Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 07/9/2017

Điểm báo ngày 07/9/2017

Cập nhật ngày : 07/09/2017 10:09:29 SA

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 07 tháng 9 năm 2017)

Kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi phá hoại rừng tự nhiên

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao (link is external) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các địa phương và cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm quy định, phá hoại rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc.

Thời gian gần đây, báo Thanh tra đưa tin: Rất nhiều lực lượng tham gia nhận khoán, bảo vệ, trông coi tại Vườn quốc gia Ba Bể, nhưng những cây gỗ nghiến quý hiếm vẫn bị chặt hạ; trong đó có nhiều cây gỗ nghiến bị chặt hạ ngay tại nơi Công an huyện và Ban chỉ huy quân sự huyện Ba Bể nhận giao khoán, bảo vệ.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các địa phương và cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm quy định, phá hoại rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (Caobang.gov.vn 6/9) Về đầu trang

Thanh Hóa: Đoàn ĐBQH tỉnh khảo sát việc chuyển đổi rừng tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Xuân

Sáng 6-9, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa gồm các đồng chí: Mai Sỹ Diến, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh; Cầm Thị Mẫn, ĐBQH chuyên trách; đại diện Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh đã có buổi khảo sát về công tác chuyển đổi rừng phòng hộ sang rừng sản xuất và chuyển rừng tự nhiên nghèo kiệt thuộc rừng sản xuất sang trồng cao su; công tác giải quyết việc làm cho nhân dân xã Xuân Thái sau khi chuyển đổi rừng; kết quả thực hiện những kiến nghị của Ban Pháp chế HĐND tỉnh về việc giám sát thực hiện quản lý và sử dụng đất đai tại Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Như Xuân. Tham gia đoàn khảo sát có lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và huyện Như Thanh.

Trước khi làm việc với BQLRPH Như Xuân, các thành viên trong đoàn công tác đã đi kiểm tra thực tế tại 200 ha rừng phòng hộ và rừng tự nhiên nghèo kiệt được chuyển đổi sang rừng sản xuất, trồng cao su.

Sau khi được UBND tỉnh cho phép, BQLRPH Như Xuân đã chuyển 197,4 ha rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su. Đồng thời, BQLRPH Như Xuân lập hồ sơ giao khoán rừng cho 24 hộ gia đình, cá nhân là công nhân, cán bộ của đơn vị đang sinh sống tại xã Xuân Thái. Từ năm 2014, đơn vị đã tổ chức cho các hộ dân nhận khoán trồng 52,8 ha cao su, diện tích còn lại trồng keo tai tượng. Hiện nay, toàn bộ diện tích cao su và keo sinh trưởng, phát triển tốt. Việc chuyển đổi rừng đã tạo việc làm cho 29.203 lao động thời vụ ở địa phương và không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.

Tại buổi khảo sát, các thành viên trong đoàn đã tập trung làm rõ thực trạng rừng phòng hộ và rừng tự nhiên nghèo kiệt trước khi chuyển đổi. Đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của BQLRPH Như Xuân, trong đó có tình trạng các hộ dân chuyển nhượng rừng bất hợp pháp; việc tạo điều kiện cho người dân địa phương nhận khoán rừng và đất rừng còn hạn chế... 

Phát biểu kết luận buổi khảo sát, đồng chí Mai Sỹ Diến, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh khẳng định việc thực hiện chuyển đổi rừng phòng hộ sang rừng sản xuất và rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su của BQLRPH Như Xuân đúng theo các quy định của pháp luật. Trên diện tích rừng chuyển đổi đã cho thấy được hiệu quả về kinh tế và giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương. Bên cạnh đó, đơn vị cũng đã phát huy vai trò chủ rừng Nhà nước trong việc thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Để khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý rừng và đất rừng, đồng chí Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh đề nghị BQLRPH Như Xuân cần thực hiện rà soát lại diện tích, số hộ được giao nhận khoán rừng để có những biện pháp ngăn chặn tình trạng chuyển nhượng rừng bất hợp pháp trong nhân dân; tiếp tục tổ chức triển khai công tác giao khoán rừng và đất rừng đến các hộ dân một cách bài bản, chặt chẽ; ưu tiên giao khoán cho các hộ dân địa phương khó khăn về quỹ đất sản xuất và cán bộ, công nhân của đơn vị đã nghỉ hưu...

Thay mặt đoàn ĐBQH tỉnh, đồng chí Mai Sỹ Diến ghi nhận và tiếp thu những kiến nghị, đề xuất của đơn vị để tổng hợp sớm trình lên Quốc hội và các sở, ngành cấp tỉnh có liên quan giải quyết. (Baothanhhoa.vn 6/9; Truyenhinhthanhhoa.vn 6/9) Về đầu trang

Vì sao Kon Tum chuyển 200 ha rừng thông sang trồng mắc ca?

Việc khai thác rừng thông kém hiệu quả để trồng một số loại cây nông nghiệp có giá trị cao là phù hợp với định hướng phát triển của Chính phủ, cũng như định hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh Kon Tum.

Ngày 31/8, tỉnh Kon Tum tổ chức họp báo về việc chuyển đổi gần 200 ha rừng thông sang trồng cây mắc ca tại huyện Kon Plông.

Theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum tại buổi họp báo này, thì Bộ NN&PTNT đã có Quyết định 5940/QĐ-BNN-TCLN ngày 5/4/2016 phê duyệt quy hoạch phát triển cây mắc ca vùng Tây Bắc và Tây Nguyên đến năm 2020, tiềm năng phát triển đến năm 2030. Trong đó, vùng Tây Nguyên là 5.940 ha, riêng tỉnh Kon Tum là 290 ha được trồng tại 3 huyện Kon Plông, Đăk Glei và Tu Mơ Rông.

Hiện nay, cây mắc ca đã được trồng thành công tại huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Ngành NN&PTNT và TN&MT tỉnh Kon Tum đã khảo sát và nhận thấy khí hậu, thổ nhưỡng của huyện Kon Plông tương đồng với huyện Krông Năng, nên việc trồng mắc ca tại huyện Kon Plông được đánh giá là khả thi.

Cũng theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum, 198,9 ha rừng thông được tỉnh cho phép Công ty TNHH Đăng Vinh chuyển sang trồng cây mắc ca đã đủ tuổi khai thác (tuổi cây từ 20-25 năm), sản lượng bình quân đạt thấp, chỉ 50m3/ha (trong khi đó rừng thông trồng nguyên liệu giấy ở tuổi 16 đã đạt 140 m3/ha). Hơn nữa, đây là khu vực không thuộc quy hoạch phát triển khu du lịch sinh thái của tỉnh Kon Tum, lại nằm khá xa khu dân cư và cách trung tâm huyện hơn 6 km.

Đây chính là lý do để UBND tỉnh Kon Tum có chủ trương chuyển đổi sang phát triển các loại cây trồng khác mang lại hiệu quả kinh tế cao, trong đó có cây mắc ca, nhằm tái cơ cấu và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp của địa phương.

Đến nay, tại huyện Kon Plông có 6 dự án phát triển nông nghiệp đã có chủ trương đầu tư trên tổng diện tích 480,81 ha, trong đó đất rừng thông trồng là 400,43 ha, còn lại là đất chưa có rừng.

Ông Nguyễn Trung Hải, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum cho biết: Theo Nghị quyết 64/2016/NQ-HĐND tỉnh về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh, thì diện tích đất để phát triển vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại huyện Kon Plông là 3.000 ha. 198,9 ha rừng chuyển đổi sang trồng mắc ca này nằm trong quy hoạch phát triển nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh tại huyện Kon Plông.

Dự án trồng mắc ca được triển khai ảnh hưởng không nhiều đến môi trường. Nếu không chuyển sang sản xuất nông nghiệp công nghệ cao thì diện tích rừng thông này cũng khai thác trồng lại rừng.

