Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 05/9/2017

Điểm báo ngày 05/9/2017

Cập nhật ngày : 05/09/2017 1:41:28 CH

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 05 tháng 9 năm 2017)

Lâm Đồng: Góp ý dự thảo luật bảo vệ và phát triển rừng (Sửa đổi)

Ông Hà Công Tuấn – Thứ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn; và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm S, đã chủ trì hội nghị góp ý dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng (Sửa đổi) năm 2017.

Đại diện sở nông nghiệp và phát triển nông thôn; chi cục kiểm lâm, vườn quốc gia, quỹ bảo vệ phát triển rừng các tỉnh, thành khu vực Tây nguyên và Nam trung bộ đã tham dự.

Dự thảo luật bảo vệ và phát triển rừng (Sửa đổi) 2017 có 12 chương, 111 điều, tăng 23 điều và 4 chương so với năm 2004. Nội dung góp ý vào dự thảo được các đại biểu tập trung phân tích, đề xuất một số vấn đề liên quan đến quy định chung, quy hoach lâm nghiệp, quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng; vấn đề sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, giá rừng, đầu tư, tài chính trong lâm nghiệp; hoạt động khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế trong lâm nghiệp; quản lý nhà nước về lâm nghiệp ….. Nhiều ý kiến đề nghị, luật cần thể hiện rõ khái niệm môi trường rừng, giải thích từ ngữ, bởi vì quá trình thực thi nhiệm vụ vẫn còn những bất cập về điều khoản vấn đề này. Ngoài ra nội dung liên quan đến đảm bảo, quản lý rừng bền vững, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, hạn mức của từng địa phương; thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng rừng, thu hồi rừng; giải quyết bài toán vùng rừng ngập mặn, cho thuê rừng và quản lý rừng đặc dụng…. cũng được đại biểu quan tâm, nêu lên. Những nội dung góp ý vào dự thảo được tổng hợp gửi Ủy ban khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội xem xét, nghiên cứu, qua đó để sửa đổi, chỉnh lý từng bước hoàn thiện luật bảo vệ và phát triển rừng phát huy hiệu quả. (Lamdongtv.vn 5/9) Về đầu trang

Hà Tĩnh: Rừng keo liên tục bị chặt phá, chính quyền loay hoay tìm thủ phạm

Gia đình bà Nguyễn Thị Quế (69 tuổi, ngụ thôn Tân Lệ, xã Đức Liên, huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh) đã phải cầu cứu cơ quan chức năng vì từ giữa năm 2016 đến nay, rừng keo của bà liên tục bị kẻ xấu phá hoại.

Theo phản ánh của bà Quế, gia đình bà có 0,75 ha đất rừng nằm ở thôn Liên Hòa (xã Đức Liên) phía bên sông Ngàn Sâu. Năm 1990, sau khi được bố mẹ chồng bàn giao lại, vợ chồng bà Quế bắt đầu trồng lạc và khoai trên phần đất này.

Đến năm 2012, bà Quế cho cháu họ của mình là anh Trần Văn Luyến (43 tuổi, ngụ cùng thôn) mượn đất canh tác vì gia đình anh này khó khăn. Đến năm 2016, bà Quế lấy lại để trồng keo. Cũng kể từ đó, bà Quế mất ăn mất ngủ vì rừng keo của bà bị kẻ xấu liên tục chặt ngang các cây keo, với tổng số gần 1.000 cây.

Vụ phá hoại đầu tiên được bà Quế phát hiện vào tháng 5.2016, khi bà ra thăm rừng keo thì kẻ xấu đã nhổ và chặt mất 594 cây keo 6 tháng tuổi của gia đình. Tiếp đó, vào ngày 18.11.2016, thêm 33 cây keo 1 năm tuổi bị chặt phá. Tưởng sự việc đã dừng lại, đến ngày 8.2 vừa qua, 46 cây keo 1 năm tuổi của gia đình bà Quế lại bị kẻ xấu chặt. Vào ngày 18.8 (lần thứ 4), 116 cây keo 3 năm tuổi tiếp tục bị chặt ngang không thương tiếc.

Tất cả 4 lần kể trên, bà Quế đều báo tin cho Công an xã Đức Liên và Công an huyện Vũ Quang vào cuộc điều tra. Tuy nhiên, từ đó đến nay, lực lượng chức năng vẫn chưa tìm ra được thủ phạm, số lần chặt phá cứ thế tăng lên, khiến bà Quế như ngồi trên đống lửa.

Dẫn chúng tôi tới vị trí các cây keo bị chặt ngang gốc, bà Quế mếu máo: “Tui tuổi già sức yếu, để đến được rừng keo rất khó khăn, mang phân bón, giống cây đến đây để trồng phải bỏ công rất lớn. Thế mà không biết ai thù oán tôi, nỡ lòng nào cứ liên tục chặt mất kế sinh nhai của bà già này như thế!”. Nói đoạn, bà Quế lôi từng thân cây keo to bằng cẳng tay nằm dưới đất, đang chất lại thành đống.

Ngày 28.8, ông Huỳnh Tiến Bộ, Trưởng công an xã Ia Nhin (H.Chư Păh, Gia Lai) cho biết đã nghe thông tin vụ người dân trên địa bàn bị chặt hạ 300 gốc cà phê nhưng người bị hại vẫn chưa đến trình báo.

Theo ghi nhận của chúng tôi, một số cây keo đứt ngang rời khỏi gốc đã khô hết thân và lá, số còn lại thân chưa rời khỏi gốc thì lá vẫn còn tươi. Kẻ xấu đi theo lối, đi đến đâu thì chặt phá đến đó.

Ông Lê Văn Hùng, Chủ tịch xã Hương Liên, cho biết vào năm 2015, diện tích đất rừng trồng keo của bà Quế bị anh Luyến là cháu họ của bà này tranh chấp. Tuy nhiên, sau khi mời hai bên lên làm việc, chính quyền địa phương công nhận bà Quế mới là chủ sở hữu vì được thừa hưởng từ bố mẹ chồng. Bà Quế cũng chỉ được sử dụng tạm thời vì diện tích đất rừng này nằm trong tổng thể 73 ha quy hoạch vào mục đích phát triển kinh tế của UBND xã Đức Liên.

“Việc rừng keo của bà Quế liên tục bị kẻ xấu chặt phá thì công an xã cũng đã nắm được và đang phối hợp với công an huyện để điều tra. Chồng bà Quế đã mất, 5 người con của bà Quế cũng đã lập gia đình ra ở riêng, nên chính quyền xã rất thấu hiểu khó khăn của bà hiện nay”, ông Hùng nói.

