết đặt ra đối với công tác quản lý và phát triển rừng là Nhà nước phải thay đổi đồng bộ cơ chế, chính sách. Từ đó, tạo ra một hành lang pháp lý mới để thích ứng với xu thế quản trị rừng cũng như kiểm soát nguồn gốc gỗ, lâm sản. Khi đó, việc tranh chấp đất lâm nghiệp ở nhiều địa phương cũng sẽ được giải quyết triệt để, góp phần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân sử dụng và quản lý rừng. (VOVNews 10/5) Về đầu trang

Đề xuất xây dựng Nghị định về bảo tồn 12 triệu hecta đất ngập nước

Để quản lý đất ngập nước cũng như thực hiện nghĩa vụ của nước thành viên đối với Công ước Ramsar, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang soạn thảo hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị định về bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước trên phạm vi toàn quốc.

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam có kho​​ảng hơn 12 triệu hecta đất ngập nước phân bố rộng khắp các vùng sinh thái, trong đó nhiều vùng đất ngập nước được xác định có giá trị bảo tồn cao (nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên và nhiều khu đã công nhận là khu Ramsar).

Hiện tại, Việt Nam cũng đã trở thành thành viên thứ 50 của Công ước Ramsar về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (năm 1989).

Đất ngập nước có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và thịnh vượng của loài người nhờ các chức năng tiết nước ngầm, tích luỹ chất dinh dưỡng, duy trì đa dạng sinh học. Đất ngập nước còn giúp chắn sóng, gió bão và ổn định bờ biển, chống xói lở, hạn chế sóng thần.

Với ý nghĩa nêu trên, trong thời gian qua, nhiều văn bản quản lý đất ngập nước đã được ban hành, trong đó có Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9 /2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Nghị định số 109/2003/NĐ-CP và các văn bản liên quan chưa đáp ứng yêu cầu của việc bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN, bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước đang bị đe dọa, có nguy cơ suy thoái…

Chính vì thế, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, việc xây dựng một Nghị định mới về đất ngập nước thay thế Nghị định số 109/2003/NĐ-CP là việc làm cần thiết nhằm giải quyết được các vấn đề bất cập hiện nay trong quản lý đất ngập nước, góp phần kiện toàn văn bản quản lý, nâng cao năng lực bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng đất ngập nước ở Việt Nam.

Hiện tại, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang lấy ý kiến góp ý đối với đề nghị xây dựng Nghị định này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (VIETNAM+ 10/5) Về đầu trang

Sơn La: Khi người dân vào cuộc giữ rừng

Trước đây, rừng của bản Cang Mường, xã Mường Trai (Mường La) hay bị xâm lấn, bị cháy do người dân đốt nương, làm rẫy... Từ năm 2008 đến nay, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, thu hút được sự tham gia của nhân dân, rừng nơi đây được quản lý, bảo vệ tốt, không có tình trạng buôn bán, vận chuyển và cháy rừng xảy ra trên địa bàn. 62 hộ dân bản Cang Mường xem việc giữ rừng như một công việc thường ngày trong sinh hoạt và lao động của mình...

7 giờ sáng, chiếc loa công cộng của bản Cang Mường vang vang: A lô, a lô! Ban quản lý bản Cang Mường xin thông báo... Đề nghị các thành viên trong Tổ bảo vệ rừng của bản được phân công có mặt tại nhà trưởng bản lúc 7 giờ 30 phút để cùng cán bộ kiểm lâm địa bàn kiểm tra rừng theo kế hoạch đã được thông báo...

Bản Cang Mường, xã Mường Trai là một trong những bản di vén phục vụ cho công trình thủy điện Sơn La. Trước đây, việc quản lý, bảo vệ rừng ở bản gặp không ít khó khăn, bởi ý thức của người dân chưa cao, còn duy trì việc đốt nương làm rẫy hay vào rừng lấy củi. Ngày đó, cán bộ xã và bản đã tốn bao công sức để tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt các quy định về bảo vệ rừng, thậm chí còn có những biện pháp xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định, nhưng việc quản lý, bảo vệ rừng vẫn không hiệu quả. Nhớ lại trước năm 2008, ông Lò Văn Hựn, 76 tuổi, bản Cang Mường, cho biết: Ngày trước, ai làm nhà cũng có thể vào rừng để chặt cây lấy gỗ. Ai muốn có đất làm nương thì lên rừng phát cây. Thậm chí, rừng còn bị xẻ lấy gỗ đem bán... Bây giờ thì khác rồi, nhân dân trong bản đã có ý thức trong việc bảo vệ rừng của mình, nhất là rừng đầu nguồn. Các hộ cam kết với trưởng bản về bảo vệ rừng, nếu hộ nào vi phạm sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật và hương ước của bản. Từ khi bản được Nhà nước hỗ trợ thêm tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhân dân trong bản tham gia tích cực hơn...

Với sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền xã, bản trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng, gần 10 năm qua, bản Cang Mường được đánh giá là một trong những bản tiêu biểu trong thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng. Hằng tháng, bản tổ chức chia tổ, chia nhóm để đi kiểm tra, tuyên truyền. Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện có vi phạm sẽ thông báo ngay cho xã, lực lượng chức năng để phối hợp xử lý, ngăn chặn kịp thời. Trong bản, nếu hộ nào muốn đốt nương phải thông báo trước cho Ban quản lý bản. Sau đó, bản sẽ giao cho Tổ bảo vệ rừng kiểm tra, giám sát và hướng dẫn cách làm đường băng cản lửa, tránh được việc đốt nương không đúng quy định, gây ảnh hưởng tới rừng. Ông Cà Văn Lại, Bí thư Chi bộ bản Cang Mường, thông tin: Bản được giao quản lý, bảo vệ 13 ha rừng phòng hộ. Cùng với chỉ đạo các khối, đoàn thể tuyên truyền, ký cam kết với các hội viên về việc giữ rừng, hằng tháng, Chi bộ quán triệt tới các đảng viên thông qua sinh hoạt Chi bộ. Đồng thời, ra nghị quyết chuyên đề phân công cho 26 đảng viên phụ trách từng nhóm hộ, có nhiệm vụ giám sát việc quản lý, bảo vệ rừng. Nếu để xảy ra các hành vi vi phạm tại khu vực được phân công, đảng viên đó sẽ bị hạ thi đua. Đối với các hộ, hội viên nếu vi phạm, ngoài đánh vào thi đua, bản cũng không xét danh hiệu gia đình văn hóa, sẽ nêu tên, phê bình tại các cuộc họp bản và trên hệ thống loa công cộng của bản. Nếu gây thiệt hại về rừng, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật thì các hộ vi phạm phải bồi thường cho bản theo quy định của hương ước từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng/m2.

Từ năm 2008 đến nay, ngoài việc được đánh giá là bản tiêu biểu trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, bản Cang Mường còn được công nhận là bản văn hóa với trên 90% số hộ gia đình văn hóa; Chi bộ bản được công nhận danh hiệu trong sạch, vững mạnh tiêu biểu... Để có được những kết quả trên chính là nhờ sự quan tâm của cấp ủy, Ban quản ký bản tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia quản lý, bảo vệ rừng. Đây cũng chính là cách làm đáng để các cơ sở khác đang gặp khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng học và làm theo. (Báo Sơn La 10/5) Về đầu trang

Tuyên Quang: Lợi ích thiết thực từ trồng rừng

Huyện Yên Sơn có diện tích rừng sản xuất lớn nhất tỉnh với trên 65.000 ha. Trong đó, xã Tân Long có diện tích rừng lớn nhất huyện với 1.950 ha đất rừng sản xuất. Ông Nguyễn Minh Sáng, Phó Chủ tịch UBND xã nhấn mạnh, hàng năm doanh thu từ rừng của toàn xã đạt khoảng 30 tỷ đồng, chiếm 1/3 tổng thu nhập của toàn xã. Nhiều năm nay, bà con nhân dân trong xã đã biết đầu tư trồng, bảo vệ và làm giàu bằng nghề rừng.

Ông Vũ Mạnh Hùng, thôn 16, xã Tân Long là một trong những hộ đầu tiên làm giàu từ kinh tế rừng. Theo ông Hùng, làm nghề rừng chi phí đầu vào không cao, người làm rừng chỉ mất công chăm sóc năm đầu, khi cây đã khép tán thì rất nhàn.

Phát triển nghề rừng có thể kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm… Được biết từ 5 ha rừng nhận khoán ban đầu, đến nay gia đình ông Hùng đã có 30 ha có độ tuổi từ 2 đến 5 năm. Năm 2015, gia đình ông Hùng bán 5 ha keo, thu về 250 triệu đồng. Dự tính trong vài năm tới mỗi ha rừng trồng của gia đình sẽ cho thu từ 50 - 80 triệu đồng.

