Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 08/9/2017

Điểm báo ngày 08/9/2017

Cập nhật ngày : 08/09/2017 9:06:20 SA

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 08 tháng 9 năm 2017)

 Chung tay chống buôn bán bất hợp pháp động, thực vật hoang dã

Sáng 7-9, tại Hà Nội, Bộ Công an phối hợp Cơ quan quản lý CITES - Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Đại sứ quán Vương quốc Anh tại Việt Nam tổ chức Lễ khai mạc Hội thảo phòng, chống buôn bán trái pháp luật các loài động, thực vật hoang dã.

Những năm gần đây, công tác đấu tranh phòng, chống buôn bán trái pháp luật các loài động, thực vật hoang dã là chủ đề thường xuyên được đưa ra bàn thảo, đánh giá và xác định hợp tác chặt chẽ trong các cuộc gặp cấp cao, hội nghị, hội thảo quốc tế của Chính phủ Việt Nam.

Năm 2016, ghi dấu ấn đặc biệt trong mối quan hệ giữa Việt Nam - Anh với việc hai nước phối hợp tổ chức thành công “Hội nghị Hà Nội về chống buôn bán bất hợp pháp các loài động, thực vật hoang dã”; thể hiện quyết tâm, cam kết của các Bên trong vấn đề nóng bỏng, mang tính chất toàn cầu này.

Sáng kiến tổ chức Hội thảo lần này là một trong số các hoạt động thiết thực nhằm hiện thực hóa những cam kết của Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và các cơ quan hữu quan Vương quốc Anh với mục đích: Tăng cường sự giám sát và năng lực thực thi pháp luật của hai nước trong đấu tranh phòng, chống các hoạt động buôn bán động vật hoang dã; trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực trên.

Chia sẻ thông tin và kinh nghiệm giữa lực lượng Biên phòng của Vương quốc Anh, Hãng hàng không Anh (British Airways), đại diện của sân bay Heathrow và các lực lượng tương quan tại Việt Nam để thúc đẩy cách thức phối hợp phòng, chống vận chuyển trái phép các sản phẩm từ động vật hoang dã.

Hội thảo phòng, chống buôn bán trái pháp luật các loài động, thực vật hoang dã diễn ra trong hai ngày 7 – 8-9 với những nội dung chính được đưa ra trao đổi bao gồm: Cơ cấu của mỗi nước trong công tác đấu tranh phòng, chống các hoạt động buôn bán động vật hoang dã, vai trò và trách nhiệm đối với các cơ quan thực thi pháp luật;

Các kỹ chiến thuật nghiệp vụ áp dụng; Hợp tác giữa cơ quan thực thi pháp luật và các cơ quan vận hành sân bay và các hãng hàng không; Phương thức vận hành hợp tác toàn cầu. Phương thức giáo dục, tuyên truyền cho hành khách về nạn buôn bán trái pháp luật động vật hoang dã. (Công An Nhân Dân 8/9, tr3; Công An Nhân Dân Online 7/9) Về đầu trang

Phú Yên đề nghị kiểm điểm làm rõ sai phạm trong quản lý rừng

Liên quan đến việc chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ tại tỉnh Phú Yên, qua kiểm tra, Thanh tra Chính phủ phát hiện có nhiều sai phạm.

Thanh tra Chính phủ vừa có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ kết quả kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án liên quan đến việc chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ sang mục đích khác tại tỉnh Phú Yên. Qua kiểm tra 20 dự án, Thanh tra Chính phủ phát hiện có nhiều sai phạm, nghiêm trọng nhất là dự án New City.

Theo Thanh tra Chính phủ, một số dự án như: Khu du lịch liên hợp cao cấp New city Việt Nam, dự án khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng phục vụ thi công hầm Đèo Cả, dự án đường nối Quốc lộ 1A đi Bãi Xép, mặc dù chưa có quyết định giao đất, cho thuê đất nhưng đã triển khai thực hiện.

Mặc dù chưa được Thủ tướng cho phép chuyển mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ, đặc dụng, trong đó có dự án New City, tại xã An Phú, thành phố Tuy Hòa nhưng, tháng 3/2015, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên lại kết luận rằng các bộ, ngành trung ương đã thống nhất về nguyên tắc việc chuyển mục đích đất rừng phòng hộ 122 ha thuộc dự án New City.

Sau đó, tháng 5/2015, khi chưa có quyết định giao đất, cho thuê đất nhưng tỉnh Phú Yên đã cho phép chủ đầu tư san lấp khoảng 5 héc ta tại xã An Phú, thành phố Tuy Hòa để tổ chức lễ động thổ dự án New City. Chủ đầu tư đã chặt phá tổng cộng 5 héc ta rừng phi lao phòng hộ ven biển, đây là hành vi khai thác rừng trái phép.

Tỉnh Phú Yên cũng đã giao cho Công ty cổ phần Hải Thạch khai thác 2 héc ta rừng đặc dụng khi dự án này chưa có quyết định thu hồi, giao đất. Mặc dù chưa có quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng, tỉnh vẫn cấp phép cho công ty Hải Thạch khai thác khoáng sản trên 16 héc ta rừng đặc dụng đèo Cả thuộc khu vực cấm hoạt động khoáng sản. Hậu quả là 15 héc ta rừng đặc dụng bị chặt phá, khai thác mà không có giấy phép, không có quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng, chưa thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế.

Trước những sai phạm này, Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cùng thủ trưởng các ngành, địa phương có liên quan để xảy ra sai phạm.

Đồng thời, kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Công an làm rõ những vi phạm pháp luật về đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng của các sở, ngành liên quan và Chủ đầu tư tại dự án khai thác khoáng sản đất san lấp vật liệu xây dựng thông thường phục vụ thi công Hầm đường bộ đèo Cả của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hải Thạch, gây hậu quả 15 héc rừng đặc dụng bị chặt phá, khai thác khoáng sản sai quy định; nếu có các hành vi vi phạm pháp luật thì xử lý nghiêm.

Ông Lê Văn Hữu, Nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Yên cho biết: "Thanh tra Chính phủ kết luận tôi thấy quá thực tế, khách quan về những vấn đề sai phạm. Phải giữ kỷ cương, luật pháp. Phú Yên là tỉnh nghèo cần phát triển để đi lên, nhưng phát triển phải trên cơ sở tôn trọng luật pháp, kỷ cương phép nước. Ngoài phạm vi của tỉnh phải xin ý kiến Chính phủ. Chính phủ có đồng ý thì mới được làm để giữ vững kỷ cương". (Công An Nhân Dân 8/9, tr7; VOVNews 8/9) Về đầu trang

Đề nghị công an điều tra vụ phá 43,7 ha rừng tự nhiên tại Bình Định

Liên quan vụ phá 43,7 ha rừng tự nhiên tại tiểu khu 1, xã An Hưng (huyện An Lão, Bình Định), ngày 7/9, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão Đoàn Văn Tá cho biết Hạt Kiểm lâm đang tiến hành các thủ tục để khởi tố vụ án, đề nghị Cơ quan điều tra Công an vào cuộc điều tra vụ phá rừng này.

Đại diện Hạt Kiểm lâm huyện An Lão cho hay, khu vực rừng bị phá trắng tại các khoảnh 7 và 8, tiểu khu 1, thuộc sự quản lý của Ủy ban Nhân dân xã An Hưng (huyện An Lão). Tại vị trí thứ nhất (tại khoảnh 8) bị phá trắng 17,4 ha, nhiều cây gỗ có đường kính mặt cắt từ 10-35cm, chiều cao gốc chặt từ 0,3-0,6m, thân gỗ có chiều dài từ 8-12m bị đốn hạ; dụng cụ cưa hạ cây gỗ là cưa máy cầm tay; thời điểm phá rừng cách thời điểm kiểm tra chỉ 3-10 ngày nên lá cây rừng bị đốn hạ vẫn còn xanh, chưa kịp khô héo.

Tại vị trí thứ hai (cũng tại khoảnh 8) có diện tích rừng bị phá 13,1 ha, đối tượng phá rừng đã dùng xe cơ giới mở đường dài khoảng 500 m để tiện cho việc phá rừng. Các dấu hiệu phá rừng đều tương tự tại địa điểm thứ nhất với hàng loạt cây gỗ lớn và toàn bộ thực bì bị phá trắng. Hạt Kiểm lâm An Lão xác định thời điểm phá rừng cách thời điểm kiểm tra khoảng 30 ngày. Trong khu vực này, đã có 7 ha được các đối tượng trồng keo lai sau khi phá rừng.