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ngoài lợi ích kinh tế còn phục vụ cho mục đích phát triển du lịch sinh thái. Như vậy, việc khai thác rừng thông trồng kém hiệu quả để trồng một số loại cây nông nghiệp có giá trị cao là phù hợp với định hướng phát triển của Chính phủ, định hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh, cũng như quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010-2020 của huyện Kon Plông. (Báo Chính Phủ Điện Tử  6/9; Vaas.org.vn 6/9) Về đầu trang

Phá rừng ở Phú Yên: Kiến nghị xử lý nhiều lãnh đạo

Qua kiểm tra 20  dự án, Thanh tra Chính phủ phát hiện hầu hết đều có vi phạm, trong đó nghiêm trọng nhất là dự án New City.

Tối 5-9, trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, cho biết ông đã ký báo cáo gửi Thủ tướng kết quả kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án liên quan đến việc chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ sang mục đích khác tại tỉnh Phú Yên. Báo cáo này cũng được gửi đến các phó thủ tướng, các cơ quan liên quan.

 

Theo Thanh tra Chính phủ, qua kiểm tra 20 dự án liên quan đến rừng trên địa bàn Phú Yên, Thanh tra Chính phủ phát hiện hầu hết đều có vi phạm, trong đó nghiêm trọng nhất là dự án New City.

Theo Thanh tra Chính phủ, tháng 7-2013, tỉnh Phú Yên xin Thủ tướng cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực hiện 70 dự án. Tháng 6-2014, Thủ tướng chỉ cho chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa để thực hiện 28 dự án, chưa chấp thuận đối với các dự án còn lại có sử dụng đất rừng phòng hộ, đặc dụng, trong đó có dự án New City.

Thế nhưng tháng 3-2015, chủ tịch UBND tỉnh lại kết luận cho rằng bộ, ngành trung ương đã thống nhất về việc chuyển mục đích đất rừng phòng hộ 122 ha thuộc dự án New City. Sau đó tỉnh cho thu hồi rừng phòng hộ từng đợt nhỏ hơn 20 ha mà theo Thanh tra Chính phủ thực chất là chia nhỏ để không phải xin chấp thuận của Thủ tướng.

Trong khi chưa có quyết định giao đất, cho thuê đất, tháng 5-2015 tỉnh cho phép chủ đầu tư san lấp khoảng 5 ha tại xã An Phú, TP Tuy Hòa để tổ chức lễ động thổ dự án New City. Lúc này chủ đầu tư đã chặt phá 2,7 ha rừng phòng hộ.

Một tháng sau, tỉnh cho chủ đầu tư động thổ dự án, tạm thời khai thác số lượng cây phi lao trong phạm vi 2,3 ha để có mặt bằng làm lễ động thổ. Hậu quả là 2,3 ha rừng tiếp tục bị chặt phá. Thanh tra Chính phủ xác định đây là hành vi khai thác rừng trái phép.

Mặt khác, tỉnh cho phép chủ đầu tư vừa triển khai dự án vừa hoàn tất các thủ tục về phê duyệt dự án, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất là vi phạm Luật Đất đai…

Thanh tra Chính phủ cũng xác định lãnh đạo UBND tỉnh Phú Yên đã có nhiều văn bản chỉ đạo không phù hợp quy định pháp luật hiện hành. Đến thời điểm kiểm tra, trong 40 ha rừng đã bị chặt phá, khai thác thì 5 ha khai thác không phép, 35 ha còn lại là rừng phòng hộ, rừng sản xuất.

Qua kiểm tra 20 dự án, Thanh tra Chính phủ phát hiện có đến 19 dự án với tổng diện tích hơn 1.107 ha đất được lựa chọn để chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư, cấp giấy phép đầu tư đang thuộc quy hoạch đất lâm nghiệp. Trong đó có đến 378 ha đất rừng phòng hộ, 181 ha đất rừng đặc dụng, còn lại là đất rừng sản xuất.

Riêng dự án chăn nuôi bò thịt chất lượng cao tại hai tiểu khu rừng 310, 311 ở huyện Sông Hinh không có trong quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt.

Với dự án mà tỉnh cho Công ty CP Tập đoàn Hải Thạch khai thác 2 ha rừng đặc dụng thì dự án này chưa có quyết định thu hồi, giao đất. Chưa có quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng, tỉnh vẫn cấp phép cho công ty này khai thác khoáng sản trên 16 ha rừng đặc dụng đèo Cả thuộc khu vực cấm hoạt động khoáng sản. Hậu quả là 15 ha rừng đặc dụng bị chặt phá, khai thác mà không có giấy phép, không có quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng, chưa thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế.

Theo Thanh tra Chính phủ, trong 20 dự án kiểm tra có 12 dự án đã khai thác rừng. Trong đó, bảy dự án được Sở NN&PTNT cấp giấy phép khai thác khi chưa đủ điều kiện, chưa có quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng; năm dự án chưa được chính quyền địa phương chấp thuận nhưng đã khai thác.

Một số dự án được cấp phép khai thác toàn bộ diện tích, không phù hợp với mục tiêu đầu tư khu du lịch sinh thái ven biển, có nguy cơ ảnh hưởng việc bảo vệ môi trường như New City, Khu du lịch sinh thái Sao Mai, làng du lịch Bắc Âu…

Theo Thanh tra Chính phủ, trong 19 dự án có sử dụng đất rừng được kiểm tra có đến 17 dự án đến nay vẫn chưa có quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng với tổng diện tích gần 413 ha.

Riêng dự án chăn nuôi bò thịt chất lượng cao, UBND tỉnh ban hành quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích không phải lâm nghiệp khi chưa có phương án trồng rừng thay thế là vi phạm các quy định. Việc trồng rừng thay thế cũng có nhiều vi phạm như xác định diện tích trồng rừng thay thế không đúng với diện tích có rừng thực tế của một số dự án.

Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của chủ tịch, các phó chủ tịch UBND tỉnh, giám đốc các sở KH&ĐT, TN&MT, NN&PTNT, chủ tịch, phó chủ tịch UBND TP Tuy Hòa, chủ tịch, phó chủ tịch các huyện, thị xã, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm, giám đốc ban quản lý rừng phòng hộ, các đơn vị, cá nhân, chủ đầu tư liên quan để xảy ra sai phạm thuộc chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm được giao.

Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Công an xác minh làm rõ những vi phạm pháp luật về đất đai, tài nguyên rừng của các sở, ngành liên quan, chủ đầu tư dự án khai thác khoáng sản đất phục vụ thi công hầm đường bộ đèo Cả của Công ty CP Tập đoàn Hải Thạch, gây hậu quả 15 ha rừng đặc dụng bị chặt phá, khai thác khoáng sản sai quy định; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật (nếu có).

Do tính chất vi phạm trên diện rộng và khó tự chấn chỉnh, tự khắc phục các vi phạm, Thanh tra Chính phủ đề nghị Thủ tướng chủ trì cuộc họp với lãnh đạo UBND tỉnh Phú Yên với sự tham gia của Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, các bộ để xử lý và có giải pháp tháo gỡ cho tỉnh này. (Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh Online 6/9; Đất Việt Online 6/9) Về đầu trang

Nghệ An: Ưu tiên giao đất, giao rừng cho hộ nghèo và người dân tộc thiểu số

Liên quan đến việc giao đất rừng, làm việc với huyện Quỳ Châu chiều 6/9, bà Cao Thị Xuân - Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội yêu cầu ưu tiên cho hộ nghèo và dân tộc thiểu số.

Từ năm 2006 - 2016, huyện Qùy Châu đã giao cho 78 cộng đồng bản quản lý 1.418,31 ha đất rừng,đạt 100% kế hoạch, toàn bộ diện tích này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Cùng thời gian này, huyện cũng giao cho 8.335 hộ với tổng số 40.023 ha đất rừng. Hiện tại, đã có 4.250 hộ với 20.516,728 ha đã được cấp quyền sử dụng đất (chiếm 51%).