Nhiều năm gần đây, rừng đã mang lại một cuộc sống đầy đủ hơn cho bà con xã Phú Thịnh. Ông Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND xã cho biết, thống kê sơ bộ của UBND xã, trong năm 2016 vừa qua và 3 tháng đầu năm 2017, số hộ có mức thu từ 100 triệu đồng đến 650 triệu đồng khoảng trên 100 hộ. Riêng thôn Mỹ Lộc có 60 hộ thì có đến 35 hộ thu từ 100 triệu đồng đến 640 triệu đồng từ bán gỗ nguyên liệu.

Nói về lợi nhuận từ rừng, anh Phạm Ngọc Mạnh, thôn Mỹ Lộc phấn khởi cho biết, cuối năm 2016 vừa qua, gia đình đã bán lô keo được 640 triệu đồng. Trồng rừng kết hợp chăn nuôi là nguồn thu nhập chính của gia đình. Không chỉ gia đình anh Mạnh, gia đình ông Đinh Quang Thêm cũng ở thôn Mỹ Lộc vừa thu 600 triệu đồng tiền bán rừng. Hiện nay, toàn bộ diện tích rừng của thôn Mỹ Lộc đã được cấp chứng chỉ FSC, đây sẽ là một lợi thế để người dân yên tâm đầu tư gắn bó phát triển rừng.

Các công ty lâm nghiệp trên địa bàn cũng mở rộng hình thức liên doanh với các hộ nông dân và công nhân của công ty cùng góp vốn tham gia trồng rừng và hưởng lợi từ rừng. Ông Hoàng Trung Xuân, Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Yên Sơn cho biết, hiện công ty đang liên doanh với 400 hộ dân thuộc các xã Phú Thịnh, Công Đa, Tiến Bộ, Thái Bình trồng và quản lý 1.100 ha rừng nguyên liệu. Việc liên doanh, liên kết trồng rừng đã giúp công ty quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng, đồng thời chia sẻ lợi nhuận cho cả người dân và công ty.

Đồng chí Đỗ Xuân Trường, Phó Chủ tịch UBND huyện khẳng định: Trồng rừng đã mang lại hiệu quả kinh tế lớn nên diện tích rừng trên địa bàn liên tục được mở rộng. Chỉ tính riêng trong 2 năm trở lại đây, toàn huyện đã trồng mới được trên 7.318 ha rừng, nâng tổng diện tích rừng sản xuất toàn huyện lên 65.300 ha, độ che phủ rừng đạt 61%.

Huyện cũng đã triển khai thực hiện việc quản lý, cấp chứng chỉ rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC tại các công ty lâm nghiệp và nhóm hộ trên địa bàn huyện. Hiện đã có trên 4.200 ha rừng sản xuất được cấp chứng chỉ FSC thuộc các công ty lâm nghiệp và một số hộ gia đình thuộc xã Công Đa, Nhữ Hán, Tiến Bộ, Phú Thịnh. Gỗ được cấp nhãn FSC sẽ được tiêu thụ tại Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang với giá cao hơn khoảng 30%, mang lại lợi ích thiết thực cho người trồng rừng. (Báo Tuyên Quang 10/5) Về đầu trang

Đăk Lăk: Phá lò đốt than để bảo vệ rừng Ea Súp

Phá bỏ hàng trăm lò đốt than trái phép đang tồn tại trên địa bàn là một trong những nhiệm vụ được huyện ủy Easup chỉ đạo để giảm áp lực vào tài nguyên rừng ở địa phương.

Trước tình trạng rừng bị tàn phá nghiêm trọng, công tác bảo vệ rừng ở huyện Ea Súp tỉnh Đăk Lăk đang được thắt chặt. Trọng tâm của công tác này, ngoài chấn chỉnh công tác bảo vệ rừng đang tồn tại nhiều lỗ hổng còn tập trung xác định rõ những nguyên nhân gây tác động tiêu cực vào rừng để ngăn chặn.

Phá bỏ hàng trăm lò đốt than trái phép đang tồn tại trên địa bàn là một trong những nhiệm vụ được huyện ủy Easup tập trung chỉ đạo để giảm áp lực vào tài nguyên rừng ở địa phương.

Để có nguyên liệu cho các lò đốt than, nhiều cây rừng đã bị các đối tượng vi phạm biến thành củi gỗ. Ở Ea Súp có đến 136 lò đốt than hoạt động trái phép, nếu hoạt động liên tục sẽ biến hàng nghìn khối gỗ rừng thành than mỗi tháng.

Trung bình mỗi lò than sẽ đốt khoảng hơn 30 xích te gỗ, tương đương hơn 30 khối gỗ rừng, trong vòng 15 ngày. Việc phá bỏ hơn 130 lò than trái phép sẽ góp phần giảm rất lớn những tác động tiêu cực vào rừng.

Qua kiểm tra, xử lý, lực lượng chức năng huyện Ea Súp đã phá bỏ 76 lò than trái phép, lập biên bản đình chỉ 60 lò còn lại và đang tiếp tục tiến hành phá bỏ hoàn toàn trong năm 2017 để tránh tình trạng tái diễn vi phạm.

Tình trạng các lò than trái phép hoạt động, sử dụng cây rừng làm nguyên liệu đã khiến một diện tích không nhỏ rừng Khộp ở Ea Súp bị xâm hại trong thời gian qua. Những động thái kiên quyết của các cơ quan quản lý ở Ea Súp trong việc phá bỏ lò than trái phép nhằm thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, nghiêm túc kiểm điểm những sai sót, hạn chế, đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng ở địa phương này trong thời gian tới. (VTVNews 10/5) Về đầu trang

Lâm Đồng: Hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Từ việc nhận trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Đa Quyn và Tà Năng (Đức Trọng) đã nâng cao thu nhập. Và, bằng cách này, diện tích rừng do Ban Quản lý rừng phòng hộ Tà Năng không những không bị mất đi mà ngày một tăng thêm.

 Những năm gần đây, nhận thức của người dân Tà Năng và Đa Quyn về việc trồng và bảo vệ rừng đã được nâng lên. Họ ý thức được rằng kinh tế từ rừng sẽ ổn định lâu dài và đem lại hiệu quả cao nếu tích cực bỏ công chăm sóc. Hộ gia đình anh Nguyễn Hùng Anh (thôn Tà Nhiên, xã Tà Năng) đã nhận trồng và chăm sóc hơn 10 ha rừng. Cuộc sống gia đình anh Hùng Anh đã thực sự thay đổi khi có chính sách giao đất cho người dân trồng và chăm sóc rừng. Anh đã cùng các thành viên trong gia đình đồng thời thuê thêm người dân nhận khoán và tham gia trồng rừng.

Sau những tháng ngày nỗ lực lao động, gia đình anh đã có hơn 10 ha rừng thông ba lá xanh tốt. Anh Hùng Anh chia sẻ, gia đình anh nhận trồng rừng vì thấy đất trống đồi trọc còn nhiều. Với 10 ha rừng thông ba lá, năm đầu tiên trồng và chăm sóc gia đình anh Hùng Anh có thu nhập hơn 190 triệu đồng; đồng thời còn tạo việc làm thường xuyên cho 5 - 10 lao động địa phương mới mức thu nhập 150 ngàn đồng/1 ngày công.

Anh Ya Bi (thôn Che Ré, xã Đa Quyn) mồ côi cha mẹ, một mình anh phải chăm sóc những đứa em. Từ khi có chủ trương trồng rừng, anh đăng ký ngay. Anh được giao khoán trồng với diện tích 5 ha, từ việc trồng rừng này, anh có nguồn thu nhập đáng kể để có thể cho những đứa em đi học, đồng thời trang trải cuộc sống. Anh Bi cho biết, với ý thức cao trong việc trồng rừng và chăm sóc rừng, anh đã đầu tư phân bón, công sức để cây phát triển, hiện diện tích rừng trồng mới đang được chăm sóc tốt. Nhờ chủ động trong khâu chăm sóc, nên đa phần diện tích rừng trồng mới đều phát triển tốt, tỷ lệ cây trồng sống đạt trên 90%.

Từ việc giao khoán trồng rừng cho người dân, tổng diện tích rừng của Ban Quản lý rừng phòng hộ Tà Năng được trồng mới trong 5 năm (2012-2016) là 782,30 ha. Từ những chính sách hỗ trợ về chi phí, tiền công mà những diện tích đất lấn chiếm, đất trống đồi trọc đã được phủ xanh. Nhiều hộ dân đã có thu nhập ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng ở Ban Quản lý rừng phòng hộ Tà Năng được nâng lên.

Ông Nguyễn Hữu Trung - Phó Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Tà Năng cho biết: “Đơn vị được giao quản lý, bảo vệ 17.338 ha, gồm 20 tiểu khu thuộc địa bàn xã Tà Năng và xã Đa Quyn, trong đó, rừng sản xuất 8.675 ha, rừng phòng hộ 8.663 ha. Sau khi thực hiện đạt và vượt kế hoạch trồng rừng đề ra, chúng tôi đã chỉ đạo các trưởng thôn tuyên truyền đến nhân dân thông qua các buổi họp thôn, xóm về việc đẩy mạnh chăm sóc và bảo vệ rừng trồng; chú trọng công tác phòng chống cháy rừng, kiên quyết ngăn chặn các hành vi khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép trên địa bàn”.