Địa điểm rừng bị phá thứ 3 tại khoảnh 7, diện tích đã bị phá là 13,2 ha, được quy hoạch chức năng rừng phòng hộ. Hiện trạng cây gỗ và rừng bị phá tương tự tại hai điểm trên; cây gỗ bị hạ còn nguyên tại hiện trường, lá cây vẫn còn xanh, thân gỗ có chiều dài từ 8-11m.

Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão Đoàn Văn Tá cho hay, lực lượng liên ngành sẽ kiểm tra, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định để khởi tố vụ án. Ông Tá cũng khẳng định, ngay khi phát hiện vụ việc, Hạt Kiểm lâm huyện An Lão đã báo cáo với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, theo nguồn tin của phóng viên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định nhận được thông tin này qua sự chỉ đạo trực tiếp từ cấp trên.

Điều đáng nói là, tại khu vực này đã có hiện tượng phá rừng từ nhiều năm trước và với vụ việc này, những hoạt động ban đầu cũng đã được phát hiện khoảng 2 tháng trước, nhưng các ngành chức năng thiếu các giải pháp ngăn chặn. Tại khu vực rừng bị phá mới đây, lực lượng chức năng phát hiện một lều trại cùng với các dụng cụ nấu ăn, sinh hoạt hằng ngày.

Cũng theo Hạt Kiểm lâm huyện An Lão, một người tên là Thiệt ở xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn (Bình Định) đã lấn chiếm 30 ha rừng tự nhiên trước đó, gần khu vực vừa bị phá cũng thuộc khoảnh 8, tiểu khu 1 để trồng keo lai. Hiện keo lai do ông Thiệt trồng có tuổi đời từ 2-3 năm. Ông Thiệt là người đã thuê người ở xã Hoài Sơn phá rừng và thuê người ở Quảng Ngãi vào trồng keo lai trên diện tích rừng ông đã phá và lấn chiếm.

Như vậy, việc phá rừng tự nhiên ở khu vực rừng thuộc xã An Hưng đã kéo dài nhiều năm. Riêng vụ phá đến 43,7 ha này cũng kéo dài trong nhiều tháng, nhưng lực lượng chức năng không phát hiện sớm.

Trước thực trạng này, cùng với việc thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại văn bản số 9204/VPCP-NN ngày 30/8/2017 về việc đẩy mạnh kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm rừng tự nhiên bị phá, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định,Ủy ban Nhân dân huyện An Lão tiến hành làm rõ vụ việc (Đại Đoàn Kết 8/9, tr10; VietnamPlus.vn 7/9; Nông Thôn Ngày Nay 8/9, tr6; Người Lao Động 7/9, tr2; Đầu Tư 8/9, tr14) Về đầu trang

Thừa Thiên Huế cải thiện nguồn giống phát triển trồng rừng gỗ lớn

Thừa Thiên - Huế đang chú trọng phát triển giống cây lâm nghiệp, đầu tư thâm canh trồng rừng gỗ lớn đạt 13.000 ha vào năm 2020.

Tỉnh Thừa Thiên - Huế đang tiến hành cơ cấu các loại rừng theo hướng củng cố diện tích rừng đặc dụng hiện có, rừng phòng hộ ở những nơi xung yếu, đầu nguồn và rừng phòng hộ chắn sóng, chắn gió cát ven biển, đầm phá. Tỉnh ưu tiên mở rộng diện tích rừng sản xuất đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, phấn đấu đến năm 2020 có 128.435 ha diện tích rừng sản xuất trong tổng số 293.240 ha đất có rừng của toàn tỉnh.

Cơ cấu ba loại rừng đến năm 2020 sẽ là rừng đặc dụng chiếm tỷ lệ trên 26%; rừng phòng hộ chiếm hơn 30% và rừng sản xuất (dạng trồng rừng kinh tế) chiếm tỷ lệ gần 44%.

Bên cạnh đó, Thừa Thiên - Huế chú trọng phát triển giống cây lâm nghiệp; đầu tư thâm canh, trồng rừng gỗ lớn đạt 13.000 ha vào năm 2020, trong đó rừng được cấp chứng chỉ FSC 5.000 ha để từng bước thay thế dần gỗ rừng tự nhiên phục vụ nhu cầu dân dụng và cung ứng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, tăng giá trị rừng trồng.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thừa Thiên - Huế, hiện mỗi năm, toàn tỉnh trồng mới từ 4.500-5.000 ha rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt hơn 58% so với diện tích đất tự nhiên; đến năm 2020 tỷ lệ này phấn đấu đạt 61%.

Theo ông Hồ Sỹ Nguyên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thừa Thiên - Huế, giống là vấn đề then chốt quyết định đến chất lượng và năng suất rừng trồng. Nơi nào quản lý giống tốt thì nơi đó có năng suất và chất lượng rừng trồng tăng cao. Vì vậy, tỉnh đang áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để nhân rộng mô hình sản xuất cây con phục vụ cho việc trồng rừng bằng phương pháp nuôi cấy mô.

Toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế hiện có 56 nguồn giống lâm nghiệp với gần 45ha; trong đó chủ yếu bằng các hình thức nhân giống truyền thống như gieo hạt, vườn cung cấp hom và nhân giống hữu tính… để phục vụ cho việc trồng rừng. Các nguồn giống đã và đang được sử dụng hiệu quả, đảm bảo nguồn cung cấp chất lượng tốt để sản xuất cây con trồng rừng, đáp ứng nhu cầu trồng rừng ngày càng cao của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh.

Gần đây, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Tiền Phong đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp, sản xuất cây con bằng phương pháp nuôi cấy mô thay thế lai hom trên cây keo lai. Đối với cây keo lai, rừng trồng từ keo lai hom thường có tuổi thọ 6-7 năm, sau thời gian này cây có hiện tượng rỗng ruột, ra hoa, cây bị nấm bệnh.

Điều này đã được khắc phục bằng biện pháp nhân giống vô tính bằng nuôi cấy mô cây keo lai. Ưu điểm của nuôi cấy mô keo lai là tái tạo được sự non trẻ (hay làm trẻ hóa những cây thân gỗ). Giống keo lai được sản xuất từ phương pháp nuôi cấy mô có ưu thế hơn trong sản xuất gỗ lớn, tuổi thọ keo lai mô kéo dài đến hơn 10 năm.

Đáng chú ý, trồng rừng ở Thừa Thiên - Huế trong những năm gần đây phát triển mạnh nhờ tìm ra được bộ giống cây trồng thích hợp như keo lai, tràm hoa vàng, các loại phi lao, thông nhựa, sao, quế, dó bầu và một số cây bản địa khác. Nguồn giống keo hom được các đơn vị lâm nghiệp, hộ cá nhân trên địa bàn tỉnh sản xuất khoảng 22 triệu cây (trong đó khoảng 1 triệu cây nuôi cấy mô), đảm bảo chất lượng và số lượng cung ứng nhu cầu sản xuất.

Ông Nguyễn Trọng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết, đến nay, cây giống được sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy mô được các đơn vị trồng rừng, người dân ưa chuộng vì chất lượng cây trồng đảm bảo, ít bị gãy đổ do gió bão. Mặt khác, nếu những năm trước đây, năng suất gỗ rừng trồng chỉ đạt khoảng 50-60m3/ha, thì hiện nay do nguồn giống được cải thiện, chất lượng tốt nên năng suất đạt từ 100-120 m3/ha, tăng gấp hai lần. (TTXVN/Bnews.vn 8/9) Về đầu trang

Di dân tự do - những “cuộc chiến” và hệ lụy

Bắt đầu từ năm 1976, khi đất nước thống nhất, đến nay đã 41 năm, nhưng câu chuyện về di dân tự do từ các tỉnh phía Bắc vào khu vực Tây Nguyên đến hiện giờ vẫn chưa một ngày nguôi nóng. Và bây giờ thì còn có cả những “cuộc chiến” hằng ngày giữa lực lượng bảo vệ rừng và người dân, kéo theo là những hệ lụy buồn đau…

Để có đất sản xuất kiếm cơm qua ngày, hàng ngàn hộ dân thuộc diện di dân tự do ở các tỉnh Tây Nguyên đã phải chấp nhận lập làng giữa rừng sâu, gần như biệt tích với thế giới bên ngoài. Với họ, khái niệm về điện, đường, trường, trạm, hay con cái học hành, vui chơi là thứ gì đó xa xỉ khi nỗi ám ảnh hằng ngày là làm sao đủ cái ăn cho ngày ba bữa.

Xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong (tỉnh Đắk Nông) một chiều giữa mùa mưa tầm tã. Sau một hồi đặt vấn đề rất quyết tâm, cuối cùng thì những cán bộ của một trạm bảo vệ rừng thuộc Hợp tác xã (HTX) Hợp Tiến cũng đồng ý dẫn chúng tôi vào mục sở thị cuộc sống của những di dân tự do “không biết từ đâu tới” đã và đang phá rừng, chiếm đất ngay trên lâm phần mà họ đang được Nhà nước giao quản lý.

“Trời mưa, đường lầy nên sẽ vất vả lắm đấy”, một cán bộ vừa nói vừa dắt ra sân hai xe máy lốp được quấn xích. Sau gần 1 giờ đồng hồ ngoằn ngoèo trái phải trên những cung đường lầy và trơn như thể mỡ thay cho đất cùng mấy cú “vồ ếch”, chúng tôi cũng đến được tiểu khu 1644 - một trong những khu vực rừng bị người dân phá và lấn chiếm nhiều nhất trong thời gian qua.

“Chỗ này trước đây là rừng nguyên sinh, sau đó bị người dân ở đâu đến dựng nhà, chặt phá rừng, chiếm đất để canh tác nên mọi thứ mới tan hoang như thế này” - người dẫn đường tên Nam chỉ vào những ngọn đồi trọc còn sót lại những thân cây bị cưa chặt ngã đổ, bên cạnh là những ruộng khoai, ruộng bắp, vườn chanh… xen kẽ là những trụ tiêu. Xa xa là những nóc nhà, chính xác hơn là những căn chòi nằm rải rác, cô quạnh dưới làn mưa rừng.

Vừa thấy bóng chúng tôi, những người dân đang đội mưa làm gì đó bên những trụ tiêu của mình bỗng ý ới gọi nhau rồi vội vã rút vào những căn chòi. Tưởng họ sống lâu trong rừng nên thấy người lạ thì sợ, nhưng không phải. “Lại trồng tiêu nữa rồi” - người dẫn đường cáu gắt.

Thì ra ở đây cán bộ bảo vệ rừng và người dân có một luật ngầm trong khi chờ phân giải việc phá rừng chiếm đất, rằng người dân tạm thời chỉ được phép canh tác cây ngắn ngày, còn những giống cây dài ngày như tiêu, cà phê thì không.

“Là nói thế, nhưng người dân toàn vi phạm để trồng tiêu. Vừa rồi mấy người đó đang chăm sóc tiêu, nên thấy mình thì họ bỏ chạy vào lán để tránh bị bắt quả tang chứ chả sợ gì mình đâu” - Nam nói.

Chúng tôi bảo Nam và một người dẫn đường khác tạm lánh đi rồi băng đồi tìm đến cái lán gần nhất. Đứng chặn ngay thềm cửa là một người đàn ông tầm 30 tuổi, mặt lạnh, mắt lấm lét dò hỏi kiểu vừa hăm dọa vừa đề phòng. Phải chìa các loại giấy tờ, bảo là nhà báo đi tìm hiểu đời sống của những người di dân tự do chứ không phải cán bộ bảo vệ rừng thì mặt người đối diện mới giãn ra, tươi cười nói “thế thì mời cán bộ vô đây uống nước”.

Bên trong căn chòi ván là một không gian tối lờ mờ do không có điện, lại trống huơ hoác và gần như không có gì để có thể gọi là tài sản ngoài gần chục mạng người của 3 gia đình ở chung đụng cùng nhau đang nằm ngủ vạ vật.

Người đàn ông đón chúng tôi vào nhà tên San, nhớ mang máng là mình năm nay 27 tuổi. Vợ San - chị Lý Thì Đào - đang nhặt đỗ trước cửa, xòe tay đếm mãi cuối cùng cũng tính ra mình thua chồng một tuổi.

Vợ chồng San - Đào là người Dao ở tận ngoài Cao Bằng. Cả hai cùng theo bố mẹ di dân tự do vào đây từ nhỏ và đã sống lang bạt qua nhiều vùng đất khác nhau ở khắp các tỉnh Tây Nguyên, nhiều đến mức họ không nhớ hết. Và bây giờ họ tạm định cư tại đây từ cuối năm 2013: Thôn Boontin thuộc xã Quảng Sơn, huyện huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

Hôm chúng tôi đến thì hai con nhỏ của vợ chồng San - Đào, đứa lớn 3 tuổi, đứa nhỏ 2 tuổi đang ốm dặt dẹo, mới chiều mà sốt cao nằm mê man như đêm tối. Vợ chồng thay nhau lau khăn nước, đắp lá rừng hạ sốt. Hỏi chúng nó bệnh gì, sao không đưa đi bệnh viện?

Đào bảo đại ý viêm họng thôi, không cần bệnh viện vì đường quá xa, không có tiền và ở đây đã có thuốc chữa bệnh từ lá rừng. “Chữa bệnh chỉ cần dùng lá rừng” - Đào nói dở với khách bằng tiếng Kinh khó nhọc rồi quay sang nói gì đó với chồng tiếp theo một tràng rất dài bằng tiếng Dao, để mặc chúng tôi ngơ ngác.

Chờ một lúc, chúng tôi gợi họ quay lại bằng tiếng Kinh với chủ đề thực phẩm và chợ búa. Đào trả lời đại ý đường quá xa, đường mòn, lại luôn trong tình trạng lầy lội về mùa mưa nên thường mỗi tháng cắt rừng về thị xã Gia Nghĩa (thủ phủ tỉnh Đắk Nông) một lần để mua sắm các vật dụng thiết yếu. Còn lại nước uống thì có sẵn ngoài suối, thức ăn hằng ngày thì rau cỏ đầy ngoài rẫy, lâu lâu thì làm bữa rượu cải thiện bằng con gà thả nuôi.

Đang chuyện thì có thằng nhóc từ hàng xóm thấy người lạ nên lân la qua xem. Hỏi con tên gì? Nó cười gãi đầu ra điều không nhớ. Hỏi nữa thì nó bẽn lẽn bảo “con tên giống chú San”. Hỏi bao nhiêu tuổi, học lớp mấy, nó bỗng dưng nhanh nhảu: “Con không nhớ tuổi và chưa hề đi học”.

Quay vào trong chòi hỏi một vòng “nhà mình có ai từng đi học chưa, có biết đọc và viết bằng tiếng Kinh không?” thì đáp lại là một sự im lặng đến mức buồn thảm.

“Thế vợ chồng em cũng như mọi người à?” - chúng tôi quay sang vợ chồng San - Đào. Cô vợ cười hồn nhiên, bảo “Chồng em hay nói thật. Còn em, ai hỏi thì em nói mình đã từng học lớp một”. Chúng tôi tới gần hai đứa nhỏ nãy giờ hình như vẫn chưa hạ được sốt, bảo “Thế có dự tính gì cho hai đứa con không?”. Đào, vẫn nụ cười hồn nhiên, trả lời “Cũng không biết tính kiểu gì”.

Ở hai tiểu khu 1644, 1645 thuộc địa phận thôn Boontin hiện có hàng trăm hộ dân - hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc vào sống trong tình cảnh không điện, đường, trường, trạm cùng những con số không ám ảnh khác như gia đình anh San - chị Đào.

Không chỉ sống lay lắt, tạm bợ, họ còn luôn trong cảnh bất an khi chịu sự “giám sát đặc biệt” thường xuyên của những người bảo vệ rừng cùng một tương lai bất định, rằng không biết chính quyền sở tại sẽ cưỡng chế mình ra khỏi khu vực này lúc nào.

Những tưởng chấp nhận một cuộc sống khốn khổ như vậy thì đổi lại, người dân phải đạt được điều gì đó lớn lao về trị giá - những con số về thu nhập hằng tháng. Nhưng chúng tôi không tin được vào tai mình khi Đào bảo rằng “không chỉ nhà em mà hầu hết mọi người, có cái ăn no ngày ba bữa đã là may mắn lắm, lấy đâu ra tiền mà để dành cho tương lai…”.

