Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 08/8/2017

Điểm báo ngày 08/8/2017

Cập nhật ngày : 08/08/2017 2:47:15 CH

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 08 tháng 8 năm 2017)

Cơ hội cho quản lý rừng tự nhiên bền vững

Ngày 7/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương, LHQ và Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam đã tổ chức Diễn đàn về các cơ hội cho quản lý rừng tự nhiên bền vững.

Phát biểu tại Diễn đàn, ông Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, thời gian qua, Việt Nam đã cố gắng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nâng cao độ che phủ rừng. Vì vậy, độ che phủ rừng của Việt Nam đã tăng và đạt 41,19% (năm 2016).

Tuy nhiên, do nhu cầu phát triển kinh tế cùng những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý, bảo vệ rừng mà vẫn còn nhiều diện tích rừng tự nhiên giàu trữ lượng bị khai thác thiếu bền vững hoặc chuyển đổi sang mục đích khác. Những điều này làm cho chất lượng rừng tự nhiên bị suy giảm, diện tích rừng tự nhiên bị mất đi.

Việt Nam hiện có trên 10 triệu ha rừng tự nhiên, chiếm 71% diện tích rừng Việt Nam nhưng diện tích rừng tự nhiên chủ yếu là rừng mới phục hồi, rừng nghèo, rừng giàu còn lại rất ít.

Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức lớn trong việc thúc đẩy và thu hút đầu tư trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh có lợi nhuận và bền vững dựa trên các sản phẩm và dịch vụ từ rừng tự nhiên, trong đó là làm rõ và đảm bảo các cách thức doanh nghiệp có thể thu được lợi ích nhờ quản lý bền vững rừng tự nhiên.

Chương trình mục tiêu quốc gia về lâm nghiệp bền vững dự kiến sẽ phải huy động nguồn lực xã hội hóa cho hơn 70% tổng nhu cầu tài chính. Tuy nhiên, chiến lược huy động đầu tư từ các doanh nghiệp và cá nhân chưa được thiết kế một cách có hệ thống, toàn diện và cụ thể, đặc biệt để thu hút đầu tư bền vững vào rừng tự nhiên.

Ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương cho rằng, việc xây dựng các mô hình kinh tế, mô hình kinh doanh bền vững và tạo cơ hội cho các thành phần kinh tế trong phát triển rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên còn thiếu hệ thống, kém hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư.

Theo ông Nguyễn Văn Hà, nhằm phục hồi và phát triển rừng tự nhiên bền vững, Việt Nam đã thực hiện chủ trương dừng khai thác rừng tự nhiên. Chi trả dịch vụ môi trường rừng là một bước đi đúng hướng, song vẫn chưa đủ hiệu quả để thúc đẩy giá trị kinh tế của rừng tự nhiên.

Ông Nguyễn Văn Hà cho rằng, rừng tự nhiên không chỉ cung cấp gỗ mà còn cung cấp nhiều loại lâm sản có giá trị ngoài gỗ như cây dược liêu, mây, tre… Nếu bảo vệ rừng tự nhiên hợp lý thì đây là nguồn lợi lớn, bên cạnh đó rừng tự nhiên còn gắn với cảnh quan, đa dạng sinh học, là tiềm năng lớn thu hút du lịch, góp phần đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Việt Nam.

Do đó, cần xây dựng cơ chế chính sách để phát huy hết tiềm năng của rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên và phát huy các giá trị về môi trường.

Theo các chuyên gia, rừng tự nhiên có thể giao hoặc khoán lại cho một số dịch vụ du lịch sinh thái hoặc thực nghiệm môt số mô hình ngoài gỗ, song vẫn có nhiều thách thức về ổn định tài chính và lợi tức trong dài hạn. Thách thức chủ yếu là biến các cơ hội, định hướng, chính sách và giải pháp thành hành động nhất quán và có hệ thống. (TTXVN/Bnews.vn 7/8; Thời Báo Kinh Tế Việt Nam 8/8, tr2) Về đầu trang

Đề xuất quy định theo dõi diễn biến rừng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Thông tư quy định theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp hàng năm.

Theo đó, sẽ theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp theo 4 nội dung sau: Theo trạng thái rừng; theo chủ quản lý; theo các nguyên nhân; theo mục đích sử dụng rừng.

Phương pháp thực hiện theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp được dự thảo nêu rõ bao gồm: 1- Công tác chuẩn bị; 2- Thu thập thông tin về rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp ; 3- Lập bản đồ hiện trạng rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp, tổng hợp kết quả; 4- Tổng hợp kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp các cấp; 5- Tổng hợp kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc; 6- Công bố kết quả diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp; 7- Quản lý lưu trữ cơ sở dữ liệu kết quả diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp.

Dự thảo nêu rõ, đối với việc công bố kết quả diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp ở địa phương, Chi cục Kiểm lâm tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, tổng hợp, kiểm tra hồ sơ kết quả của cấp huyện về mức độ đầy đủ, chính xác của kết quả thu thập và tính thống nhất của số liệu giữa các biểu cập nhật đối với từng cấp xã, huyện, giữa biểu số liệu với bản đồ; thẩm định kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp của cấp tỉnh và tổng hợp hồ sơ, trình Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp toàn tỉnh.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá mức độ đầy đủ của tài liệu, số liệu và tính pháp lý của hồ sơ công bố diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp do Chi cục Kiểm lâm tỉnh báo cáo; phê duyệt kết quả hiện trạng rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp của địa phương, báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước ngày 31/1 năm sau.

Đối với việc công bố kết quả diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc, Tổng cục Lâm nghiệp có trách nhiệm tổng hợp, kiểm tra hồ sơ kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp của các tỉnh; tổng hợp kết quả diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc, trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp toàn quốc trước ngày 31/3 năm sau. (Tài Nguyên & Môi Trường 8/8, tr2; Thiennhien.net 7/8; Đấu Thầu Online 7/8; Baotuyenquang.com.vn 7/8) Về đầu trang

Phù Yên – Sơn La: Tiếp nhận một cá thể khỉ quý hiếm

Hạt Kiểm lâm huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La cho biết: Đơn vị vừa tiếp nhận 1 cá thể khỉ mặt đỏ do người dân trao trả để thả về tự nhiên. Đây là loài động vật có tên khoa học Macaca arctoides, là loài động vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc nhóm II B theo quy định tại Nghị định 32 ngày 30/3/2006 của Chính phủ.

Cá thể khỉ nói trên do anh Đặng Đình Đạt, trú tại Khối 12, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên trao trả cho Hạt Kiểm lâm Phù Yên. Được biết, vào khoảng 16h40 ngày 3/8/2017, trên đường đi từ thành phố Sơn La về thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tại khu vực đèo Chẹn, Quốc lộ 37, thuộc địa phận xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, anh Đạt gặp một người dắt con khỉ đi trên đường. Biết đây là loài động vật quý hiếm cần được bảo tồn nên anh đã mua lại với số tiền là 1,5 triệu đồng.

Cá thể khỉ do anh Đạt trao trả nặng 9kg. Hiện tại đang được Hạt Kiểm lâm huyện Phù Yên theo dõi, chăm sóc để sớm thả về môi trường tự nhiên.

Ông Cầm Văn Ngoan, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phù Yên cho biết: Việc làm của anh Đặng Đình Đạt là rất đáng hoan nghênh. Mong rằng, trong thời gian tới, người dân khi mua hoặc bắt được những cá thể động vật hoang dã quý hiếm sẽ chủ động giao lại để Hạt Kiểm lâm có biện pháp bảo tồn.

Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm huyện Phù Yên sẽ tiếp tục tham mưu cho UBND huyện đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của nhà nước nghiêm cấm việc nuôi nhốt động vật rừng trái phép, giao nộp các cá thể động vật hoang dã quý hiếm cho cơ quan, đơn vị chức năng để có những biện pháp bảo tồn phù hợp. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 7/8; Sonlatv.vn 7/8) Về đầu trang

Vụ án Cty Ngọc Hưng buôn lậu hơn 500m3 gỗ trắc: Các bị cáo tiếp tục khẳng định vô tội

Ngày 7/8, TAND TP Đà Nẵng tiếp tục phiên tòa xét xử vụ án Công ty TNHH MTV Ngọc Hưng (Khóm Trung Chín, TT Lao Bảo, Hướng Hóa, Quảng Trị, gọi tắt Cty Ngọc Hưng) buôn lậu hơn hơn 500m3 gỗ trắc.

Phiên tòa ngày 7/8 được tiếp tục với phần tranh luận. Tham gia bào chữa cho bị cáo Đỗ Danh Thắng, Luật sư (LS) không đồng ý với tội danh và các điều khoản mà VKS truy tố đối với bị cáo. Theo đó, LS đưa ra các lập luận cho rằng cáo trạng cáo buộc bị cáo về tội danh “Thiếu trách nhiệm gây hiệu quả nghiêm trọng” là hoàn toàn không có cơ sở. Vì vậy, LS đề nghị HĐXX xem xét tuyên bị cáo không vi phạm tội danh nêu trên.

Tự bào chữa cho mình, bị cáo Thắng cho rằng cáo trạng đã căn cứ vào Điều 11 Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ để buộc tội bị cáo là không đúng. Bởi vì Điều 11 Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ là quy định “kiểm tra thực tế hàng hóa”. Việc này do Chi cục Hải quan cảng Cửa Việt nơi làm thủ tục xuất khẩu cho lô hàng.

Nội dung Công văn số 1453/TCHQ-PC ngày 25/3/2013 trả lời cơ quan cảnh sát điều tra C44 Bộ Công an thì theo quy định hiện hành, việc khám xét nơi cất giấu tang vật vi phạm hành chính thực hiện theo quy định Điều 49 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Điều 17 Nghị định 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ, Điều 27 Nghị định 97/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Cáo trạng đã căn cứ vào Điều 26 Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 6/12/2010 của Bộ Tài chính để buộc tội bị cáo là sai. Điều này là quy định cơ sở để xác định hàng hóa đã xuất khẩu là tờ khai đã làm xong thủ tục hải quan và phải có vận đơn nhưng chưa có vận đơn.

Cáo trạng nêu đã cấp vận đơn cho 5 container, nếu có thì đây là việc cấp vận đơn của đại diện hãng tàu chứ lô hàng chưa xếp hết lên tàu, thuyền trưởng chưa ký vận đơn, chưa xuất trình cho cơ quan hải quan và tàu chưa làm thủ tục xuất cảnh, còn đậu tại cảng, nằm trong sự giám sát quản lý của Hải quan. Mặt khác lô hàng có 22 container sao lại chỉ cấp vận đơn có 5 container.

Ngoài ra, theo bị cáo Thắng, cáo trạng căn cứ vào Điều 4, Điều 5 Quyết định số 1928/QĐ-TCHQ ngày 30/10/2006 của Tổng cục Hải quan để buộc tội nhưng các văn bản để làm căn cứ ban hành Quyết định tại thời điểm đó đã được thay thế bằng các văn bản khác. Vì lẽ đó, bị cáo Thắng đề nghị HĐXX xem xét lại tính pháp lý của những văn bản này để không làm oan người vô tội.

Bị cáo Thắng cũng đã bác bỏ nội dung cáo trạng cáo buộc bị cáo chỉ ra quyết định khám xét mà không phân công cụ thể việc khám xét, không phân công người chủ trì khám xét, không phổ biến kế hoạch, nội dung mục đích yêu cầu của việc khám xét cho công chức tham gia khám xét.

Bởi trên thực tế bị cáo đã xây dựng kế hoạch khám xét, đã phổ biến kế hoạch khám xét nội dung, mục đích, yêu cầu khám xét cho các công chức tham gia khám xét tại cơ quan. Tức là tìm hàng hóa vi phạm như CA quận Ngũ Hành Sơn (TP Đà Nẵng) đã phát hiện. Từng người đã thực hiện nhiệm vụ phân công, kết thúc khám xét đã có biên bản. Bị cáo đặt ra câu hỏi, nếu không phân công, phổ biến nhiệm vụ khám xét thì khám xét cái gì và tại sao tổ khám xét lại có kết quả ghi trong biên bản với đầy đủ của các chữ ký của các thành viên tham gia…

Liên quan đến việc báo cáo, ngày 29/12/2011, bị cáo có Công văn số 1753/HQCĐN gửi Chi cục Hải quan Cảng Cửa Việt và báo cáo Cục Hải quan TP Đà Nẵng kết quả khám xét lô hàng và giải quyết các công việc tiếp theo cho lô hàng. Bên cạnh đó, khi thực hiện quyết định khám xét, bị cáo đã có nhiều báo cáo gửi Cục Hải quan TP Đà Nẵng, Tổng cục Hải quan và cả Bộ tài chính… nên không thể tùy tiện kết luận bị cáo không thực hiện việc báo cáo theo quy định.

Theo bị cáo Thắng, trong suốt quá trình thực hiện công vụ theo chức năng nhiệm vụ trong vụ việc, bị cáo đã hoàn thành công tác chỉ đạo theo đúng quy định của pháp luật, sự chỉ đạo của Tổng cục Hải quan của Cục Hải quan TP Đà Nẵng. Toàn bộ lô hàng đều thực hiện theo quyết định khám xét, quyết định tạm giữ toàn bộ lô hàng đều do bị cáo ký. Bị cáo là người tổ chức giám sát nguyên trạng đến ngày cơ quan Công an bán đấu giá. Chính vì hàng hóa còn nguyên trạng, không thất thoát nên việc cáo trạng quy kết bị cáo phạm tội thiếu trách nhiệm gây hiệu quả nghiêm trọng là không đúng.

Tham gia bào chữa cho bị cáo Liệu có 6 LS tham gia. Sau khi nghe lời buộc tội của KSV-VKSND TP Đà Nẵng, theo ủy quyền của VKSND tối cao giữ quyền công tố phát biểu luận tội, các LS cho rằng Cáo trạng của VKS truy tố các bị cáo về tội buôn lậu là không đúng pháp luật hình sự.

Cụ thể, kết quả tố tụng tại phiên tòa đã làm rõ các hành vi mà VKS cáo buộc là hoàn toàn không có căn cứ nhưng KSV vẫn giữ nguyên truy tố. Trong đó,  VKS đã không tuân thủ nguyên tắc: Quyết định vụ án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trong trường hợp này ý kiến của KSV đã không tôn trọng sự thật khách quan, mang nặng ý thức chủ quan, đánh giá kết luận sự việc không đúng pháp luật, truy tố oan sai.

Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên Tòa có căn cứ khẳng định: Toàn bộ lô hàng gỗ do Cty Ngọc Hưng nhập khẩu từ Lào về Việt Nam theo Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 1505 ngày 17/12/2011, rồi ngay sau đó xuất khẩu nguyên lô đi Hồng Kông- Trung Quốc theo Tờ khai hàng hóa xuất khẩu số 849 ngày 19/12/2011 được thừa nhận thủ tục hải quan hợp pháp.

Hồ sơ tài liệu là có thật không có căn cứ làm giả; Nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu được xác định là do Cty Ngọc Hưng mua của doanh nghiệp Lào tại Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo rồi nhập khẩu mà có.