Trao đổi với phóng viên Báo Thanh Niên, trung tá Trần Thanh Tuấn, Phó trưởng Công an huyện Vũ Quang, cho hay đơn vị này vẫn đang tích cực điều tra vụ rừng keo của gia đình bà Quế bị chặt phá. Các trinh sát cũng đã được cử đến nằm vùng để khoanh vùng các nghi phạm liên quan. Đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định đây là vụ việc do tư thù cá nhân nên đang xác định mâu thuẫn của bà Quế với những người khác.

“Vị trí đất rừng của gia đình bà Quế nằm cách nhà quá xa và số keo bị kẻ xấu chặt phá sau một tuần thì bà Quế mới phát hiện được, nên việc điều tra gặp khó. Khi chúng tôi đến khám nghiệm hiện trường, thủ phạm không để lại dấu vết nào cả. Vụ việc này là do mâu thuẫn trong nội bộ của người dân nên việc sàng lọc nghi phạm gặp nhiều trở ngại. Tuy nhiên, chúng tôi kiên quyết làm sáng tỏ sự việc này”, trung tá Tuấn nói. (Thanh Niên Online 4/9) Về đầu trang

Đắk Lắk: Voi rừng hung dữ tấn công voi nhà

Đàn voi rừng liên tục tràn xuống khu vực dân cư để tìm kiếm thức ăn, tàn phá hoa màu và tấn công voi nhà của người dân đang nuôi thả tại khu vực bị thương nặng.

Ông Huỳnh Trung Luân, Giám đốc trung tâm Bảo tồn Voi tỉnh Đắk Lắk cho biết, thời gian gần đây, một đàn voi rừng đã về khu vực gần khu dân cư thuộc bìa rừng vườn Quốc gia Yok Đôn (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) để tìm kiếm thức ăn và liên tục tấn công làm đàn voi thuần của người dân bị thương.

Trao đổi với PV, ông Luân cho biết: “Vào đêm 28/8, tại khu vực thuộc trạm Kiểm lâm số 6, vườn Quốc gia Yok Đôn bất ngờ xuất hiện một đàn voi rừng khoảng 6-7 con. Đàn voi này tràn về để kiếm thức ăn đồng thời tấn công làm bị thương 2 con voi nhà của Trung tâm đang thả tại khu vực”.

Theo thống kê của Trung tâm, từ tháng 3/2017 cho đến nay đã xảy ra 5 vụ xung đột giữa voi rừng và voi nhà. Đàn voi rừng liên tục kéo về các tiểu khu, khu vực các trạm kiểm lâm, nương rẫy của người dân tìm kiếm thức ăn, tấn công làm 7 con voi nhà bị thương. Trong đó, một con voi của hộ ông Y Tưng Niê (ở xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) bị chết khi xung đột với voi rừng.

Sự việc voi rừng tràn về khiến người dân ở khu vực hết sức hoang mang. Buôn Đrăng Phốc, xã Krông Na, là khu vực nằm ở bìa rừng vườn Quốc gia Yok Đôn và cũng là một trong những khu vực hằng năm bị đàn thú hoang khổng lồ này “viếng thăm”, gây thiệt hại lớn về diện tích hoa màu.

Với người dân ở buôn này, chuyện voi rừng xuất hiện, tìm xuống tận bản tàn phá nương rẫy không phải là điều gì quá xa lạ. Mỗi năm, khi người dân chuẩn bị thu hoạch mía, bắp, khoai mì, đàn voi đều kéo nhau xuống tìm thức ăn tàn phá. Trước đây, một đàn voi rừng khoảng 20 con đã tràn về khu vực này tàn phá làm hư hại nhiều diện tích mía và mì của người dân nơi đây.

Trao đổi với PV về sự việc, ông Lê Dũng, Trưởng buôn Đrăng Phốc cho hay: “Thời điểm kể trên, một đàn voi rừng có khoảng 20 cá thể lớn bé tràn về khu vực nương rẫy của người dân trong buôn. Voi đi thành đàn không tách rời, voi đầu đàn to lớn, oai vệ.

Thấy đàn voi xuất hiện ở khu vực, người dân trong buôn đã tập trung đốt lửa, dùng trống, chiêng để gây tiếng động lớn xua đuổi, tuy nhiên đàn voi vẫn không hề tỏ ra sợ hãi, càng cố di chuyển sâu vào các diện tích hoa màu của người dân để tìm kiếm thức ăn”.

Cũng theo ông Lê Dũng, trong những năm gần đây, đàn voi rừng phần vì nắm được tập quán canh tác của bà con nên đến mùa nông sản chuẩn bị thu hoạch, chúng lập tức tràn xuống kiếm ăn. Sự việc lặp đi lặp lại trong nhiều năm liền.

Để tìm hiểu thêm về tập tính của voi rừng và việc voi rừng càng ngày càng hung dữ, đã liên hệ với ông Ama Đăng (SN 1945, ngụ xã Krông Na), người có kinh nghiệm hàng chục năm trong nghề thuần dưỡng voi rừng.

Chia sẻ với PV, ông Ama Đăng nói: “Bản chất, tính cách của voi rừng rất hiền lành, sợ người. Khi phát hiện có người ở khu vực, chúng thường kéo đàn bỏ đi nơic khác để sinh sống. Trước đây, rất hiếm khi có chuyện voi rừng tràn về khu vực dân cư tấn công để tìm kiếm thức ăn, hay xung đột với voi nhà. Tuy nhiên, những năm gần đây, voi rừng liên tục tràn về khu vực để tìm kiếm thức ăn và càng ngày càng hung hãn. Điều đó cho thấy, môi trường sinh sống của đàn voi này đang bị xâm hại”.

Theo kinh nghiệm của ông Ama Đăng, một trong những nguyên nhân chính khiến đàn voi bất chấp tràn xuống khu vực dân cư để tìm kiếm thức ăn là do tình trạng người dân phá rừng bừa bãi, khiến diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp, làm cạn kiệt thức ăn và xâm phạm môi trường sống của đàn thú hoang khổng lồ này.

Phân tích về tình hình đàn voi rừng xuất hiện phức tạp như vừa qua, ông Huỳnh Trung Luân cho biết: “Khi nhận được báo cáo đàn voi rừng xuất hiện xung đột với voi nhà, phá hoại nương rẫy của người dân, trung tâm Bảo tồn Voi Đắk Lắk đã nhanh chóng phối hợp cùng ban Quản lý vườn Quốc gia Yok Đôn và cơ quan chức năng xuống hiện trường hỗ trợ người dân giải quyết hậu quả. Chúng tôi chủ động hướng dẫn người dân các biện pháp xua đuổi đàn voi.