Nhìn chung trong giai đoạn 2012-2016, diện tích rừng trồng mới và chăm sóc hàng năm tại đơn vị rất lớn, một số nguồn thì định mức đầu tư rất thấp nhưng bằng sự nỗ lực đơn vị đã hoàn thành gần 100% kế hoạch được giao cả về chất lượng và diện tích rừng trồng.

Tính đến thời điểm này, tổng số hộ tham gia nhận giao khoán, bảo vệ rừng trên địa bàn 2 xã Tà Năng và Đa Quyn khoảng 650 hộ, với trên 10.316,68 ha, thu nhập hàng năm là hơn 5 tỷ đồng. Thôn Klong Bong, xã Tà Năng được Ban Quản rừng Phòng hộ Tà Năng giao khoán bảo vệ 375,1ha rừng và được chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Sau khi nhận được giao khoán rừng, thôn đã phối hợp với Ban Quản lý rừng giao nhận về ranh giới rừng cả trên bản đồ và ngoài thực địa, không có sự chồng chéo, trùng lặp. Thôn đã họp toàn thể cộng đồng, tuyên truyền sâu rộng đến dân cư về chính sách chi trả DVMTR. Người dân trong thôn thống nhất lựa chọn, bình bầu 34 người của 34 hộ tham gia tổ bảo vệ rừng, có quy chế hoạt động rõ ràng.

Những chuyến đi tuần tra rừng hàng ngày đã trở nên quen thuộc với người dân Klong Bong. Nếu những năm trước đây, nhiều người dân tại địa phương xem chuyện đốn hạ vài ba cây gỗ vì nhu cầu sử dụng và lấy đất sản xuất là chuyện thường thì nay đã thay đổi. Bởi lẽ, hàng chục thành viên khi tham gia vào tổ bảo vệ rừng có nhiệm vụ tuyên truyền, bảo vệ những khu rừng mình quản lý, không để xảy ra tình trạng người dân phá rừng làm rẫy. Từ khi thực hiện chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, đời sống bà con trong thôn đã được cải thiện nên rất phấn khởi, tích cực chăm sóc, bảo vệ rừng và phát triển vốn rừng.

Trao đổi với chúng tôi, ông Hồ Đăng Thành, Bí thư Đảng ủy xã Đa Quyn cho biết: “Thực tế cho thấy, ở đâu người dân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng thì ở đó rừng được bảo vệ tốt hơn. Thay vì chặt cây, đốt rừng làm nương rẫy, săn bắt động vật hoang dã trái phép thì người dân sẽ có nguồn thu từ chính sách kể trên. Chính sách cũng đã góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa của Đa Quyn và Tà Năng”.

Có thể nói, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đem lại hiệu quả thiết thực đối với người dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng, từng bước ngăn chặn tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái phép, góp phần nâng cao ý thức của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng. (Báo Lâm Đồng 10/5) Về đầu trang

Lâm Đồng: Độ che phủ rừng đạt hơn 53%

Tỉnh vừa tổ chức hội nghị đánh giá kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng.

Theo báo cáo cho biết, diện tích rừng của tỉnh hiện là 533.000ha, độ che phủ rừng dạt hơn 53%.

Theo kết quả ra soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng của Công ty Cổ phần Thiết kế lâm nghiệp Lâm Đồng thời gian tới là 696.476 ha đất rừng, bao gồm rừng đặc dụng, rừng tự nhiên và rừng sản xuất. Tuy nhiên trong số này có gần 53 ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp lâu năm của người dân nằm tỏng diện được quy hoạch vào đất lâm nghiệp. Trong khi đó Nghị quyết đại hội Tỉnh Đảng bộ Lâm Đồng lần thứ 10 đề ra mục tiêu tới 2020 độ che phủ rừng đạt 55%, thì diện tích rừng Lâm ĐỒng cần hơn 538 ngàn ha. Đại diện địa phương đề xuất, trong số gần 53 ngàn ha đất nông nghiệp đã được người dân sản xuất ổn định, trong số đó có một số diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định 450 của tỉnh từ 2008. Vì vậy cần có giải pháp đưa ra quy hoạch đất lâm nghiệp diện tích này để đảm bảo phát triển kinh tế rừng cho bà con. Thế nhưng theo ngành chức năng cũng cần giữ lại một diện tích để đảm bảo việc quản lý, phát triển rừng. (Pháp Luật Việt Nam 11/5, tr2) Về đầu trang

Duy Xuyên - Quảng Nam: Thu hồi đất trồng rừng của dân trái quy định

Nhiều địa phương đã sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho cư dân sống ở nông thôn miền núi. Nhưng, riêng tại địa bàn thôn Mỹ Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam người dân trồng rừng từ năm 1999 chưa khai thác nay phải nhận quả đắng!

Nhằm phủ xanh đất trống đồi trọc trên phạm vi toàn quốc, ngày 29/7/1998 Thủ tướng Phan Văn Khải đã ban hành Quyết định (QĐ) số 661/QĐ-TTg (gọi là chương trình 661) về mục tiêu trồng mới 5 triệu ha rừng cùng với bảo vệ diện tích rừng hiện có.

Chương trình mục tiêu Quốc gia trồng mới 5 triệu ha rừng cùng với bảo vệ diện tích rừng hiện có, để tăng độ che phủ của rừng lên 43%, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học.

Bên cạnh đó, việc sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho cư dân sống ở nông thôn miền núi, ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là ở vùng biên giới.

Hưởng ứng chủ trương này, 11 nhóm hộ dân đã đăng ký xin được trồng rừng tại khu vực lân cận Di sản Văn hóa Thế giới Mỹ Sơn (DSVHMS) thuộc xã Duy Phú và đã được UBND huyện Duy Xuyên đồng ý giao đất cho các nhóm hộ. Đơn cử nhóm hộ ông Nguyễn Bảy (gồm 5 thành viên) đã nhận QĐ số 316/QĐ-UB của Chủ tịch UBND huyện Duy Xuyên ngày 05/10/1999 giao 5,2ha đất, thửa 40 nằm trong tờ bản đồ số 6640 với thời hạn sử dụng 50 năm. Sau khi có QĐ giao đất, nhóm hộ ông Nguyễn Bảy đã bắt tay trồng rừng ngay, từ đó đến nay chưa một lần khai thác. Ngày 21/9/2016, nhóm hộ ông Nguyễn Bảy do tuổi già, không còn đủ sức để chăm sóc và bảo quản nên đã thống nhất chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Đào và ông Hồ Văn Phước (con trai ông Hồ Văn Ba, thành viên nhóm hộ ông Nguyễn Bảy). Thỏa thuận chuyển nhượng này có xác nhận của Chủ tịch UBND xã Duy Phú. Cây rừng trồng đã lớn đến chu kỳ khai thác. Nhưng, người được thụ hưởng đành phải nhận quả đắng khi vào khoảng tháng 11/2016, chính quyền huyện Duy Xuyên thông báo cho 11 nhóm hộ là đất rừng khu vực này có QĐ chuyển sang đất rừng đặc dụng nằm trong vệt DSVHMS nên người dân không được khai thác.

PV Báo Tài nguyên & Môi trường đã về nơi đây tìm hiểu và được người dân trồng rừng trong khu vực phụ cận DSVHMS cho biết: “Chính quyền huyện Duy Xuyên chỉ thông báo họp nhóm hộ dân, lập biên bản về việc thu hồi chuyển mục đích sử dụng đất sang rừng đặc dụng và đưa ra phương án hỗ trợ chứ không giao QĐ thu hồi đất cùng biên bản cuộc họp cho nhóm hộ. Về phương án hỗ trợ, chính quyền huyện Duy Xuyên đưa ra định mức ước chừng mật độ 1.000 cây/ha với giá trị hỗ trợ 25.000 đồng/cây. Cây trồng ở đây đã gần 18 năm, cây nhỏ nhất có đường kính gốc tối thiểu 15 cm và cây lớn có đường kính gốc trên 25 cm, tất cả đều cao trên 10m. Giá trị hỗ trợ còn thua giá bán củi!”

Chính quyền huyện Duy Xuyên chỉ hỗ trợ theo giá trị như trên, ngoài ra không bồi thường tiền đất cũng như không có phương án hoán đổi đất nơi khác cho dân trong khi hạn mức sử dụng của họ còn trên 30 năm. Đã có 10 nhóm hộ chấp nhận phương án hỗ trợ bèo bọt này một cách chóng vánh, riêng hộ ông Nguyễn Đào và Hồ Văn Phước không đồng tình với cách làm trái luật của chính quyền nên phát sinh khiếu nại.

PV đã làm việc với ông Nguyễn Công Dũng– Chủ tịch UBND huyện Duy Xuyên, ông Dũng không trả lời thẳng vào vụ việc mà yêu cầu PV làm việc với Phòng NN&PTNT.