Vụ án Cty Ngọc Hưng buôn lậu hơn 500m3 gỗ trắc: Các bị cáo tiếp tục khẳng định vô tội Ông Trần Đình Diện cha của Trần Đình Quang xác nhận di thư do Quang để lại.

Do Cty Ngọc Hưng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa nên những người quản lý trực tiếp làm công việc nhập khẩu, xuất khẩu hàng hóa của Cty là các bị cáo Liệu và bị cáo Dung không phạm tội buôn lậu. Đối với trường hợp Cty Ngọc Hưng khai sai về số lượng và loại gỗ nhưng thấy việc khai báo này không làm giảm số thuế xuất khẩu phải nộp nên không gây thiệt hại cho Nhà nước.

Để phản bác quan điểm buộc tội của đại diện VKS, các LS đã phân tích, nhận định những tình tiết của vụ án, mà những tình tiết này đã được VKSND tối cao truy tố tại bản Cáo trạng số 02/VKSTC/V3 ngày 25/01/2016.

Trong đó, các LS chỉ ra sự mâu thuẫn tại các tài liệu, chứng cứ về vật chứng. Đối với vụ án này thì vật chứng vụ án là toàn bộ lô hàng gỗ do Cty  Ngọc Hưng nhập khẩu theo Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 1505 và sau đó xuất khẩu theo Tờ khai hàng hóa xuất khẩu số 849.

Thứ nhất, vật chứng có mâu thuẫn lớn về số lượng, chủng loại. Thể hiện, theo Tờ khai hàng hóa nhập khẩu  số 1505 ngày 17/12/2011 và Tờ khai hàng hóa xuất khẩu số 849 ngày 19/12/2011 thì hàng hóa gồm có: gỗ trắc cam bốt xẻ: 180.380 m3, gỗ trắc cam bốt tròn: 39.964 m3 và gỗ trắc cam bốt tròn tận dụng: 315.456 m3, tổng cộng : 535.800 m3.

Đặc điểm lưu ý là gỗ tròn và gỗ xẻ, đơn vị tính m3, không xác định ste. Theo Biên bản khám nơi cất giấu tang vật ngày 14/3/2012 của Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng thì có danh mục và khối lượng được xác định: gỗ trắc hình lọ tròn, tổng cộng 22 container: 218.958 m3 +333.883 ste và gỗ xẻ, số gỗ xẻ nghi vấn không phải là gỗ Trắc: 14.734m3   + 9,674 ste. Gồm gỗ trắc và nghi vấn không là gỗ trắc có đơn vị tính m3 và ste.

Theo Biên bản kết luận giám định số 151 ngày 12/3/2012 của Viện sinh thái tài nguyên và sinh vật (VST&TNSV), xác định khối lượng: 431.598m3 thuộc loại gỗ trắc và 21.506m3  gỗ giáng hương, không xác định ste.

Trong khi đó, theo Bản kết luận giám định số 783 ngày 26/11/2012 của Viện sinh thái tài nguyên và sinh vật, gồm: hộp+thanh, lóng của gỗ trắc và gỗ giáng hương: 614.672m3  và quy gộp hai loại gỗ, đơn vị tính: m3. Như vậy, các tài liệu, chứng cứ phản ánh về vật chứng vụ án đã không thống nhất về đơn vị tính, đồng thời mâu thuẫn về số lượng, phần các giám định đã gộp hai loại gỗ Hương và gỗ Trắc, như vậy là không có sự thống nhất.

Chính vì vậy, LS đề nghị đại diện VKS có ý kiến về sự không thống nhất và mâu thuẫn về số lượng, đơn vị tính giữa các tài liệu như: Biên bản khám nơi cất dấu tang vật; Biên bản kết luận giám định; Bản kết luận giám định... và do các tài liệu này không thống nhất thì tài liệu nào được coi là chứng cứ?

Thứ hai, theo Khoản 1 Điều 76 BLTTHS thì việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra. Xét thấy Cơ quan điều tra không đình chỉ vụ án mà lại bán vật chứng là vi phạm thẩm quyền. Lẽ ra vật chứng sẽ được chuyển theo hồ sơ vụ án.  Không chỉ vậy, việc bán vật chứng còn vi phạm điểm c khoản 2 Điều 75 BLTTHS. Vấn đề đặt ra ở đây, hiện nay vụ án không có vật chứng nhưng còn nhiều vấn đề chưa làm rõ về chủng loại, số lượng, đặc biệt ý kiến của các bị cáo yêu cầu thu hồi vật chứng về để giải quyết vụ án. LS đề nghị KSV có ý kiến về vấn đề này?

Thứ ba, LS cho rằng kết luận giám định trong vụ án này không hợp pháp. Theo yêu cầu của Cơ quan điều tra thì VST&TNSV giám định về loài thực vật mà không có nghĩa vụ giám định về khối lượng. VST&TNSV không thực hiện chức năng giám định theo yêu cầu của Cơ quan trưng cầu giám định mà lại phối hợp với Kiểm lâm vùng II là cơ quan không được thực hiện trưng cầu giám định là trái pháp luật.

Căn cứ khoản 2 Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Nhưng Bản kết luận giám định này đã áp dụng Thông tư số 01 ngày 04/01/2012 của Bộ NNPTNT là trái với nguyên tắc áp dụng pháp luật.

Theo các LS, trong trường hợp này, cần phải áp dụng Nghị định số 99/2009/NĐ -CP của Chính phủ. Theo Điều 7 của Nghị định này thì việc quy đổi đối với một số lâm sản như gốc, cạnh, ngọn... có hình thù phức tạp thì được quy từ khối lượng sang ste, nhưng phải thuộc loại thực vật nguy cấp, quý hiếm. Trong lúc đó, gỗ Trắc và gỗ Hương không thuộc nhóm nguy cấp, quý hiếm.

Theo quan điểm của các LS, cả hai bản giám định: Biên bản kết luận giám định số 151 và Bản kết luận giám định số 783 là không hợp pháp vì vi phạm thẩm quyền của người được trưng cầu giám định. Vi phạm phương pháp cân đo, và vi phạm nguyên tắc áp dụng văn bản pháp luật. Do các bản giám định này không hợp pháp nên cần phải thừa nhận danh mục hàng gỗ được ghi tại các Tờ khai hàng hóa nhập khẩu và tờ khai hàng hóa xuất khẩu của Cty Ngọc Hưng.

Liên quan đến lời khai của Trần Đình Quang (cháu vợ bị cáo Liệu và là nhân viên Cty Ngọc Hưng), các LS cho rằng anh Quang có hiện tượng bị đe dọa, ép cung, bức cung bởi lẽ ngay sau ngày từ Cơ quan điều tra trở về anh Quang đã tự tử (Quang đã có đơn gửi đến Ban Nội chính Trung ương, đến VKSND TC để tố cáo hành vi này). Vì vậy, lời khai của anh Quang có tại hồ sơ không được thẩm định nên không thể coi đây là chứng cứ giải quyết vụ án.

Trong vụ việc này anh Quang chết nên kết thúc việc tham gia tố tụng vì thế không thể viện dẫn những lời khai của anh Quang để rồi lấy đó làm căn cứ buộc tội các bị cáo Liệu và bị cáo Dung lập hợp đồng giả. Ngoài ra, có một số lời khai của Quang hiện tại không có trong hồ sơ vụ án, LS đề nghị HĐXX yêu cầu các cơ quan chức năng bổ sung lời khai này vào hồ sơ.

Nói về bản Hợp đồng kinh tế số 35/2011/HĐKT lập ngày 05/12/2011 giữa bên bán là Nhà máy chế biến gỗ nội thất Lào (Địa chỉ: Mường Phình – Savanakhet –Lào) do ông KhămFong Vorabuth – Giám đốc làm đại diện, với bên mua là Cty TNHH MTV Ngọc Hưng (Địa chỉ: 111 Quốc lộ 9 - thị trấn Lao Bảo- Hướng Hóa-  Việt Nam) do bà Trần Thị Dung giám đốc làm đại diện thì thấy, hợp đồng này có đối tượng hàng hóa gỗ trắc với số lượng: 535,800m3, trị giá hợp đồng 1.559.844.00 USD, có địa điểm giao hàng tại cửa khẩu Lao Bảo Quảng Trị. Thời gian giao hàng kể từ ngày ký hợp đồng cho đến ngày 15/12/2012. Ngoài ra bản hợp đồng còn quy định về các điều khoản liên quan khác.

Trong trường hợp này, một bên ký và đóng dấu trước rồi giao giấy tờ cho bên kia điền thông tin có số lượng hàng hóa tương ứng  thì thủ tục này pháp luật không cấm. Khi thấy bản hợp đồng trên đây đã thực hiện xong, các bên tham gia hợp đồng không có tranh chấp hoặc tố cáo về việc doanh nghiệp Việt Nam làm giả chữ ký và con dấu của doanh nghiệp Lào nên bản hợp đồng này là hợp pháp.

Cũng tại bản cáo trạng đã có viện dẫn kết quả điều tra tại Lào để kết luận bản Hợp đồng kinh tế số 35/2011 nêu trên giữa bên bán là Nhà máy chế biến gỗ nội thất Lào với bên mua là Cty Ngọc Hưng làm giả là không đúng. Vì Cơ quan CSĐT của Việt Nam sang nước ngoài để điều tra, trực tiếp lấy lời khai của công dân nước ngoài là trái với quy định Điều 340 và Điều 341 BLTTHS. Vi phạm về nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự và thực hiện thông qua tương trợ tư pháp.

Theo Luật tương trợ tư pháp thì việc cung cấp những thông tin cho các vụ án tại Việt Nam phải thông qua ủy thác tư pháp. Do đó toàn bộ tài liệu điều tra của Cơ quan điều tra Việt Nam trực tiếp thực hiện tại Lào là không hợp pháp. Mặt khác, nếu trong trường hợp Nhà máy chế biến gỗ nội thất Lào và ông KhămFong Vorabuth  có ý kiến cho rằng không có quan hệ mua bán với Cty Ngọc Hưng thì ý kiến này trái với các chứng cứ khác nên cũng không được chấp nhận. Không chỉ vậy, quá trình trả hồ sơ điều tra bổ sung, bị cáo chưa được đối chứng với những người mà Cơ quan CSĐT gặp, thu thập lời khai, điều này cũng đã vi phạm các quy định điều tra.

Cũng trong nội dung tranh luận bào chữa cho bị cáo Liệu và bị cáo Dung các LS đã đưa ra các lập luận đồng thời khẳng định: đối với lô gỗ nói trên của Cty Ngọc Hưng đã khai báo hàng hóa với Hải quan đầy đủ, đúng mặt hàng gỗ trắc trên tờ khai nhập khẩu số 1505 đi qua cửa khẩu chính ngạch Quốc tế Lao Bảo; Nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước; Vận chuyển trên 13 phương tiện ô tô XNC… không có hành vi giấu giếm và được thực hiện dưới sự giám sát của hải quan, biên phòng, kiểm dịch và các cơ quan chức năng tại CKQT – Lao Bảo.

Gỗ nhập khẩu không nằm trong danh mục cấm nhập khẩu và được ưu tiên nhập khẩu theo Nghị định 12/2006/NĐ-CP. Khi nhập khẩu, xuất khẩu không phải xin giấy phép. Bên cạnh đó, tại Công văn số 1328/BTC-XNK ngày 08/02/2013 của Bộ Công Thương thì doanh nghiệp Việt Nam không chịu trách nhiệm của doanh nghiệp nước ngoài về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa. Việc sai chủng loại giữa thực tế với khai báo không gây thiệt hại cho Nhà nước.

Một vấn đề nữa được đặt ra tại phiên tòa lần này đó là việc VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Liệu và Dung làm giả tài liệu để buôn lậu gỗ. Tuy nhiên, trong suốt quá trình xét hỏi, đại diện VKS vẫn chưa chứng minh được  tài liệu nào được làm giả và giả như thế nào. Theo đó, các LS viện dẫn, cơ quan tố tụng đã căn cứ các quy định nào để cho rằng hồ sơ khai báo nhập khẩu lô gỗ mà bị cáo Liệu khai báo là hồ sơ giả. Và trong trường hợp này, cơ quan tố tụng có có thể có bộ hồ sơ nào là thật để chứng minh, so sánh cho bộ hồ sơ được cho là giả của bị cáo hay không?

Vì vậy, đây chính là căn cứ để khẳng định hành vi của bị cáo Liệu và Dung trong việc nhập khẩu 535,800m3 gỗ vào Việt Nam, rồi ngay sau đó xuất khẩu đi Hồng Kông – Trung Quốc là không phạm “Tội buôn lậu” được quy định tại Điều 153 BLHS. Các LS đề nghị HĐXX xem xét, quyết định tuyên bố bị cáo Liệu và Dung không phạm tội buôn lậu theo quy định tại Điều 153 BLHS, khôi phục lại danh dự quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Liệu và bị cáo Dung, đồng thời trả lại toàn bộ giá trị tài sản là vật chứng của vụ án cho Cty Ngọc Hưng.

Các LS tham gia bào chữa cho bị cáo Nhi và bị cáo Thành đồng quan điểm với các LS khác đó là không đồng ý với tội danh mà VKSND TC cáo buộc bị cáo. Theo đó, các bị cáo Nhi và Thành đã thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ, trách nhiệm công vụ mà pháp luật quy định.

Cụ thể, đối với lô gỗ của Cty Ngọc Hưng, các bị cáo đã kiểm tra và đánh giá 5% trên tổng số tờ khai hải quan là đúng với quy định. Trong lô hàng xuất khẩu của Cty Ngọc Hưng các bị cáo đã kiểm hóa 5% của 535,800m3 tương đương 26m3, như vậy các bị cáo đã kiểm tra đúng và trong quá trình kiểm tra số lượng này không có dấu hiệu sai phạm nên kết luận là không vi phạm… Để công lý được thực thi, không làm oan người vô tội, các LS đề nghị HĐXX tuyên các bị cáo không phạm tội như truy tố của VKSND TC.

Phiên tòa sẽ được tiếp tục vào ngày 8/8 (Thứ 3) với phần tranh luận, đối đáp của đại diện VKS với các LS và bị cáo. (Công Lý Online 7/8; Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh Online 7/8) Về đầu trang

Phú Thọ: Cả xã đứng ngồi không yên vì ong tàn phá rừng keo

Hàng ngàn đàn ong ngoại lai đang được nuôi ở xã Minh Hòa, Ngọc Đồng, huyện Yên Lập, Phú Thọ bị nghi hút nhựa khiến những rừng keo 3 năm tuổi bị kiệt ngọn, ruỗng thân.

Hàng chục hộ dân 2 xã này đã có đơn tập thể kiến nghị chính quyền vào cuộc tìm nguyên nhân.

Bà Hoàng Thị Kim Thoa (xã Minh Hòa), có rừng keo 4 ha cho biết, đây là lần đầu tiên rừng keo bị hiện tượng này. Cây bị nứt vỏ, nhựa tứa ra đóng thành cục ở trên thân, đầu cành bị héo rũ, lá xơ xác, mất hết diệp lục.

 “Hơn 20 năm qua, rừng keo của bà con phát triển xanh tốt, chưa bao giờ xảy ra hiện tượng cây tứa nhựa, héo lá như thế này”, bà Thoa than thở.