Sau đó, đàn voi được đuổi về rừng an toàn. Trước sự việc phức tạp, Trung tâm khuyến cáo bà con nên bình tĩnh giải quyết tình huống, không dùng những biện pháp bạo lực gây hại cho đàn voi. Hiện nay, nhiệm vụ bảo tồn, phát triển đàn voi là trách nhiệm chung của cộng đồng. Trên thực tế, số lượng các đàn voi rừng trong tự nhiên ngày một giảm”.

Trao đổi với PV về tình trạng voi rừng liên tục xung đột với voi nhà, ông Huỳnh Trung Luân cho biết thêm: "Một trong những nguyên nhân xảy ra xung đột giữa voi rừng và voi nhà là do diện tích rừng suy giảm, voi rừng thường xuyên kéo về khu vực bìa rừng, gần nương rẫy của người dân tìm kiếm thức ăn, gặp voi nhà nên đã tấn công.

Bên cạnh đó, thời kỳ này là trong thời gian động dục, voi rừng đực tự tách đàn đi riêng lẻ tìm voi cái nên rất hung dữ. Khi những cá thể voi này gặp voi nhà sẽ tấn công để giành voi cái".

Để hạn chế tình trạng voi rừng xung đột với voi nhà, ông Huỳnh Trung Luân khuyến cáo: “Các chủ voi, đơn vị kinh doanh du lịch bằng voi tăng cường các biện pháp bảo vệ, chăm sóc voi. Không chăn thả voi ở khu vực bìa rừng, những khu vực thường xuyên có voi rừng xuất hiện.

Khi thấy đàn voi rừng xuất hiện ở khu vực, tàn phá hoa màu, tấn công voi nhà, người dân phải báo cáo cho trung tâm Bảo tồn Voi Đắk Lắk, chính quyền địa phương để có biện pháp phối hợp xua đuổi an toàn, không gây nguy hại đến voi rừng và điều trị khi voi nhà bị thương”. (Giadinhphapluat.vn 3/9) Về đầu trang

Kon Tum: Bắt được loài khỉ đuôi lợn quý hiếm giữa thành phố

Chiều 1-9, Hạt Kiểm lâm TP.Kon Tum (tỉnh Kon Tum) cho biết, đơn vị tiếp nhận 1 cá thể khỉ đuôi lợn do người dân bắt được, giao nộp.

Trước đó, bà Nguyễn Thị Kiều Oanh (trú P.Thắng Lợi, TP.Kon Tum) phát hiện và bắt được một cá thể khỉ đang chạy trên đường Bắc Kạn (TP.Kon Tum). Qua tìm hiểu, biết đây là một loài động vật hoang dã quý hiếm nên bà Oanh liên hệ với Hạt Kiểm lâm TP.Kon Tum để giao nộp.

Qua kiểm tra, Hạt Kiểm lâm TP.Kon Tum cho biết, đây là cá thể khỉ đuôi lợn(tên khoa học: Macaca leonina), nhóm IIB, thuộc loài động vật rừng nguy cấp, quý hiếm, cần được bảo vệ nghiêm ngặt.

Hiện Hạt Kiểm lâm TP.Kon Tum đang làm thủ tục bàn giao cho Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật thuộc Ban Quản lý vườn Quốc gia Chư Mom Ray để thả về tự nhiên. (Công An Thành Phố Hồ Chí Minh Online 3/9; Phununews.vn 3/9) Về đầu trang

Nghệ An tăng cường giải pháp phòng cháy rừng hiệu quả

Theo số liệu thống kê 10 năm gần đây, bình quân mỗi năm trên địa bàn tỉnh Nghệ An xảy ra 30 vụ cháy rừng, thiệt hại gần 90 ha rừng các loại. Riêng trong năm 2017, nạn cháy rừng được kiềm chế, thiệt hại không đáng kể.

Ngoài nguyên nhân khách quan thời tiết thuận lợi, phải kể đến sự vào cuộc tích cực, quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương; sự tham mưu có hiệu quả của lực lượng kiểm lâm.

Cụ thể, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu giải quyết tận gốc nguyên nhân cố ý đốt rừng với các giải pháp: Một là: Nếu cháy rừng thông, thì chỉ được phép trồng lại rừng thông, không được tận thu gỗ do cháy rừng để đem bán.

Hai là: Nếu là đối tượng rừng trồng nghèo kiệt, thưa thớt, hiệu quả kinh tế và môi trường thấp, thì chủ rừng lập hồ sơ đề xuất cho thanh lý rừng, để khoanh vùng chuyển đổi sang trồng rừng mới.  Nếu chủ rừng có nhu cầu xử lý thực bì vì các mục đích khác nhau như: Lấy đồng cỏ, phát triển cây dành để đem bán thì chủ rừng lập hồ sơ  trình UBND xã xem xét cho xử lý, nhưng phải đảm bảo tuyệt đối an toàn về phòng cháy, chữa cháy rừng.

Kiểm tra dụng cụ chữa cháy rừng tại Hạt Kiểm lâm Diễn Châu. Ảnh: Văn Trường

Ba là: Xác định những vùng rừng trọng tâm, xã trọng điểm để tập trung chỉ đạo, họp dân, tuyên truyền vận động, xây dựng phương án 4 tại chỗ, kiểm tra đôn đốc, quản lý chặt chẽ việc sử dụng lửa trong rừng và ven rừng. Phát hiện sớm những mâu thuẫn tiềm ẩn trong nhân dân để xử lý; giao trách nhiệm cụ thể cho lãnh đạo xã, chủ rừng, kiểm lâm viên địa bàn bám sát địa bàn cơ sở để tham mưu làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.

Giải pháp cuối cùng đó là quy trách nhiệm của người đứng đầu các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, hạt kiểm lâm, chủ rừng theo tinh thần Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Chỉ thị số 03-CT/TU ngày 11/4/2016 của Tỉnh ủy Nghệ An về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý bảo vệ rừng.

Như vậy, công tác bảo vệ rừng nói chung và phòng cháy, chữa cháy rừng nói riêng được xác định là trách nhiệm chính của chủ rừng; vai trò lãnh đạo quản lý của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, lực lượng Kiểm lâm đóng vai trò nòng cốt tham mưu.