Qua trao đổi với PV, khi được hỏi về những QĐ và tư liệu cần có khi tiến hành thu hồi đất, ông Ngô Đình Phú– Phó Trưởng phòng NN&PTNT huyện Duy Xuyên cho biết: “Hồ sơ do chuyên viên văn phòng giữ, hiện nay cô ấy đi công tác, chúng tôi sẽ cung cấp sau”. PV đề nghị chuyển thông tin qua email nhưng đến nay cũng không được cung cấp.

Lần thứ 2, PV trở lại làm việc với ông Phú (trước đó đã liên hệ qua điện thoại), ông Phú nói bận họp và cho cô chuyên viên báo cho PV là việc cung cấp tư liệu cần phải có chỉ đạo của lãnh đạo huyện. Liệu có điều gì mờ ám nên chính quyền huyện Duy Xuyên không chịu cung cấp hồ sơ?

Có hay không việc Ban quản lý (BQL) DSVHMS tự ý chặt hạ cây của dân?

PV nhận được phản ánh của người dân về việc BQL DSVHMS tự ý chặt hạ cây của dân khi chưa có sự thỏa thuận bồi thường. Vấn đề này được ông Ngô Đình Phú xác nhận: “Ông Trần Nha có gọi điện cho tôi để hỏi vị trí lô chưa đền bù ở đâu vì BQL cần chặt cây để mở đường? Tôi nói lô chưa đền bù thì không được đụng vào và có cử cô Vân (chuyên viên) mang sơ đồ lên chỉ cho BQL biết”.

Khi PV cung cấp hình ảnh cho ông Phú xem việc chặt hạ cây, ông Phú nói: “Thấy hình ảnh các anh cung cấp giờ tôi mới biết. Họ làm vậy là sai rồi vì khu vực này chưa đền bù”.

Nhưng, sáng ngày 09/5/2017 qua trao đổi với PV, ông Trần Nha phủ nhận toàn bộ việc BQL chặt cây. Khi PV hỏi ông có thấy cây chặt nằm ở bên đường hay không (cách phòng làm việc của ông Nha độ 50 m)? Ông Nha trả lời là không thấy. Và ông Nha cho rằng đó là dân tự chặt và tự chở đi. Một sự mâu thuẫn đến lạ kỳ và thật khó hiểu!? 

Chúng tôi sẽ tiếp tục phản ánh vụ việc. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 10/5) Về đầu trang

Tháng 4, toàn tỉnh xảy ra 10 vụ vi phạm lâm luật

Trong tháng 4-2017, lực lượng kiểm lâm tiếp tục tham mưu ban bảo vệ rừng các cấp duy trì thực hiện tuyên truyền bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, đặc biệt đối với công nhân trong các dự án đang ủi khai hoang chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Cụ thể, đã phát thanh cố định 39 lượt; phát thanh lưu động 10 lượt tuyên truyền các văn bản liên quan đến bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng; tuyên truyền người dân không vào rừng khai thác lâm sản trái pháp luật; cho làm cam kết bảo vệ rừng với 5 đối tượng.

Mặc dù ngành chức năng đã nâng cao hiệu quả tuyên truyền, nhưng trong tháng qua trên địa bàn tỉnh vẫn xảy ra 10 vụ vi phạm lĩnh vực quản lý lâm sản, tăng 3 vụ so với tháng trước; không xảy ra cháy rừng, phá rừng, lấn chiếm rừng trái phép. Cơ quan chức năng đã xử lý hành chính 7 vụ vi phạm lâm luật (có 2 vụ tồn của tháng trước chuyển qua). Lâm sản và phương tiện thu hồi gồm: 4,124m3 gỗ các loại, 265 trụ tiêu, 2.685 ster củi, 1 cưa xăng, 1 xe máy, 1 xe đạp thồ. Tổng tiền thu nộp 34,15 triệu đồng. Ngành nông nghiệp thường xuyên phối hợp với đơn vị liên quan kiểm tra, đôn đốc các đơn vị cơ sở nâng cao hiệu quả phòng, chống cháy rừng mùa khô năm 2017.

Cũng trong tháng 4, ngành nông nghiệp tỉnh đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát số liệu quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn tỉnh. Phê duyệt hồ sơ thiết kế và cấp phép khai thác rừng trồng keo lai tại khoảnh 2, Tiểu khu 114 thuộc Công ty TNHH MTV cao su Phước Long, diện tích khai thác 8 ha, sản lượng khai thác: gỗ nguyên liệu 793,68m3, củi 243 ster; gia hạn khai thác tận dụng lồ ô tại các khoảnh 3, 4, 5 Tiểu khu 41, các khoảnh 2, 4, 5, 6, 7, 8, 9, Tiểu khu 43 thuộc Công ty TNHH MTV cao su Phước Long. (Báo Bình Phước 10/5) Về đầu trang

Hội nghị chuyên đề của Liên minh nghị viện thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Từ ngày 11-13/5, Hội nghị chuyên đề của Liên minh nghị viện thế giới (IPU) khu vực châu Á-Thái Bình Dương về “Ứng phó với biến đổi khí hậu - hành động của các nhà lập pháp nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững” sẽ diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Biến đổi khí hậu đang là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương và có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn, nhất là đối với người nghèo, những đối tượng dễ tổn thương và đặc biệt là đối với phụ nữ. Việc nhận định rõ những thách thức này là hết sức cần thiết để bảo đảm sự phát triển bền vững trong khu vực.

Hiện nay, Quốc hội các nước đang phát huy vai trò dẫn dắt trong việc giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu. Thông qua hoạt động lập pháp, giám sát, quyết định ngân sách và thực hiện chức năng đại diện, Quốc hội sẽ đề xuất và bảo đảm việc thực hiện các kế hoạch phát triển bền vững của quốc gia và khu vực.

Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị lần này diễn ra trong bối cảnh đã tổ chức thành công Đại hội đồng IPU- 132 vào năm 2015 với việc thông qua Tuyên bố Hà Nội “Các Mục tiêu Phát triển bền vững: Biến lời nói thành hành động”. Những vấn đề then chốt của Tuyên bố Hà Nội đã được phản ánh trong các văn kiện quan trọng của Hội nghị Thượng đỉnh các Chủ tịch Quốc hội trên thế giới lần thứ tư vào tháng 9/2015.

Bên cạnh đó, trong năm 2016, IPU đã phối hợp với các Nghị viện thành viên tổ chức một số hội thảo chuyên đề triển khai việc thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) như Hội thảo khu vực về Nghị viện và việc thực hiện các SDGs tại Bucharest, Rumani (18- 19/4/2016); Hội thảo liên khu vực về tăng cường năng lực nghị viện và thúc đẩy thực hiện các SDGs tại Bắc Kinh, Trung Quốc (18- 20/9/2016);

Hội thảo khu vực Mỹ La tinh và Caribe về vai trò của các Nghị viện trong việc đạt được các SDGs đồng thời giảm bất bình đẳng giữa các quốc gia và trong một quốc gia tại Panama (1- 2/12/2016) và dự kiến tổ chức Hội thảo khu vực Trung và Đông Âu, Trung Á về Nghị viện và việc thực hiện các SDGs tại Budapest, Hungary (23- 24/2/2017). IPU cũng phối hợp với Liên Hợp Quốc tổ chức Hội nghị Nghị viện hàng năm trong khuôn khổ Hội nghị Biến đổi khí hậu.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương do nước biển dâng. Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước.

Tham dự Hội nghị dự kiến có: Chủ tịch Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) Saber Chowdhury; Tổng Thư ký IPU Martin Chungong; Chủ tịch Thượng viện kiêm Chủ tịch Quốc hội Myanmar Mahn Win Khaing Than; Chủ tịch Hạ nghị viện Philippinesn Alvarez Pantelon; Chủ tịch Quốc hội Timor Leste Aderito Hugo Da Costa; Tổng Thư ký Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á (AIPA) Isra Sunthornvut và hơn 200 đại biểu đến từ Quốc hội của 24 nước trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương, cùng các đại diện của các tổ chức quốc tế... Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước ta Nguyễn Thị Kim Ngân sẽ tham dự và chủ trì hội nghị.

Trong 3 ngày làm việc, Hội nghị sẽ sẽ tập trung vào bốn nhóm nội dung, gồm: Thảo luận về các mục tiêu phát triển bền vững tập trung vào Mục tiêu về bình đẳng giới và sức khỏe trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu; Thảo luận về các thách thức, cơ hội và hành động ứng phó với biến đổi khí hậu; Thảo luận về các cam kết quốc tế và vai trò của các cơ quan lập pháp và việc huy động các nguồn lực để thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững nói chung và ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng. Kết quả của Hội nghị sẽ được chuyển đến Đại hội đồng IPU, trong đó khuyến nghị các giải pháp và hành động của Quốc hội, Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế cùng ứng phó với biến đổi khí hậu.