Khoảng cuối tháng 6/2016, rừng keo 3-4 năm tuổi của gia đình bà Thoa bỗng dưng héo lá, xơ xác. Thời gian này có nhiều đàn ong ngoại lai (ong Ý) kiếm ăn trong vườn. Nghi rừng keo bị héo úa do ong hút nhựa, gia đình chị Thoa đã kiến nghị ra chính quyền xã.

Xã đã cử cán bộ đi kiểm tra thực tế và triệu tập các hộ có cây, gia đình cho thuê điểm nuôi ong và các chủ ong đến họp, sau đó đã vận động các chủ ong di dời một thời gian để kiểm chứng.

"Sau khi đàn ong được di dời, rừng keo của bà con chúng tôi hồi phục, lá xanh mỡ màng trở lại”, bà Thoa nói.

Sang đầu năm 2017, hàng ngàn đàn ong ngoại lại tiếp tục được đưa về nuôi tại xã khiến những khu rừng keo lại tiếp tục phát bệnh cũ.

Rừng keo của các gia đình các ông bà Hà Văn Hiền, Phùng Thị Hương, Ngọc Thị Toán, Hà Văn Sáng, Hoàng Văn Lễ, Đinh Thị Luyên, Bùi Thị Tâm, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Văn Ký… cũng rơi vào tình trạng tương tự.

 “Chúng tôi đã kiểm tra, ghi ngày tháng ong đến, ong đi để theo dõi. Điều đặc biệt là ong dường như chỉ tấn công những rừng keo 3 - 4 năm tuổi. Hiện tượng héo lá rõ nhất ở những rừng keo độ tuổi này”, bà Thoa cho biết thêm.

Chủ tịch xã Minh Hòa Đinh Văn Sơn cho biết: Xã đã cho người đi kiểm tra, ghi biên bản hiện trạng sau đó tổ chức cuộc họp giữa 3 bên: Người trồng rừng, người cho thuê đất đặt ong và người nuôi ong.

“Đồng thời, yêu cầu các hộ nuôi ong cam kết, nếu đàn ong ảnh hưởng tới cây trồng, vật nuôi của địa phương thì họ sẽ phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đền bù thiệt hại cho bà con”, Chủ tịch xã Minh Hòa nói.Theo ông Sơn, thời điểm hiện tại cả xã có 23.000 đàn ong ngoại lai đang nuôi thả.

“Chúng tôi cũng rất đau đầu về chuyện này. Bà con trồng keo là làm kinh tế. Các hộ dân từ nơi khác mang ong đến nuôi cũng là mưu sinh. Đàn ong nuôi lấy mật cũng đã được Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), Hiệp hội Nuôi ong cấp chứng chỉ nên chúng tôi không thể đuổi”, ông Sơn phân trần.

Theo lãnh đạo xã Minh Hòa, đàn ong ngoại lai là giống ong nước ngoài, kích thước to gấp 3 lần ong thường. Chúng rất phàm ăn, mùa mưa không phải mùa đơm hoa kết trái của cây cối nên chúng đói ăn, hút cả nhựa cây để làm mật.

Nhiều vùng miền khác, ong ngoại lai tấn công giết chết cả ong nhà để cạnh tranh nguồn thức ăn. Ong nhà, thời gian cho quay mật sau mỗi 6-8 tháng, nhưng ong ngoại lai chỉ 1 tháng.

“Hiệu quả kinh tế cao nên năm nay nhiều người dân trong xã cũng mua giống ong, học cách tự nuôi thả chứ không cho thuê đất đặt lồng ong nữa”, Phó chủ tịch xã Minh Hòa Đinh Văn Chờ cho hay.

Về “cuộc chiến” giữa người dân giữ rừng keo và đàn ong ngoại lai, lãnh đạo xã Minh Hòa cho biết: Ngày 27/6, Sở NN&PTNT tỉnh Phú Thọ đã lập đoàn kiểm tra, xác minh nguyên nhân gây thiệt hại rừng keo đối với hơn 10 hộ dân.

Kết quả kiểm tra cho thấy, tại các khu vực rừng keo tai tượng của các hộ dân Đinh Thị Toán, Mai Văn Sơn, Hoàng Thị Kim Thoa, tỷ lệ bệnh từ 70-100%, với hiện tượng biểu hiện ra bên ngoài: Nhiễm dịch, lá chuyển màu vàng không còn màu xanh đậm, lá già bắt đầu rụng, tán lá thưa, mọc nhiều chồi đỉnh.

Đa số cây được kiểm tra có vết loét, vị trí loét bị chảy nhựa sùi bọt trắng, gọt phần vỏ thấy xuất hiện nhiều lỗ mọt đục màu nâu đen; cắt ngang thân cây thấy phần vỏ và lõi gỗ có màu thâm đen.

Bà Lê Thị Hà (Trưởng phòng chăn nuôi – Sở NN&PTNT tỉnh Phú Thọ), Bùi Thị Thêm, phó Phòng nông nghiệp huyện Yên Lập cho hay: Bước đầu xác định nguyên nhân gây bệnh trên các lô rừng trồng là do nấm gây ra. Nấm bệnh tồn dư trong đất, nước thường xâm nhập vào mùa mưa, qua vết thương cơ giới do quá trình tỉa cành hoặc do sâu mọt đục thân.

Tuy nhiên, không đồng ý với kết luận này, các chủ rừng keo bị héo lá, nứt thân vẫn kiên quyết yêu cầu các chủ ong di dời ong ngoại lai ra khỏi khu vực.

Chủ tịch xã Minh Hòa Đinh Văn Sơn nói: Đến tháng 8/2017 này, chúng tôi sẽ vận động các hộ nuôi ong di dời đàn ong ra khỏi khu vực rừng keo của bà con một thời gian để chúng tôi theo dõi. Nếu như, sau khi đàn ong đi khỏi mà cây không bị làm sao, chúng tôi sẽ kiến nghị với các cơ quan chức năng và yêu cầu các hộ nuôi ong cam kết đền bù.

“Cả cơ nghiệp của chúng tôi chỉ trông mong vào mấy ha rừng trồng. Họ nuôi ong lấy mật cũng là làm kinh tế, nhưng vì thế mà khiến rừng của chúng tôi chết thì không chấp nhận được” - chị Thoa kiên quyết. (Vietnamnet.vn 7/8) Về đầu trang

Sự trừng phạt của nắng nóng

Các chuyên gia thời tiết cảnh báo đợt nắng nóng khủng khiếp hoành hành nhiều khu vực châu Âu hồi tuần trước sẽ tiếp tục càn quét 21 quốc gia trong tuần này.

Được xem là tồi tệ nhất kể từ năm 2003, đợt nắng nóng "Lucifer" đẩy nhiệt độ khắp châu Âu lên các mức cao kỷ lục suốt nhiều ngày liền, khiến ít nhất 10 người chết, giao thông và đời sống người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nguy hiểm không kém là cháy rừng tàn phá trên diện rộng, nhất là tại các nước phía Nam châu Âu như Bồ Đào Nha, Hy Lạp...

Ở Pháp, du khách và người dân tụ tập quanh các đài phun nước để tránh nóng. Giới chức trách Pháp đã triển khai thêm lính cứu hỏa và xe tải chở nước đến đảo Corsica để khống chế các vụ cháy rừng kéo dài suốt nhiều ngày qua.

Nước Ý cũng thê thảm không kém khi nhiệt độ những ngày gần đây thường xuyên đạt mức hơn 37 độ C - cá biệt ở vùng Campania quanh Naples lên đến 55 độ C hôm 4-8, khiến cả kẹo sing-gum cũng tan chảy bên trong lớp giấy bọc. Hạn hán trên phạm vi toàn quốc làm nông dân than thở rằng họ thiệt hại hơn 1 tỉ USD, theo báo The New York Times (Mỹ).

Ở thủ đô Bucharest - Romania, giới chức trách kêu gọi người dân không ra ngoài vào buổi trưa. Trong khi đó, những phương tiện giao thông hạng nặng bị cấm di chuyển trên các tuyến cao tốc chính vào dịp cuối tuần, còn tàu lửa cũng chạy với tốc độ chậm hơn.

Thậm chí, ở miền Nam Serbia, đường sắt đã bị gián đoạn vì nhiệt độ tăng quá cao làm méo mó đường ray. Đặc biệt, 50% lãnh thổ Tây Ban Nha bị đặt trong tình trạng báo động do nhiệt độ nhiều khu vực đạt ngưỡng 44 độ C.

Cuối tuần trước, một nghiên cứu do Ủy ban châu Âu thực hiện và đăng tải trên tạp chí khoa học The Lancet Planetary Health dự đoán số người chết do thời tiết cực đoan ở châu Âu tăng 50 lần vào cuối thể kỷ này, tức từ 3.000 người/năm hiện nay lên 152.000 người/năm. Nam Âu sẽ chịu thiệt hại nặng nề nhất và nắng nóng gây ra tới 99% số trường hợp tử vong kể trên. (Người Lao Động Online 7/8) Về đầu trang

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chỉ đạo làm rõ những nội dung Pháp luật Plus phản ánh

Sau loạt bài điều tra về vụ việc có nhiều dấu hiệu khuất tất trong việc đất làm muối của người dân đang canh tác “bỗng dưng” biến thành đất rừng phòng hộ. UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có công văn chỉ đạo rà soát làm rõ những thông tin mà Pháp luật Plus đã phản ánh.

Theo phản ánh của các hộ dân là bà Võ Thị Minh (ấp Tân Lộc, xã Tân Phước), ông Bùi Văn Riêm (ấp Phước Long, xã Tân Hòa), ông Ngô Trọng Hiếu (ấp Tân Lâp, xã Phước Hòa), bà Trần Nam Phương (ấp Tân Lộc, xã Tân Phước), cùng nhiều hộ khác có đất nằm trong quy hoạch dự án KCN Phú Mỹ II mở rộng thì đất của các hộ dân đều là đất canh tác sử dụng nhiều năm qua.

Theo đó, các hộ dân cho rằng trong quá trình sử dụng đất, người dân có thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước, việc sử dụng đất được chính quyền địa phương công nhận.

Thế nhưng, khi thu hồi đất của các hộ dân để giao cho Tổng Công ty Đầu tư phát triển đô thị KCN Việt Nam IDICO (chủ đầu tư dự án KCN Phú Mỹ II), chính quyền địa phương đã không ban hành quyết định thu hồi đất, không bồi thường thiệt hại về đất. Qua đó, quyền sở hữu đất của các hộ dân đã không được chính quyền địa phương xem xét.

Kì lạ hơn nữa là trong quá trình thu hồi, các phần đất của người dân bỗng được thông báo là đất của BQL RPH Bà Rịa – Vũng Tàu. Bất ngờ hơn, những phần đất này đã được BQL RPH ký hợp đồng giao khoán cho những người “lạ” mà người dân canh tác bao năm qua không hề hay biết.

Trước những nội dung trên, ngày 20/4/2017, UBND xã Tân Phước, huyện Tân Thanh cũng đã có văn bản số 103/UBND (văn bản số 103) về việc có ý kiến liên quan đến việc canh tác đất của các hộ dân thuộc dự án KCN Phú Mỹ II mở rộng.

Theo văn bản số 103 thì tại thời điểm năm 2007, 2008, các hộ ông Bùi Văn Riêm, bà Võ Thị Minh, bà Trịnh Thị Nam Phương đều đang trực tiếp canh tác làm đùng và sản xuất muối trên phần diện tích đất bị thu hồi để xây dựng dự án KCN Phú Mỹ II mở rộng.

Thế nhưng, tại các văn bản bàn giao rừng phòng hộ cho các hộ bà Nguyễn Thị Ngọc, ông Nguyễn Ngọc Tuấn, ông Trần Nam Anh thì UBND xã Tân Phước cùng BQL RPH đã tiến hành bàn giao rừng phòng hộ trên chính phần diện tích đất mà hộ ông Bùi Văn Riêm, bà Võ Thị Minh, bà Trịnh Thị Nam Phương đang canh tác.

Một điều lạ là, theo xác nhận tại văn bản số 103 thì tại thời điểm bàn giao, các phần đất trên đều đang được người dân canh tác muối và làm đùng nuôi tôm thì phần hiện trạng đất khi bàn giao cho các hộ bà Nguyễn Thị Ngọc, ông Nguyễn Ngọc Tuấn, ông Trần Nam Anh lại được ghi nhận trong biên bản bàn giao là rừng phòng hộ.

Như vậy, cùng trên một diện tích đất, xác nhận trong cùng một khoảng thời gian nhưng UBND xã Tân Phước lại vừa xác nhận là đất người dân canh tác, lại vừa xác nhận là đất rừng phòng hộ bàn giao cho những người lạ mặt.

Vừa qua, ngày 18/7/2017, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có công văn số 6579/UBND –VP về việc rà soát thông tin Pháp luật Plus đã phản ánh về loạt bài “Vụ đất nông nghiệp bị “hô biến” thành đất rừng phòng hộ”.

Theo đó, từ báo cáo của UBND huyện Tân Thành và công văn của Pháp luật Plus, chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có ý kiến như sau:

“Giao Chủ tịch UBND huyện Tân Thành chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh và các cơ quan liên quan cung cấp thông tin cho Báo Điện tử Pháp luật Plus theo yêu cầu. Thời hạn thực hiện trong tháng 7/2017.

Đối với các trường hợp theo Báo cáo số 3714/UBND-TNMT ngày 03/07/2017 của UBND huyện Tân Thành, giao Chủ tịch UBND huyện Tân Thành kiểm tra nội dung khiếu nại của các hộ, quá trình giải quyết vụ việc, để giải quyết trả lời công dân theo thẩm quyền; trường hợp thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh thì có báo cáo cụ thể, đề xuất UBND tỉnh chỉ đạo giải quyết.”

Như trước đó Pháp luật Plus đã thông tin, sau khi những phần đất canh tác ruộng muối nhiều năm nay của người dân bị thu hồi làm KCN bỗng dưng được “hô biến” thành rừng phòng hộ, BQL RPH cùng với chính quyền địa phương đã ký hợp đồng giao khoán cho những người lạ mà người dân không hề hay biết.

Theo đó, các hộ nhận khoán như bà Ngô Thị Ngọc, ông Nguyễn Ngọc Tuấn, ông Trần Nam Anh, bà Trần Thị Tý, bà Nguyễn Thị Hằng, bà Đàm Thị Vóc trong hợp đồng giao khoán đều thể hiện là phần lớn được giao rừng được trồng bằng ngân sách nhà nước và rừng tự mọc.

Thế nhưng, khi kiểm kê phần đất nhận khoán của các hộ trên bỗng dưng nhiều phần diện tích rừng được giao khoán lại “không cánh mà bay”. Trong đó, hiện trạng sử dụng đất này đột nhiên lại trùng đúng phần đất mà nhiều hộ dân tại địa phương canh tác làm muối và đùng nuôi tôm từ nhiều năm qua có xác nhận của chính quyền địa phương.