Việc đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy rừng; thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, gắn với trách nhiệm cá nhân người đứng đầu các đơn vị địa phương, chủ rừng, hạt Kiểm lâm đã góp phần làm xanh thêm những cánh rừng. (Báo Nghệ An Online 3/9) Về đầu trang

Yên Bái: Chuyện về cánh rừng quế trên 500 tỷ đồng

Văn Yên là “thủ phủ” của rừng quế Tây Bắc, với diện tích 40.019,2ha, sản lượng khai thác mỗi năm trên 9.000 tấn quế vỏ, 290 tấn tinh dầu, 62.000m3 gỗ, tổng giá trị thu nhập trong nhân dân khoảng 540 tỷ đồng.

Rừng quế trở nên vô cùng thiêng liêng đối với họ, mỗi năm người ta đều tổ chức cúng rừng, cúng người đã tìm ra cây quế giúp cho cuộc sống họ trở nên giàu có, sung túc bội phần…

Ngược dòng Thia chúng tôi đến xã Viễn Sơn (Văn Yên) nằm sâu trong đại ngàn điệp trùng rừng quế. Đây là lần thứ ba tôi đến Viễn Sơn, lần thứ nhất đi cùng Bộ trưởng Cao Đức Phát và bà Victoria Kwaka - Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam kiểm tra vốn vay của WB đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn, lần thứ hai tham dự Lễ hội quế lần thứ nhất huyện Văn Yên, lần thứ ba này tôi mới phát hiện một điều vô cùng lý thú về cây quế và ông tổ của nghề trồng quế nơi đây, đó là cụ Bàn Thừa Phú, đã tìm ra cây quế trồng trên đất Viễn Sơn cách nay 200 năm.

Chủ tịch xã Viễn Sơn, ông Bàn Phúc Hín kể: Tôi nghe các cụ truyền lại, cụ tổ nghề trồng quế của chúng tôi là cụ Bàn Thừa Phú, dân bản quen gọi là cụ Sáu Phú. Cụ vốn làm nghề bốc thuốc cho dân bản nên rất yêu rừng, yêu cây cỏ thiên nhiên. Một lần cụ được mời sang Trung Quốc chữa bệnh cho một người giàu có ở bên đó đang lâm bệnh nặng. Người này chính là người buôn bán thảo dược, nhưng bị bệnh hiểm nghèo không thuốc nào chữa khỏi nên mời cụ Bàn Thừa Phú mang bài thuốc bí truyền của tổ tiên sang giúp chữa bệnh cho họ.

Sau vài thang thuốc người này khỏi bệnh đã trả ơn cụ một túi bạc và nói rằng: Ở miền núi phía Bắc Việt Nam có một loài cây tên là quế, rất có giá trị kinh tế cũng như dùng để làm thuốc chữa bệnh, gọi là “tiên hàng”… Sau khi nghe ông ta mô tả hình dáng, mùi vị của cây quế, cụ trở về đi khắp núi rừng tìm cho bằng được loài cây quý đó.

Dấu chân của cụ in không sót một cánh rừng nào, một lần kia trên dãy núi Bàn Đẳng cao đỉnh núi Ba Chum, nơi có ba đỉnh núi chụm vào nhau như ba ngón tay người, cụ tìm thấy đúng loài cây như người Trung Quốc kia đã mô tả về hình dáng và mùi vị. Cụ cẩn thận đánh hai cây nhỏ mang về trồng ngay cạnh đầu hồi nhà, hàng ngày tưới bón chăm sóc, cây cứ lớn dần theo năm tháng.

Khoảng 20 năm sau, cây to bằng một người ôm thì ra hoa kết hạt, cụ bắc một cái giàn rất cao cắt cử con cháu ngày đêm canh giữ không cho chim chóc và các loài thú sóc, chuột, cầy hương… tới phá hoại. Năm đầu cũng chỉ thu được mấy trăm hạt đem gieo. Giá mỗi hạt 5 hào bạc trắng, tính ra tiền bây giờ khoảng 400 ngàn đồng một hạt. Năm sau giá xuống chỉ còn 2 - 3 hào một hạt, nhưng gia đình nào giàu có cũng chỉ mua được 9 - 10 hạt về gieo. Ngày ấy, dân Viễn Sơn nghèo lắm, chẳng mấy nhà có tiền mua hạt quế, nhà nào có con gái bố mẹ trồng 4 - 5 cây quế để làm vốn tặng cho con gái khi đi lấy chồng. Của nả của bố mẹ chỉ có thế thôi, khi nào cần làm việc gì lớn như dựng nhà, mua trâu bò thì hạ mấy cây quế đó bán lấy tiền để mua sắm.

Bởi thế, cây quế được người ta quý như cây vàng, hết mực chăm sóc. Ngày ấy, người Trung Quốc vượt núi, vượt dòng Thia lặn lội vào tận Viễn Sơn mua những cây quế 50 - 60 năm tuổi. Trước khi hạ, người ta phải mổ lợn, gà để tạ ơn thần núi, thần rừng và cụ Bàn Thừa Phú. Mỗi cây quế được mua bằng một túi bạc trắng, giá bằng mấy con trâu.

Trước khi mất, cụ Bàn Thừa Phú chọn một doi đất dưới chân núi hình mui rùa dựng một cái lán nhỏ chôn 3 hòn đá tựa như 3 đỉnh núi xuống đất làm nơi thờ thần núi, thần rừng, thần cây đã giúp người Dao Viễn Sơn tìm được một giống cây quý, nhờ cây đó mà họ được đổi đời. Hàng năm, người dân Viễn Sơn tổ chức 4 ngày cúng rừng tại căn lán đó, mà họ kính trọng gọi là đình - đình làng Viễn Sơn, vào ngày Dần đầu năm và các ngày 3/3, 6/6 và 2/8 âm lịch.

Đến thăm ngôi đình làng Viễn Sơn cách trụ sở UBND xã chừng 7 cây số, ông Bàn Phú Định thủ nhang của ngôi đình còn khá trẻ, cho hay: Đến đời ông là đời thứ tư tiếp nhận việc thờ cúng ở ngôi đình này. Ngôi đình nằm ẩn mình dưới rừng cây cổ thụ lá xanh um tùm phủ bóng xuống ngôi đình lợp bằng tấm lợp Fibro ximăng, ngôi đình khá đơn sơ mà người dân đang có nguyện vọng xây dựng khang trang hơn để tỏ lòng kính trọng tổ tiên và người có công với dân bản.