Sau khi được giao đất, giao rừng, các cộng đồng dân cư và hộ gia đình đã tổ chức quản lý, bảo vệ theo đúng quy định. Diện tích rừng trồng tăng từ 815,5 ha (năm 2006) lên 1.623,1 ha (năm 2016); độ che phủ rừng tăng tương ứng từ 70,4% lên 74,6%. Quyền lợi của cộng đồng và hộ gia đình được thực hiện tương đối đầy đủ và kịp thời. Người trồng rừng và khoanh nuôi, bảo vệ được hưởng lợi từ các sản phẩm rừng và từ chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Từ thực tế vừa nêu, UBND huyện Qùy Châu đánh giá chủ trương, chính sách giao rừng cho cộng đồng và gia đình phù hợp với yêu cầu thực tiễn và được nhân dân ủng hộ. Nhờ đó, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống, đồng thời việc quản lý và bảo vệ rừng được thực hiện khá nghiêm túc.

Trên cơ sở đó, UBND huyện kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành có cơ chế chính sách hỗ trợ về nguồn kinh phí và chuyển đổi một số diện tích rừng tự nhiên để nhân dân có đất sản xuất. Tạo điều kiện trong việc lập hồ sơ cấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho dân, tiếp tục rà soát diện tích các lâm trường trên địa bàn, đất rừng phòng hộ xung yếu chuyển giao cho địa phương để giao cho các hộ nghèo, dân tộc thiểu số còn thiếu đất sản xuất.

Các thành viên trong Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc Quốc hội và ông Nguyễn Thanh Hiền - Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An đã chất vấn một số vấn đề liên quan như: Làm rõ hơn việc sử dụng 16.000 ha đất rừng; trách nhiệm trong việc chậm trễ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp; nêu cụ thể về các chủ thể đang quản lý diện tích rừng; mức thu nhập việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng mối quan hệ giữa người dân và Lâm trường Qùy Châu, Lâm trường Cô Ba và giải pháp giải quyết vấn đề thiếu đất sản xuất.

Thay mặt Đoàn giám sát, bà Cao Thị Xuân lưu ý địa phương cần đẩy nhanh công tác giao đất, giao rừng và làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất, ưu tiên những hộ nghèo và dân tộc thiểu số. Về số lượng đất đai các lâm trường đang quản lý không phát huy hiệu quả còn lớn cần có giải pháp thu hồi để bàn giao cho nhân dân. (Báo Nghệ An Online 6/9) Về đầu trang

Thuận Bắc: Thực hiện tốt chính sách giao rừng khoán quản cho đồng bào dân tộc thiểu số

Trong những năm qua, chính sách giao rừng khoán quản cho đồng bào dân tộc thiểu số được huyện Thuận Bắc triển khai thực hiện đạt kết quả đáng ghi nhận. Qua đó, không chỉ góp phần tăng thu nhập cho bà con, quan trọng hơn là nâng cao ý thức bảo vệ rừng (BVR) của đồng bào, ngăn chặn hiệu quả nạn phá rừng tự phát. Ông Hoàng Lộc, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Sông Trâu cho biết: Trước đây, đồng bào dân tộc thiểu số các xã có rừng thường khai thác cây rừng, lấn chiếm đất rừng để sản xuất, vì vậy tình trạng chặt phá rừng, đốt rừng làm rẫy xảy ra nhiều. Việc giao khoán rừng cho bà con đã góp phần không nhỏ trong công tác BVR, đặc biệt là hạn chế tình trạng lấn chiếm đất làm rẫy; đồng thời, giúp lực lượng chức năng nắm thông tin nhiều hơn về đối tượng chặt, phá rừng.

Toàn huyện có hơn 600 hộ tham gia nhận rừng khoán quản với diện tích 3.298,67 ha, đạt 100% kế hoạch; trong đó có 2.704,93 ha rừng tự nhiên và 593,74 ha rừng trồng, chủ yếu tập trung tại 3 xã: Phước Chiến, Phước Kháng, Công Hải. Từ khi triển khai thực hiện chính sách giao rừng khoán quản, huyện thường xuyên tuyên truyền về công tác BVR, vận động bà con tham gia BVR, ký kết không vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Các địa phương đều thực hiện đầy đủ, kịp thời việc thanh toán các chế độ cho các hộ với mức chi trả bình quân 200-300 ngàn đồng/ha/năm, góp phần cải thiện đời sống cho người dân. Để thu hút bà con Raglai tham gia vào chính sách giao rừng khoán quản, đơn vị chủ rừng đã triển khai nhiều biện pháp, kế hoạch nhằm tạo điều kiện cho bà con có thêm thu nhập như: Trồng rừng phòng hộ, rừng hỗ trợ sản xuất và trồng cây phân tán. Theo đó, đơn vị trồng 42 ha rừng tại xã Công Hải và khu vực lòng hồ Sông Trâu, sử dụng 100% nhân công phát dọn và trồng rừng đều là đồng bào Raglai; đối với trồng rừng hỗ trợ sản xuất, đơn vị hỗ trợ giống cây (neem, điều, mít và cây bản địa), kỹ thuật, đất trồng rừng cho các hộ nhận khoán quản rừng...

Bên cạnh đó, đơn vị chủ rừng còn phối hợp với các gia đình được giao rừng thường xuyên tổ chức tuyên truyền các quy định về BVR, giúp bà con nâng cao nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ bản thân đối với công tác BVR; đồng thời, phối hợp với các gia đình nhận rừng tổ chức kiểm tra, giám sát, tuần tra truy quét, phân công trực cao điểm phòng cháy, chữa cháy tại các tiểu khu... Qua đó, ngăn ngừa những tác động xâm hại đến rừng. Anh Chamaléa Dũng, Tổ trưởng Tổ cộng đồng rừng khoán quản thôn Đá Liệt (Phước Kháng) cho biết: Từ khi nhận rừng khoán quản, bà con đã nâng cao nhận thức trong việc BVR, không chặt phá rừng như trước đây, đồng thời có thêm thu nhập từ nhận rừng khoán quản. Tổ cùng với lực lượng chức năng thường xuyên kiểm tra diện tích rừng giao khoán; khi được phân công trực, các hộ trong tổ luôn thực hiện tốt.

Vào mùa khô, các đơn vị chủ rừng tổ chức hướng dẫn nhân dân đốt dọn nương rẫy phù hợp với diễn biến thời tiết theo cấp dự báo cháy rừng và nhắc nhở, vận động các hộ ký cam kết không phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm rẫy, hầm than, khai thác lâm sản trái phép. Bên cạnh đó, các đơn vị chủ rừng thành lập 5 tổ chuyên trách với 50 thành viên, thực hiện trực phòng cháy, chữa cháy rừng theo cấp dự báo tại 5 điểm thôn: Suối Le, Cầu Đá (xã Phước Kháng); Đầu suối B, Tập Lá (xã Phước Chiến) và Suối Vang (xã Công Hải).

Với những kết quả nêu trên, cho thấy chính sách giao rừng cho các hộ đồng bào Raglai đã mang lại hiệu quả tích cực trong công tác BVR của địa phương. Việc giao rừng không những nâng cao nhận thức của bà con trong BVR, tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân trang trải cuộc sống, mà còn giúp các đơn vị chủ rừng giải quyết được những khó khăn trong việc quản lý, BVR. (Báo Bình Thuận Online 6/9) Về đầu trang

Giảm 97 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa, từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm tỉnh luôn tăng cường kiểm tra, đôn đốc các địa phương và chủ rừng triển khai thực hiện phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng nên trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng.

Trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giảm đáng kể; toàn tỉnh xảy ra 238 vụ vi phạm, giảm 97 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng chức năng đã xử lý 210 vụ, tịch thu 431m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách gần 4,2 tỷ đồng.

Trong công tác phát triển rừng, các địa phương, chủ rừng nhà nước đã tiến hành trồng rừng tập trung đạt 181ha, trồng rừng thay thế 35ha; chăm sóc được 925ha rừng trồng, khoán bảo vệ 6.542ha, khoanh nuôi tái sinh 126ha. Thực hiện kế hoạch sử dụng rừng, các chủ rừng đã khai thác tận dụng, tận thu gỗ từ rừng tự nhiên với khối lượng 1.530m3; các chủ rừng nhà nước khai thác gỗ rừng trồng tập trung đạt 14.030m3. (Baokhanhhoa.com.vn 5/9) Về đầu trang

Sơn La: Trồng rừng để phát triển kinh tế ổn định lâu dài

Tại xã Long Hẹ, huyện Thuận Châu không ai không biết tới ông Lường Văn Hợp một tấm gương tiêu biểu về làm kinh tế giỏi, không những vậy ông còn giúp nhiều hộ nông dân nghèo trong bản, trong xã phát triển kinh tế thoát nghèo.