Người dân đổ mồ hôi công sức, quản lý sử dụng đất hàng chục năm qua nhưng nay đang đứng trước nguy cơ trở thành tay trắng. Với quan điểm chỉ đạo của UBND trỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, người dân đang hy vọng được xem xét về quyền lợi của mình.

Pháp luật Plus sẽ tiếp tục thông tin vụ việc tới bạn đọc. (Phapluatplus.vn 7/8) Về đầu trang

Khánh Hòa: Điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng

Quy hoạch 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011 - 2020 được phê duyệt từ năm 2011 đến nay đã bộc lộ một số bất cập. Vì vậy, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã giao Chi cục Kiểm lâm rà soát, điều chỉnh quy hoạch này.

Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Vạn Ninh được giao quản lý 18.952ha rừng và đất rừng. Tuy nhiên, trong lâm phận BQL được giao theo quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh, những diện tích người dân khai hoang, vườn rừng, nương rẫy, ruộng vườn người dân sử dụng nằm xen lẫn trong lâm phận được Nhà nước giao cho BQL lại không được bóc tách ra nên việc quản lý gặp nhiều khó khăn. Ông Đặng Quang Thành - Giám đốc BQL rừng phòng hộ Vạn Ninh cho biết: “Hiện nay, trong lâm phận đơn vị quản lý có khoảng 600ha đất sản xuất của người dân chưa được bóc tách, vẫn thuộc quy hoạch 3 loại rừng, nhiều khu vực còn được quy hoạch là rừng phòng hộ. Thậm chí có những khu vực người dân sản xuất lúa nước cách đây đã hơn 20 năm, đến nay vẫn thuộc khu vực rừng phòng hộ. Cụ thể, khu vực Hóc Chim (xã Vạn Phú), người dân đến đây sản xuất đã hàng chục năm, nhưng một phần cánh đồng ở đây lại đưa vào quy hoạch của tiểu khu rừng phòng hộ”. Không chỉ riêng BQL rừng phòng hộ Vạn Ninh, nhiều chủ rừng khác cũng gặp tình cảnh tương tự.

Tại thị xã Ninh Hòa, hàng nghìn héc-ta rừng ở khu vực thượng nguồn hồ Tiên Du theo quy hoạch hiện hành vẫn là rừng sản xuất, trong khi rừng ở khu vực này lại có chức năng phòng hộ cho hồ Tiên Du. Hay tại nhiều khu vực ở xã Ninh Tây (Ninh Hòa), đất sản xuất của người dân đã canh tác từ hàng chục năm nay vẫn thuộc quy hoạch rừng phòng hộ, khiến cho việc quản lý hết sức khó khăn. Tại khu vực các xã: Khánh Thành, Sơn Thái, Giang Ly… (huyện Khánh Vĩnh), nhiều khu vực dân cư sinh sống vẫn đang nằm trong quy hoạch đất rừng phòng hộ…

Với những bất cập hiện nay, ông Đặng Quang Thành kiến nghị: Đối với diện tích đất quy hoạch chức năng rừng phòng hộ, nếu không có chức năng phòng hộ thì nên chuyển sang rừng sản xuất và đề nghị cơ quan chức năng xem xét bóc tách giao cho người dân. Đối với những diện tích đất sản xuất của người dân đang nằm trong quy hoạch chức năng rừng phòng hộ thì nên bóc tách ra giao cho người dân.

Tổng diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch cho 3 loại rừng giai đoạn 2011 - 2020 của tỉnh là 284.459,4ha; trong đó, rừng đặc dụng 19.094,14ha, rừng phòng hộ 134.520,58ha và rừng sản xuất 130.844,68ha. Tới đây, quy hoạch 3 loại rừng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với chức năng rừng ở từng khu vực và phù hợp với kết quả kiểm kê rừng.

Ông Nguyễn Khương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: “Đến nay, việc kiểm kê rừng toàn tỉnh đã hoàn tất, kết quả kiểm kê đã được UBND tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt. Theo đó, tổng diện tích rừng, đất lâm nghiệp và đất quy hoạch lâm nghiệp đã trồng rừng nhưng chưa thành rừng của tỉnh là 322.205,84ha, tỷ lệ độ che phủ rừng là 46%. Qua kiểm kê cho thấy, quy hoạch 3 loại rừng hiện hành bộc lộ một số bất cập cần được điều chỉnh. Cụ thể, việc thực hiện quy hoạch theo dải, theo băng, trong đó tồn tại đất sản xuất của người dân theo kiểu da beo, da báo mà không bóc tách ra nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý. Một số khu vực có khả năng phòng hộ thì lại quy hoạch rừng sản xuất, trong khi những khu vực khả năng phòng hộ không đạt thì lại quy hoạch là rừng phòng hộ… Vì vậy, việc rà soát để điều chỉnh lại đất quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh là cần thiết”.

Tại cuộc họp giao ban của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới đây, ông Lê Tấn Bản - Giám đốc sở nhấn mạnh, trong nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017, bên cạnh việc tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy rừng; kiểm tra, ngăn chặn các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; triển khai các dự án phát triển rừng, trồng rừng thay thế…, ngành Lâm nghiệp cần khẩn trương rà soát, điều chỉnh ranh giới quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn tỉnh.

Ông Nguyễn Khương cho biết: “Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã giao Chi cục Kiểm lâm tiến hành phương án rà soát, chuyển đổi đất, rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất gắn với điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn tỉnh. Chi cục đã có công văn đề nghị UBND các địa phương, các chủ rừng nhà nước triển khai rà soát, chuyển đổi đất, rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất; những khu vực đất sản xuất ổn định của người dân trong khu vực đất, rừng phòng hộ cũng tiến hành rà soát lại để điều chỉnh; những khu vực có chức năng phòng hộ cho công trình thủy lợi, đường giao thông, phòng hộ ven biển… sẽ được điều chỉnh, cập nhật vào quy hoạch rừng phòng hộ…”. (Báo Khánh Hòa Online 7/8) Về đầu trang

Đắk Lắk: Chuyển giao bất cập, hàng trăm hécta rừng bị tàn phá

Việc chuyển giao hàng trăm hécta rừng tại tiểu khu 293, xã Cư M’lan huyện Ea Súp còn nhiều bất cập nên nhiều đối tượng lợi dụng phá rừng và lấn chiếm đất sản xuất. Việc phá rừng, tập kết gỗ diễn ra công khai thậm chí có sự chứng kiến của cơ quan chức năng nhưng chính quyền bối rối bởi rừng chỉ được giao trên giấy.

Đầu tháng 8 vừa qua, được sự hỗ trợ từ người dân, PV có mặt tiểu khu 293 (xã Cư M’lan, huyện Ea Súp) để tìm hiểu thực tế về tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất sản xuất. Người dân địa phương cho biết, khoảng ba tháng trở lại đây, mỗi ngày có hàng chục đối tượng mang cưa lốc vào rừng đốn hạ cây thân gỗ trên địa phận tiểu khu 293. “Họ vào rừng ngang nhiên tàn phá nhưng chúng tôi không thấy sự vào cuộc của chính quyền để xử lý tình trạng này. Chỉ trong thời gian ngắn, rừng bị đốn trụi” - một người dân bức xúc.

Theo quan sát, hầu hết các cây thân gỗ đều bị cưa hạ. Trên nhiều tuyến đường tại tiểu khu 293, PV còn phát hiện nhiều vết xe máy cày còn mới nguyên nghi để vận chuyển gỗ. Tiếp tục theo chân người dân địa phương, PV phát hiện tại đây có nhiều điểm tập kết gỗ (chủ yếu là gỗ Dầu) ven các trục đường lớn trong rừng và có điểm nằm trên cả Quốc lộ 29.

Bên cạnh phá rừng lấy gỗ, chúng tôi biết được nhiều đối tượng phá rừng với mục đích chiếm để canh tác. Tại tiểu khu 293 hiện xuất hiện nhiều chòi lán dựng lên để trông coi nông sản. Một lần nữa, người dân khẳng định với PV, các đối tượng phá rừng lấy đất sản xuất đã canh tác trong lòng tiểu khu 293 nhiều năm nhưng không bị xử lý.

Theo tìm hiểu của PV, năm 2011, UBND tỉnh Đắk Lắk ra quyết định cho Cty TNHH Anh Quốc (Cty Anh Quốc) thuê lại gần 1.200ha đất, rừng tại tiểu khu 293 thực hiện các dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng. Quá trình nhận đất, Cty Anh Quốc để xảy ra nhiều vi phạm về luật đất đai nên tháng 2.2017, UBND tỉnh Đắk Lắk ra quyết định thu hồi gần 1.200ha đất tại tiểu khu 293 của Cty Anh Quốc giao lại cho huyện Ea Súp quản lý. Tháng 4 vừa qua, UBND huyện Ea Súp giao lại cho UBND xã Cư M’lan quản lý toàn bộ diện tích gần 1.200ha đất tại tiểu khu 293 mà UBND tỉnh Đắk Lắk đã thu hồi của Cty Anh Quốc và yêu cầu “UBND xã Cư M’lan chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ quỹ đất được giao, không để tình trạng lấn chiếm xảy ra; xử lý nghiêm các trường hợp đã lấn chiếm, chuyển nhượng đất trái phép theo quy định của pháp luật…”.

Chủ trương là vậy nhưng theo ông Phạm Văn Dân - Phó Chủ tịch UBND xã Cư M’lan - thực tế xã chỉ được bàn giao đất, rừng “trên giấy tờ”. Sau khi khảo sát, ông Dân cho biết xã đã phát hiện ra thực trạng người dân phá rừng, lấn chiếm đất sản xuất với diện tích rất lớn tuy nhiên địa phương không có căn cứ để xử lý! “Chúng tôi mong muốn UBND tỉnh đánh giá lại thực địa tại tiểu khu 293; diện tích rừng còn bao nhiêu, để mất bao nhiêu đất bị người dân lấn chiếm, có số liệu cụ thể thì chúng tôi mới có cơ sở quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả” - ông Dân nói.

Báo cáo về thực trạng đất rừng trên địa bàn của xã Cư M’lan gửi cấp trên cũng thể hiện rõ, nguyên nhân mất rừng là bởi sự buông lỏng quản lý, để cho người dân vào lấn chiếm đất nên năm 2014, Cty Anh Quốc đã để mất hơn 205ha đất, rừng. Từ năm 2014 đến nay, tình hình phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên các dự án (trong đó có dự án của Cty Anh Quốc) diễn biến hết sức phức tạp. Các đối tượng dùng máy cày, máy múc khai phá đất cả ban đêm nhưng đến nay chưa có số liệu thống kê cụ thể.

Liên quan đến thực trạng các đối tượng phá rừng, lấn đất sản xuất trên địa bàn, PV đã liên hệ qua điện thoại đặt lịch làm việc với lãnh đạo UBND huyện Ea Súp, tuy nhiên không nhận được phản hồi. (Lao Động Online 8/8) Về đầu trang

Đắk Nông: Về việc giải tỏa hơn 29 ha đất rừng bị lấn chiếm dọc QL 14 – Đề nghị phương án không thu hồi phần lớn diện tích

Sau khi kiểm tra, rà soát lại diện tích 29,14 ha đất bị người dân lấn chiếm dọc quốc lộ 14 (QL14), UBND huyện Đắk Song (Đắk Nông) đã có văn bản đề xuất UBND tỉnh thu hồi một phần nhỏ diện tích, số còn lại đưa vào quy hoạch khu vực dân cư, đất sản xuất…

Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy và UBND tỉnh về việc xử lý dứt điểm vụ việc 29,14 ha đất bị người dân lấn chiếm dọc QL14, vào tháng 3/2017, UBND huyện Đắk Song đã thành lập Tổ kiểm tra, rà soát do Phòng Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) huyện chủ trì. Theo kết quả kiểm tra, rà soát mới nhất thì diện tích đất bị lấn chiếm nằm rải rác, trải dài trên 30 km dọc QL14 từ giáp thị xã Gia Nghĩa, qua các xã Trường Xuân, Nâm N’Jang đến giáp thị trấn Đức An của huyện Đắk Song. Trong số này, Tổ xác định có 56 nhà, lều quán và 2 bồn nước được xây dựng trên tổng diện tích gần 0,35 ha; 12,78 ha đất đang trồng cà phê, tiêu… của 19 hộ dân; còn lại là hành lang giao thông và đất rừng.Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy và UBND tỉnh về việc xử lý dứt điểm vụ việc 29,14 ha đất bị người dân lấn chiếm dọc QL14, vào tháng 3/2017, UBND huyện Đắk Song đã thành lập Tổ kiểm tra, rà soát do Phòng Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) huyện chủ trì. Theo kết quả kiểm tra, rà soát mới nhất thì diện tích đất bị lấn chiếm nằm rải rác, trải dài trên 30 km dọc QL14 từ giáp thị xã Gia Nghĩa, qua các xã Trường Xuân, Nâm N’Jang đến giáp thị trấn Đức An của huyện Đắk Song. Trong số này, Tổ xác định có 56 nhà, lều quán và 2 bồn nước được xây dựng trên tổng diện tích gần 0,35 ha; 12,78 ha đất đang trồng cà phê, tiêu… của 19 hộ dân; còn lại là hành lang giao thông và đất rừng.

Theo ông Nguyễn Duy Hiển, Trưởng phòng TN&MT huyện Đắk Song, trong số 56 hộ dân đã xây dựng nhà và lều quán thì có 3 hộ dân ở xã Trường Xuân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất, còn lại đã sinh sống, sản xuất từ nhiều năm trước. Nếu thực hiện việc giải tỏa toàn bộ 53 hộ còn lại thì sẽ cần khoảng 28,5 tỷ đồng để đền bù hỗ trợ, xây dựng khu tái định cư (chưa kể kinh phí đền bù đất tái định cư) và kinh phí tổ chức cưỡng chế. Không chỉ tốn kém kinh phí, phương án này còn không phù hợp với luật Đất đai năm 2013 và một số nội dung trong các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh trước đó. Trong điều kiện huyện Đắk Song chưa có khu tái định cư, việc tiến hành giải tỏa cùng một lúc hàng chục hộ dân có nguy cơ xuất hiện tình trạng chống đối, khiếu kiện đông người, tạo điểm nóng tại địa phương.

Trước tình hình đó, UBND huyện Đắk Song đã có văn bản đề xuất với UBND tỉnh chỉ thu hồi 0,44 ha đất của 8 hộ dân lấn chiếm ở thôn Boong Ring, xã Nâm N’Jang vì thuộc hành lang Công trình đường điện 500KV Mỹ Phước – Cầu Bông. Dự kiến, tổng kinh phí để giải tỏa, di dời các hộ này là 7,81 tỷ đồng (trong đó 810 triệu đồng hỗ trợ tài sản vật kiến trúc trên đất và 7 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng khu tái định cư và quỹ đất để bố trí dân cư ở địa phương). Gần 29 ha còn lại, UBND huyện Đắk Song đề nghị được bố trí quy hoạch đất ở, đất sản xuất nông nghiệp. Nếu được chấp thuận, UBND huyện Đắk Song sẽ quy hoạch hơn 7,7 ha đất khu dân cư, hơn 11 ha đất nông nghiệp, còn lại quy hoạch đất rừng thông và hành lang an toàn giao thông QL14.