Nhân dịp Hội nghị này, Quốc hội Việt Nam sẽ phối hợp với IPU tổ chức Lễ công bố Bộ tiêu chí tự đánh giá việc thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững dành cho các Nghị viện do IPU cùng UNDP xây dựng; Lễ chuyển giao chức Chủ tịch Diễn đàn Nghị viện châu Á- Thái Bình Dương (APPF) giữa Quốc hội Fiji và Quốc hội Việt Nam.

Các đại biểu tham dự Hội nghị cũng sẽ dành thời gian đi thăm thực địa rừng ngập mặn tại huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh để có thể tận mắt chứng kiến, có những trải nghiệm thực tế về tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam, cũng như chứng kiến sự tích cực, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu của người dân Việt Nam nói chung và của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.

Để đảm bảo công tác thông tin tuyên truyền, Văn phòng Quốc hội sẽ thành lập Trung tâm Báo chí tại Trung tâm Hội nghị GEM, Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần tạo điều kiện cho phóng viên trong nước và quốc tế thông tin nhanh chóng, kịp thời về các hoạt động của Hội nghị. (TTXVN/Tin Tức Online 11/5) Về đầu trang

Quảng Ngãi “xẻ thịt” rừng dừa trăm tuổi để làm dự án bột giấy

Rừng dừa Cà Ninh, ‘lá phổi xanh’ của khu kinh tế Dung Quất, cái nôi cách mạng của địa phương đang chuẩn bị được ‘xẻ thịt’ để phục vụ dự án bột giấy.

Trời chiều, rừng dừa nước bạt ngàn trải một màu xanh thẳm. Thấp thoáng dưới bóng dừa, người dân địa phương với chiếc thuyền nan đánh rớ, thả cá.

Cuộc mưu sinh của hơn 120 hộ dân thôn Phú Long, xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi chủ yếu dựa vào rừng dừa nước này.

Ông Phạm Ngọc Tích (70 tuổi), người dân địa phương cho biết, tuổi thơ ông trải qua những tháng ngày mò cua, bắt cá trong khu rừng ngập mặn trước nhà đem bán lấy tiền mua gạo. Ngày ấy, những tán dừa nước đã cao quá đầu. Thi thoảng có người chèo ghe cắt lá dừa về lợp nhà.

Nửa thế kỷ trôi qua, rừng dừa chỉ rậm ra chứ không cao thêm được bao nhiêu. Để có được rừng dừa nước như ngày hôm nay phải mất cả trăm năm.

Vậy mà giờ đây, khu rừng dừa nước này có nguy cơ “xóa sổ” để phục vụ cho Dự án Nhà máy bột giấy VNT 19.

Ông Phạm Ngọc Tích lo lắng: “Ruộng đất, vùng nước ngọt rất là ít, vùng nước mặn xâm nhập vào nên không thể làm gì được, chỉ có nghề cắt lá dừa bán và nghề chài lưới. Khi thu hồi, mình biết sinh sống bằng nghề gì? Tương lai sau này con cháu nữa chứ không riêng chi mình”.

Để đáp ứng cho việc xây dựng hồ chứa nước rộng 85 ha do Công ty CP Bột- Giấy VNT 19 làm chủ đầu tư, UBND tỉnh Quảng Ngãi ra quyết định thu hồi 86ha rừng ngập mặn tại thôn Phú Long, xã Bình Phước. Trong đó, 50ha thuộc khu vực rừng dừa nước Cà Ninh, gần 9ha đất ruộng, còn lại là diện tích mặt nước.

Ông Nguyễn Quang Vũ - Phó Chủ tịch UBND xã Bình Phước, huyện Bình Sơn cho biết, sau khi tiến hành họp dân, đa số những hộ có diện tích nằm trong vùng Dự án đều đồng tình. Đã có 7 hộ nhận tiền đền bù, với số tiền hơn 9 tỷ đồng, trên tổng số 147 hộ nằm trong vùng dự án.

Theo ông Nguyễn Quang Vũ, người dân phản đối vì khu vực rừng ngập mặn này gắn liền với cuộc sống của bà con.

 “Trong kháng chiến thì đây là cái nôi cách mạng. Địa phương mong muốn, chủ đầu tư khi thực hiện dự án nên để lại một phần diện tích dừa, còn lại nạo vét luồng lạch chứa nước thô”, ông Nguyễn Quang Vũ cho hay.

Bù lại diện tích dừa nước đã cấp cho Công ty CP Bột - Giấy VNT 19 xây dựng hồ chứa nước, UBND tỉnh Quảng Ngãi cho triển khai dự án trồng rừng ngập mặn tại các xã: Bình Phước, Bình Đông, Bình Dương (của huyện Bình Sơn) với tổng diện tích hơn 45ha. Trong đó, diện tích trồng mới gần 36ha.

Ông Võ Thắm - Phó Chủ tịch Thường trực HĐND huyện Bình Sơn cho biết, đại biểu HĐND tiếp xúc cử tri xã Bình Phước. Nhiều ý kiến thắc mắc vì sao tỉnh lại thu hồi diện tích rừng dừa hàng trăm năm tuổi để trồng mới tại một địa điểm cách đó không xa.

Ông Võ Thắm cho rằng, với trách nhiệm của mình, HĐND ghi nhận, tiếp thu và có trả lời. Cấp thẩm quyền thu hồi, đền bù, xây dựng thuộc cấp tỉnh. Về nguyên tắc, thuộc lĩnh vực của huyện, ngoài việc trả lời trực tiếp tại tiếp xúc cử tri thì HĐND trả lời bằng văn bản.

“Nếu thuộc cấp tỉnh, cấp Trung ương thì chúng tôi tập hợp lại bằng văn bản gởi lên đúng thẩm quyền và các cơ quan này sẽ có văn bản trả lời”, ông Thắm trình bày.

Việc tỉnh Quảng Ngãi thu hồi phần lớn diện tích rừng ngập mặn cấp cho doanh nghiệp gây nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận.

Đáng lo hơn, Công ty CP Bột - Giấy VNT 19 dự kiến lắp đặt đường ống ngầm xả thải trực tiếp ra vịnh Việt Thanh (thuộc xã Bình Trị, huyện Bình Sơn).

Bà Hà Thị Anh Thư - Bí thư Huyện ủy Bình Sơn cho biết, khu vực dự án thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất, do đó, trách nhiệm trước hết thuộc về lãnh đạo ban này.

Dự án Nhà máy bột giấy do Công ty CP Bột- Giấy VNT19 làm chủ đầu tư được UBND tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy phép đầu tư cách đây gần 6 năm, công suất giai đoạn 1 là 250.000 tấn bột giấy tẩy trắng/năm. Sau đó nhà đầu tư điều chỉnh quy mô công suất giai đoạn1 lên 350.000 tấn bột giấy tẩy trắng/năm.

Theo báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đã được Bộ Tài nguyên - Môi trường phê duyệt vào tháng 9/2015, vị trí xả nước thải của dự án tại vịnh Việt Thanh, cách bờ biển khoảng 500m-1.500m. Ai dám chắc điều gì sẽ xảy ra khi nhà máy đi vào hoạt động và xả thải ra môi trường. (VOVNews 11/5) Về đầu trang

Bảo vệ an toàn tuyệt đối các khu rừng gắn với khu di tích lịch sử

Đó là chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Xuân Đường - Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh tại cuộc kiểm tra tình hình phòng chống cháy rừng tại Nam Đàn chiều 10/5.

Tại đây, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh cùng đoàn công tác đã tiến hành kiểm tra công tác PCCCR tại khu vực trọng điểm khu di tích mộ Bà Hoàng Thị Loan và một số xã: Nam Giang, Nam Lộc, Khánh Sơn, Nam Kim. Qua kiểm tra, Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cụ thể và chấn chỉnh một số việc cần phải triển khai trong thời gian tới.

Huyện Nam Đàn có 5.624 ha đất có rừng, chủ yếu là rừng trồng thông nhựa, là một loài cây rất dễ bắt lửa, dễ cháy với tốc độ lan tràn lửa nhanh. Mặc dù diện tích rừng không lớn, nhưng gắn với nhiều khu di tích lịch sử quan trọng như khu mộ Bà Hoàng Thị Loan; khu lăng mộ Vua Mai Hắc Đế và tiếp giáp với các huyện thường xảy ra cháy rừng như Thanh Chương, Đô Lương, Hưng Nguyên và Hương Sơn (Hà Tĩnh).

Bình quân mỗi năm trên địa bàn huyện xảy ra 05 vụ cháy, năm ít có 03 vụ, năm nhiều có 08 vụ cháy, tập trung nhiều các xã Nam Lộc, Nam Kim và Khánh Sơn.