Nhìn cánh rừng thông ngút ngàn một màu xanh, rộng hơn gần 150ha đang bắt đầu vào thời điểm khai thác, mới thấy thật khâm phục sức lao động của  gia đình ông Lường Văn Hợp. Bởi tại bản Nông Cốc, xã Long Hẹ,Thuận Châu diện tích rừng trồng của nhà ông luôn đứng đầu, trong đó có hơn 15ha là trồng cây sơn tra, còn lại là trồng thông. Ông cho biết gia đình mình bắt đầu trồng rừng từ năm 2003. Sau một quá trình dài tìm hiểu về địa thế cũng như đất đai, khí hậu, ông  nhận thấy:  trồng rừng sẽ cho thu nhập về lâu dài và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Trước đây kinh tế gia đình rất khó khăn, tại nơi địa hình khó canh tác chủ yếu là đồi núi dốc, hiếm nước…như bản Nông Cốc, ông Lường Văn Hợp đã rất trăn trở  để tìm xem trồng cây gì và nuôi con nào cho phù hợp. Với sự tìm tòi của bản thân, được tham dự các lớp tập huấn, ông Hợp đã lựa chọn trồng rừng, một hướng đi mà theo ông để phát triển kinh tế một cách bền vững, dài lâu. Không chỉ phát triển kinh tế bằng trồng rừng, gia đình ông Hợp còn kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm với phương châm “ lấy ngắn nuôi dài” để tăng thêm thu nhập cho gia đình.

Ông Lường Văn Hợp, bản Nông Cốc A, xã Long Hẹ, huyện Thuận Châu, Sơn La.“Trước kia nuôi đại gia súc về mùa rét cũng chết nhiều, thế nên tôi có ý định trồng rừng, mình sống ở trên rừng thì đất chống đồi núi trọc, ở đây mình lấy được đất để trồng rừng. Trước kia đường ô tô không đến, gặp rất nhiều khó khăn trong vận chuyển cây giống, thứ hai là dân sở tại chưa hiểu về rừng nhiều. Hàng năm có cây lau lách, rừng đều bị cháy trụi, bảo vệ rất khó. Trồng rừng vào thì phải vận động nhiều người cùng trồng, nhiều hộ cùng trồng thì mới giữ được rừng như thế này. Trên cơ sở vận động và giải thích, đồng thời xin hỗ trợ từ nguồn vốn nhà nước, ví dụ như rừng phòng hộ 661, bảo vệ đầu nguồn Sông Đà, nguồn vốn đầu tư cho dân, dân thấy cái lợi trước mắt nên họ tin và làm theo.”

Là người dân tộc Kháng, sống gắn bó với vùng cao nên ông Lường Văn Hợp rất hiểu về cuộc sống bà con dân tộc nơi đây. Cùng với quyết tâm phát triển kinh tế ông còn chia sẻ, giúp đỡ các hộ nghèo trong bản, trong xã về cây,con giống. Nhiều hộ được gia đình ông giúp về giống và vốn đã thoát nghèo, cuộc sống dần cải thiện. Gia đình chị Tòng Thị Dủ được gia đình ông Hợp giúp đỡ tặng bò giống, chia sẻ cách trồng cây thông, đến nay nhà chị đã có trên 3ha rừng thông.

Chị Tòng Thị Dủ, bản Nông Cốc A, Long Hẹ, Thuận Châu, Sơn La.“Bác cho một con bò bây giờ nó sinh được ba con rồi, nên bây giờ cũng đỡ vất vả, khi gặp khó khăn bác cũng giúp đỡ, như đi học thiếu tiền nộp nhà trường, bác cũng giúp đỡ thêm tiền đi nộp nhà trường. Bác cũng hướng dẫn gia đình trồng rừng nên gia đình cũng trồng được vài ha cây thông”

Bà Tòng Thị Liêu, bản Nông Cốc A, xã Long Hẹ, huyện Thuận Châu, Sơn La.  “Trước đây kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, thấy hoàn cảnh đó ông Lường Văn Hợp đã cho tôi 2 con trâu, đàn trâu đã phát triển, gia đình đã đỡ khó khăn và kinh tế phát triển hơn trước”

Ông Hợp chia sẻ rằng: hiện nay ông đang nghiên cứu để áp dụng kỹ thuật tưới nhỏ giọt của Irsaren vào trồng cây ăn quả , đặc biệt là sẽ đưa trồng thử nghiệm các giống cây ăn quả chưa từng được trồng tại đây như : vải, nhãn… Khâm phục  trước những nỗ lực của ông, bà con dân bản Nông Cốc A, và cả xã Long Hẹ luôn lấy gia đình ông là tấm gương làm theo trong phát triển kinh tế và xây dựng bản làng.

Anh Quàng Văn Toán, trưởng bản Nông Cốc A, Long Hẹ, Thuận Châu, Sơn La. “Mô hình trồng rừng của bản Nông Cốc A của chúng tôi cũng được trồng từ năm 2001 đến nay, vườn rừng của bản cũng phát triển rất tốt. Tham gia của bản được 100% hộ, hộ nào cũng có rừng trồng. Nhà bác Hợp đã thu mua gỗ cho bà con, nên bà con đỡ vất vả, về kinh tế ổn định. Thứ hai cũng tạo điều kiện giúp đỡ cho bà con có công ăn việc làm. Có 1 số hộ gia đình chăn nuôi, nhưng nhỏ lẻ không nuôi tập trung như gia đình bác Hợp, gia đình bác Hợp chăn nuôi có mô hình, kinh tế gia đình ổn định, đáng cho bà con và nhân dân bản noi theo”

Với mức thu nhập khoảng 150 triệu/năm hiện nay, tuy chưa phải là cao song với điều kiện thực tế nơi đây với cách thức tạo thu nhập ổn định, bền vững từ nghề rừng  ông Lường Văn Hợp xứng đáng là nông dân sản xuất giỏi tiêu biểu của huyện Thuận Châu, ông vẫn tiếp tục ấp ủ những dự định để phát triển kinh tế gia đình và cùng bà con chung tay để cái nghèo, cái đói không còn là nỗi ám ảnh thường trực của người dân vùng cao. (Sonlatv.vn 6/9) Về đầu trang

Lâm Đồng: Lạc Dương với "bài toán giữ rừng"

Rừng là tài nguyên vô cùng quý báu, tài sản của quốc gia. Tuy nhiên, trong những năm qua, tình trạng rừng bị tàn phá, bị xâm hại, bị khai thác trái phép diễn ra rất phức tạp ở nhiều địa phương, tại nhiều tỉnh, thành đã làm cho diện tích rừng dần bị thu hẹp. Trước thực trạng này, Ðảng bộ và chính quyền huyện Lạc Dương đã chỉ đạo quyết liệt phải bằng mọi biện pháp “giữ rừng”...

Dù khá bận với công việc, song Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lạc Dương - Đồng Văn Lâm đã dành gần hai giờ đồng hồ để tiếp chuyện chúng tôi. Với thâm niên hơn 30 năm gắn bó với rừng, với ngành Kiểm lâm, câu chuyện của vị Hạt trưởng và đồng nghiệp về công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR); nhất là đấu tranh, ngăn chặn nạn phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật trên địa bàn huyện Lạc Dương trong những năm qua cũng lắm gian nan, thử thách...

Lạc Dương có 131.233 ha đất tự nhiên; trong đó, diện tích có rừng là 111.597,3 ha; tổng diện tích rừng là 108.327,3 ha (104.521,6 ha rừng tự nhiên và 3.805,7 ha rừng trồng), với 3 loại rừng đặc trưng: rừng đặc dụng 54.358,3 ha; rừng phòng hộ 36,237,2 ha và rừng sản xuất là 17.731,9 ha.