Theo ông Lê Viết Sinh, Phó Chủ tịch UBND huyện Đắk Song, diện tích 29,14 ha không sử dụng được cho mục đích phát triển lâm nghiệp vì manh mún, nhỏ lẻ nên các cơ quan chức năng đã bóc tách, đưa ra khỏi rừng phòng hộ QL14, giao về cho địa phương quản lý. Trong điều kiện nhiều thôn của xã Nâm N’Jang như thôn 9, thôn 10, thôn 11 và thôn Boong Ring hiện chưa quy hoạch đất ở cho các hộ dân đang sinh sống, việc quy hoạch được các khu dân cư vừa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, vừa tạo được sự đồng thuận trong nhân dân.

Tại Điều 22, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ (Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Đất đai 2013) quy định rõ việc xử lý, cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật Đất đai trước 1/7/2014. Trong đó Điểm c, khoản 2 của Điều 22 có nêu: “Trường hợp lấn, chiếm đất và nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất.”

Qua tìm hiểu một số hộ dân đang lấn chiếm, sử dụng đất trong diện tích 29,14 ha cho thấy, không ít trường hợp đã xây dựng nhà cửa và sinh sống ổn định từ đầu những năm 2000 hoặc trước đó. Tuy nhiên, không ít trường hợp sử dụng đất để xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc và trồng cây trong vài năm trở lại đây. Kết quả rà soát từng trường hợp lấn chiếm đất của UBND huyện Đắk Song cũng cho thấy điều này.

Cụ thể, xã Trường Xuân có 27 trường hợp sử dụng đất trước năm 2015 và 2 trường hợp sử dụng sau năm 2015. Riêng xã Nâm N’Jang có 24 trường hợp sử dụng đất trước năm 2015, 10 trường hợp không xác định được thời gian và 16 trường hợp sử dụng đất sau năm 2015.

Theo đề xuất của UBND huyện Đắk Song, phương án không thu hồi phần lớn diện tích trong số 29,14 ha phù hợp các văn bản của pháp luật, chỉ đạo của cấp trên và điều kiện thực tế của địa phương. Tuy nhiên, UBND huyện Đắk Song chưa đề xuất được cách xử lý cụ thể đối với từng trường hợp xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc và trồng cây trước và sau năm 2015. Điều này vô hình trung đã “đánh đồng” tất cả các trường hợp lấn chiếm, sử dụng đất trong 29,14 ha dọc QL14 ở các thời điểm với nhau. (Báo Đăk Nông Online 7/8) Về đầu trang

Đánh giá khả năng phân tách rừng ngập mặn từ các lớp phủ thực vật của ảnh Sentinel-2 tại đầm Lập An, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Nghiên cứu do nhóm tác giả Hà Nam Thắng, Lê Văn Dân và Lê Thị Ngọc Tú thực hiện.

Rừng ngập mặn cung cấp nhiều dịch vụ hệ sinh thái quan trọng đối với tự nhiên và đời sống con người. Trong bối cảnh nóng lên toàn cầu và gia tăng các hoạt động kinh tế của con người, việc quan trắc sự thay đổi phân bố rừng ngập mặn về không gian và thời gian có tính cấp thiết cao.

Nghiên cứu đã sử dụng nguồn ảnh vệ tinh mới, được phân phối miễn phí với độ phân giải không gian cao. Một cảnh Sentienl 2 chụp ngày 13/2/2016 bao phủ khu vực nghiên cứu được sử dụng với mức xử lý 2A. Hai chỉ số: Simple Ratio và chỉ số diệp lục (Chlorophyll Index) được áp dụng để bổ sung thêm băng phổ mới, hỗ trợ quá trình phân tách và giải đoán sự phân bố các thảm rừng ngập mặn thưa, mỏng, diện tích nhỏ tại đầm Lập An.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ảnh Sentinel – 2 rất phù hợp cho mục đích lập bản đồ phân bố và quan trắc sự biến động của rừng ngập mặn. Chỉ số diệp lục (Chlorophyll Index) giải đoán sự phân bố rừng ngập mặn tốt nhất với độ chính xác chung đạt 88,07%, độ chính xác nguồn (Producer) đạt 79,81% đối với lớp rừng ngập mặn và hệ số Kappa đạt 0,816. Diện tích rừng ngập mặn ước tính từ ảnh bổ sung băng Chlorophyll Index đạt 17,68ha, tăng so với các nghiên cứu trước. (Canthostnews.vn 7/8) Về đầu trang

Kinh tế rừng tăng mạnh

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, thời gian qua, bình quân hàng năm trồng trên 225 nghìn ha rừng trồng tập trung, trong đó trên 90% là rừng sản xuất.

Năng suất rừng trồng tiếp tục được cải thiện, xuất hiện nhiều mô hình hợp tác, liên kết giữa công ty chế biến, sản xuất. Sản lượng gỗ rừng trồng tăng hơn 3,3 lần.

Khai thác rừng tự nhiên được quản lý chặt chẽ hơn, giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tăng hơn 2 lần, riêng 6 tháng đầu năm 2017 đạt gần 3,8 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ, ước cả năm đạt 7,6 - 7,8 tỷ USD. (Đại Đoàn Kết Online 7/8) Về đầu trang

Rừng thông đỏ bị xâm hại tại Lâm Đồng-kỳ 2: Triệt hạ không thương tiếc

Dù thông đỏ trên núi Voi được gắn số quản lý, khoanh thành "vùng bất khả xâm phạm" nhưng quần thể loài cây quý duy nhất ở Việt Nam này đang từng ngày bị lâm tặc "xẻ thịt".

Núi Voi là nơi có quần thể thông đỏ duy nhất tại Việt Nam, trải dài qua các xã Hiệp An, Hiệp Thạnh của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Những gì mà chúng tôi ghi nhận được cho thấy loài cây quý này đang bị tàn sát trước sự bất lực của cơ quan chức năng, chính quyền các địa phương.

Từ ngã ba Quạt Gió (xã Định An, huyện Đức Trọng) bọc ngang đường cao tốc Liên Khương, phải mất gần 2 giờ đi qua đường rừng, dốc dựng thẳng đứng, chúng tôi mới tiếp cận được vạt rừng thông đỏ. Ngay trước mắt chúng tôi là một cây thông đỏ lớn bị đốn hạ cách đây không lâu.

Ông H.A.D, người dẫn đường, nói nếu tính theo đường chim bay thì từ cao tốc Liên Khương đến vị trí cây thông đỏ bị chặt hạ chưa đầy 2 km. "Ở đây, người đồng bào chúng tôi không lấy loại gỗ này làm gì cả, chỉ có những người sành về nó, thích chơi nổi và có thế lực lớn mới dám cắt hạ ở vị trí gần như vậy. Chúng tôi được tuyên truyền đây là một loài cây được nhà nước bảo tồn đặc biệt, đụng vào là tù mọt gông. Dân chúng tôi chẳng ai dám đụng vào cả" - ông D. giãi bày.

Mất thêm 1 giờ trèo núi, vượt rừng, chúng tôi đến độ cao 1.400 m ở tiểu khu 277A-B (xã Hiệp Thạnh), nơi có quần thể thông đỏ Taxus wallichiana Zucc lớn nhất Việt Nam. Ngay tại tọa độ X-Y: 0573210-1307884 của tiểu khu 277A, chúng tôi ghi nhận cây thông đỏ to đến hơn 3 người ôm bị chặt hạ. Lâm tặc đã "xẻ thịt" cây thông này và lấy đi, hiện trường chỉ còn trơ lại đống cành lá héo úa. Ông D. áng chừng phần thân của thông đỏ cổ thụ này phải dài đến hơn 20 m và số gỗ có được cả chục mét khối.

Chung quanh cây thông này là những cây thông đỏ khổng lồ đã bị triệt hạ từ bao giờ, chỉ còn trơ gốc và một số bìa gỗ.

Vào sâu thêm một đoạn nữa, chúng tôi phát hiện 1 cây thông đỏ có đường kính khoảng 90 cm bị đốn hạ. Lâm tặc cũng đã kịp thời tẩu tán gỗ. Vết tích mùn cưa, ván bìa và đống cành vứt bỏ cho thấy cây thông này bị "xẻ thịt" mới chỉ vài ngày.

Nhìn những cây thông đỏ bị đốn hạ, chúng tôi không thể không đặt câu hỏi vì sao từ năm 2008, rừng thông đỏ ở Lâm Đồng đã được khoanh thành "vùng bất khả xâm phạm" nhưng quần thể cuối cùng còn sót lại này vẫn tiếp tục "chảy máu"? Lạ hơn nữa, hầu hết thông đỏ trên núi đều được đơn vị chủ rừng là Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Đại Ninh phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng cùng các cơ quan chức năng kiểm kê, gắn số quản lý.

Ông Nguyễn Văn Trung, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng, cho biết khoảng đầu tháng 6 vừa qua, từ phản ánh của người dân về tình trạng chặt phá thông đỏ, hạt đã cử lực lượng làm rõ.

Qua kiểm tra, Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng phát hiện tại lô C1, khoảnh 2, tiểu khu 277B, lâm phận do BQL rừng phòng hộ Đại Ninh quản lý, có 1 cây thông đỏ bị khai thác trái phép. Đường kính tại vị trí gốc chặt là 50 cm, chiều dài thân cây 8 m. Cây thông đỏ này bị cắt thành 3 lóng. Trong đó, 2 lóng bị lấy khỏi hiện trường; lóng còn lại đường kính 35 cm, dài 2,5 cm, khối lượng gỗ 0,240 m3. Lóng gỗ này bị sam mục, sâu bệnh, không còn giá trị sử dụng. Theo ông Trung, cây thông đỏ bị khai thác trái phép chưa thống kê và đánh số thứ tự trong phương án bảo vệ.

Ngoài ra, theo Báo cáo số 248/BC-HKL ngày 9-6 của Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng, trong quá trình kiểm tra, ông Bùi Đình Trung, cán bộ phụ trách tiểu khu 277B thuộc BQL rừng phòng hộ Đại Ninh, cung cấp cho tổ công tác 1 biên bản kiểm tra (không phải mẫu biểu quy định dành cho đơn vị chủ rừng). Biên bản này chỉ ghi ngày 11-2-2017 "phát hiện khai thác rừng trái phép" mà không lập hồ sơ vụ vi phạm theo biểu mẫu. Vụ việc sau đó cũng không được báo cáo lên hạt kiểm lâm để xác minh, điều tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

Lý giải về việc phát hiện thông đỏ bị khai thác trái phép nhưng không báo cáo lên Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng, ông Hoàng Hồng Quang, Phó BQL rừng phòng hộ Đại Ninh, thừa nhận là có sai sót vì không báo cáo bằng văn bản. "Ngày 11-2-2017, anh em BQL rừng kiểm tra phát hiện, lập biên bản hiện trường cây thông đỏ bị chặt hạ tại tiểu khu 277B. Đến ngày 14-3, lực lượng BQL rừng phòng hộ Đại Ninh tiếp tục lên hiện trường theo dõi và báo cáo bằng miệng với kiểm lâm địa bàn là ông Nguyễn Vinh Quang rồi" - ông Quang phân trần.

Ông Phạm Văn Huy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng, xác nhận có nắm thông tin về tình trạng đốn hạ thông đỏ trên núi Voi. Tuy nhiên, đến nay, chi cục vẫn chưa nhận được văn bản báo cáo cụ thể. "Chúng tôi đang rà soát tất cả các báo cáo để có hướng điều tra, xử lý" - ông Huy nói.

Sau khi phóng viên Báo Người Lao Động cung cấp các thông tin, hình ảnh cũng như tọa độ, vị trí cây thông đỏ có đường kính lớn vừa bị triệt hạ, ông Huy đã cho đối chiếu ngay. "Đây là vị trí rất mới và có khả năng một cây thông đỏ khác bị cắt hạ. Chúng tôi sẽ cắt cử người đến hiện trường điều tra làm rõ" - ông Huy khẳng định. (Người Lao Động Online 7/8) Về đầu trang

Đăk Lăk: Triển khai công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng những tháng cuối năm 2017

Sáng 7/8, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng (QLBVPTR) 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ những tháng cuối năm 2017. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Y Giang Gry Niê Knơng chủ trì Hội nghị.

Tính đến hết năm 2016, toàn tỉnh hiện có 721.786,1 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có 515.609 ha đất có rừng với độ che phủ rừng đạt 39,3%, tăng 0,07% so với năm 2015. Trong 6 tháng đầu năm 2017, các lực lượng chức năng đã kịp thời ngăn chặn và xử lý 709 vụ vi phạm lâm luật (tăng 57 vụ so với cùng kỳ năm 2016), tịch thu 1.363m3 gỗ các loại, 132 phương tiện, máy móc, 310 ster củi, 20 kg thịt động vật rừng. Các hành vi vi phạm chủ yếu như khai thác lâm sản; phá rừng; săn bắt, vận chuyển, mua bán động vật rừng; vận chuyển gỗ, lâm sản; mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản… Hiện nay, toàn tỉnh có 232.078 ha rừng được thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, phân theo chủ quản lý gồm: các Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ và Vườn quốc gia quản lý 135.292 ha; các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp quản lý 71.643 ha; doanh nghiệp ngoài nhà nước quản lý 5.049 ha; UBND cấp xã, các tổ chức chính trị xã hội quản lý 10.172 ha; cộng đồng, nhóm hộ, hộ gia đình quản lý 9.922 ha.

Bên cạnh những kết quả khả quan, công tác QLBVPTR vẫn còn gặp nhiều hạn chế, khó khăn như: tình trạng phá rừng trái phép diễn biến phức tạp với 187,7 ha rừng bị phá trái phép, tập trung nhiều ở các địa phương có nhiều dân di cư ngoài kế hoạch đến sinh sống nhưng chưa thực hiện được quy hoạch ổn định dân cư như huyện Ea Súp, Krông Bông, Krông Năng; công tác trồng rừng đạt thấp (mới chỉ trồng đạt 18,1% so với kế hoạch) do nguồn kinh phí từ ngân sách Trung ương chưa được bố trí, trong khi việc huy động nguồn lực, các thành phần kinh tế đầu tư cho công tác phát triển rừng còn hạn chế. Ngoài ra, trong quá trình chuyển đổi từ hình thức Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp sang Công ty TNHH hai thành viên Lâm nghiệp, có một số đơn vị có biểu hiện buông lỏng quản lý, để xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép. Các Công ty Lâm nghiệp đã chuyển đổi sang hình thức mới nhưng chưa có những chuyển biến tích cực về hoạt động, tổ chức sản xuất, kinh doanh, bảo vệ, phát triển rừng.

 Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Hoài Dương phát biểu thảo luận tại Hội nghị

Trước thực trạng trên, từ nay đến cuối năm, UBND tỉnh xác định nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện quyết liệt các giải pháp QLBVPTR, trong đó chú trọng việc thành lập và triển khai hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh giai đoạn 2016-2020; UBND cấp huyện tiếp tục thành lập và duy trì thường xuyên các đoàn kiểm tra liên ngành để xử lý vi phạm Luật bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn các huyện; tăng cường công tác phối hợp trong tổ chức các biện pháp tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng; tiến hành kiểm tra định kỳ và đột xuất các cơ sở chế biến, mua bán lâm sản; hoàn thành thực hiện rà soát quy hoạch 03 loại rừng và quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng cấp tỉnh đến năm 2020…

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Y Giang Gry Niê Knơng phát biểu kết luận Hội nghị

Phát biểu kết luận Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Y Giang Gry Niê Knơng đề nghị trong thời gian tới, các địa phương, các ngành chức năng của tỉnh cần tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm túc, quyết liệt Chỉ thị số 1685/CT-TTg, ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; tập trung tổ chức thực hiện Chương trình số 13-CTr/TU, ngày 19/5/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW, ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác QLBVPTR; đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng; kiểm tra, giám sát việc sử dụng đất lâm nghiệp của các tổ chức, cá nhân được giao đất, thuê đất và kịp thời xử lý các vụ vi phạm về đất đai; triển khai xây dựng Đề án tiếp nhận nguyên trạng Vườn Quốc gia Yok Đôn từ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về tỉnh quản lý; tổ chức xây dựng và triển khai các chương trình du lịch gắn với sinh thái rừng; tiếp tục hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị phấn đấu thực hiện trồng rừng đạt kế hoạch đã đăng ký… (Daklak.gov.vn 7/8) Về đầu trang

Hà Nội: Đề xuất thanh lý diện tích cháy rừng trong 4 năm

Trong nội dung Báo cáo số 199/BC-BQLR vừa ban hành, Ban Quản lý rừng phòng hộ - đặc dụng Hà Nội thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã làm rõ về việc thanh lý diện tích cháy rừng năm 2012, 2013, 2014, 2016 trên diện tích rừng do Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Hà Nội quản lý nay là Ban Quản lý rừng phòng hộ - đặc dụng Hà Nội.

Ban Quản lý rừng phòng hộ - đặc dụng Hà Nội cho biết, từ năm 2012 đến nay trên diện tích rừng đơn vị quản lý đã xảy ra một số vụ cháy rừng. Sau mỗi vụ cháy đơn vị đã phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra xác minh thực tế tại hiện trường xảy ra cháy rừng xác định rõ vị trí, diện tích và mức độ ảnh hưởng đến cây rừng của từng vụ cháy trong các năm 2012, 2013, 2014 và 2016, có những điểm cháy chỉ vài trục mét vuông là đã được lực lượng tại chỗ của đơn vị khống chế và dập tắt không gây thiệt hại gì đến tài sản rừng.

Thông thường các vụ cháy nhỏ cháy lướt dưới tán rừng mức độ táp lá cây rừng khoảng 10 - 20%. Nếu gặp thời tiết thuận lợi thì cây rừng sẽ phục hồi và phát triển trở lại. Nhưng cũng có một số vụ cháy do thời tiết nắng nóng khô hanh kéo dài cháy tán cây rừng gây táp lá cây rừng đến khoảng 70 - 80% cây rừng không thể phục hồi dẫn đến cây chết khô, bị mục thân, mật độ số cây còn lại thưa, rải rác không đảm bảo đủ mật độ thành rừng để đưa vào khoán quản lý bảo vệ rừng.

Để đảm bảo tốt cho công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh vào những diện tích rừng bị cháy không có khả năng phục hồi, Ban Quản lý rừng phòng hộ - đặc dụng Hà Nội đã báo cáo xin các cấp có thẩm quyền cho thanh lý diện tích 19,30ha rừng bị cháy các năm 2012, 2013, 2014, 2016 và đã được thành phố đồng ý theo Quyết định 3939/QĐ-UBND ngày 29/6/2017 về việc thanh lý một số diện tích rừng trồng không thành rừng (nguyên nhân do cháy rừng) trên diện tích rừng do Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Hà Nội quản lý. (Hanoi.gov.vn 7/8) Về đầu trang

Tiết kiệm hơn 200 tỷ đồng kinh phí thực hiện điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, dự án “Tổng Điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016” đã thực hiện với tổng kinh phí 750,95 tỷ đồng. Như vậy, so với tổng mức kinh phí dự án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đã tiết kiệm được 22%, tương đương hơn 200 tỷ đồng.

Tổng kinh phí được phê duyệt thực hiện “Dự án Tổng Điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016” là 960 tỷ đồng, trong đó, ngân sách nhà nước 771,02 tỷ gồm: ngân sách Trung ương là 672,08 tỷ đồng, ngân sách địa phương 98,94 tỷ đồng.

Như vậy, ngân sách Trung ương tiết kiệm được 72,3 tỷ so với dự toán, tương đương 16%. Ngân sách địa phương tiết kiệm được 139,45 tỷ, tương đương 27%.

Nhiều địa phương đã tự bảo đảm kinh phí thực hiện kiểm kê rừng (ngân sách Trung ương không hỗ trợ) như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn cho biết, qua tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016 cho thấy, diện tích rừng tăng 989.607 ha, bình quân 160.000ha/năm. Diện tích rừng ở nhiều vùng sinh thái tăng nhanh như: Đông Bắc tăng 5%, Bắc Trung bộ tăng 3%, Tây Bắc tăng 1,5% và Duyên hải Nam Trung Bộ tăng 5,2%… Đây cũng là những vùng có sự tăng lên cả về diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên.

Diện tích rừng tăng do nhu cầu gỗ nguyên liệu tăng mạnh do ngành công nghiệp chế biến gỗ đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực, phát triển mạnh số lượng các doanh nghiệp chế biến gỗ đã tăng từ 1.200 doanh nghiệp (năm 2000) lên đến 3.500 doanh nghiệp (năm 2015).

Nhiều vùng cây nguyên liệu công nghiệp tập trung (Đông Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung bộ) được hình thành, hiệu quả trồng rừng được cải thiện, người trồng rừng có cơ hội tích lũy tăng thu nhập, nên diện tích rừng tăng nhanh. Ngoài ra, một số diện tích do khoanh nuôi tái sinh tự nhiên đã phục hồi đủ tiêu chí thành rừng. (Dantocmiennui.vn 7/8) Về đầu trang

Bắc Giang: Yên Dũng nâng cao kỹ năng phòng cháy, chữa cháy rừng

Hạt kiểm lâm huyện Yên Dũng (Bắc Giang) vừa phối hợp với Tổ kiểm tra, tập huấn- Chi cục kiểm lâm tỉnh tổ chức tập huấn sử dụng trang thiết bị, dụng cụ phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trên địa bàn huyện năm 2017. Lớp tập huấn diễn ra tại thực địa- khe Hang Dầu, xã Nham Sơn.

Tham gia tập huấn gồm các lao động hợp đồng, tổ trưởng tổ xung kích bảo vệ rừng và PCCCR; đại diện các thôn, tiểu khu có rừng trên địa bàn 6 xã, thị trấn (Nham Sơn, Yên Lư, Nội Hoàng, Tiền Phong, Tân Liễu, thị trấn Neo); cán bộ công chức, viên chức Hạt Kiểm lâm huyện…Học viên được cán bộ, kỹ thuật viên hướng dẫn sử dụng thiết bị, công cụ, dụng cụ chữa cháy rừng như: Máy bơm nước, máy cắt thực bì, máy cưa xăng, máy thổi gió, đồng thời được thực hành sử dụng các dụng cụ PCCCR tại hiện trường. (Báo Bắc Giang Online 7/8) Về đầu trang

Kon Tum: Hỗ trợ gây nuôi và bảo vệ động vật hoang dã

Động vật hoang dã có vai trò quan trọng trong việc cân bằng hệ sinh thái trong môi trường tự nhiên. Thực hiện nhiệm vụ được giao, trong những năm qua, lực lượng kiểm lâm các cấp trong tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền và tạo điều kiện cho người dân gây nuôi động vật hoang dã nhằm góp phần giảm áp lực bẫy bắt động vật hoang dã trong môi trường tự nhiên.

Theo các cán bộ kiểm lâm, chúng tôi về thăm cơ sở gây nuôi động vật hoang dã của bà Bùi Thị Ải, thôn Thung Nai, xã Đăk Xú (huyện Ngọc Hồi). Bà Ải cho biết, được sự quan tâm và tạo điều kiện của cán bộ kiểm lâm huyện, năm 2008, gia đình bà xây dựng cơ sở nuôi nhím. Đến nay, cơ sở phát triển 24 con nhím, trong đó có 4 con nhím giống. Mặc dù giá nhím khoảng 200 nghìn đồng/kg, thấp hơn nhiều so với những năm trước, nhưng việc nuôi nhím giúp gia đình có thêm thu nhập và nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng. 

Theo ông Đào Tuấn - Phó Chủ tịch UBND xã Đăk Xú, hiện nay, trên địa bàn xã chỉ có 2 hộ nuôi động vật hoang dã là nhím và chồn. Các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã đều đăng ký nuôi và thực hiện theo đúng quy định. Mặc dù thị trường tiêu thụ gặp khó hơn trước, nhưng việc nuôi động vật hoang dã cũng góp phần giúp cho các hộ nuôi kiếm thêm thu nhập, nâng cao đời sống.  

Bên cạnh việc tạo điều kiện cho người dân gây nuôi, Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi còn phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền người dân nâng cao ý thức bảo vệ động vật hoang dã và kiểm tra các nhà hàng, quán ăn nhằm ngăn chặn việc tiêu thụ động vật hoang dã có nguồn gốc từ môi trường tự nhiên.

Ghé quán ăn của bà Hoàng Thị Mai Lan, thôn Lịt, xã Bờ Y, chúng tôi được biết gia đình bà thực hiện đúng các quy định. “Gia đình tôi ký cam kết không buôn bán động vật hoang dã có nguồn gốc từ tự nhiên. Nếu khách có nhu cầu, tôi sẽ mua động vật hoang dã ở các cơ sở gây nuôi trên địa bàn để phục vụ khách”- Bà Lan khẳng định.

Bàn về gây nuôi động vật hoang dã, ông Dương Đắc Thế - Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi thừa nhận, mặc dù gần đây đầu ra gặp khó khăn, nhưng toàn huyện vẫn còn 5 cơ sở nuôi động vật hoang dã, cầy vòi hương, nhím, rùa với 168 cá thể (50 heo rừng, 3 cầy vòi hương, 5 rùa và 110 con nhím). Việc tạo điều kiện cho người dân gây nuôi cùng với việc tăng cường kiểm tra và tổ chức cho các nhà hàng ký cam kết không buôn bán thịt, kinh doanh động vật hoang dã góp phần tích cực trong việc bảo vệ động vật hoang dã trong môi trường tự nhiên. 

Ông Thế cũng khẳng định, đối với các đối tượng săn bắt, buôn bán động vật hoang dã trái phép, Hạt Kiểm lâm huyện cũng cương quyết xử lý nhằm răn đe và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho người dân.

Trên thực tế, trong năm 2016, Hạt Kiểm huyện Ngọc Hồi phát hiện và xử lý 2 trường hợp vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng; tịch thu 17 cá thể động vật hoang dã cầy hương, kỳ đà, ba ba… Đối với các cá thể còn sống, Hạt thả vào rừng tự nhiên theo quy định. Đối với các cá thể yếu, bị thương tật, Hạt chuyển cho Trung tâm Cứu hộ Vườn Quốc gia Chư Mom Ray cứu hộ.

Đến huyện Đăk Glei, chúng tôi vào thăm một cơ sở chăn nuôi động vật hoang dã của bà Trương Thanh Phước ở thôn Broong Mỹ, xã Đăk Môn. Động vật hoang dã được bà Phước nuôi gồm rùa, cầy hương, cầy mốc, nhím, heo rừng và dúi. Bà Phước khẳng định, cơ sở nuôi động vật hoang dã của bà thường được lực lượng kiểm lâm huyện kiểm tra và bà thực hiện đúng cam kết.

“Khi động vật hoang dã được nhập, xuất hay chết, gia đình đều báo cho kiểm lâm phụ trách địa bàn. Cơ sở nuôi có đầy đủ giấy phép đăng ký kinh doanh theo quy định” - bà Phước nói và đưa chúng tôi xem giấy tờ.

Ông Lê Tiến Trung - Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Glei khẳng định, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ động vật hoang dã được thường xuyên. Nhờ vậy, nhận thức người dân về gây nuôi và bảo vệ động vật hoang dã được nâng lên.

Khẳng định điều này, ông Trung nêu lên điển hình về việc em Trần Thanh Nhàn, thôn Đăk Nhoong, xã Đăk Nhoong (huyện Đăk Glei) trong tháng 6/2017 khi đi rẫy nhặt được con voọc chà vá chân nâu giao cho kiểm lâm cứu hộ.

Trao đổi với tôi, Nhàn thật lòng: Nghỉ hè (em học Trường Cao đẳng Sư phạm ở Kon Tum - PV), em về nhà đi rẫy hái rau và nhặt được con voọc (khoảng 1kg) yếu ớt, lạc mẹ ở bụi cây. Nghe cán bộ kiểm lâm tuyên truyền về bảo vệ động vật hoang dã và qua xem báo đài, em giao voọc cho kiểm lâm huyện cứu hộ. Con voọc sau đó được kiểm lâm kịp thời bàn giao cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Cúc Phương.

Nhìn lại công tác gây nuôi và nâng cao nhận thức người dân bảo vệ động vật hoang dã, ông Trần Tân Văn - Phó phòng Quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) cho biết, hàng năm, Chi cục ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các hạt kiểm lâm tăng cường tuyền truyền bảo vệ động vật hoang dã; khuyến khích người dân gây nuôi động vật hoang dã để nâng cao thu nhập. Thông qua các hoạt động này góp phần nâng cao ý thức người dân trong việc bảo vệ động vật hoang dã, giảm áp lực lên việc bẫy bắt động vật hoang dã trong môi trường tự nhiên.

Việc tạo điều kiện cho người dân gây nuôi động vật hoang dã cùng với việc tăng cường bảo vệ động vật hoang dã trong môi trường tự nhiên góp phần cần bằng môi trường sinh thái. Đây không chỉ là việc làm có ý nghĩa nhân văn mà còn góp phần bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta. (Baokontum.com.vn 7/8) Về đầu trang

Bình Thuận: Rừng vùng giáp ranh vẫn “nóng”

Những tháng gần đây, tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh có dấu hiệu “giảm nhiệt”, nhưng nạn phá rừng ở vùng giáp ranh vẫn “nóng”…

Để ngăn chặn nạn phá rừng, ngay từ đầu năm nay, lực lượng kiểm lâm toàn tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp bảo vệ rừng, trọng tâm là đẩy mạnh tuần tra kết hợp với tuyên truyền. Xác định nơi phức tạp là những khu vực giáp ranh các tỉnh nên công tác kiểm tra truy quét được tăng cường. Bên cạnh đó, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và chống lấn chiếm đất lâm nghiệp cũng thực hiện thường xuyên, liên tục. Nhờ vậy, nhiều vụ vi phạm lâm luật đã được phát hiện, ngăn chặn, không để xảy ra điểm nóng về phá rừng.