Hỏi bây giờ tụi em mong muốn điều gì nhất? Không cần suy nghĩ, San trả lời “mong nhất là những cán bộ bảo vệ rừng của HTX Hợp Tiến và chính quyền địa phương tạo điều kiện cho dân tụi em làm ăn yên ổn”.

Những người dẫn đường hối thúc chúng tôi rời rừng già Boontin bởi trời đã nhá nhem tối và mưa rừng thì mỗi lúc một nặng hạt. Ám ảnh nhất là cái níu tay kéo chúng tôi ra một góc xa của San cùng ánh mắt nài nỉ: “Các anh cố gắng viết điều gì đấy có lợi cho dân chúng em…”. Một lúc sau trên đỉnh đồi ngó xuống, sau màn mưa, không hiểu sao San không vào nhà mà cứ đội mưa thơ thẩn tới lui trước con đường mòn bắt qua cái lán của mình. (Lao Động Online 8/9) Về đầu trang

Đắk Nông: Xử lý cán bộ hoài mà rừng vẫn mất

Ngày 7-9, đoàn công tác do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường dẫn đầu đã làm việc với tỉnh Đắk Nông về công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, phát triển nông nghiệp.

Theo UBND tỉnh Đắk Nông, tổng diện tích rừng đã mất phải trồng thay thế là 4.610 ha. Trong đó, chuyển đổi để làm các dự án thủy điện là 3.166 ha. Đối với việc trồng rừng thay thế các công trình thủy điện, tỉnh đã và đang thực hiện từ nguồn vốn do các dự án thủy điện nộp về quỹ bảo vệ và phát triển rừng.

Ông Nguyễn Bốn, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông, cho biết vấn đề bức xúc nhất của tỉnh hiện nay liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng. Tỉnh ủy, UBND tỉnh hầu như tuần nào cũng họp đột xuất về vấn đề này.

Mặc dù năm 2014, tỉnh phấn đấu mỗi năm giảm 50% số vụ vi phạm công tác quản lý bảo vệ rừng nhưng 3 năm liên tiếp không những không giảm mà còn tăng. Cơ quan chức năng đã xử lý hàng trăm cán bộ kiểm lâm, cán bộ bảo vệ rừng, cán bộ cấp xã… nhưng tình trạng phá rừng vẫn không giảm.

Theo ông Lê Diễn, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Nông, tỉnh rất quyết liệt công cuộc quản lý bảo vệ rừng. Để lập lại trật tự kỷ cương về công tác này, thời gian qua, tỉnh Đắk Nông đã xử lý khoảng 70 lâm tặc, triệt phá nhiều băng nhóm phá rừng, khởi tố 6 doanh nghiệp nhà nước để mất rừng. Số cán bộ vi phạm bị xử lý tăng lên rất nhiều.

"Tỉnh Đắk Nông kiên quyết xử lý các cá nhân, tập thể; không có vùng cấm trong việc xử lý vi phạm trong công tác quản lý bảo vệ rừng" - ông Lê Diễn khẳng định.

Theo ông Ngô Xuân Lộc, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Đắk Nông, liên quan đến những vụ việc có tính chất phức tạp, tỉnh Đắk Nông đã báo cáo Bộ Công an vào cuộc điều tra làm rõ. Điển hình như vụ việc xảy ra tại Công ty TNHH Thương mại Nguyên Vũ (gọi tắt là Công ty Nguyên Vũ; xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’long, tỉnh Đắk Nông), Bộ Công an đang phối hợp với Công an tỉnh điều tra dấu hiệu vi phạm công tác quản lý bảo vệ rừng. Công ty Nguyên Vũ do bà Nguyễn Thị Kim Thoa (vợ ông Lương Ngọc Lếp, nguyên Phó Giám đốc Công an tỉnh Đắk Nông - PV) làm giám đốc.

Liên quan đến những đề xuất của tỉnh Đắk Nông, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường chỉ đạo Tổng cục Lâm nghiệp hướng dẫn, phối hợp với tỉnh thực hiện kế hoạch thành lập mới 2 khu bảo tồn thiên nhiên. (Người Lao Động Online 7/9; Vietbao.vn 7/9) Về đầu trang

Di cư tự do ở miền Tây Thanh Hóa: “Bài toán” khó giải

Trải qua nhiều năm “chống đỡ căng thẳng” với vấn đề người Mông di cư, kéo theo nhiều hệ lụy về quản lý nhân khẩu, đói nghèo dai dẳng, phá rừng…, trên thực tế, các địa phương chỉ khắc phục bằng biện pháp tình thế chứ không thực sự có chiến lược tổng thể để dứt điểm.

Ngồi dưới tán cây sung trĩu quả mà món sung chát chấm muối dường như có mặt hàng ngày trong bữa cơm đạm bạc trường kỳ của Tổ công tác đặc biệt liên ngành Tà Cóm, xã biên giới Trung Lý, Mường Lát, Thanh Hóa, chúng tôi xoay vần bàn thảo với những câu hỏi cũng chẳng mới mẻ gì: Tại sao người Mông ở đây vẫn di cư?

Nhiều lực lượng buộc phải phối hợp để “chống đỡ” với tình hình an ninh địa phương. Tổ công tác liên ngành bao gồm 3 lực lượng: BĐBP, Công an địa phương và Bộ đội địa phương “án ngữ” ngay trên con đường độc đạo xuyên qua các bản làng cửa ngõ vào rừng cấm Vườn Quốc gia Pù Hu mà sao người di cư vẫn cứ lọt qua? Và lý do di cư của người Mông nơi này lại càng nan giải hơn nữa, đó là vì họ cùng quẫn vì nghiện ma túy.

Tôi nói chuyện với một phụ nữ quê ở Hà Tây vào đây lập nghiệp hơn 10 năm nay. Chị là Hà, đang có ý định trở về quê cũ, vì “ở đây cũng kiệt cùng rồi, không có cơ làm ăn nữa. Người dân ở trong bản thì nghiện gần hết, cấu víu làm thuê hằng ngày lấy tiền lo ăn hút, chẳng còn dư dả để có nhu cầu gì thêm mà nghĩ cách buôn bán”. Rừng càng ngày càng nghèo kiệt, sản vật từ rừng cũng chẳng còn gì có thể khai thác nữa, cho nên cũng không mua gom được gì về xuôi bán. Chất lượng cuộc sống càng đi xuống, người nghiện khó làm thuê kiếm tiền, lại càng đi vào con đường cụt không lối thoát. Những gia đình có người nghiện là gia đình nghèo.

Trước đây, nếu có chút của ăn của để thì trong thời gian ngắn nghiện ngập, thóc gạo lương thực đồ đạc gì cũng bán hết. Rồi sau đó là chuỗi ngày cứ kiếm được chút gì từ rừng, từ công làm thuê làm mướn thì nướng vào ma túy. Nương rẫy cũng gán đi cả hoặc bán đi lấy tiền rồi lại đi làm thuê. Mỗi năm họ trông cậy vào gạo trợ cấp của Nhà nước và nguồn gạo từ việc khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng.

Cuộc sống cứ bấp bênh lay lắt thế, nên ai rủ đi là đi luôn. Vì nhà ở của họ có ra dáng một căn nhà đâu, đồ đạc không có, nương rẫy đã bán, anh em họ hàng làng xóm thì lâu nay quan hệ lỏng lẻo. Người nghiện ma túy lại càng khó giao tiếp với cộng đồng. “Có gia đình nghiện cả vợ chồng, anh em. Hàng xóm láng giềng có ai dám cho vay nợ đâu, tôi bán hàng cũng không dám cho ai nợ tiền, tin ai được bây giờ? Đừng dây dưa với con nghiện!” - Chị Hà nói.

Định kiến nối tiếp định kiến! Các dự án xóa đói giảm nghèo ở mức độ làng bản, tổ chức xã hội như Phụ nữ, Thanh niên, Cựu chiến binh… đều không ai dám giao vào tay những người nghiện. Đi giữa trưa nắng vào trong bản mà chúng tôi như lạc vào một điểm lùi của thời gian mấy chục năm trước. Năm 2017, rồi có ai nghĩ vẫn còn những vùng đất thanh niên phóng xe máy bạt mạng không hề có mũ bảo hiểm, nương rẫy ngay trong tầm mắt cứ mặc nhiên lửa bốc ngùn ngụt, khói cay xè cả mắt len vào các ngôi nhà gỗ ở trong bản. Hỏi ai cũng bảo, “người ta đốt nương ấy mà” một cách dửng dưng.