Dù chỉ có 5 xã và 1 thị trấn, song, địa bàn huyện rộng, trải dài và chia cách khá phức tạp khó khăn trong việc đi lại, nhất là công tác quản lý địa bàn. Trong khi đó, Hạt Kiểm lâm huyện Lạc Dượng chỉ có 19 cán bộ, công chức. Dù vậy, với nhiệm vụ được giao và bằng tâm huyết, tình yêu nghề, những năm qua, Hạt Kiểm lâm huyện đã có nhiều nỗ lực trong công tác QLBVR; thường xuyên phối hợp với các lực lượng chức năng liên quan và quần chúng nhân dân các xã, thị trấn tuyên truyền, vận động, giáo dục; tăng cường cán bộ bám địa bàn, “bám rừng” đấu tranh, ngăn chặn hạn chế đáng kể tình trạng “chảy máu rừng”, bảo vệ, giữ gìn nguồn tài nguyên quý giá của địa phương, của quốc gia.

Là một trong những địa phương “nóng” về tình trạng phá rừng, đặc biệt 3 năm về trước và chủ yếu tập trung ở các xã dọc tuyến Quốc lộ 27C (đường 723); do đó, ngoài thường xuyên cử cán bộ “cắm chốt” tại tất cả các xã, thị trấn, nhất là các địa bàn phức tạp, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu Huyện ủy, UBND huyện Lạc Dương triển khai các kế hoạch, phương án huy động mọi nguồn lực và nhân lực tập trung công tác QLBVR.

Nhớ lại những năm trước, khi nạn phá rừng diễn ra khá “nóng” trên địa bàn, vị Hạt trưởng không khỏi chua xót, anh cho biết: riêng trong năm 2013, trên địa bàn huyện Lạc Dương đã xảy ra 142 vụ vi phạm lâm luật (120 vụ phá rừng và 22 vụ khai thác rừng trái phép); trong đó, tại xã Đạ Sar 79 vụ, xã Đạ Nhim 29 vụ, xã Đạ Chais 5 vụ... Bên cạnh đó, tình trạng khai thác thiếc trái phép cũng là hành vi gián tiếp phá rừng, xâm hại tài nguyên rừng; đồng thời, lợi dụng địa bàn tiếp giáp với các xã, huyện khác trong tỉnh và các tỉnh lân cận, một số đối tượng lén lút khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép cũng diễn ra rất phức tạp, thách thức chính quyền và ngành Kiểm lâm…

Những năm gần đây, “cộm” lên tình trạng nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở một số huyện trong tỉnh đã kéo nhau đòi dời về làng cũ; số hộ này đã xâm chiếm trái phép một số khu rừng (kể cả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng) dựng chòi, lều trại; ngang nhiên phá rừng, khai thác đất rừng để sản xuất, “lập làng” tại một số tiểu khu thuộc địa phận huyện Lạc Dương. Cụ thể như trường hợp 35 hộ đồng bào DTTS của huyện Đam Rông đã xâm chiếm rừng tại Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà; 45 hộ DTTS thôn Cổng Trời, xã Mê Linh (Lâm Hà) đã xâm chiếm Tiểu khu 111A - thuộc Xã Lát, dựng 24 chòi, lều để ở phá rừng, khai thác đất rừng…

Nguyên nhân nào khiến nạn phá rừng diễn biến phức tạp? Theo ông Đồng Văn Lâm, riêng đối với Lạc Dương thì bên cạnh do “thói quen” xem rừng là “của chung”, là “nơi kiếm sống” gắn với phương thức “săn bắn, hái lượn” tồn tại trong tư duy của người DTTS bản địa, còn do tình trạng “sốt” đất, giá đất tăng cao, nhu cầu về đất phát triển thời gian gần đây dẫn đến tình trạng phá rừng, xâm chiếm đất rừng!...

Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, trong 6 tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh đã phát hiện, lập biên bản 543 vụ vi phạm về QLBVR. So với cùng kỳ năm 2016, dù tình trạng phá rừng có giảm (22,2% số vụ và 36,6% về diện tích), song, theo đánh giá của lãnh đạo UBND tỉnh, mức độ thiệt hại rừng trên địa bàn toàn tỉnh vẫn đang rất lớn; tình trạng phá rừng, khai thác rừng diễn ra phức tạp tại một số địa phương...

 Ðối với Lạc Dương, thực hiện quyết liệt sự chỉ đạo của tỉnh, của Ðảng bộ và chính quyền địa phương, Hạt Kiểm lâm huyện đã có nhiều nỗ lực trong “cuộc chiến giữ rừng” bằng nhiều biện pháp linh hoạt, thiết thực, hiệu quả, từng bước hạn chế đáng kể thực trạng đáng buồn này.

 Hàng năm, Hạt Kiểm lâm thường xuyên phối hợp với Ban QLR, Ban Kiểm tra - Giám sát Dịch vụ môi trường, MTTQ và các đoàn thể địa phương tuyên truyền, giáo dục về QLBVR, PCCCR trong nhân dân; kiện toàn 6 ban lâm nghiệp cơ sở (156 người); tăng cường kiểm lâm viên tại 5 xã, thị trấn đảm bảo “đủ sức” thực hiện nhiệm vụ; chú trọng công tác PCCCR; phối hợp với chính quyền, Ban Lâm nghiệp, Ban QLR, các trạm QLBVR, chủ rừng, hộ dân nhận khoán QLBVR thường xuyên tuần tra, kiểm tra rừng; giải tỏa lấn chiếm và tái lấn chiếm đất rừng; tăng cường phối hợp truy quét các đối tượng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép, nhất là tại những địa bàn nóng, phức tạp…

Nhờ nỗ lực, quyết liệt của Hạt Kiểm lâm và sự “trợ lực” của chính quyền các cấp, các lực lượng địa phương đã góp phần hạn chế thấp nhất tình trạng phá rừng, khai thác rừng và tài nguyên rừng trên địa bàn huyện. Ba năm trở lại đây, số vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn huyện Lạc Dương giảm dần đều. Năm 2016, xảy ra 93 vụ (giảm 65,49% so với năm 2013); trong đó, 78 vụ phá rừng (giảm 42 vụ), 15 vụ khai thác rừng (giảm 7 vụ). Riêng 6 tháng đầu năm 2017, trên toàn huyện chỉ xảy ra 25 vụ phá rừng và 6 vụ khai thác lâm sản (gây thiệt hại 21,424 m3 gỗ), 10 vụ vận chuyển lâm sản trái phép (khối lượng 9,802 m3 gỗ thông 3 lá và bạch tùng)...

Có thể nói, “Bài toán giữ rừng” đối với cả nước nói chung, với Lâm Đồng và huyện Lạc Dương nói riêng còn đặt ra nhiều ẩn số. Còn đó những khó khăn, những cam go, thử thách, đòi hỏi ngành Kiểm lâm - những con người khoác trên mình màu áo xanh của lá lại tiếp tục bước vào “cuộc chiến” thầm lặng để bảo vệ, gìn giữ nguồn tài nguyên vốn quý của đất nước, tài sản của quốc gia cho các thế hệ con cháu đời sau được thụ hưởng!

Tâm niệm của người Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm tóc đã hoa râm gắn bó gần như cả đời với rừng là làm sao giữ cho được 85% độ che phủ của rừng Lạc Dương, “mái nhà Tây Nguyên”! Kế hoạch của Hạt đặt ra trong những tháng cuối năm 2017 và những năm sau này rất cụ thể, đó là: tập trung tuyên truyền nâng cao trách nhiệm tham gia bảo vệ rừng, đặc biệt  là ý thức chấp hành pháp luật và các quy định về rừng cho người dân - đây là vấn đề quan trọng nhất. Bên cạnh đó, tiếp tục tăng cường rà soát, nắm chắc địa bàn; đặc biệt theo dõi, phát hiện và ngăn chặn thủ đoạn phá rừng rất tinh vi. Chủ động cắm mốc phân ranh giữa đất rừng với đất sản xuất của các hộ dân ven rừng, gần rừng, không để dân “tranh thủ” lấn chiếm; hàng tháng, Hạt Kiểm lâm lập danh sách những hộ dân, các cá nhân vi phạm phá rừng gửi về UBND các xã, thị trấn để đưa ra họp kiểm điểm trước dân và nêu tên trên hệ thống loa truyền thanh của xã, thị trấn nhằm giáo dục, răn đe; tổ chức cho nhân dân ký cam kết không vi phạm rừng, đất rừng. Đối với các tập thể, cá nhân nhận khoán QLBVR phải cam kết, nếu vi phạm bị cắt giao khoán. Đặc biệt, tăng cường phối hợp tuần tra, truy quét, xử lý thật nghiêm các trường hợp phá rừng, khai thác rừng và vận chuyển lâm sản trái pháp luật...