Trong đình là bàn thờ cao khoảng 80cm, dưới đất là bệ xi măng bao quanh 3 hòn đá chụm vào nhau như ba đỉnh núi, ông Định nói rằng những hòn đá này cụ Bàn Thừa Phú lấy từ dãy núi Bàn Đẳng cách nay 200 năm rồi. Vào ngày Dần đầu năm các gia đình trong bản góp tiền mua một con lợn khoảng 25 - 30kg mang đến đây mổ tế lễ. Ngoài ra mỗi gia đình góp một con gà và một chai rượu, trước khi chọc tiết lợn và cắt tiết gà họ đốt vỏ cây Hung Đang thơm lừng trên bàn thờ, khi cắt tiết họ nhỏ những giọt tiết lên bệ xi măng trước ba hòn đá lầm rầm những lời khấn, đại thể rằng: Hỡi thần núi, thần rừng, linh hồn cụ Sáu Phú hãy về đây chứng giám cho tấm lòng con cháu hôm nay. Cháu con xin mổ con lợn, con gà này làm lễ dâng lên các vị thần và tổ tiên, mong cho mưa thuận gió hòa để cây cối tốt tươi, lúa ngô được mùa, rừng quế không bị sâu bệnh phá hoại, bán được giá…

Sau khi cỗ bàn đã chuẩn bị xong, ông Định đánh chuông bắt đầu cúng, ông gọi tên các vị thần và cụ Bàn Thừa Phú, bài cúng của ông dài lắm, sau đó ông đọc danh sách những gia đình trong bản tham gia cúng viết bằng chữ nho để các thần và cụ Bàn Thừa Phú nhớ tên họ. Hiện có trên 80 hộ tham gia cúng tế, ngoài họ Bàn còn nhiều họ khác trong xã cũng góp giỗ. Tên các chủ hộ được viết trên các tờ giấy bản, sau khi cúng xong các tờ giấy đó được hóa vàng gửi lên trời xanh.

Viễn Sơn là xã trồng quế lâu đời nhất vùng quế Văn Yên, quế ở đây cũng tốt nhất bởi chất lượng tinh dầu. Tổng diện tích tự nhiên của xã có 4.230ha, trong đó diện tích quế hơn 2.600ha. Đặt chân chỗ nào cũng thấy quế, một vùng quế bạt ngàn, xanh ngút ngàn điệp trùng quế. Trung bình mỗi năm người dân Viễn Sơn khai thác khoảng 2.000 tấn quế vỏ khô, tính ra bán cả vỏ, thân, cành, lá người dân thu 30 - 35 tỷ mỗi năm. Nhiều gia đình giàu có nhờ trồng quế, những đại gia quế có từ 10ha trở nên, ví như gia đình ông Nguyễn Kim Hín, ông Lý Chiến Thắng ở thôn Khe Lợ trồng 10ha quế, ông Bàn Tài Chu, Bàn Phú Hoa ở thôn Đồng Lụa trồng từ 15 - 20ha quế, mỗi năm thu vài trăm triệu.

Phó bí thư xã Lý Hữu Quang dẫn tôi đến nhà ông Triệu Tiến Bảo ở thôn Khe Lợ. Gia đình ông Bảo trước đây trồng hơn 20ha, nay chia cho 7 người con, nên hiện giờ ông chỉ giữ lại 5ha. Đường vào nhà ông đèo dốc ngoằn ngoèo đi xe máy còn khó vậy mà ông vẫn mua một chiếc ô tô để thỉnh thoảng tự lái ra huyện chơi thăm con. Ông bảo: Rừng quế cho dân mình tất cả. Làm nhà ư, lên rừng chặt quế. Mua xe máy, hay ô tô lên rừng hạ vài cây quế là có tiền ngay. Tất cả mọi thứ do cây quế cho mình… Nói rồi ông dẫn chúng tôi lên rừng quế xem những "cây vàng" xanh bạt ngàn trên núi.

Khi trở về thì gặp vợ ông, bà Đặng Thị Khé đang hái lá thuốc trong vườn. Hóa ra vợ ông trong nhóm 15 hộ của Viễn Sơn tham gia trồng cây thuốc chữa bệnh. Bà bảo: Chúng tôi chữa được nhiều loại bệnh: Thuốc bổ máu cho chị em sau sinh, thuốc chữa bệnh hiếm muộn con cái, thuốc tăng cường sức lực cho cánh đàn ông… Ông Triệu Tiến Bảo cười: Nhờ thuốc của bà ấy mà tôi đều đặn chiều bà ấy hàng đêm… Nói rồi ông cười kha kha: Hôm nào tôi xuống thành phố ông mời tôi đi hát để thử sức ông lão trên 60 tuổi này nhé… (Nông Nghiệp Việt Nam Online 3/9) Về đầu trang

Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 131.300 ha

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thời tiết có mưa nhiều nên thuận lợi cho việc trồng rừng, do vậy diện tích trồng rừng tăng so với cùng kỳ năm trước.

Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 131.300 ha, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó trồng mới rừng sản xuất đạt 126.500 ha, tăng 5,1%. Diện tích rừng được chăm sóc cũng tăng và đạt 436.600 ha.

Hiện các địa phương miền Bắc đang ở giai đoạn trồng rừng chính vụ. Các tỉnh miền Bắc đã trồng được 116.779 ha rừng, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc có tiến độ trồng rừng nhanh nhất đạt 80.641 ha, tăng 2,1%; Đồng bằng sông Hồng trồng đạt 13.412 ha, Bắc Trung bộ trồng có giảm nhẹ đạt 22.726 ha. Những tỉnh có diện tích trồng rừng nhiều và tiến độ nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước là Tuyên Quang, Nghệ An và Thái Nguyên.

Các tỉnh miền Nam tiếp tục triển khai công tác trồng rừng. Các địa phương trồng đạt 13.833 ha, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng rừng được triển khai tập trung tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ, đạt 8.650 ha, tăng 57%. Trong khi đó các vùng khác như Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích trồng rừng đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Một số tỉnh có diện tích trồng rừng tăng như: Quảng Ngãi, Gia Lai và Đồng Nai.

Bên cạnh trồng rừng tập trung, các địa phương tiếp tục gieo ươm và chăm sóc cây giống, trồng cây phân tán, giao khoán bảo vệ và tiến hành chăm sóc diện tích rừng trồng các năm trước. Ngoài ra, các địa phương tiếp tục thực hiện giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và chăm sóc rừng trồng các năm trước.