Báo cáo tại cuộc làm việc, lãnh đạo huyện Nam Đàn cho biết: Thực hiện công tác Bảo vệ & Phát triển rừng, Nam Đàn đã kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của huyện; Xây dựng Quy chế hoạt động và thông báo phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên; Xây dựng Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2017. Đồng thời UBND huyện đã tổ chức làm việc với Đảng ủy, UBND xã Khánh Sơn (xã trọng điểm để xẩy ra nhiều vụ cháy rừng năm 2016) để bổ cứu một số nội dung trong công tác PCCCR năm 2017, trong đó đã yêu cầu UBND xã, Ban quản lý rừng đặc dụng dừng khai thác nhựa thông trong năm 2017 để chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại trong khai thác.

"Toàn huyện đã tổ chức đốt trước vật liệu cháy được 662 ha, phát dọn thực bì dưới tán rừng thông 450 ha trên địa bàn các xã Nam Giang, Kim Liên, Vân Diên, Nam Thái, Nam Tân, Nam Lộc, Khánh Sơn, Nam Hưng, Nam Nghĩa. Trong quý I/2017, BQL rừng đặc dụng hoàn thiện hồ sơ thiết kế đường băng bê tông tại khu lăng mộ vua Mai Hắc Đế và khu mộ bà Hoàng Thị Loan đã được phê duyệt và triển khai thực hiện. Tuy nhiên vùng giáp ranh nguy cơ cháy lan theo hướng gió Tây Nam thổi từ Hà Tĩnh sang rất cao, do đó đề nghị tỉnh đầu tư xây dựng đường băng cản lửa để phòng ngừa" - ông Hồ Sỹ Hải - Phó chủ tịch UBND huyện cho biết.

Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Hoàng Quốc Việt - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết Nghệ An là địa phương có diện tích rừng thông lớn nhất cả nước - loại cây dễ cháy nhất trong mùa nắng nóng. Hiện nay công tác PCCCR năm 2017 đã được xây dựng, triển khai. Lực lượng kiểm lâm trực 24/24h, đóng thường xuyên ở trạm Nam Giang (Nam Đàn).

"Đặc điểm Nghệ An về mùa hè nắng nóng, khốc liệt kéo dài, hạn hán, nhiệt độ cao, độ ẩm không khí thấp, gió Lào thổi mạnh rất dễ cháy rừng. Về chủ quan, nhiều vụ cháy thời gian qua cơ bản do lỗi đốt rừng cố ý của người dân, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, phát sinh trong các quan hệ như: tranh chấp quyền sử dụng rừng, đất rừng, quyền lợi khai thác nhựa thông, quyền lợi trong giao khoán bảo vệ rừng, mâu thuẫn giữa cán bộ và người dân… Thực tế các vụ việc đốt rừng cố ý xảy ra lâu nay, vẫn chưa điều tra được nguyên nhân thủ phạm đốt rừng để xử lý, nhằm giáo dục răn đe" - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết.

Sau khi kiểm tra thực địa và nghe báo cáo của các đơn vị liên quan, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Xuân Đường nhấn mạnh: Năm 2017 nhuần 2 tháng 6, nên dự báo thời tiết có thể nắng nóng, khô hạn kéo dài, đe dọa đến an toàn các khu rừng trên địa bàn tỉnh. Do đó, Sở Nông nghiệp &PTNT và chỉ đạo các đơn vị, địa phương liên quan bảo vệ an toàn tuyệt đối các khu rừng gắn với khu di tích lịch sử văn hóa của tỉnh như khu mộ bà Hoàng Thị Loan; khu rừng khu mộ Vua Mai Hắc Đế, và các công trình lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện.

Nam Đàn cần phối hợp chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư thôn về công tác PCCCR; ký cam kết trong cộng đồng dân cư và thanh thiếu niên học sinh. Chỉ đạo xây dựng phương án PCCCR của chủ rừng, UBND các xã vùng trọng điểm, thực hiện tốt phương án 4 tại chỗ...

Đối với các vụ cháy rừng xẩy ra, chỉ đạo công an huyện lập chuyên án điều tra thủ phạm gây ra các vụ cháy để xử lý nghiêm. Đồng thời, kiểm điểm trách nhiệm cá nhân và rút kinh nghiệm từng vụ cháy.

Chủ tịch UBND tỉnh đồng ý xây dựng đường băng cản lửa đủ lớn đề phòng cháy lan giáp ranh theo hướng gió Tây Nam từ huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh và huyện Thanh Chương, kết hợp làm đường di chuyển người và phương tiện chữa cháy rừng trong năm 2017; giao Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Đàn làm chủ đầu tư.

"Thời gian qua, cấp ủy đảng, chính quyền huyện Nam Đàn đã chỉ đạo quyết liệt đồng bộ các giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng; chú trọng làm tốt phương án 4 tại chỗ trong PCCCR từ cơ sở thôn, xã và chủ rừng.  Hy vọng năm 2017 huyện Nam Đàn sẽ làm tốt công tác PCCCR, xóa và chấm dứt "điểm nóng" về tình trạng cháy rừng trên địa bàn" - Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh. (Baonghean.vn 11/5) Về đầu trang

Lo ngại nguy cơ hổ được buôn bán hợp pháp tại Trung Quốc

Trong thời gian tới, Cục Quản lý Lâm nghiệp Trung Quốc (SFA) sẽ chính thức công bố rằng liệu hổ có nằm trong danh sách các loài nguy cấp được phép nuôi nhốt hợp pháp và khai thác lấy da, xương, răng và móng hay không.

Các điều khoản trong Luật Bảo vệ Động vật Hoang dã mới ban hành của Trung Quốc bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1 năm nay chưa nêu rõ những loài được bảo vệ nào được phép buôn bán một cách hợp pháp ở Trung Quốc. Theo bà Debbie Banks, chuyên gia về hổ tại Cơ quan điều tra Môi trường (EIA) tại London, Cục Quản lý Lâm nghiệp Trung Quốc hiện đang tiến hành xây dựng danh sách này.

Khoảng 6.000 con hổ hiện đang được nuôi nhốt tại hơn 200 trang trại ở Trung Quốc. Việc nuôi hổ để buôn bán các bộ phận và sản phẩm từ hổ là trái với Quyết định năm 2007 của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) – hiệp định quốc tế được ký kết bởi 183 quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc.

Theo luật Trung Quốc, chăn nuôi hổ quy mô lớn là hợp pháp, nhưng buôn bán các bộ phận của hổ thì bất hợp pháp. Tuy nhiên, từ năm 2004, Cục Quản lý Lâm nghiệp đã ban hành giấy phép bán da từ hổ nuôi nhốt để sử dụng cho mục đích “giáo dục” hoặc “khoa học”. Đây chính là lỗ hổng pháp lý mà thị trường chợ đen có thể lợi dụng. EIA đã phát hiện ra hàng loạt vụ lạm dụng giấy phép để bán da hổ cho khách hàng tư nhân và tiếp tục tái sử dụng giấy phép, khiến cho việc “rửa da” hổ hoang dã trở nên dễ dàng. Thậm chí một số kẻ đi buôn còn không có bất kì giấy tờ nào.

Nhiều cơ sở lai tạo hổ nuôi thương mại cung cấp cho rạp xiếc, vườn thú và nhiều điểm tham quan khác những con vật trưng bày để phục vụ du khách. Trong nhiều năm qua, nhiều nhóm bảo tồn và các phương tiện truyền thông đã phản ánh điều kiện sống khắc nghiệt tại các cơ sở này, với những chú hổ hốc hác chỉ còn da bọc xương, một số bị biến dạng do thiếu dinh dưỡng và giao phối cận huyết, bị nhốt trong những chiếc cũi bằng bê tông như các nhà tù.

Những con hổ không cần phải khỏe mạnh. Chúng được nuôi lớn nhằm mục đích sinh lời từ các bộ phận, đôi khi lên tới quy mô công nghiệp. Những trang trại nhân giống không đảm bảo có phương thức lai tạo tốc độ bằng cách tách con con khỏi mẹ của chúng ngay sau khi sinh, để con cái có thể nhanh chóng sinh ra một con hổ khác. Hai trong số những trang trại gây giống lớn nhất, với ít nhất 1.000 con hổ ở mỗi trang trại, được thành lập với kinh phí từ Cục Quản lý Lâm nghiệp Trung Quốc – cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ động vật hoang dã, đồng thời giám sát và quảng bá việc nuôi hổ.

Các sản phẩm từ hổ đã được sử dụng trong y học truyền thống Trung Quốc từ hàng thiên niên kỉ. Gần như mọi bộ phận của loài động vật này được sử dụng trong hầu hết bài thuốc trị các bệnh từ sốt, viêm khớp cho đến lở loét, ác mộng, hói đầu hay bất lực.

Thị trường các loại thuốc truyền thống từ hổ tăng vọt trong những năm 1990 song song với sự phát triển của tầng lớp trung lưu ở Trung Quốc- tầng lớp có đủ khả năng chi trả cho các sản phẩm đắt tiền. Để đáp ứng nhu cầu này, một số lượng lớn hổ hoang dã đã bị đặt bẫy, bắn chết và đầu độc, trong khi các trang trại hổ ở Trung Quốc tăng theo cấp số nhân.