Tin rằng, với tinh thần trách nhiệm cao, sự nỗ lực và tâm huyết của đội ngũ cán bộ, công chức ngành Kiểm lâm cùng với sự “vào cuộc” nhịp nhàng, hiệu quả của các lực lượng chức năng liên quan của địa phương, rừng Lạc Dương sẽ được bảo vệ, gìn giữ... (Baolamdong.vn 6/9) Về đầu trang

Nghe chuyện về "thủ phủ” rừng quế Tây Bắc trên 500 tỷ đồng

Văn Yên là “thủ phủ” của rừng quế Tây Bắc, với diện tích 40.019,2ha, sản lượng khai thác mỗi năm trên 9.000 tấn quế vỏ, tổng giá trị thu nhập khoảng 540 tỷ đồng.

Rừng quế Tây Bắc trở nên vô cùng thiêng liêng đối với họ, mỗi năm người ta đều tổ chức cúng rừng, cúng người đã tìm ra cây quế giúp cho cuộc sống họ trở nên giàu có, sung túc bội phần…

Ngược dòng Thia chúng tôi đến xã Viễn Sơn nằm sâu trong đại ngàn điệp trùng rừng quế. Đây là lần thứ ba tôi đến Viễn Sơn, lần thứ nhất đi cùng Bộ trưởng Cao Đức Phát và bà Victoria Kwaka - Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam kiểm tra vốn vay của WB đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn, lần thứ hai tham dự Lễ hội quế lần thứ nhất huyện Văn Yên, lần thứ ba này tôi mới phát hiện một điều vô cùng lý thú về cây quế và ông tổ của nghề trồng quế nơi đây, đó là cụ Bàn Thừa Phú, đã tìm ra cây quế trồng trên đất Viễn Sơn cách nay 200 năm.

Chủ tịch xã Viễn Sơn, ông Bàn Phúc Hín kể: Tôi nghe các cụ truyền lại, cụ tổ nghề trồng quế của chúng tôi là cụ Bàn Thừa Phú, dân bản quen gọi là cụ Sáu Phú. Cụ vốn làm nghề bốc thuốc cho dân bản nên rất yêu rừng, yêu cây cỏ thiên nhiên. Một lần cụ được mời sang Trung Quốc chữa bệnh cho một người giàu có ở bên đó đang lâm bệnh nặng. Người này chính là người buôn bán thảo dược, nhưng bị bệnh hiểm nghèo không thuốc nào chữa khỏi nên mời cụ Bàn Thừa Phú mang bài thuốc bí truyền của tổ tiên sang giúp chữa bệnh cho họ.

Sau vài thang thuốc người này khỏi bệnh đã trả ơn cụ một túi bạc và nói rằng: Ở miền núi phía Bắc Việt Nam có một loài cây tên là quế, rất có giá trị kinh tế cũng như dùng để làm thuốc chữa bệnh, gọi là “tiên hàng”… Sau khi nghe ông ta mô tả hình dáng, mùi vị của cây quế, cụ trở về đi khắp núi rừng tìm cho bằng được loài cây quý đó.

Dấu chân của cụ in không sót một cánh rừng nào, một lần kia trên dãy núi Bàn Đẳng cao đỉnh núi Ba Chum, nơi có ba đỉnh núi chụm vào nhau như ba ngón tay người, cụ tìm thấy đúng loài cây như người Trung Quốc kia đã mô tả về hình dáng và mùi vị. Cụ cẩn thận đánh hai cây nhỏ mang về trồng ngay cạnh đầu hồi nhà, hàng ngày tưới bón chăm sóc, cây cứ lớn dần theo năm tháng.

Khoảng 20 năm sau, cây to bằng một người ôm thì ra hoa kết hạt, cụ bắc một cái giàn rất cao cắt cử con cháu ngày đêm canh giữ không cho chim chóc và các loài thú sóc, chuột, cầy hương… tới phá hoại. Năm đầu cũng chỉ thu được mấy trăm hạt đem gieo. Giá mỗi hạt 5 hào bạc trắng, tính ra tiền bây giờ khoảng 400 ngàn đồng một hạt. Năm sau giá xuống chỉ còn 2 - 3 hào một hạt, nhưng gia đình nào giàu có cũng chỉ mua được 9 - 10 hạt về gieo. Ngày ấy, dân Viễn Sơn nghèo lắm, chẳng mấy nhà có tiền mua hạt quế, nhà nào có con gái bố mẹ trồng 4 - 5 cây quế để làm vốn tặng cho con gái khi đi lấy chồng. Của nả của bố mẹ chỉ có thế thôi, khi nào cần làm việc gì lớn như dựng nhà, mua trâu bò thì hạ mấy cây quế đó bán lấy tiền để mua sắm.

Bởi thế, cây quế được người ta quý như cây vàng, hết mực chăm sóc. Ngày ấy, người Trung Quốc vượt núi, vượt dòng Thia lặn lội vào tận Viễn Sơn mua những cây quế 50 - 60 năm tuổi. Trước khi hạ, người ta phải mổ lợn, gà để tạ ơn thần núi, thần rừng và cụ Bàn Thừa Phú. Mỗi cây quế được mua bằng một túi bạc trắng, giá bằng mấy con trâu.

Trước khi mất, cụ Bàn Thừa Phú chọn một doi đất dưới chân núi hình mui rùa dựng một cái lán nhỏ chôn 3 hòn đá tựa như 3 đỉnh núi xuống đất làm nơi thờ thần núi, thần rừng, thần cây đã giúp người Dao Viễn Sơn tìm được một giống cây quý, nhờ cây đó mà họ được đổi đời. Hàng năm, người dân Viễn Sơn tổ chức 4 ngày cúng rừng tại căn lán đó, mà họ kính trọng gọi là đình - đình làng Viễn Sơn, vào ngày Dần đầu năm và các ngày 3/3, 6/6 và 2/8 âm lịch.

Đến thăm ngôi đình làng Viễn Sơn cách trụ sở UBND xã chừng 7 cây số, ông Bàn Phú Định thủ nhang của ngôi đình còn khá trẻ, cho hay: Đến đời ông là đời thứ tư tiếp nhận việc thờ cúng ở ngôi đình này. Ngôi đình nằm ẩn mình dưới rừng cây cổ thụ lá xanh um tùm phủ bóng xuống ngôi đình lợp bằng tấm lợp Fibro ximăng, ngôi đình khá đơn sơ mà người dân đang có nguyện vọng xây dựng khang trang hơn để tỏ lòng kính trọng tổ tiên và người có công với dân bản.

Trong đình là bàn thờ cao khoảng 80cm, dưới đất là bệ xi măng bao quanh 3 hòn đá chụm vào nhau như ba đỉnh núi, ông Định nói rằng những hòn đá này cụ Bàn Thừa Phú lấy từ dãy núi Bàn Đẳng cách nay 200 năm rồi. Vào ngày Dần đầu năm các gia đình trong bản góp tiền mua một con lợn khoảng 25 - 30kg mang đến đây mổ tế lễ. Ngoài ra mỗi gia đình góp một con gà và một chai rượu, trước khi chọc tiết lợn và cắt tiết gà họ đốt vỏ cây Hung Đang thơm lừng trên bàn thờ, khi cắt tiết họ nhỏ những giọt tiết lên bệ xi măng trước ba hòn đá lầm rầm những lời khấn, đại thể rằng: Hỡi thần núi, thần rừng, linh hồn cụ Sáu Phú hãy về đây chứng giám cho tấm lòng con cháu hôm nay. Cháu con xin mổ con lợn, con gà này làm lễ dâng lên các vị thần và tổ tiên, mong cho mưa thuận gió hòa để cây cối tốt tươi, lúa ngô được mùa, rừng quế không bị sâu bệnh phá hoại, bán được giá…

Sau khi cỗ bàn đã chuẩn bị xong, ông Định đánh chuông bắt đầu cúng, ông gọi tên các vị thần và cụ Bàn Thừa Phú, bài cúng của ông dài lắm, sau đó ông đọc danh sách những gia đình trong bản tham gia cúng viết bằng chữ nho để các thần và cụ Bàn Thừa Phú nhớ tên họ. Hiện có trên 80 hộ tham gia cúng tế, ngoài họ Bàn còn nhiều họ khác trong xã cũng góp giỗ. Tên các chủ hộ được viết trên các tờ giấy bản, sau khi cúng xong các tờ giấy đó được hóa vàng gửi lên trời xanh.