Về tình hình cháy và chặt phá rừng, trong tháng qua, do lượng mưa tương đối nhiều nên nguy cơ cháy rừng giảm, diện tích rừng bị cháy là 9,3 ha, giảm 93,5%. Từ đầu năm đến nay, diện tích rừng bị cháy là 455 ha, giảm 78,7%. Diện tích rừng bị chặt phá là 770 ha, giảm 9,6% (TTXVN/Tin Tức Online 2/9) Về đầu trang

8 tháng, xảy ra 13 vụ cháy rừng với diện tích gần 61,2ha

Sở NN&PTNT cho biết, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 13 vụ cháy rừng với diện tích gần 61,2ha, gây thiệt hại lớn về kinh tế.

Đáng chú ý là vụ cháy 50ha rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Sóc Sơn, cơ quan chức nằng thành phố phải huy động hơn 2.000 người để tham gia chữa cháy.

Nguyên nhân xảy ra các vụ cháy rừng, phần lớn do thời tiết nắng nóng kéo dài nhiều ngày. Bên cạnh đó, rừng phòng hộ chủ yếu gồm các loại cây như thông, keo, bạch đàn nên có tầng lá khô dày phủ lên bề mặt, rất dễ bắt lửa... (Hà Nội Mới 4/9, tr3) Về đầu trang

Chặt bỏ hơn 100ha rừng thông để trồng mắc ca ở Kon Tum: Tỉnh "khất" nhiều câu hỏi

Vừa qua, báo Dân trí đã đăng tải ““Khai tử” rừng thông để lấy đất cho mắc ca”. Ngay sau đó, vào ngày 31/8 Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum tổ chức họp báo liên quan đến việc phá 122 ha rừng thông cho Công ty TNHH Đăng Vinh - Chi nhánh Kon Tum trồng cây mắc ca tại huyện Kon Plông (Kon Tum) mà báo chí phản ánh.

Trả lời tại buổi họp báo, ông Nguyễn Trung Hải - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum cho biết: “Khu vực thực hiện dự án trên là đất rừng sản xuất nên không ảnh hưởng đến quy hoạch rừng phòng hộ. Diện tích thông trồng hiệu quả kinh tế không cao, đã đến thời kỳ khai thác, đây cũng là khu vực không thuộc quy hoạch phát triển khu du lịch sinh thái của tỉnh Kon Tum. Mặt khác, diện tích này nằm khá xa khu dân cư, cách trung tâm huyện 6km nên không ảnh hưởng đến du lịch. Bộ NN&PTNT đã có quyết định quy hoạch phát triển cây mắc ca vùng Tây bắc và Tây Nguyên là 5.940 ha, trong đó tỉnh Kon Tum là 290 ha ở các huyện Kon Plông, Đăk Glei, Tu Mơ rông.

Ông Hải cho biết thêm: “Việc trồng cây mắc ca không ảnh hưởng nhiều đến môi trường, vì bản thân cây mắc ca cũng là cây lâm nghiệp. Sau 7 đến 8 năm cây phát triển cũng tạo được cảnh quan và giữ được khí hậu không thua gì cây thông…”

Cũng tại buổi họp báo, nhiều phóng viên đã chất vấn tại sao lại cấp dự án trồng mắc ca cho công ty trên. Trong khi trước đó vào tháng 4/2015, UBND tỉnh đã ra văn bản số 754 cảnh báo cây mắc ca là loại cây trồng mới, hiện đang được trồng khảo nghiệm trên cả nước. Về câu hỏi trên, ông Hải trả lời chung chung rằng: “Việc trồng mắc ca hay không thì UBND tỉnh và Sở NN&PTNT chỉ là cơ quan khuyến cáo, không chỉ đạo doanh nghiệp trồng cây này, cây kia được…”

Ông Vũ Văn Bắc- Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Kon Plong dẫn chứng, tại huyện Kon Plông có hộ dân Nguyễn Thị Mỹ trồng khoảng 30 cây mắc ca, phát triển tốt và cho hiệu quả cao. Tuy nhiên, phóng viên dẫn chứng lại bằng báo cáo của Sở NN&PTNT về việc hộ dân Nguyễn Thị Mỹ nêu trên thì cây phát triển kém, năng suất thấp.

Cũng tại buổi họp, rất nhiều phóng viên của các cơ quan báo chí đặt nghi vấn về hiệu quả của dự án mắc ca, đề nghị được làm rõ nếu phá một diện tích rừng thông lớn như vậy sẽ ảnh hưởng đến môi trường như thế nào. Nếu sau này dự án thất bại, ai sẽ phải chịu trách nhiệm ?. Ngay tại thời điểm xin đầu tư của dự án, đã có 2 doanh nghiệp xin được trồng mắc ca trên diện tích rừng thông, tuy nhiên chỉ có 1 doanh nghiệp được chấp thuận, liệu có chuyện “xí phần” đất ở đây hay không?

Những thắc mắc trên đã không được đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum trả lời thỏa đáng. Chủ trì hội nghị ông Nguyễn Trung Hải đã phải yêu cầu tổng hợp lại để có báo cáo bằng văn bản gửi tới các cơ quan báo chí.

Trước đó, báo Dân trí đã có bài đề cập đến việc UBND tỉnh Kon Tum có quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng 198 ha (122 ha có rừng thông) cho Công ty TNHH Đăng Vinh thuê đất nhằm triển khai dự án trồng cây mắc ca với thời hạn là 50 năm vào tháng 1/2017. 122 ha rừng thông bị phá nằm tại khoảnh 8, 9, 12, 13 thuộc tiểu khu 481, xã Đắk Long, huyện Kon Plông. Việc chuyển đổi trên có thể ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, cảnh quan du lịch nơi đây. (Dân Trí 1/9; Sài Gòn Giải Phóng 1/9, tr6) Về đầu trang

Kon Tum: Chặt gần 122ha rừng thông để trồng cây mắc ca là phù hợp

Sáng ngày 31/8, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Kon Tum tổ chức họp báo thông tin liên quan việc chặt gần 122ha rừng thông để trồng cây mắc ca.

Rừng thông bị phá nằm ở các khoảnh 8, 9, 12 và 13, thuộc tiểu khu 481, xã Đắk Long, huyện Kon Plông. UBND tỉnh Kon Tum có quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp (đất rừng sản xuất) sang đất trồng cây lâu năm để cho Công ty TNHH Đăng Vinh (thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) thuê đất nhằm triển khai dự án trồng cây mắc ca với thời hạn là 50 năm.

Ông Nguyễn Trung Hải – Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum cho biết: “Về chủ trương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có Quyết định số: 5940/QĐ-BNN-TCLN (ngày 05/4/2016) về vệc quy hoạch phát triển cây Mắc ca vùng Tây Bắc và Tây Nguyên đến năm 2020. Riêng vùng Tây Nguyên là 5.940 ha, trong đó tỉnh Kon Tum là 290 ha tại các huyện Kon Ploong, Đak Glei, Tu Mơ Rông.