Ông Huỳnh Hiếu – Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, cho biết: Tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng những năm gần đây có chiều hướng giảm dần (6 tháng đầu năm 2017 đã giảm 32,7% số vụ so cùng kỳ). Mùa khô 2016 – 2017, toàn tỉnh xảy ra 20 vụ cháy (giảm 33% so mùa khô 2015 – 2016), và cũng nhờ phát hiện, ngăn chặn kịp thời nên chủ yếu cháy trảng cỏ, cây bụi, lá khô dưới tán rừng khộp nên không thiệt hại đến cây gỗ. Tại vùng giáp ranh, lực lượng kiểm lâm và bảo vệ rừng 2 tỉnh Bình Thuận – Lâm Đồng còn phối hợp tổ chức gần 150 đợt kiểm tra, truy quét nên không để phát sinh điểm nóng về phá rừng.

Qua thống kê, 7 tháng năm 2017, toàn tỉnh xảy ra 238 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, trong đó 81 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, 3 vụ phá rừng, 51 vụ vi phạm về khai thác gỗ và lâm sản, 9 vụ vi phạm về chế biến gỗ, 2 vụ vi phạm về quản lý động vật hoang dã và 92 vụ vi phạm khác. Qua xử lý đã tịch thu 119m3 gỗ tròn, 158m3 gỗ xẻ các loại, 92 kg động vật hoang dã, 72 chiếc xe máy, cùng hàng chục phương tiện khác. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng còn phát hiện 7 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp (Hàm Thuận Bắc 5 vụ, Bắc Bình 2 vụ).

Phó Chi cục trưởng cho biết thêm: Mặc dù có nhiều chuyển biến, số vụ vi phạm giảm nhưng tình hình phá rừng vùng giáp ranh giữa huyện Bắc Bình với huyện Đức Trọng và Di Linh (tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục diễn biến phức tạp; có vụ phải xử lý hình sự. Do đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã xây dựng và đưa vào hoạt động Trạm bảo vệ rừng tại khu vực Đỉnh Xanh (thuộc lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy) – đoạn giáp ranh với huyện Đức Trọng. Đồng thời, yêu cầu các Hạt Kiểm lâm, Đội Kiểm lâm cơ động của tỉnh trong thời gian tới phải chủ động và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các đơn vị chủ rừng và lực lượng bảo vệ rừng tỉnh bạn để nắm chắc diễn biến tình hình phá rừng nội tỉnh và vùng giáp ranh. Qua đó kịp thời tổ chức kiểm tra, xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, chống người thi hành công vụ. (Báo Bình Thuận Online 7/8) Về đầu trang

Quảng Nam: Đề nghị khẩn cấp bảo tồn đàn vooc chà vá chân xám quý hiếm

Chiều 7/8, thông tin từ Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam cho biết, đã có báo cáo và đề xuất UBND tỉnh Quảng Nam thống nhất chủ trương xây dựng đề án phục hồi sinh cảnh rừng, kết nối từ xã Tam Mỹ Tây đến xã Tam Trà, huyện Núi Thành để tạo sinh cảnh bảo tồn cho đàn voọc chà vá chân xám sinh sống.

Hiện nay, đàn voọc có khoảng 16 – 20 cá thể sinh sống biệt lập trên diện tích rừng tự nhiên nghèo hơn 5ha và đang chịu áp lực tác động rất lớn do sinh cảnh bị thu hẹp, xung quanh là rừng trồng của người dân; ảnh hưởng của thời tiết lạnh vào mùa mưa, con non thường bị chết cóng... (Công An Nhân Dân 8/8, tr4) Về đầu trang

Quảng Ninh: Bảo tồn vườn quốc gia Bái Tử Long

Vườn quốc gia (VQG) Bái Tử Long (huyện Vân Đồn) vừa được Trung tâm Đa dạng sinh học ASEAN công nhận danh hiệu Vườn Di sản ASEAN. Đây là VQG thứ 6 của Việt Nam và thứ 38 của ASEAN được nhận danh hiệu này.

VQG Bái Tử Long có diện tích 15.783 ha, bao gồm biển và các đảo nổi, tạo ra quần thể tổ hợp các hệ sinh thái khá độc đáo của hệ thống VQG Việt Nam và trên thế giới. Trong đó, diện tích rừng và đất rừng là 6.125 ha với hơn 80 đảo lớn nhỏ chia thành 3 cụm đảo chính: Ba Mùn, Trà Ngọ và Sậu, diện tích mặt nước biển, vụng áng, bãi triều ngập nước 9.650 ha. VQG Bái Tử Long là tổ hợp các hệ sinh thái toàn vẹn bao gồm: Hệ sinh thái núi đất, hệ sinh thái núi đá vôi và hang động, hệ sinh thái biển (các rạn san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn).

Các hệ sinh thái là nơi sinh sống của 2.235 loài động, thực vật qúy hiếm và đặc hữu. Quần thể thực vật gồm các cây thuộc họ sồi và dẻ, long não, lim xanh, kim giao núi đất... Động vật có các loài thú móng guốc phát triển như: lợn rừng, hoẵng, nhím, don, báo gấm, nhiều loại rùa... Nơi đây có quần thể nai vàng duy nhất trong vùng Đông Bắc. Các loài động, thực vật trong vùng rừng và vùng biển tại VQG Bái Tử Long phong phú, quý hiếm, có giá trị cao về bảo tồn nguồn gen...

Nhiều năm qua, VQG Bái Tử Long thực hiện cứu hộ, chăm sóc và thả về môi trường sống tự nhiên trên đảo Ba Mùn trên 200 cá thể động vật rừng và 5 cá thể rùa biển. Đồng thời, hợp tác với các tổ chức quốc tế thực hiện nhiều dự án như: Bảo tồn rùa biển; nâng cao năng lực quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học; hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái cộng đồng và giáo dục môi trường... Để bảo tồn và phát triển bền vững các giá trị sinh thái, cảnh quan đặc biệt của VQG Bái Tử Long, Ban Quản lý VGQ Bái Tử Long tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ rừng của người dân. Do đó, hệ động thực vật ở VQG Bái Tử Long được bảo tồn nguyên vẹn. Hàng năm, các hoạt động cứu hộ động vật hoang dã thường xuyên được triển khai.

Ông Nguyễn Thanh Phương, Giám đốc VQG Bái Tử Long cho biết, về lâu dài, để bảo tồn và phát triển các giá trị đặc hữu của VQG Bái Tử Long, đơn vị đề xuất, kiến nghị với cơ quan chức năng có những chính sách tạo hành lang pháp lý và cơ chế rõ ràng, thuận lợi nhất cho các bên tham gia trong việc phát triển du lịch sinh thái của VQG Bái Tử Long. Đầu tư phân ranh giới và cắm mốc thả phao phân định ranh giới của VQG trên biển; cho phép thành lập Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường. Liên doanh liên kết với các tổ chức trong nước và quốc tế, đầu tư phát triển du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường VQG Bái Tử Long. (Tài Nguyên & Môi Trường 8/8, tr8) Về đầu trang

Quảng Bình: 'Xóa sổ' điểm nóng gỗ lậu Hóa Sơn

Sau loạt bài phản ánh của Pháp luật Việt Nam về nạn “lâm tặc” hoành hành ở vùng rừng Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, lực lượng chức năng đã cùng bắt tay vào cuộc và ngăn chặn được nạn khai thác, vận chuyển gỗ lậu trái phép tại đây.

Trước đó, Báo Pháp luật Việt Nam đã có loạt bài viết thông tin về tình trạng gỗ lớn trong vùng rừng tự nhiên rộng hàng trăm hecta ở Hóa Sơn – khu vực vùng đệm của Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha – Kẻ Bàng bị lâm tặc khai thác. Loạt bài viết đã nhận được sự quan tâm của bạn đọc và dư luận đã đặt ra câu hỏi lớn về trách nhiệm của chủ rừng, kiểm lâm, biên phòng cũng như chính quyền địa phương.

Ngay sau đó, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc kiểm điểm, kỷ luật các tập thể, cá nhân liên quan và tăng cường công tác bảo vệ nghiêm ngặt khu vực rừng này.

Thực hiện chỉ đạo, Cty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình đã tiến hành kiểm điểm, kỷ luật đối với các cá nhân, đơn vị liên quan. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình và Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng (đơn vị thuộc Ban quản lý VQG này) cũng tiến hành họp kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kiểm điểm trách nhiệm các đơn vị, cá nhân không làm tốt nhiệm vụ, để xảy ra nạn lâm tặc phá rừng.

Bên cạnh đó, UBND tỉnh Quảng Bình cũng có văn bản đồng ý việc lập chốt liên ngành đặt trên con đường độc đạo nối từ xã Hóa Sơn ra đường Hồ Chí Minh để thuận lợi cho việc kiểm soát, kiểm tra lâm sản. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đã ban hành ngay quyết định về việc thành lập tổ công tác thực hiện nhiệm vụ chốt chặn, truy quét lâm tặc, kiểm tra kiểm soát lâm sản tại địa bàn xã Hóa Sơn. Quyết định cũng đề xuất lực lượng Chi nhánh Lâm trường Minh Hóa (đơn vị thuộc Cty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình), Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, Đồn Biên phòng Cà Xèng, Công an huyện Minh Hóa sự tham gia thực hiện nhiệm vụ tại chốt kiểm tra liên ngành này.

Chốt kiểm tra liên ngành có gác chắn barie được đặt tại bản Lương Năng, xã Hóa Sơn và có quy chế hoạt động rõ ràng giữa các lực lượng. Theo ghi nhận của Pháp luật Việt Nam, sau khi chốt kiểm soát đi vào hoạt động, các hành vi vi phạm lâm luật, khai thác, vận chuyển lâm sản đã giảm đi rõ rệt. Trước đây, khi tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản diễn ra phức tạp ở Hóa Sơn, nhiều người dân địa phương đã bỏ hoang đất sản xuất để vào rừng khai thác lâm sản. Nhưng đến nay, ý thức người dân đã thay đổi, họ đã trở lại với những mảnh đất mà trước đó họ đã bỏ hoang để trồng trọt.

Cụ thể, từ đầu năm đến nay, chốt kiểm soát liên ngành đã cùng phối hợp xử lý 9 vụ vi phạm lâm luật. Trong đó, có 5 vụ vi phạm hành chính, tạm giữ 1 xe ô tô, 4 chiếc xe máy, 1,6 m3 gỗ lậu các loại từ nhóm II đến nhóm VI. Tình trạng chống đối, hành hung người thi hành lâm luật ở Hóa Sơn trước đây đã không còn tái diễn.

Riêng lực lượng Trạm Kiểm lâm Hóa Sơn – Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã chủ động phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động người dân giao nộp được 26 khẩu súng tự chế; vận động gia đình ông Đinh Ngọc Toàn (ở thôn Thuận Hóa) tự nguyện giao nộp 1 cá thể khỉ vàng cho Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật thuộc Ban quản lý VQG này cứu hộ và thả về môi trường tự nhiên.

Ông Trần Mạnh Luật - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Minh Hóa cho biết: “Từ đầu năm đến nay, công tác quản lý bảo vệ rừng ở Hóa Sơn đã được triển khai thường xuyên, kịp thời và hiệu quả. Chốt kiểm soát liên ngành đi vào hoạt động đã cắt đứt được đường dây khai thác, mua bán và vận chuyển gỗ lậu của các đối tượng lâm tặc. Ngoài ra, chúng tôi còn phối hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng khác thường xuyên thực hiện kiểm tra, kiểm soát không chỉ ở Hóa Sơn mà còn mở rộng ra các địa bàn giáp ranh như: Trung Hóa, Thượng Hóa, Trọng Hóa, Hóa Tiến… để tạo ra được một vành đai bảo vệ rừng ổn định cho cả khu vực rừng này”.

“Rừng Hóa Sơn là một trong những vùng đệm quan trọng của vùng lõi VQG Phong Nha – Kẻ Bàng. Nỗ lực của các lực lượng liên ngành đã “xóa sổ” được điểm nóng gỗ lậu này và tránh được nguy cơ “lâm tặc” sẽ tràn vào vùng lõi VQG – nơi có diện tích rừng nguyên sinh rất rộng lớn nhưng lực lượng lại mỏng và đang gặp rất nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ” - ông Lê Thanh Tịnh - Giám đốc Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng phấn khởi cho biết. (Pháp Luật Việt Nam 8/8, tr14) Về đầu trang

Hướng phát triển ngành chế biến lâm sản sau khi đóng cửa rừng

Bắt đầu từ cuối năm 2016, chủ trương của Chính phủ là đóng cửa rừng tự nhiên như Thông báo số 191/TB-VPCP ngày 22/7/2016. Vậy tỉnh Lâm Đồng sẽ chuyển hướng thế nào đối với lĩnh vực chế biến lâm sản theo yêu cầu mới khi trên địa bàn tỉnh hiện có hàng chục doanh nghiệp chế biến gỗ với tổng công suất chế biến mỗi năm hàng trăm m3 gỗ tròn và gỗ hộp các loại?

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Lâm Đồng, năm 2016, cũng như các tỉnh khác, thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên theo Thông báo số 191/TB-VPCP của Chính phủ, hoạt động khai thác lâm sản của tỉnh chỉ tập trung cho kế hoạch khai thác rừng trồng tại các công ty lâm nghiệp, kế hoạch tỉa thưa nuôi dưỡng rừng trồng là chủ yếu và thực hiện một số giải pháp khai thác tận thu tận dụng lâm sản tại các dự án đã được chuyển mục đích sử dụng trước đây. Tổng khối lượng lâm sản do các đơn vị khai thác đã được nghiệm thu, xác nhận, đóng búa kiểm lâm trong năm 2016 (từ ngày 1/12/2015 đến 10/12/2016) là 49.822 m3; bao gồm gỗ lớn 14.194 m3, gỗ tận dụng 463 m3, gỗ nhỏ 35.025 m3, củi 140 m3, lâm sản phụ 752.000 cây Mum, Le, Lồ ô và 80.000 sợi song mây.

 Về chế biến lâm sản, định hướng của UBND tỉnh là sau khi phê duyệt Quy hoạch chế biến lâm sản, các địa phương phải triển khai công tác rà soát sắp xếp các cơ sở chế biến; triển khai kế hoạch rà soát toàn bộ diện tích rừng trồng đối với rừng sản xuất của tất cả các đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh để xây dựng kế hoạch khai thác gỗ rừng trồng phục vụ chế biến, tinh chế gỗ và thuê đất trồng rừng của các doanh nghiệp được ưu tiên trình UBND tỉnh phê duyệt nhằm ổn định nguồn nguyên liệu cho hoạt động sản xuất chế biến lâm sản lâu dài và bền vững. Kết quả chế biến lâm sản năm 2016 như sau: về nguyên liệu (gỗ tròn 42.500 m3, gỗ xẻ, hộp 3.000 m3); về tiêu thụ (gỗ xẻ 10.000 m3, ván ép 8.600 m3, hàng mộc 4.850 m3). Tổng giá trị tiêu thụ khoảng 360 tỷ đồng. 