Và một điều kỳ lạ là cùng với hàng chục năm bền bỉ tuyên truyền về tác hại của ma túy thì hầu khắp các vùng nông thôn miền núi của nước ta lượng người nghiện ma túy mới đều giảm đi, nhưng ở đây, số người nghiện mới tăng lên, mức độ sa lầy trong ma túy nghiêm trọng và dai dẳng hơn. Cả huyện Mường Lát hiện có hơn 300 người nghiện ma túy thì Tà Cóm - một bản làng khuất nẻo tại Trung Lý cũng có hơn 50 người nghiện, chủ yếu là người nghiện mới.

Đối thoại với ông Lầu Minh Pó, Phó Bí thư Huyện ủy Mường Lát về vấn đề chính sách dân tộc dành cho đồng bào Mông khi được áp vào thực tế ở địa phương có điểm nào không hợp lý, tại sao hiệu quả của những chính sách này vẫn hạn chế? Ông Pó nói, cái khó của địa phương là phải nhất nhất tuân theo chính sách dân tộc của Chính phủ, đồng thời lại phải tùy vào diễn biến từng khu vực dân cư để có những cách quản lý phù hợp. Việc trải ra 3 lực lượng để chốt ở cửa ngõ các cụm dân cư, rõ ràng không hiệu quả.

Việc người dân di cư, có mâu thuẫn với nhau dẫn đến xô xát, hiện tượng sa sút quá nhanh do nghiện ma túy, buôn bán lặt vặt vài cữ ma túy lẻ tẻ, trộm chó bắt gà … đều lâu dần trở thành “bình thường”. Nhưng những việc tưởng là nhỏ, tích tụ lại, biến cụm dân cư từ chỗ có bản sắc, có lối sống và quy ước riêng trở nên lỏng lẻo, mạnh ai nấy sống, đề phòng lẫn nhau và việc người dân dời đi không còn ai thân tình nào níu chân họ nữa, không ai quan tâm.

Người dân tộc Mông và các dân tộc ít người khác đang được hưởng những chính sách ưu đãi nhiều nhất của Chính phủ để xóa đói giảm nghèo và ổn định cuộc sống. Tại Mường Lát, Thanh Hóa, mật độ phủ rộng của chính sách dân tộc lên toàn bộ các mặt đời sống chưa làm cho các bản làng bớt đói nghèo. Nếu cứ kéo dài tình trạng đói nghèo, niềm tin của bà con sẽ bị bào mòn và cơ hội của con người trước thiên nhiên càng ít đi. (Biên Phòng Online 7/9) Về đầu trang

Đà Nẵng: Người dân giao nộp động vật trong sách đỏ cho Kiểm lâm

Ngày 7-9, thông tin từ Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng cho biết: Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng vừa tiếp nhận 3 (ba) cá thể rắn ráo (Tên khoa học: Ptyas korros) còn sống nặng 0,6kg do Công an phường Tân Chính, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bàn giao để tái thả lại môi trường tự nhiên tại Tiểu khu 62 Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sơn Trà.

Trước đó, vào chiều 24-8, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang cũng tiếp nhận 1 cá thể động vật Voọc Chà vá chân nâu – Pygathrixnemaeus; trọng lượng: 3 kg do người dân thôn Nam Thành – Hòa Phong, Hòa Vang bắt giữ và giao nộp.

Theo người dân, thì một số bà con trong xóm khi kéo đến xem con khỉ lạ đi lạc trong vườn keo, thấy cá thể này giống như con Vooc mà Kiểm lâm thường hay tuyên truyền phổ biến, biết đây là giống DVHD quý hiếm nên đã giữ lại giao cho Kiểm lâm để cứu hộ. (Công An Nhân Dân 8/9, tr2; Công An Nhân Dân Online 7/9) Về đầu trang

Rừng Tây Nguyên còn nhiều áp lực

Tròn một năm, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp khôi phục rừng bền vững trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn đã có những chuyển biến tích cực. Thế nhưng, rừng Tây Nguyên vẫn chịu nhiều áp lực, trong đó đáng chú ý là tình trạng vi phạm lâm luật vẫn đang tái diễn.

Theo số liệu thống kê, đến thời điểm hiện tại khu vực Tây Nguyên còn 3.326.647ha rừng và đất lâm nghiệp; trong đó diện tích rừng là 2.558.646ha, tỷ lệ độ che phủ đạt 43,5%. Hiện nay, hầu hết diện tích rừng và đất lâm nghiệp ở Tây Nguyên được giao cơ quan, đơn vị và người dân quản lý, bảo vệ. Cụ thể, giao các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, vườn quốc gia quản lý 1.263.270ha; công ty lâm nghiệp Nhà nước quản lý 920.242ha; hộ gia đình và cộng đồng dân cư quản lý 128.781ha; UBND các cấp quản lý 716.320ha và các tổ chức kinh tế khác quản lý 211.270ha.

Thế nhưng, kết quả kiểm tra của Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và Chi cục Kiểm lâm vùng 4 (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) mới đây cho thấy, so với năm 2015, diện tích rừng ở khu vực Tây Nguyên đã giảm 3.323ha, bình quân mỗi năm giảm hơn 1000ha. Đáng chú ý là diện tích rừng, đất lâm nghiệp được giao cho các chủ rừng quản lý đều xảy ra tranh chấp, với tổng diện tích 282.896ha. Nghiêm trọng hơn, do thiếu trách nhiệm và buông lỏng quản lý, nên các chủ rừng đã để 487.096ha rừng, đất lâm nghiệp bị phá, lấn chiếm. Trong đó, rừng do UBND xã quản lý bị phá và lấn chiếm 209.993ha (chiếm 29,32% so tổng diện tích được giao quản lý); ban quản lý rừng để bị phá và lấn chiếm 112.130ha.

Theo ông Trần Đức Thanh, Phó vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên: Thực hiện Thông báo số 191/TB-VPCP ngày 22-7-2016 của Văn phòng Chính phủ về thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020; tỉnh ủy, UBND các tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên đã ban hành văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương và chủ rừng triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trong 6 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn Tây Nguyên đã phát hiện và xử lý 1.512 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 577 vụ phá rừng, diện tích rừng bị chặt phá 292ha (giảm nhiều so với những năm trước). Về trồng rừng, trong năm 2017, thực hiện kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh khu vực Tây Nguyên đã trồng mới 12.559ha rừng tập trung, hơn 4,57 triệu cây phân tán và chăm sóc 21.581ha  rừng trồng.

Nhằm hạn chế tình trạng người dân di cư tự do phá rừng lấy đất sản xuất, từ năm 2001 đến nay, các tỉnh Tây Nguyên đã triển khai 57 dự án, bố trí, sắp xếp ổn định được 15.400 hộ, hiện còn 20.711 hộ chưa được bố trí, sắp xếp ổn định. Trong đó, 1.064 hộ thật sự khó khăn, chưa có đất ở và đất sản xuất. Nếu số hộ này không được hỗ trợ định canh, định cư vững chắc thì khó tránh khỏi việc người dân sẽ lấn chiếm, chặt phá rừng trái phép để lấy đất ở, đất sản xuất. Một áp lực nữa đối với rừng Tây Nguyên là, hiện toàn vùng còn 2.062 cơ sở chế biến lâm sản và đồ mộc. Trong đó, nhiều cơ sở nằm gần rừng, thậm chí trong rừng. Các cơ sở này đã và đang tiêu thụ lâm sản khai thác trái phép từ rừng, khiến việc kiểm soát của chủ rừng, lực lượng chức năng thêm khó khăn.

Vấn đề đặt ra hiện nay đối với các tỉnh Tây Nguyên là bên cạnh việc tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, nâng cao trách nhiệm của chủ rừng và cấp ủy, chính quyền địa phương theo Chỉ thị số 13-CT/TW, ngày 12-1-2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời, tìm giải pháp giảm áp lực đối với rừng, như hỗ trợ dân di cư tự do định canh, định cư; giải quyết việc làm, ổn định đời sống người lao động sống gần rừng và trong rừng, không để xảy ra tình trạng bà con thiếu việc làm tham gia vào đội quân “khai thác lâm sản trái phép” để kiếm sống; kiên quyết di dời, đóng cửa những cơ sở chế biến lâm sản hoạt động gần rừng, trong rừng.