Tại huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum có điều kiện lập địa, khí hậu phù hợp với việc trồng cây Mắc ca nên việc áp dụng Quyết định 2040/QĐ-BNN-TCLN là phù hợp, khu vực trồng cây Mắc ca là diện tích rừng thông trồng sinh trưởng rất kém, không đem lại hiệu quả kinh tế. Do đó, UBND tỉnh đã có chủ trương chuyển đổi sang phát triển các loại cây trồng mang lại hiểu quả kinh tế cao trong đó có cây Mắc ca nhằm tái cơ cấu và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp của địa phương”.

Theo đánh giá của Sở Tài Nguyên và Môi trường, khu vực thực hiện dự án quy hoạch là là đất rừng sản xuất không ảnh hưởng đến quy hoạch rừng phòng hộ. Đặc biệt, là không ảnh hưởng lớn đến tác động môi trường sinh thái, mặt khác sẽ đem lại hiểu quả kinh tế cao cho địa phương.

Tuy nhiên trước đó, người dân cũng như các nhà chuyên môn tỏ ra lo ngại trước vấn đề chuyển đổi diện tích rừng thông sang cây mắc ca gây lo ngại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường khu bảo tồn sinh thái Măng Đen, đồng thời lợi ích kinh tế ở khu vực trồng mắc ca cũng không được đảm bảo.

TS Trần Vinh – Phó Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên bày tỏ: “Cây thông hiện nay là cây có giá trị kinh tế lại vừa bảo vệ môi trường, để chọn cây gì phải đảm bảo các mục đích: về mặt kinh tế, môi trường, rồi cả xã hội, có công ăn việc làm cho người dân. Tôi cho rằng đây là việc làm chủ quan, chúng ta không nên liều lĩnh như vậy.” (Moitruong.net.vn 1/9) Về đầu trang

Kon Tum: Qua mặt nhiều lực lượng chức năng, lâm tặc phá rừng vùng biên

Tại xã biên giới Đắk Long (huyện Đắk Glei, Kon Tum) ngoài kiểm lâm còn có chủ rừng, 2 đồn biên phòng đóng chân nhưng rừng tại đây vẫn bị lâm tặc đốn hạ la liệt.

Dùng xe độ chế để vượt qua những con dốc thẳng đứng, chúng tôi tiếp tục lội bộ men theo con suối Đắk Giao. Mất khoảng 30 phút lội bộ trong rừng, đã thấy rừng tự nhiên hiện ra với nhiều “vết thương”.

Những cây lớn có độ tuổi hàng trăm năm, trơ gốc, cạnh đó là cành lá, vỏ bìa vứt ngổn ngang. Càng đi vào sâu, rừng bị tàn phá nhiều, mức độ dày đặc hơn. Có địa điểm nhiều cây lớn đồng loạt bị đốn hạ, nên nhìn từ xa khoảng rừng trở nên trống trải, nhưng đến lại gần thì giữa mặt đất là một bãi ngổn ngang từ thân, cành, lá và mùn cưa còn sót lại.

Tại hiện trường còn có những thân gỗ được xẻ hộp lâm tặc đã lấy đi. Ngoài ra, nhiều cây gỗ đã bị lâm tặc lấy đi phần có giá trị, gốc còn rỉ nhựa tươi, ngọn cành vẫn còn xanh, Do địa hình dốc, nhiều cây gỗ lớn sau khi đã cưa hạ vẫn còn nguyên chưa kịp di chuyển.

Ông Nguyễn Văn Tiến – Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum cho biết, rừng tại xã Đắk Long do Ban quản lý rừng phòng hộ Đắk Long và một phần của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ngọc Hồi quản lý. Ở xã Đắk Long cũng bố trí một kiểm lâm địa bàn. Ngoài ra, tại đây cũng có 2 đồn biên phòng đóng chân, phía kiểm lâm cũng đã ký quy chế phối hợp bảo vệ rừng. Thời gian gần đây, không thấy anh em báo phát hiện phá rừng tại xã Đắk Long. Phía Chi cục sẽ cho tiến hành kiểm tra ngay và sẽ thông tin lại cho phóng viên được biết. (Giáo Dục & Thời Đại Online 1/9) Về đầu trang

CSGT Hà Nội bắt giữ xe chở gỗ lậu kịch tính như phim hành động

Thoáng nhìn thấy bóng dáng CSGT qua gương chiếu hậu, tài xế xe tải bất chợt tăng ga với ý định "cắt đuôi" tổ tuần tra.

Khoảng 10h30' ngày 31/8, tổ tuần tra kiểm soát tuyến Đại lộ Thăng Long thuộc Đội CSGT số 11, Phòng CSGT Hà Nội, khi tuần tra đến Km 16 hướng Hà Nội - Hoà Lạc thì phát hiện xe tải BKS 29C 710.02.

Ban đầu, tổ tuần tra chưa có ý định dừng chiếc xe này. Tuy nhiên, có lẽ do tài xế quan sát qua gương chiếu hậu thấy bóng dáng CSGT nên đột ngột tăng tốc độ nhằm "cắt đuôi" tổ tuần tra. Hành động này đã khiến tổ công tác nghi ngờ chiếc xe có vấn đề.

Đại uý Lã Sơn Tùng (tổ trưởng tổ tuần tra) đã chỉ đạo Thượng uý Nguyễn Duy Linh, Thượng uý Đỗ Như Phong, Trung uý Vũ Anh Quân và Trung uý Phùng Thế Bình tổ chức đội hình chặn bắt chiếc xe có dấu hiệu nghi vấn.

Không quá khó để tổ tuần tra dừng chiếc xe tải để yêu cầu kiểm tra hành chính. Lúc này quan sát gần, tổ tuần tra thấy khoá cửa thùng xe khá kỹ càng, thể hiện bên trong là loại hàng hoá không đơn giản.

Khi được yêu cầu mở cửa thùng xe để kiểm tra, lái xe quanh co không muốn mở, đồng thời gợi ý tổ tuần tra "tạo điều kiện" để cho anh ta đi. Lái xe được xác minh là Đỗ Đăng Huy, SN 1992, trú tại Canh Nậu, Thạch Thất, Hà Nội. "Gợi ý" của anh Huy cũng như việc nhờ sự trợ giúp qua điện thoại đều không có kết quả với tổ công tác.