Theo Giám đốc Sở NN&PTNT Nguyễn Văn Sơn: Là cơ quan quản lý nhà nước, Sở đã tổ chức đoàn kiểm tra, rà soát các dự án đầu tư liên quan đến chuyển đổi rừng và tham mưu thu hồi toàn bộ các giấy phép tận dụng lâm sản theo chỉ đạo tại Văn bản 3999/UBND-LN của UBND tỉnh Lâm Đồng. Mặt khác, rà soát hoạt động các xưởng chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh để báo cáo và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm...

Năm 2017, kế hoạch của Sở NN&PTNT Lâm Đồng là “Tiếp tục triển khai thực hiện đề án chế biến gỗ, đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng phát triển sản xuất khép kín, đẩy mạnh thu hút đầu tư, liên doanh liên kết trong chế biến lâm sản nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao như hàng mộc cao cấp, ván ghép thanh, ván sàn,... Định kỳ rà soát, đánh giá, đề xuất bổ sung các doanh nghiệp chế biến lâm sản đạt tiêu chí ưu tiên mua gỗ tròn hàng năm; đồng thời loại khỏi danh sách ưu tiên các doanh nghiệp không còn đảm bảo tiêu chí hoặc vi phạm các quy định của nhà nước”, Giám đốc Nguyễn Văn Sơn cho biết. 

Còn Chi cục trưởng Kiểm lâm Nguyễn Khang Thiên, ngày 3/8, trả lời Báo Lâm Đồng: Hiện nay, Sở NN&PTNT và chúng tôi đã triển khai những giải pháp ngành như tổ chức sắp xếp lại các xí nghiệp chế biến phù hợp quy hoạch của tỉnh; trước đó là tổ chức kiểm tra, đánh giá thực trạng sản xuất, chế biến. Song song với đó là tăng cường công tác kiểm tra và xử lý nghiêm khắc những tổ chức, cá nhân chế biến vi phạm pháp luật; cương quyết thu hồi giấy phép đối với những cơ sở cố tình vi phạm... 

Muốn thực hiện chủ trương đóng cửa rừng hiệu quả, công tác chế biến lâm sản đúng quy định của pháp luật, ông Nguyễn Khang Thiên cũng cho rằng “chính quyền địa phương cấp xã, cấp huyện và các ngành chức năng phải vào cuộc quyết liệt”.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, khối lượng lâm sản do các đơn vị khai thác đã được nghiệm thu, xác nhận là 1.671,065 m3 (toàn bộ là rừng trồng). Trong đó, gỗ lớn 148,245 m3; gỗ tận dụng 9,205 m3 và gỗ nhỏ 1.513,615 m3. 

Trên địa bàn tỉnh hiện có 58 doanh nghiệp chế biến gỗ, trong đó 51 đơn vị tư nhân và cơ sở sản xuất hàng mộc gia dụng, tổng công suất chế biến khoảng 100.000 m3 gỗ tròn và 10.000 m3 gỗ hộp các loại.

 Theo Quyết định số 1819/QĐ-BNN-TCLN ngày 16/5/2015 về Công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2016, thì rừng tỉnh Lâm Đồng có diện tích rừng tự nhiên là 452.651 ha và diện tích rừng trồng 79.983 ha, độ che phủ đạt 53,1%. Trong tình hình nhu cầu sử dụng gỗ của xã hội rất lớn; tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp; các đối tượng vi phạm rất manh động, tình hình vi phạm ngày càng tinh vi... Vì vậy, hơn lúc nào, cần có sự quyết liệt của cả hệ thống chính trị cơ sở vào cuộc phối hợp giám sát, kiểm tra chặt chẽ; đặc biệt, đòi hỏi các lực lượng chức năng nâng cao nhiều hơn về trách nhiệm và năng lực của mình để nhanh chóng đưa lĩnh vực chế biến lâm sản vào đúng lộ trình và yêu cầu đổi mới. (Báo Lâm Đồng Online 7/8) Về đầu trang

Vườn Quốc gia Bạch Mã tiếp nhận rùa 3 đuôi cực quý

Đây là loài rùa Núi viền quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam, được gọi là rùa 3 đuôi, thường sống ở những khe rãnh, thung lũng ẩm ướt tới độ cao 1.500 mét.

Ngày 6/8, nguồn tin từ Vườn Quốc gia (VQG) Bạch Mã cho biết, Trung tâm Cứu hộ - Bảo tồn & Phát triển Sinh vật thuộc cơ quan này vừa tiếp nhận một cá thể động vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ là rùa Núi viền, do người dân hiến tặng để thả về môi trường tự nhiên.

Trước đó, Trung tâm Cứu hộ - Bảo tồn & Phát triển Sinh vật VQG Bạch Mã tiếp nhận cá thể rùa Núi viền (thường được gọi là rùa 3 đuôi, tên khoa học Manouria impressa Gunther, 1882) có trọng lượng 3kg, do anh Phạm Văn Sơn (ngụ tại Đà Nẵng) tự nguyện hiến tặng. Đây là cá thể rùa cái, tình trạng sức khỏe tốt, không bị thương. Sau khi tiếp nhận và kiểm tra sức khỏe, đơn vị cứu hộ kết hợp Hạt kiểm lâm VQG Bạch Mã thả cá thể rùa Núi viền về rừng.

Được biết, rùa Núi viền thường có kích cỡ trung bình, chiều dài mai khoảng 180 - 206mm; được gọi là rùa 3 đuôi do 2 chân sau có 2 cái cựa lồi ra rất giống đuôi. Rùa Núi viền sống ở những khe rãnh, thung lũng ẩm ướt tới độ cao 1.500 mét. Đây là loài được xếp vào cấp độ sẽ nguy cấp (VU) trong Sách đỏ Việt Nam, Danh lục đỏ thế giới (IUCN, 2013), được bảo vệ theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. (Khampha.vn 7/8; Congnghe.vn 7/8; Kienthuc.net.vn 7/8) Về đầu trang

Quảng Ngãi: Khu bảo tồn biển Lý Sơn: Bảo tồn... từ xa?

Lý Sơn là một trong 16 khu bảo tồn biển Việt Nam, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch đến năm 2020, được UBND tỉnh Quảng Ngãi ký quyết định thành lập từ 12/1/2017 với tổng số nhân lực là 5 người. Tuy nhiên, từ đó đến nay, khu bảo tồn này vẫn chưa được trang bị bất cứ thiết bị nào phục vụ cho công tác chuyên môn khiến việc bảo tồn chỉ nằm trên giấy.

Lý Sơn được đánh giá là vùng biển có độ đa dạng sinh học cao, hệ sinh thái điển hình như: rạn san hô, thảm cỏ biển và nhiều loại hải sản quý hiếm với tổng số 685 loài, trong đó có 150 loài cá, 94 loài thân mềm, 36 loài san hô, 2 loài cỏ biển....

Những năm gần đây, độ đa dạng sinh học ở vùng biển này đang bị suy giảm nghiêm trọng do tình trạng đánh bắt thủy hải sản quá mức và bằng nhiều phương tiện mang tính hủy diệt như thuốc nổ, lưới kéo... Vì vậy, Khu bảo tồn biển Lý Sơn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch đến năm 2020 và được UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành quyết định thành lập từ tháng 1/2017.

Theo đó, Khu bảo tồn biển Lý Sơn được thực hiện trên phạm vi 7.925ha, trong đó diện tích mặt nước biển là 7.113ha. Khu bảo tồn được chia thành 3 vùng chức năng gồm: vùng bảo vệ nghiêm ngặt, bảo vệ hệ sinh thái vùng triều và rạn san hô có độ sâu từ 3- 20m; vùng phục hồi sinh thái thuộc khu vực đảo Lớn và đảo Bé, có diện tích gần 2.000ha, bảo vệ các loài sinh vật biển; vùng phát triển có diện tích 4.500ha gồm âu cảng và vùng biển xung quanh.

Quyết định cũng xác định rõ vành đai bảo vệ khu bảo tồn được xác lập trên 2.500ha xung quanh để đảm bảo an toàn trong quá trình bảo tồn biển. Các hoạt động như: bảo vệ môi trường, ngăn chặn khai thác nguồn lợi sinh vật trái phép, phục hồi hệ sinh thái, tái tạo nguồn lợi, nghiên cứu thăm dò khảo sát, khảo cổ, phát triển du lịch sinh thái cộng đồng sẽ được triển khai trong chương trình bảo tồn biển.

Mặc đù được thành lập đã gần 1 năm, tuy nhiên, theo ông Phùng Đình Toàn - Giám đốc BQL Khu bảo tồn biển Lý Sơn: ngoài nhân lực có 5 người, đến nay khu bảo tồn chưa được trang bị bất kỳ máy móc, trang thiết bị chuyên dụng nào để phục vụ công tác tuần tra, giám sát trong khu vực được giao quản lý.

Theo ông Toàn, từ trước đến nay, ngư dân thường xuyên sử dụng thuốc nổ, lưới kéo, súng điện để khai thác hải sản trong khu bảo tồn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái trong khu vực. Tuy nhiên, BQL khó phát hiện và không thể xử lý vì không có phương tiện, thiết bị tối thiểu như: ca nô, máy định vị, thiết bị lặn, camera dưới nước để thực hiện chuyên môn, theo dõi, bắt quả tang. Do vậy, đến nay, nhiệm vụ chính của BQL vẫn chủ yếu là tuyên truyền. Các hoạt động như: nghiên cứu, tuần tra, giám sát chỉ thực hiện...tại chỗ hoặc từ xa.

Đặc biệt, BQL dù đã được UBND tỉnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng cụ thể; mặc dù vậy, mới đây, khi phát hiện ra sà lan của một doanh nghiệp tự ý đổ thải ra khu vực phía Bắc Đảo Lớn, thuộc phạm vi khu bảo tồn, BQL yêu cầu doanh nghiệp tạm dừng hành vi vi phạm, nhưng doanh nghiệp này vẫn phớt lờ. Chỉ đến khi BQL báo cáo, có chỉ đạo can thiệp từ UBND tỉnh, các ngành chức năng, doanh nghiệp mới tạm dừng đổ thải. Dù vậy, đến nay việc dọn dẹp bãi thải này vẫn chưa được xử lý.

Theo kế hoạch vốn trung hạn của UBND tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2018- 2020, BQL khu bảo tồn biển Lý Sơn được phân bổ 10 tỉ đồng. Tuy nhiên, chủ đầu tư là BQL dự án đầu tư các công trình NN&PTNN tỉnh lại lập dự toán xây dựng trụ sở làm việc và nhà trưng bày khu bảo tồn biển Lý Sơn. “Cái mà BQL cần là máy móc, trang thiết bị chuyên dụng để phục vụ công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý, nghiên cứu, bảo tồn. Còn trụ sở, nhà trưng bày chưa thực sự cần thiết, bởi vì công tác nghiên cứu, bảo vệ, phục hồi và phát triển nguồn lợi hải sản không đảm bảo thì lấy gì để trưng bày?”- ông Toàn đặt ngược lại câu hỏi.

Cần sử dụng nguồn vốn hợp lý

Trước yêu cầu cấp thiết của công tác chuyên môn, BQL Khu bảo tồn biển Lý Sơn đã đề nghị chủ đầu tư nghiên cứu bố trí từ 3- 5,3 tỉ đồng để mua sắm, trang bị các loại máy móc, thiết bị chuyên dụng cũng như thả phao phân vùng để ngư dân nhận biết được những khu vực khu bảo tồn.

Bên cạnh đó, BQL cũng liên hệ với các đơn vị nghiên cứu, bảo tồn trong và ngoài nước để chuyển vị trí một số loài sinh vật về khu vực bảo tồn biển Lý Sơn để phục hồi, tái tạo nguồn lợi thủy sản, cũng như tạo điểm nhấn trong thu hút du lịch. “Rất mong UBND tỉnh Quảng Ngãi, chủ đầu tư bố trí nguồn vốn hợp lý, kịp thời để phục vụ tốt nhất công tác nghiên cứu, bảo vệ, phục hồi nguồn lợi thủy sản trong Khu bảo tồn biển Lý Sơn”- ông Phùng Đình Toàn, Giám đốc BQL Khu bảo tồn biển Lý Sơn đề nghị. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 7/8; Moitruong.net.vn 8/8) Về đầu trang

Nắng nóng tiếp tục gây cháy rừng ở một số nước khu vực Nam Âu

Trong ngày 5/8, nắng nóng hoành hành tại miền Bắc Bồ Đào Nha và quần đảo Kythera của Hy Lạp, đã gây cháy rừng, khiến nhiều người dân phải sơ tán.

Tại Bồ Đào Nha, cháy rừng đã bùng phát tại khu vực gần làng Caiz, nằm cách Porto - thành phố lớn thứ 2 của nước này, 55km về phía Đông Bắc.

Hơn 70 lính cứu hỏa, được sự hỗ trợ của 21 xe chuyên dụng, đã được huy động dập tắt các đám cháy. Trong khi đó, giới chức địa phương thông báo sơ tán người dân tại một công viên nước gần đó và phong tỏa một đường cao tốc do lo ngại khói lửa dày đặc gây hậu quả nghiêm trọng.

Do thời tiết nắng nóng nghiêm trọng, ngày 5/8, Cơ quan khí tượng quốc gia Bồ Đào Nha đã đưa ra mức cảnh báo màu vàng tại 13 vùng trên cả nước, mức cảnh báo cao thứ 2 trong hệ thống cảnh báo thiên tai của nước này. Nhiệt độ trong ngày tại một số tỉnh miền Nam Bồ Đào Nha đã lên tới 38 độ C.

Theo Cơ quan khí tượng quốc gia Bồ Đào Nha, sau khi trải một mùa Đông và Xuân khô bất thường, tính đến cuối tháng 7/2017, gần 80% diện tích đất của quốc gia Nam Âu này bị khô nẻ nghiêm trọng. Hồi tháng 6 vừa qua, hơn 60 người đã thiệt mạng và hơn 250 người bị thương trong một vụ cháy rừng lớn kéo dài 5 ngày tại miền Trung Bồ Đào Nha.

Cũng trong ngày 5/8, cháy rừng đã khiến hàng chục hộ dân ở Kythera của Hy Lạp phải sơ tán. Chính quyền địa phương ngay lập tức ban bố tình trạng khẩn cấp trên đảo.

Địa thế hiểm trở cùng với việc gió liên tục đổi hướng đã gây khó khăn cho công tác cứu hỏa. Do quy mô đám cháy rất lớn, lực lượng cứu hỏa địa phương đã yêu cầu được sự hỗ trợ từ các khu vực lân cận.

Tháng 7 và tháng 8/2016, cháy rừng nghiêm trọng cũng đã xảy ra tại Hy Lạp do nhiệt độ tăng cao. Dự báo, nhiệt độ tại nhiều nơi ở nước này trong vài ngày tới có thể lên tới 40 độ C.

Trước đó, thời điểm cuối tháng 7 và đầu tháng 8, Tây Ban Nha và Italy hứng chịu đợt nắng nóng và cháy rừng nghiêm trọng. Tại Italy, tổng cộng 26 thành phố lớn đang được Bộ Y tế đặt trong tình trạng báo động cao nhất do nắng nóng khi nhiệt độ lên tới 40 độ C. (Vtimes.com.au 7/8) Về đầu trang