Giá trị của các sản phẩm từ hổ tiếp tục tăng nhanh và hiện đang chiếm một thị phần nhỏ trên thị trường chợ đen. Tuy nhiên, nhu cầu đã thay đổi từ mục đích chữa bệnh trở thành biểu tượng của sự giàu có và quyền lực. Thiết đãi rượu xương hổ cũng giống như loại sâm panh thượng hạng Dom Pérignon. Những chai đắt nhất thậm chí còn được sưu tập như một khoản đầu tư, theo tiết lộ của chuyên gia về hổ  J.A. Mills, tác giả cuốn Blood of the Tiger (Máu Của Hổ).

Da hổ cũng thường được sử dụng làm quà cho các quan chức cấp cao hoặc giúp ký kết một hợp đồng kinh doanh. Trang trí bằng da hổ cũng giống như khoe một chiếc đồng hồ Rolex hoặc treo một bức tranh của họa sĩ Rembrandt. Theo tờ South China Morning Post, chứng kiến một con hổ bị giết, nấu chín, rồi sau đó ăn thịt là một hình thức đang trở nên phổ biến trong giới doanh nhân và các quan chức giàu có Trung Quốc.

Nhu cầu tăng, giá cả tăng, tất nhiên sẽ làm gia tăng nạn săn bắt. Thế giới hiện chỉ còn lại chưa đến 4.000 con hổ sống trong môi trường hoang dã, với khoảng 60 % tồn tại ở “thành trì” cuối cùng – Ấn Độ. Thế nhưng, nạn săn bắt hổ tại quốc gia này đã đạt tới mức cao nhất trong vòng 15 năm vào hồi năm ngoái.

Trong một cuộc họp CITES vào năm 2014, các đại biểu Trung Quốc thừa nhận có cấp giấy phép kinh doanh da thú, mặc dù không tiết lộ đã ban hành bao nhiêu giấy phép. Năm 2015, họ cũng thừa nhận không có khả năng giám sát các hoạt động buôn bán. Các quan chức cũng không đưa ra bình luận về các nhà máy rượu ở Trung Quốc hiện đang sản xuất rượu xương hổ, bất chấp lệnh cấm bán xương hổ vào năm 1993.

Nếu Cục Quản lý Lâm nghiệp cho phép nuôi nhốt hổ hợp pháp trong bộ luật về động vật hoang dã mới sửa đổi, khi đó trách nhiệm cấp giấy phép sẽ được chuyển từ chính phủ xuống các tỉnh, khiến việc giám sát càng trở nên hạn chế. Theo bà Banks, bi kịch cho loài hổ và thảm hoạ đối với những chú hổ hoang dã sẽ ngày càng tồi tệ hơn.

Tại cuộc họp thường niên cấp cao ở Bắc Kinh, lần đầu tiên vấn đề nuôi hổ đã được đưa ra. Ông Yuan Xikun, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính trị Nhân dân Trung Quốc đã đề xuất đóng cửa các cơ sở chăn nuôi hổ thương mại, đồng thời chỉ ra các tác động tiêu cực đến việc bảo tồn hổ hoang dã, gây tổn hại cho danh tiếng đất nước và vi phạm luật pháp quốc gia.

Liệu cuộc thảo luận cấp cao này có giúp đưa hổ ra khỏi danh sách được buôn bán hợp pháp của Cục Quản lý Lâm nghiệp hay không? Bà Banks cho rằng, nếu việc nuôi nhốt hổ tại Trung Quốc thu hút được sự chú ý từ các nhà lãnh đạo Trung Quốc, các nước trên thế giới, các phương tiện truyền thông quốc tế và Trung Quốc, cùng các tổ chức bảo tồn toàn cầu, đây có thể là niềm hy vọng còn sót lại cho loài hổ. (ThienNhien.Net 10/5;Baovemoitruong.org.vn 10/5) Về đầu trang

Hơn 10.000 doanh nhân cam kết bảo vệ thiên nhiên hoang dã

Đội ngũ Giảng viên cao cấp Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nỗ lực tuyên truyền và khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam thực hiện trách nhiệm xã hội bảo tồn thiên nhiên hoang dã sau hơn 2 năm thực hiện với hơn 10.000 doanh nhân tham gia.

VCCI và Mạng lưới giám sát buôn bán động, thực vật hoang dã – Tổ chức TRAFFIC đã tổ chức Khóa đào tạo giảng viên lần thứ 3 tại Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh. Hoạt động do Quỹ Peace Parks Foundation tài trợ hướng tới hoàn thiện năng lực và kỹ năng cho đội ngũ giảng viên cao cấp trong việc khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp lồng ghép nội dung về bảo vệ thiên nhiên hoang dã trong chính sách trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR).

Từ tháng 6/2015, hơn 10.000 doanh nhân đã tham gia hơn 240 khóa đào tạo lồng ghép nội dung về bảo vệ thiên nhiên hoang dã trong chính sách trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại 45 tỉnh/thành phố trên cả nước. Sau các khóa học, nhiều doanh nhân có tầm ảnh hưởng đã trở thành những đại sứ của Sáng kiến bảo vệ động, thực vật hoang dã. Các doanh nhân không chỉ cam kết không buôn bán và tiêu thụ trái phép các giống loài động, thực vật hoang dã quý hiếm, mà còn chung tay ngăn chặn hành vi đang gây ra nhiều ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học này.

"Chí là một sáng kiến tiếp thị xã hội nhằm giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác và các giống loài hoang dã khác tại Việt Nam. Với sự hỗ trợ của VCCI, đây là năm thứ ba TRAFFIC tổ chức khóa đào tạo giảng viên với mong muốn tiếp tục lan tỏa thái độ không khoan nhượng đối với hành vi tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã và các thông điệp thay đổi hành vi bảo vệ thiên nhiên hoang dã.

Theo bà Madelon Willemsen - Trưởng Đại diện Tổ chức TRAFFIC tại Việt Nam: “Đội ngũ giảng viên cao cấp của VCCI đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền bá thông điệp của Sáng kiến Sức tại Chí. Qua khóa đào tạo, giảng viên được cung cấp các thông tin, số liệu cập nhật về các vấn đề bảo tồn thiên nhiên hoang dã. Đồng thời, giảng viên cũng có cơ hội chia sẻ các bài học kinh nghiệm thu được từ hơn 140 khóa học đã tham gia giảng dạy kể từ Khóa đào tạo giảng viên lần thứ 2. Khóa đào tạo cũng giúp đơn vị tổ chức và đội ngũ giảng viên cùng rà soát, đánh giá tính hiệu quả và hoàn thiện cơ chế và phương thức lồng ghép nội dung về bảo vệ thiên nhiên hoang dã trong chính sách trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nhằm hỗ trợ ngăn chặn tội phạm về động, thực vật hoang dã tại Việt Nam.”

Khóa đào tạo cũng tập trung cung cấp kiến thức về xu thế khởi nghiệp, vai trò của CSR như một công cụ quản lý doanh nghiệp hiệu quả và các phương pháp nhằm thay đổi hành vi người tiêu dùng.

Bà Lê Thị Thu Thủy - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, VCCI cho biết: VCCI hiểu tầm quan trọng của việc xây dựng và quản lý doanh nghiệp một cách có trách nhiệm. Một chính sách trách nhiệm xã hội tốt không chỉ đem lại lợi ích cho chính các doanh nghiệp mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh vững mạnh trên toàn cầu. VCCI mong muốn các doanh nghiệp có cơ hội và đủ năng lực nâng cao và hoàn thiện vị thế của doanh nghiệp mình thông qua các hoạt động có trách nhiệm đối với các vấn đề về xã hội và môi trường. (Thuonggiaonline.vn 10/5) Về đầu trang

24 tình nguyện viên tham gia bảo tồn rùa biển ở đảo Hòn Cau

24 tình nguyện viên vừa trúng tuyển tham gia chương trình “Tình nguyện viên bảo tồn rùa biển 2017 tại Khu bảo tồn biển Hòn Cau”, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

Theo Ban quản lý Khu bảo tồn biển Hòn Cau, sau khi cân nhắc và lựa chọn dựa trên tiêu chí đã công bố của chương trình, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã chọn được 24 tình nguyện viên (TNV) cho 3 chương trình, mỗi chương trình kéo dài 5 ngày, triển khai từ ngày 27-5 đến ngày 5-7.

Chương trình nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị và tầm quan trọng của bảo tồn biển, bảo tồn rùa biển thông qua việc tạo cơ hội cho các TNV tham gia vào công tác tuần tra, bảo vệ rùa biển tại các bãi đẻ tại đảo Hòn Cau.