Trao đổi với chúng tôi, ông Y Giang Gry Niê Knơng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc khẳng định: “Cần hoàn chỉnh quy hoạch, quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp một cách thống nhất, khoa học và chặt chẽ; bổ sung xây dựng hoàn chỉnh cơ chế, chính sách để phát triển lâm nghiệp bền vững; chăm lo tốt đời sống cho lực lượng lao động trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phát triển rừng”. Về định hướng lâu dài, Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên quan sớm phê duyệt, triển khai thực hiện Đề án “Bảo vệ và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đạn 2016-2025”. Các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm Chỉ thị số 1685/CT-TTg, ngày 27-9-2011 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ”. (Quân Đội Nhân Dân Online 7/9) Về đầu trang

Lần thứ 5 mở tòa xét xử vụ án 60 cây thông tại Huế

Ngày 7-9, TAND thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế tuyên phạt Nguyễn Văn Quyền 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Hủy hoại tài sản”.

Theo cáo trạng, cuối năm 2012 và đầu năm 2013, do có ý định chiếm đoạt rừng của người khác từ trước nên Nguyễn Văn Quyền (56 tuổi, trú tại tổ 8, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà) đã thuê người, dùng phương tiện máy móc để khai hoang trồng rừng tại khu vực núi Kỳ Nam, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà. Quá trình khai hoang, Quyền tiến hành đốt thực bì làm cháy 13 cây thông, chặt 60 cây thông mọc tự nhiên, tổng giá trị thiệt hại được định giá là hơn 12 triệu đồng.

Bị cáo Quyền bị khởi tố, bắt tạm giam 26 ngày, sau đó bị TAND thị xã Hương Trà tuyên phạt 9 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, bản án này bị tòa phúc thẩm TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế (lần thứ nhất diễn ra cuối tháng  5-2014) tuyên hủy do cấp sơ thẩm “vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng”.

Ngày 30-6-2015, vụ án lại được TAND thị xã Hương Trà đưa ra xét xử với việc thay đổi tội danh của bị cáo Quyền, từ tội “Trộm cắp tài sản” sang tội “Hủy hoại tài sản”. Tại phiên tòa phúc thẩm TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế (lần 2) ngày 16-8-2016 tiếp tục tuyên bố hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hành vi của ông Quyền mà TAND thị xã Hương Trà ngày 30-6-2015 đã tuyên do cấp sơ thẩm “vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng”.

Tại phiên tòa xét xử ngày 7-9, đại diện Viện KSND thị xã Hương Trà cho rằng hành vi thuê người đốt cháy 13 cây thông và chặt phá 60 cây thông, gây thiệt hại hơn 12 triệu đồng mà ông Quyền gây ra cho Hợp tác xã nông nghiệp (HTX) Hương Hồ 2 đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản” được quy định tại khoản 1, điều 143 Bộ luật Hình sự. Viện KSND thị xã Hương Trà cho rằng hành vi của ông Quyền gây nguy hiểm cho xã hội.

Tại tòa, người bào chữa cho bị cáo là luật sư Nguyễn Văn Phước ((Đoàn Luật sư tỉnh Thừa Thiên - Huế) khẳng định việc đại diện VKSND thị xã Hương Trà xác định HTX Hương Hồ 2 là chủ sở hữu số tài sản trên là thiếu căn cứ. Bởi lẽ, trên thực tế, diện tích đất mà ông Quyền khai hoang và chặt bỏ cây thông đã được UBND thị xã Hương Trà cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Văn Thuận (ngụ phường Hương Hồ) trồng rừng thương mại từ năm 2008 nhưng ông Thuận bỏ hoang nhiều năm liền.

Luật sư Phước cũng cho biết, nếu trong trường hợp chủ sở hữu của số cây thông trên là HTX Hương Hồ 2 thì hành vi của ông Quyền cũng không đủ tang số cấu thành tội phạm. Trong vụ án này, giá trị của 60 cây thông mà ông Quyền khai thác đã được HTX Hương Hồ 2 đã nhận lại để tổ chức bán đấu giá. Vì vậy, án sơ thẩm nhận định thiệt hại đối với 60 cây thông này là hơn 12 triệu đồng là phi logic, bởi không thể vừa tồn tại giá trị hơn 12 triệu đồng lại vừa mất đi (hủy hoại) giá trị này.

Riêng 13 cây thông bị cháy được định giá là 297.290 đồng, nên nếu có yếu tố gây thiệt hại thì giá trị thiệt hại do ông Quyền gây ra chỉ là 297.290 đồng, và như vậy không đủ tang số cấu thành tội phạm.

Đó là chưa kể việc khai hoang của ông Quyền là nhằm trồng cây phủ xanh đất trống đồi trọc- việc làm cần được khuyến khích. Trên cơ sở đó, luật sư Phước đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Quyền không phạm tội hủy hoại tài sản như cáo trạng của Viện KSND thị xã Hương Trà.

Trao đổi với PV sau phiên tòa, ông Nguyễn Văn Quyền cho rằng HĐXX phiên tòa sơ thẩm lần thứ 3 này vẫn chưa khách quan và ông sẽ xem xét để kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Được biết, ông Quyền sau khi tốt nghiệp ngành kỹ sư lâm nghiệp, Đại học Nông lâm Huế được bố trí làm việc tại Lâm trường Tiền Phong (Thừa Thiên - Huế). Làm việc hơn 10 năm, ông xin nghỉ việc trở về quê trồng rừng. Đến nay, ông đã trồng được hơn 60ha rừng để phục vụ sinh kế, phủ xanh đất bạc màu và đồi trọc, tạo công ăn việc làm thường xuyên cho hàng trăm lao động địa phương.

Trước và cùng thời điểm ông khai hoang trồng rừng tại khu vực núi Kỳ Nam thì tại khu vực này còn có hàng chục hộ dân khác cũng khai thác cây, đốt thực bì trên nhiều diện tích đất bị bỏ hoang để trồng rừng nhưng không ai bị xử lý. Từ năm 2010 đến trước thời điểm bị khởi tố, ông Quyền từng đứng ra tố cáo nhiều khuất tất, sai phạm tại nhiều dự án triển khai tại phường Hương Hồ. (Sài Gòn Giải Phóng Online 7/9; Dân Việt 7/9) Về đầu trang

Bắc Kạn: Triển khai dự án quản lý rừng bền vững tại Chợ Mới

Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II tỉnh Bắc Kạn đang triển khai Dự án quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng (FSC) tại 03 xã của huyện Chợ Mới từ nguồn vốn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO).

Các xã thực hiện dự án là Hòa Mục, Nông Hạ và Cao Kỳ. Ban Quản lý dự án đã triển khai tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức cho tổ chuyên trách cấp huyện, xã và một số hộ dân về quản lý rừng bền vững của 12 thôn trên địa bàn 3 xã. Tổ chức cho các chủ rừng, tổ chuyên trách cấp huyện, xã đi học tập tại tỉnh Tuyên Quang.

Đồng thời, tập huấn nâng cao năng lực về quản lý rừng bền vững và FSC cho các chủ rừng đã đăng ký. Đồng thời, đã tổ chức tập huấn cho 54 chủ rừng về điều tra trữ lượng rừng, đánh giá tác động môi trường, tác động xã hội, điều tra động thực vật và khu có giá trị bảo tồn cao.

Đến thời điểm hiện tại, trên 3 xã các chủ rừng đã đăng ký thực hiện dự án với 930ha. Hiện các xã đang hoàn thiện hồ sơ quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng cho các hộ trên địa bàn. Phấn đấu đến tháng 4/2018 sẽ cấp FSC cho 4 xã (thêm xã Nông Thịnh) là 1.160ha. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 7/9) Về đầu trang

Vụ 43ha rừng Bình Định “biến mất”: Trách nhiệm thuộc về ai?

Trong khi lãnh đạo kiểm lâm cho biết rừng vẫn được tuần tra thường xuyên, 43ha rừng tự nhiên tại huyện miền núi An Lão (Bình Định) lại dễ dàng biến mất chỉ trong nửa tháng...

Ngày 7.9, lãnh đạo Sở NNPTNT tỉnh Bình Định cho biết, Sở này đã có buổi làm việc với Bí thư, Chủ tịch hai huyện Hoài Nhơn và An Lão để xác minh, xử lý vụ việc 43ha rừng bị tàn phá mới đây tại huyện An Lão.