Viễn Sơn là xã trồng quế lâu đời nhất vùng quế Văn Yên, quế ở đây cũng tốt nhất bởi chất lượng tinh dầu. Tổng diện tích tự nhiên của xã có 4.230ha, trong đó diện tích quế hơn 2.600ha. Đặt chân chỗ nào cũng thấy quế, một vùng quế bạt ngàn, xanh ngút ngàn điệp trùng quế. Trung bình mỗi năm người dân Viễn Sơn khai thác khoảng 2.000 tấn quế vỏ khô, tính ra bán cả vỏ, thân, cành, lá người dân thu 30 - 35 tỷ mỗi năm. Nhiều gia đình giàu có nhờ trồng quế, những đại gia quế có từ 10ha trở nên, ví như gia đình ông Nguyễn Kim Hín, ông Lý Chiến Thắng ở thôn Khe Lợ trồng 10ha quế, ông Bàn Tài Chu, Bàn Phú Hoa ở thôn Đồng Lụa trồng từ 15 - 20ha quế, mỗi năm thu vài trăm triệu.

Phó bí thư xã Lý Hữu Quang dẫn tôi đến nhà ông Triệu Tiến Bảo ở thôn Khe Lợ. Gia đình ông Bảo trước đây trồng hơn 20ha, nay chia cho 7 người con, nên hiện giờ ông chỉ giữ lại 5ha. Đường vào nhà ông đèo dốc ngoằn ngoèo đi xe máy còn khó vậy mà ông vẫn mua một chiếc ô tô để thỉnh thoảng tự lái ra huyện chơi thăm con. Ông bảo: Rừng quế cho dân mình tất cả. Làm nhà ư, lên rừng chặt quế. Mua xe máy, hay ô tô lên rừng hạ vài cây quế là có tiền ngay. Tất cả mọi thứ do cây quế cho mình… Nói rồi ông dẫn chúng tôi lên rừng quế xem những "cây vàng" xanh bạt ngàn trên núi.

Khi trở về thì gặp vợ ông, bà Đặng Thị Khé đang hái lá thuốc trong vườn. Hóa ra vợ ông trong nhóm 15 hộ của Viễn Sơn tham gia trồng cây thuốc chữa bệnh. Bà bảo: Chúng tôi chữa được nhiều loại bệnh: Thuốc bổ máu cho chị em sau sinh, thuốc chữa bệnh hiếm muộn con cái, thuốc tăng cường sức lực cho cánh đàn ông… Ông Triệu Tiến Bảo cười: Nhờ thuốc của bà ấy mà tôi đều đặn chiều bà ấy hàng đêm… Nói rồi ông cười kha kha: Hôm nào tôi xuống thành phố ông mời tôi đi hát để thử sức ông lão trên 60 tuổi này nhé… (Kienthuc.net.vn 6/9) Về đầu trang

Hà Giang: Xã Đường Hồng khuyến khích người dân trồng rừng gắn phát triển kinh tế

Bắc Mê nằm ở phía Đông của tỉnh Hà Giang, có cấu tạo địa chất chia làm 2 loại, gồm vùng núi đất và vùng núi đá, với những loại đất chính như: Đất đỏ vàng, đất nâu trên phù sa cổ, đất dốc tụ và bồi tụ, tài nguyên đất thích hợp để cây rừng phát triển, bên cạnh đó lượng đất bỏ hoang, đất cằn chưa sử dụng đến còn nhiều.

Mô hình trồng rừng phát triển kinh tế của gia đình anh Hoàng Văn Dấu, thôn Nà Nưa.

Nhằm tận dụng nguồn tài nguyên này, trong những năm qua huyện Bắc Mê đã tích cực vận động người dân tham gia trồng rừng gắn với phát triển kinh tế. Trong đó, Đường Hồng là xã đi đầu trong việc tích cực vận động người dân tham gia vào phát triển kinh tế rừng.

Là một xã có diện tích đất chủ yếu là đất đồi, dốc, khó khăn trong việc canh tác nông nghiệp, nhằm khắc phục điều này, đồng chí Bồn Văn Quốc, Bí thư Đảng ủy xã cho biết: “Tuy điều kiện tự nhiên không thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nhưng phần lớn diện tích đất của xã là đất đồi thuận lợi để phát triển trên lĩnh vực lâm nghiệp, từ đó xã đã tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng với phương châm “không trông chờ, ỉ lại”. Xã đã phối hợp với các tổ công tác phụ trách thôn, cán bộ thôn tuyên truyền và khuyến khích người dân nhằm vận động người dân cải tạo đất nghèo, chuyển toàn bộ diện tích đất trống sang trồng rừng. Bên cạnh đó, thường xuyên kiểm tra và đôn đốc nhân dân thực hiện việc chăm sóc rừng, nghiêm cấm các hành vi đốt rừng và chặt phá rừng bừa bãi...”.

Bằng cách làm này, trong năm 2017 xã đã vận động các hộ đăng kí trồng rừng được 194 ha. Đến nay đã thực hiện được 90/50ha đạt 180% so với kế hoạch huyện giao, trồng tập trung tại thôn Khuổi Hon, thôn Nà Nưa I, thôn Nà Nưa II, thôn Tiến Minh với giống cây chủ yếu là cây Mỡ, Sa Mộc, Keo, Quế... UBND xã vận động người dân tự chủ động mua giống cây về trồng; vận động người dân thực hiện số diện tích đồi trồng đã đăng kí, quyết tâm phấn đấu nâng tỉ lệ độ che phủ rừng đạt 75%. Nhìn thấy lợi ích của việc trồng rừng, các hộ dân trên địa bàn xã đã tự chủ động mua giống, làm đất, nhiều hộ đã tập trung cùng nhau nhờ cán bộ xã đặt giống hộ. Cùng với đó là học hỏi cách trồng, cách chăm sóc sao cho ứng với các loại đất khác nhau phù hợp với từng loại cây cụ thể. Bên cạnh đó, các thôn đã đưa nội quy bảo vệ rừng vào hương ước, quy ước của thôn như vận động người dân kí cam kết không chăn thả trâu, bò, dê vào vùng rừng trồng và những quy định nghiêm ngặt về việc xử lý, nộp phạt nếu hộ nào vi phạm gây hư hỏng đến diện tích cây của người dân. Từ đó đã tạo sự yên tâm và động lực cho nhiều hộ dân đăng kí chuyển đổi diện tích đất bỏ hoang sang trồng rừng.

Đến thăm mô hình trồng rừng của các hộ dân tại thôn Nà Nưa, cả khoảnh đồi 40 ha của các hộ dân trong thôn đang dần được phủ xanh bởi những chồi non đang nhú lên của cây keo, cây mỡ... mà các hộ đã chủ động mua giống về trồng cách đây 1 năm. Theo anh Hoàng Văn Dấu, hộ dân trồng cây cho biết: “Năm 2016 gia đình đầu tư hơn 2 ha đất đồi để trồng cây mỡ, sau một năm khi thấy cây phát triển tốt gia đình tiếp tục chuyển số diện tích đất còn lại để trồng cây keo. Trước khi trồng gia đình đã đi khảo sát và hỏi cán bộ xã về cách trồng và chăm sóc, cây mỡ ưa đất tơi xốp và màu mỡ cần phải chọn phần đất tốt và cây keo dễ sống hơn nên để phần đất khô cằn trồng keo... vì vậy cho đến nay, sau hơn một năm trồng, 2000 cây mỡ giờ đã phát triển tốt, tỉ lệ sống đạt khoảng 98%, hiện tại các cây sinh trưởng tốt và vượt tiêu chuẩn cao trên 2 m”.