Trong 5 ngày tham gia chương trình, các TNV sẽ tham gia lớp tập huấn nhanh về công tác bảo tồn rùa biển; tham gia tuần tra rùa biển lên đẻ tại các bãi đẻ, giúp cán bộ Khu bảo tồn thực hiện đo đạc kích thước, gắn thẻ đánh dấu rùa mẹ, di dời ổ trứng, giúp thả rùa con về biển và hướng dẫn khách du lịch trong công tác giữ gìn vệ sinh trên đảo…

 Vùng biển Tuy Phong nói chung và khu vực đảo Hòn Cau nói riêng là bãi đẻ của các loài rùa biển khi đến mùa sinh sản. Năm 2013 Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Hòn Cau đã phát hiện 10 cá thể rùa biển lên khu vực đảo sinh sản và đã bảo vệ thành công các ổ trứng; năm 2014 phát hiện 3 cá thể rùa biển lên đẻ trứng; năm 2015 có 10 cá thể lên bãi đẻ và 2016 có 13 cá thể rùa mẹ lên sinh sản tại đảo Hòn Cau.

Thời gian qua, mặc dù Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Hòn Cau đã tuyên truyền, ngăn chặn và xử lý nhiều trường hợp vi phạm khu vực bảo tồn nhưng vẫn còn một số đối tượng lén lút hoạt động đánh bắt hải sản tại khu vực rùa sinh sản nên thường bị mắc vào lưới của các đối tượng này (vừa vô ý, vừa cố ý). (Tin Môi Trường 10/5) Về đầu trang

 Thừa Thiên Huế: Nhiều diện tích rừng phòng hộ ven biển bị lấn chiếm

Thời gian gần đây, tình trạng nhiều người dân làng Thai Dương Hạ (xã Hải Dương, TX. Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế) lấn chiếm đất rừng phòng hộ ven biển Hải Dương để xây dựng hàng quán kinh doanh, buôn bán diễn ra tràn lan. Điều này không những vi phạm pháp luật về đất đai, quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ; mà còn khiến nguy cơ sạt lở bờ biển tăng cao, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.

Có mặt tại đây để ghi nhận tình hình, PV chứng kiến nhiều khoảnh đất thuộc diện tích rừng phòng hộ ven biển Hải Dương đã bị hàng chục hộ dân ở thôn Thai Dương Hạ chiếm dụng để cơi nới, xây dựng hàng quán bằng bê tông nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân. Xung quanh và bên trong phạm vi rừng phòng hộ, nhiều nhà ở, hàng quán trái phép liên tục “mọc” lên, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý và bảo vệ rừng.

Một người dân ở làng Thai Dương Hạ (xin được giấu tên) cho biết: “Nạn lấn chiếm đất rừng phòng hộ ven biển để dùng vào mục đích riêng không phải mới xảy ra, mà đã tồn tại hơn 1 năm qua. Lúc đầu, chỉ 1, 2 trường hợp lấn chiếm, lâu dần, thấy không có cơ quan nào xử lý dứt điểm nên người dân đua nhau làm theo.

Nghiêm trọng hơn, để thông thoáng trong việc xây dựng nhà ở, hàng quán, các hộ dân này đã thẳng tay đốn hạ nhiều gốc dương liễu được trồng hàng chục năm không thương tiếc. Việc đốn hạ như vậy sẽ gây ra rất nhiều hệ lụy, bởi dương liễu là cây được người dân trong xã trồng để chắn nạn cát bay, chắn gió và chống tình trạng biển xâm thực vào đất liền mỗi khi mùa bão lũ đến. Mấy năm trở lại đây, khu vực này đã mất đi một lượng lớn cây dương liễu được trồng để phòng chống thiên tai”.

Ngoài việc lấn chiếm đất rừng phòng hộ để sử dụng vào mục đích riêng, nhiều hàng quán tại khu vực này kinh doanh, buôn bán cho người dân và khách du lịch đến đây ăn uống, nghỉ dưỡng đã khiến một lượng lớn rác thải tại đây không được thu gom, vận chuyển đi nơi khác. Theo đó, toàn bộ số rác thải này được các chủ quán, hàng ăn đào nhiều hố lớn trong khu vực rừng phòng hộ rồi vứt thẳng xuống, điều này đã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, khiến người dân sống gần khu vực đó rất bức xúc.

“Hôi lắm! Mỗi khi đi qua đây, người dân chúng tôi đều phải bịt mũi, đi thật nhanh nếu không muốn ngửi mùi ô nhiễm từ các hố rác này. Nhà tôi nằm cách đó hàng chục mét, thế nhưng mỗi khi gió thổi là mùi hôi cứ thế bay vào nhà, khiến mọi người trong gia đình rất khó chịu. Chúng tôi mong muốn chính quyền cần sớm xử lý tình trạng vứt rác của các hộ kinh doanh này để người dân nơi đây yên tâm sinh sống”- anh Nguyễn Đ. bức xúc.

Liên quan đến việc này, ông Lê Xuân Hướng- Phó Chủ tịch UBND xã Hải Dương cho biết, trên địa bàn xã có trên 188 ha dương liễu được người dân trồng từ năm 1999. Đến năm 2006, tỉnh có chủ trương chuyển đổi toàn bộ diện tích dương liễu sang rừng phòng hộ ven biển và đã được đa số người dân đồng tình, ủng hộ.

 “Tuy nhiên, đầu năm 2017, lợi dụng phía chính quyền địa phương đang xử lý sự cố môi trường biển nên đã có 36 hộ dân ngang nhiên xây dựng hàng quán ăn uống tại khu vực rừng phòng hộ ven biển để kinh doanh. Theo quy định quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ ven biển, chỉ cho phép các hộ có thể dựng tạm lều bạt để phục vụ du khách trong mùa du lịch, sau đó thì tháo dỡ. Việc các hộ xây dựng nhà kiên cố để làm hàng quán trong diện tích rừng phòng hộ là trái với quy định, cần phải xử lý mạnh tay”- ông Hướng cho biết.

Cũng theo ông Hướng, hiện tại, phía chính quyền xã đã mới các hộ dân này lên làm việc để xử lý vi phạm, buộc phải tháo dỡ các hàng quán ăn uống xây dựng trái quy định. Đồng thời, tuyên truyền, vận động người dân chấp hành chủ trương, quy định trong việc quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ ven biển. Thời gian tới, nếu người dân cố tình vi phạm, không tuân thủ thì chính quyền địa phương sẽ tiến hành cưỡng chế tháo dỡ, xử lý.

“Còn về vấn đề rác thải từ các hàng quán xả ra gây ô nhiễm môi trường, trong thời gian tới chúng tôi sẽ cho người thường xuyên đến đây thu gom, đồng thời sẽ ký hợp đồng với công ty môi trường để xử lý rác từ các hộ kinh doanh xả ra, để người dân nơi đây yên tâm làm ăn và sinh sống”- ông Hướng thông tin thêm.

Có thể thấy, việc hàng chục người dân ở làng Thai Dương Hạ lấn, chiếm diện tích rừng phòng hộ ven biển để xây dựng hàng quán bằng bê tông kiên cố là hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ. Do đó, UBND xã Hải Dương, các phòng, ban liên quan và UBND thị xã Hương Trà cần kiểm tra, xử lý dứt điểm tình trạng này. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 10/5) Về đầu trang

50 ha rừng bị chặt phá ở Đắk Glong tỉnh Đắk Nông: Chính sách giao khoán rừng bị lợi dụng

Gần 50 ha rừng tự nhiên tại tiểu khu 1685 thuộc địa phận xã Quảng Sơn và Đắk Ha (Đắk Glong) bị đốn hạ trong thời gian dài. Việc phá rừng rầm rộ, với các thiết bị cơ giới, số người tham gia đông nhưng chính quyền sở tại dường như không hay biết. Nhận định ban đầu, các đối tượng này đã giả mạo hồ sơ, lợi dụng chính sách giao khoán đất rừng của nhà nước để tổ chức phá rừng công khai.

Ngày 5/5 ông Trần Nam Thuần – Phó Chủ tịch huyện Đắk Glong cho biết, vụ việc được Trạm Kiểm lâm quảng sơn phát hiện vào ngày 9/3, tiểu khu 1685, thuộc địa giới hành chính xã Quảng Sơn, xã Đăk Ha. Tại hiện trường có 11 vị trí rừng bị chặt phá với tổng diện tích hơn 46ha, cây rừng được tổ chức thu gom, đốt dọn. Đặc biệt các đối tượng đã đưa nhiều máy móc, phương tiện cơ giới vào phá rừng, làm đường...
Nhưng theo người dân địa phương việc phá rừng đã diễn ra cả tháng trước và người dân đã báo với chính quyền. Còn theo ông Thuần, chính quyền chậm vào cuộc là do kiểm lâm không báo cáo vụ việc kịp thời.

Theo UBND huyện Đắk Glong, đây là vụ phá rừng  đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp.

Về hướng xử lý vụ việc, ông Thuần cho biết: Trong thời gian tới Ủy ban nhân dân huyện sẽ chỉ đạo cơ quan chức năng khẩn trương khởi tố vụ án, điều tra các đối tượng liên quan để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. (Lao Động 10/5, tr3) Về đầu trang