Theo ông Phạm Văn Nam - Chủ tịch UBND huyện An Lão, huyện này đã thành lập tổ công tác điều tra, thu thập chứng cứ để xác định các đối tượng phá rừng. “Chúng tôi đã chỉ đạo cơ quan chức năng hoàn tất hồ sơ ban đầu đưa vào chuyên án tội phạm, tiến hành giám định thiệt hại để có quyết định khởi tố vụ án”, ông Nam cho biết. Đặt câu hỏi về trách nhiệm quản lý nhà nước khi để mất 43ha rừng, ông Nam cho rằng trách nhiệm chính thuộc về Hạt Kiểm lâm huyện An Lão và chủ rừng quản lý trực tiếp là UBND xã An Hưng.

“Chúng tôi sẽ tiến hành kiểm điểm trách nhiệm đối với các đơn vị để mất rừng”, ông Nam khẳng định.

Trong khi đó, ông Đoàn Văn Tá - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão - lại cho rằng rừng này do UBND xã An Hưng chịu trách nhiệm quản lý chính, còn Hạt kiểm lâm chỉ phối hợp bảo vệ (?).

“Khu vực rừng bị phá nằm giáp ranh với tỉnh Quảng Ngãi và huyện Hoài Nhơn (Bình Định) nên đường đi rất khó khăn. Rừng này do UBND xã An Hưng quản lý và thực tế Hạt đã cử cán bộ phối hợp UBND xã liên tục tuần tra nhưng rất khó phát hiện. Các đối tượng phá rừng trong vòng nửa tháng trở lại đây, nhưng họ dùng cưa lốc nên sức tàn phá rất nhanh”, ông Tá lý giải. Tại kỳ họp thứ 4 HĐND tỉnh Bình Định khóa XII, vấn đề phá rừng được nhiều cử tri và đại biểu tỉnh này đặc biệt quan tâm. Ông Nguyễn Thanh Tùng - Bí thư Tỉnh ủy Bình Định - đã ra “tối hậu thư”: Địa phương nào để xảy ra tình trạng phá rừng thì người đứng đầu địa phương đó phải chịu trách nhiệm.

“Thủ tướng nói rồi, tỉnh nào có phá rừng thì Chủ tịch tỉnh chịu trách nhiệm, huyện nào có phá rừng Chủ tịch huyện chịu trách nhiệm”, ông Tùng nhấn mạnh. (Dân Việt 7/9; Kenhtructiep.net 7/9) Về đầu trang

Quảng Nam tăng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các hộ dân

Năm nay, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân được tăng cao đã phần nào giúp đồng bào vùng cao Quảng Nam tháo gỡ được khó khăn trong cuộc sống.

Sở hữu hàng trăm ngàn héc ta rừng nguyên sinh nằm ở khu vực biên giới Việt  - Lào, Quảng Nam hiện là  một trong những địa phương có độ che phủ rừng lớn nhất nước. Và đây cũng chính là nơi cung cấp nước cho hàng chục nhà máy thủy điện lớn nhỏ. Từ khi quy định phí chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 của Chính phủ ra đời, rừng ở đây đã được bảo vệ  tốt hơn.

Do đặc thù riêng nên đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao bao đời nay sống chủ yếu bám vào rừng. Việc bảo vệ rừng với họ bây giờ cũng chính là kế mưu sinh. Hiện đã có trên 4.000 hộ dân ở 4 huyện miền núi có rừng của Quảng Nam đã tiếp cận được phí chi trả dịch vụ môi trường rừng. Việc tăng phí chi trả môi trường rừng từ 180 - 250.000 đồng lên 300 - 320.000 đồng/ha một năm có ý nghĩa rất lớn, góp phần giúp người dân địa phương tháo gỡ được khó khăn trong cuộc sống và tác động trực tiếp đến công tác chăm sóc bảo vệ rừng. (VTVNews 7/9) Về đầu trang

Diện tích rừng trồng mới cả nước tăng 2% sau 8 tháng

Theo Báo cáo số 7381/BC-BNN-VP của Bộ NN&PTNT ngày 6/9 cho biết, với việc nguồn vốn trồng rừng được khai thông sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững, diện tích rừng đã tăng đáng kể.

Cụ thể, tính chung 8 tháng năm 2017, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 131.300ha, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 11,7 triệu m3, đạt gần 70% kế hoạch. Tổng diện tích rừng trồng thay thế đạt trên 42.354ha, đạt 62% kế hoạch. Trong đó, các dự án thủy điện là trên 21.300ha (đạt xấp xỉ 99%); dự án kinh doanh là 13.772ha (đạt trên 66%)…

Bên cạnh công tác trồng rừng có nhiều chuyển biến, tình hình vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng vẫn diễn biến phức tạp. Trong 8 tháng qua, diện tích rừng bị thiệt hại 1.157ha (giảm khoảng 72% so với cùng kỳ năm 2016). Tổng số vụ vi phạm về quản lý và khai thác rừng là 11.867 vụ, đã xử lý được 10.065 vụ, thu nộp ngân sách trên 118 tỷ đồng.

Cũng theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, trong 8 tháng qua, thu phí dịch vụ môi trường rừng ước đạt trên 1.007 tỷ đồng, bằng khoảng 61% kế hoạch năm và tăng 27% so với cùng kỳ năm 2016. (Moitruong.net.vn 7/9) Về đầu trang

Quan tâm hơn nữa công tác bảo vệ rừng và trồng rừng thay thế

Ngày 7/9, Đoàn công tác Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội do đồng chí Phùng Đức Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban làm trưởng Đoàn làm việc với UBND tỉnh về việc khảo sát, giám sát tình hình thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn tỉnh; góp ý dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi). Làm việc với đoàn công tác có các đồng chí: Lê Trọng Khôi, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Lò Văn Tiến, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng lãnh đạo một số sở, ngành liên quan.

Việc thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trong thời gian qua đã được Điện Biên chủ động xây dựng và triển khai phương án bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng các cấp; tổ đội quần chúng bảo vệ rừng ở các thôn, bản ký cam kết bảo vệ rừng.

Đồng chí Phùng Đức Tiến, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phát biểu tại hội nghị.

Hiện nay, tổng diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp toàn tỉnh là 776.745,85ha. Trong đó, quy hoạch rừng đặc dụng: 119.229,58ha; rừng phòng hộ: 369.742,43ha và rừng sản xuất 287.733,84ha; ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có 36.991,41ha rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp.

Năm 2013 tỉnh đã phê duyệt chuyển đổi 51.892,2ha rừng phòng hộ và 18.553,3ha rừng sản xuất sang rừng đặc dụng. Toàn tỉnh đã thực hiện giao 316.345,82ha rừng cho: 6 tổ chức với 61.673,67ha; 2.416 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích là 6.252,86ha và 256.198,54ha giao cho cộng đồng dân cư thôn bản (còn 497.391,44ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê hiện do UBND cấp xã quản lý). Đến hết năm 2015, toàn tỉnh đã cấp 1.458 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng thời với quyền sử dụng rừng cho 635 đối tượng với diện tích 84.532,29ha rừng các loại. Ban điều hành Quỹ bảo vệ và phát triển rừng đã ký 13 hợp đồng ủy thác đối với các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng và thu 422,7 tỷ đồng; thực hiện chi trả cho các chủ rừng với tổng số tiền trên 306,2 tỷ đồng. Giai đoạn 2011-2016, toàn tỉnh xảy ra 316 vụ cháy rừng gây thiệt hại 1.237,76ha rừng.

Góp ý dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi), tỉnh đề nghị: Đổi tên thành Luật Lâm nghiệp; bổ sung nội dung tại 14 điều, 8 chương.

Đồng chí Phùng Đức Tiến đánh giá cao những kết quả tỉnh Điện Biên đạt được trong thực thi Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Đồng chí đề nghị tỉnh quan tâm hơn nữa đến công tác phòng chống cháy rừng, phá rừng, triển khai trồng rừng thay thế; đặc biệt đối với tình trạng phá rừng tại huyện Mường Nhé. Những ý kiến, đề xuất từ thực tế của địa phương, đoàn công tác sẽ tiếp thu, tổng hợp làm căn cứ bổ sung, hoàn thiện dự thảo Luật trình Quốc hội xem xét, quyết định. (Baodienbienphu.info.vn 7/9) Về đầu trang

Thẩm định Phương án trồng rừng phòng hộ thay thế diện tích chuyển đổi làm Hồ chứa nước Ea H’leo

Ngày 30/8/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 6884/UBND-NNMT, gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc đề nghị thẩm định, phê duyệt Phương án trồng rừng phòng hộ thay thế diện tích chuyển đổi làm Hồ chứa nước Ea H’leo 1, tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Wy, huyện Ea H’leo.