Không chỉ trồng nguyên cây lấy gỗ, các hộ dân nơi đây còn tận dụng các khoảng đất trống trồng xen kẽ các cây ngắn ngày như cây nghệ, cây lúa nương, cây sắn... để có thêm thu nhập cho gia đình.Những màu vàng, màu nâu của những khoảnh đất trơ trọi đang dần được phủ một màu xanh của những cây rừng, hứa hẹn cho người dân nơi đây một khoản thu lớn trong thời gian không xa. (Báo Hà Giang Online 6/9) Về đầu trang

Nỗ lực giữ rừng ở huyện Kbang

Mặc dù phải đối diện với nhiều khó khăn và thách thức, thời gian qua các ngành chức, các chủ rừng và các địa phương trong huyện Kbang đã phối hợp triển khai nhiều biện pháp đồng bộ và quyết liệt, nhờ đó công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện đạt được những kết quả quan trọng. Nhiều khu rừng trong huyện đã và đang được bảo vệ nghiêm ngặt.

Hạt Kiểm lâm huyện Kbang đã làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, trong đó nâng cao trách nhiệm của các chủ rừng và thành lập nhiều chốt, trạm, nhất là ở những địa bàn trọng điểm để tuần tra, truy quét nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi khai thác, vận chuyển, cất giấu lâm sản, phát nương làm rẫy trái phép. Mặc dù làm việc ở giữa rừng trong điều kiện  thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đường sá đi lại rất khó khăn và điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt nhưng cán bộ, nhân viên ở các chốt, trạm luôn nỗ lực, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Anh Nguyễn Văn Vũ- Nhân viên Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa- Kbang- Gia Lai cho biết: “Làm việc ở giữa rừng điều kiện thức ăn, nước uống gặp nhiều khó khăn. Nhiều thời điểm thức ăn trong cả tuần chỉ có cá khô; điện, đài cũng không có, vào mùa mưa thì đi kiểm tra rất khó khăn, địa bàn rộng trong khi đó chỉ có 2 người chốt chặn”.

Đặc biệt, trước những hoạt động rất tinh vi và manh động của lâm tặc nên việc triển khai công tác quản lý, bảo vệ số cây gỗ hương tại lâm phần Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa đứng chân trên địa bàn xã Krong, huyện Kbang đang gặp nhiều khó khăn và thách thức.

Có 298 cây gỗ hương còn lại trên lâm phần Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa, để quản lý số cây gỗ hương này thì chủ rừng và các ngành chức năng gặp rất nhiều khó khăn vì địa bàn rộng, lực lượng quản lý, bảo vệ thì mỏng, trong khi đó hoạt động của lâm tặc ngày càng tinh vi và manh động.

Ông Nguyễn Văn Sơn- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kbang- Gia Lai nói: “298 cây gỗ hương thuộc lâm phần Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa phân bổ trên địa bàn rộng gần 4.000 ha, trong diện tích đó có rẫy của người dân nằm xen kẽ và có nhiều đường đi lại. Trước tình hình đó, thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện Kbang, Hạt Kiểm lâm huyện đã tăng cường kiểm lâm địa bàn vào xã để thành lập tổ liên ngành và huyện đã thành lập tổ liên ngành của huyện cùng phối hợp với xã Krong và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa bảo vệ số cây gỗ hương”.

Theo tinh thần chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo huyện Kbang, việc quản lý, bảo vệ số cây gỗ hương tại lâm phần Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa là nhiệm vụ cấp bách nên chủ rừng đang từng ngày nỗ lực, cố gắng giữ rừng tận gốc.

Ông Võ Ngộ- Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa- Kbang- Gia Lai cho biết: “ Thời gian qua, Công ty đã phối hợp với các ngành chức năng làm tốt công tác bảo vệ 298 cây gỗ hương nhưng nguy cơ bị chặt phá rất cao bởi vì lâm tặc thường xuyên rình rập, lực lượng của công ty thì mỏng, đời sống của cán bộ, nhân viên gặp rất nhiều khó khăn nhưng áp lực thì lớn; nguồn tài chính của công ty để bảo vệ rừng không đủ. Đề nghị tỉnh có cơ chế đặc thù để công ty đảm bảo các điều kiện bảo vệ số cây gỗ hương này”.

Toàn huyện Kbang hiện có hơn 122.000 ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm gần 70% diện tích đất tự nhiên trong huyện. Với sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo huyện Kbang, việc triển khai công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện có những chuyển biến tích cực. Riêng từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện cùng các chủ rừng và các đoàn kiểm tra liên ngành trong huyện phát hiện 106 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, trong đó xử lý hình sự 05 vụ; đáng chú ý là số vụ khai thác gỗ trái phép đã giảm đáng kể, nhiều địa bàn không còn là “điểm nóng” về phá rừng. Tuy nhiên, cần phải có những cơ chế chính sách phù hợp nhằm tháo gỡ những khó khăn và bất cập, có như vậy huyện Kbang cũng như các địa phương khác mới đảm bảo các điều kiện cần thiết để triển khai công tác giữ rừng một cách bền vững và hiệu quả. (Gialaitv.vn 6/9) Về đầu trang

TPHCM: Phát hiện lô ngà voi cất giấu tinh vi trong các thùng phuy nhựa đường

Ngày 6/9, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1, phối hợp với các đơn vị liên quan đã tiến hành khám xét và phát hiện 2 container bên trong chứa hàng trăm kg ngà voi nhập lậu từ Châu Phi.

Trước đó qua theo dõi, lực lượng chức năng nghi vấn có hàng lậu trong 2 container hàng của một công ty có trụ sở tại đường Phan Xích Long, quận Phú Nhuận, trên giấy tờ khai là nhựa đường chứa trong hàng trăm thùng phuy với trọng lượng 16 tấn nhập khẩu từ Châu Phi quá cảnh vào Việt Nam để xuất qua Campuchia.

Tiến hành giám sát trọng điểm và sử dụng các biện pháp nghiệp vụ, soi chiếu, cơ quan Hải quan phát hiện trong nhiều thùng phuy có chứa ngà voi.

Đến sáng nay 6/9, Chi cục hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 phối hợp với Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74) - Bộ Công an, Công an TPHCM, Bộ đội biên phòng TPHCM tiến hành kiểm tra thực tế.

Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện bên trong có chứa hàng trăm kg ngà voi, được cất giấu tinh vi trong các thùng phuy nhựa đường, bên trên phủ một lớp mùn cưa và thạch cao.

Theo chi cục Hải quan cảng Sài Gòn khu vực 1, đây là lần đầu tiên đơn vị phát hiện ngà voi được cất giấu trong thùng phuy chứa nhựa đường, trước đó các đối tượng thường cất giấu trong các khối gỗ để thẩm lậu.

Hiện lực lượng chức năng vẫn đang tiếp tục mở các thùng phuy để kiểm đếm số lượng tang vật. (Công An Nhân Dân 7/9, tr1; An Ninh Thủ Đô 7/9, tr2; Đại Đoàn Kết 7/9, tr2; Nông Nghiệp Việt Nam 7/9, tr2; Dân Trí 6/9) Về đầu trang

Hà Nội: Lập biên bản xử lý 83 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng

Từ đầu năm tới nay Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã phối hợp kiểm tra, phát hiện, lập biên bản xử lý 83 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

Theo đó, đã tịch thu 1.163 cá thể động vật hoang dã, 38,3m3 gỗ quy tròn. Đồng thời, phạt hành chính và bán lâm sản tịch thu được 1.892 triệu đồng nộp ngân sách. Các vụ việc xử lý đều đúng quy định của pháp luật, không có khiếu nại, tố cáo xảy ra. (Kinh Tế & Đô Thị 7/9, tr2) Về đầu trang