Theo đó, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các đơn vị có liên quan xem xét, thẩm định Phương án trồng rừng phòng hộ thay thế diện tích chuyển đổi làm Hồ chứa nước Ea H’leo 1, tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Wy theo quy định hiện hành của Nhà nước. (Daklak.gov.vn 7/9) Về đầu trang

Ba kích tươi xanh dưới tán rừng cao su

Nhằm đáp ứng nhu cầu dược liệu cung cấp cho công nghiệp dược và y học cổ truyền, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) đã triển khai thực hiện mô hình "Nghiên cứu trồng thử nghiệm cây ba kích dưới tán cây cao su". Đến nay, mô hình hứa hẹn mang lại hiệu quả cao, có thể nhân rộng, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao thu nhập cho người dân trong tỉnh.

Tỉnh ta được đánh giá là vùng đất có nguồn dược liệu tự nhiên phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do sự khai thác tràn lan, tận diệt của con người, trong đó có cây ba kích. Với thế mạnh là diện tích trồng cây cao su khá lớn, người dân chỉ trồng xen một số loài cây truyền thống (sắn, dưa hấu, ớt... trong khoảng 5 năm đầu), tuy nhiên, hiệu quả mang lại không cao, thị trường tiêu thụ không ổn định, được mùa thì mất giá, đầu ra bấp bênh. Việc nghiên cứu, trồng thử nghiệm cây ba kích thay thế cho các loại cây trồng truyền thống là rất cần thiết, hơn nữa ba kích rất ít bị sâu bệnh phá hại, giá bán trên thị trường cao nên đây là loại cây trồng có thể đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân.

Theo y học cổ truyền, ba kích là vị thuốc có tác dụng bổ trí não, trợ dương, ích tinh, mạnh gân cốt, tốt cho người già mệt mỏi, kém ăn, mất ngủ... Là loại cây trồng có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao, hiện nay, cây ba kích đã được nhân giống và trồng ở nhiều địa phương trên cả nước, như: Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Giang, Quảng Nam... Trên thị trường giá ba kích khá cao, dao động từ 150 - 200 nghìn đồng/kg. Tại tỉnh ta, loại cây trồng này chưa được người dân quan tâm lắm.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 của Chính phủ, tháng 4-2015, Sở NN-PTNT đã triển khai mô hình "Nghiên cứu trồng thử nghiệm cây ba kích dưới tán cây cao su". Mô hình đang được triển khai trên diện tích 1ha dưới tán cao su tại xã Hoà Trạch (Bố Trạch). Trong đó, 0,5 ha trồng dưới tán cây cao su bị đổ gãy do bão số 10 gây ra năm 2013 và 0,5 ha trồng dưới tán cây cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản. Trên cơ sở đó, mô hình đánh giá tác động của từng biện pháp kỹ thuật, khả năng thích ứng của cây ba kích với điều kiện khí hậu, đất, phân bón, phương thức canh tác... tại tỉnh Quảng Bình. Mục tiêu của mô hình là nhằm từng bước chủ động đáp ứng đủ nhu cầu dược liệu cung cấp cho công nghiệp dược và y học cổ truyền trong tỉnh và trong nước, xây dựng kế hoạch phát triển thuốc từ nguồn dược liệu ở địa phương góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao thu nhập cho người dân tại các vùng khó khăn...

Ông Võ Văn Hùng, chủ nhiệm đề tài cho biết: “Lúc mới trồng, cây ba kích tỏ ra khá hợp với việc trồng dưới tán cây cao su đổ gãy cũng như dưới tán cây cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản. Cây giống nhanh chóng bén rễ, bám vào thân gỗ, leo lên quang hợp để nuôi củ. Cây lớn nhanh, xanh tốt và đặc biệt là số cây sống đạt tỷ lệ tuyệt đối 100%. Hiện, cây ba kích đã được hơn 2 năm tuổi, mới đây, qua kiểm tra thử, củ ba kích đã có chiều dài khoảng 40-50cm, đường kính khoảng 0,5-0,7 cm. Sau khi cây trưởng thành (từ 3 năm trở lên), mỗi cây có thể cho sản lượng trung bình 1,5 kg củ. Nếu tính trên toàn bộ 6.000 cây của diện tích 1ha, sản lượng đạt khoảng 9 tấn củ tươi. Tuy nhiên, ba kích để càng lâu năm thì sản lượng, chất lượng dược liệu càng tốt, được thị trường ưa chuộng và giá bán cao hơn so với ba kích trồng thâm canh.

Theo ông Võ Văn Hùng, kỹ thuật trồng cây ba kích cũng không khó, nhưng sau khi trồng phải tiến hành chăm sóc thường xuyên, như: tưới nước, làm cỏ, cố định cho cây bám vào cọc, giàn. Chú ý trong hai năm đầu, cần kiểm tra thường xuyên để diệt trừ kịp thời sâu cắn ngọn và lá non. Từ năm thứ 3, cây đã tạo thành bụi khá lớn, sâu phá hoại không đáng kể, sâu hại thường gặp là rệp làm thui ngọn và lá non, phòng trừ bằng cách rắc tro bếp vào buổi chiều. Cây bị bệnh nấm mắt cua làm đốm lá thì phun trừ bằng dung dịch boocđô. Phòng trừ sâu bệnh bằng cách vệ sinh vườn sạch sẽ, thoát nước kịp thời và triệt để sau mưa...

Được biết, để lấy ngắn nuôi dài, mô hình có thể xen canh các loại dược liệu, như: cà gai leo, kim tiền thảo, chè vằng, đinh lăng..., nhằm tăng thu nhập mà không ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của hai loại cây chủ lực là ba kích và cao su. Tuy nhiên, phải bón phân, làm cỏ và tưới nước thường xuyên.

Mô hình này không chỉ góp phần vào việc bảo vệ nguồn dược liệu quý mà còn giúp nông dân thay đổi tập quán, tư duy trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập. Sau khi trồng thử nghiệm thành công, tổng kết đánh giá một cách khoa học sự phù hợp về chất lượng, sản lượng sản phẩm của cây ba kích, cơ quan chủ quản sẽ khuyến khích bà con mở rộng mô hình trên phạm vi toàn tỉnh. (Baoquangbinh.vn 7/9)Về đầu trang

Tập huấn kỹ năng điều tra chống buôn lậu động vật hoang dã

Từ ngày 5 đến 8/9, Bộ Công an phối hợp cùng Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã (WCS) tổ chức khóa tập huấn về “Kỹ năng điều tra chống buôn bán động vật hoang dã trái phép” cho 20 cán bộ thực thi pháp luật thuộc các đơn vị chuyên môn thuộc Cục cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường (C49), Cục cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu (C74), Bộ tư lệnh cảnh sát cơ động (K20), Cục đối ngoại (V12) và công an cấp địa phương.

Theo đó, trong thời gian tập huấn, học viên được củng cố các kỹ năng điều tra cơ bản như quản lý thông tin, giám sát và quản lý hiện trường, thu thập bằng chứng phục vụ điều tra sâu.

Học viên còn được thực hành các các kỹ năng quan trọng như trinh sát trong điều kiện trang thiết bị và nguồn lực ở mức tối thiểu, vận chuyển có kiểm soát để theo dõi hành vi phạm tội, hay được trau dồi kỹ năng mềm như làm việc nhóm, ra quyết định,…

Theo ông Đỗ Tiến Thủy- Cục phó Cục tham mưu tác chiến, Bộ Tư lệnh cảnh sát cơ động, Bộ Công an rất coi trọng công tác đào tạo nâng cao nghiệp vụ và kỹ năng điều tra cho đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật. Các khóa tập huấn sẽ giúp cán bộ có điều kiện trao đổi, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, cũng như trau dồi kỹ năng, cập nhật thông tin, kiến thức để không bị tụt hậu trước các diễn biến và hoạt động phức tạp của tội phạm động vật hoang dã. (Đại Đoàn Kết 8/9, tr13; Đại Đoàn Kết Online 8/9) Về đầu trang