Nhận được tin báo từ tổ công tác, Đại uý Phạm Văn Luyến, Phó Đội trưởng Đội CSGT số 11, đã khẩn trương đến hiện trường, chỉ đạo tổ công tác kiểm tra, thực hiện việc bàn giao cho đơn vị chắc năng.

Cụ thể, khi mở cửa thùng xe tải, bên trong có 16 tấm gỗ tạp, có những khối gỗ kích thước lớn. Thời điểm kiểm tra, lái xe không xuất trình được bất cứ giấy tờ về nguồn gốc xuất xứ cũng như giấy phép vận chuyển.

Đại uý Phạm Văn Luyến cho hay, tổ công tác đã lập biên bản bàn giao người, phương tiện và số hàng hoá không rõ xuất xứ trên cho Trạm kiểm lâm Hoà Lạc để tiếp tục điều tra, làm rõ. (Tapchigiaothong.vn 1/9) Về đầu trang

Nhiều hoạt động hưởng ứng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn

Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện các hoạt động hưởng ứng “Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2017” gửi các địa phương trong cả nước.

Chiến dịch được khởi xướng từ năm 1993 và được Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc phát động trên phạm vi toàn cầu, tổ chức định kỳ vào tuần thứ 3 của tháng 9 hàng năm. Với chủ đề “Quản lý rác thải vì môi trường nông thôn bền vững”, Chiến  dịch làm cho thế giới sạch hơn 2017 nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của công tác quản lý môi trường, đặc biệt là công tác quản lý chất thải khu vực nông thôn trong quá trình xây dựng một đất nước Việt Nam phát triển kinh tế, an sinh xã hội và hài hòa với thiên nhiên.

Theo đó, các địa phương xác định và triển khai các nhiệm vụ trọng tâm nhằm giải quyết các vấn đề môi trường lớn, giải quyết triệt để những điểm nóng về ô nhiễm môi trường của địa phương, tăng cường kiểm tra giám sát và xử lý triệt để các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Lên án các hành động khai thác bừa bãi, phá hoại tài nguyên thiên nhiên, tạo dư luận và áp lực xã hội lên án những hành vi gây ô nhiễm môi trường. Khuyến khích các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, cộng đồng, người dân tham gia công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường, thực hiện trách nhiệm xã hội trong đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Không dừng lại ở đó, các địa phương phải tổ chức các hoạt động có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng như phổ biến pháp luật nhằm nâng cao năng lực giám sát, phản biện và tham vấn của cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi trường; phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường; ra quân dọn vệ sinh môi trường, thu gom, xử lý chất thải, rác thải, khơi thông dòng chảy, nạo vét kênh mương. Tổ chức các lớp học phổ biến kiến thức về môi trường, lối sống xanh, tiết kiệm năng lượng, sử dụng bền vững hệ sinh thái và tài nguyên đa dạng sinh học.

Trồng rừng, trồng cây xanh phủ đất trống, đồi trọc, trao đổi sản phẩm tái chế, ngày hội sống xanh. Đặc biệt đối với các tỉnh, thành phố và cơ quan đơn vị có trụ sở ven biển cần tăng cường tổ chức các hoạt động làm sạch môi trường tại các bãi biển, khu vực ven bờ. Lựa chọn các điểm nóng về ô nhiễm môi trường do rác thải tại khu vực bãi biển, khu vực ven bờ để tổ chức các hoạt động làm sạch biển. Tổ chức bàn giao bãi biển, khu vực ven bờ đã làm sạch cho các tổ chức, đơn vị có trách nhiệm quản lý để không tái diễn tình trạng ô nhiễm môi trường biển. (Sài Gòn Giải Phóng 4/9, tr10; Sài Gòn Giải Phóng Online 4/9) Về đầu trang

Quảng Ngãi: Phá cả rừng dương chắn gió để trồng… rau an toàn

Hơn 4ha diện tích rừng dương chắn gió, cát ven biển xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi đang bị đốn hạ để lấy đất cho dự án trồng rau an toàn.

Ghi nhận tại hiện trường cho thấy việc phá rừng dương, cách mép biển chừng 200m, diễn ra rầm rộ. Nhiều thân cây đã được di chuyển, tập kết ra ngoài đường để chuyển đi.

Người dân sống trong khu vực lo ngại việc phá bỏ rừng dương này sẽ ảnh hưởng đến làng mạc, rau màu, nhất là trong mùa mưa bão sẽ không có tấm lá chắn bảo vệ xóm làng.

Ông Đoàn Văn Bảy, Bí thư Đảng ủy xã Đức Chánh, lý giải việc phá bỏ rừng dương để lấy đất trồng rau chính quyền địa phương đã tiến hành họp dân.

Khi người dân đồng tình Hội đồng Nhân dân xã Đức Chánh mới ban hành nghị quyết và việc phá bỏ rừng dường làm đúng trình tự.

Tuy nhiên, khi  được yêu cầu xem biển bản họp dân ông bảy hẹn hôm sau cung cấp bởi người giữ biên bản bận đi học.

Ngoài ra ông Bảy cũng khẳng định diện tích rừng dương chặt phá thuộc rừng sản xuất và UBND tỉnh đã phê duyệt.

"Tính từ mép biển vào đến khu vực rừng dương đang chặt còn đến 210m nên không ảnh hưởng gì đến người dân và môi trường. Trúng thầu và được khai thác số dương trên diện tích này là Công ty TNHH Một thành viên Thiên Minh, với số tiền trúng thầu là 138 triệu đồng", ông Bảy nói.

Theo thống kê vào năm 2004, tổng diện tích dương ven biển toàn xã Đức Chánh khoảng 64 ha, trong đó có 31 ha thuộc rừng phòng hộ.

Sau khi có chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ (CT số 38/2005-CT-Ttg) về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất), xã Đức Chánh tiếp tục chuyển đổi bổ sung thêm 14,7 ha rừng sản xuất sang rừng phòng hộ.

Hơn 4ha rừng dương đang bị phá bỏ để quy hoạch làm vùng sản xuất rau sạch trước kia cũng là rừng phòng hộ, sau đó được điều chỉnh thành rừng sản xuất. (Tuổi Trẻ 4/9, tr4; Tuổi Trẻ Online 3/9; Dân Việt 3/9) Về đầu trang

Thái Nguyên: Bảo vệ những "báu vật" dưới tán rừng nguyên sinh

Thần Sa được hiểu như là một loại khoáng vật của thần linh. Địa danh Thần Sa (thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) là di tích khảo cổ học đã được nhà nước xếp hạng bảo tồn Quốc gia.

Ở vùng rừng nguyên sinh này, có những con người lặng lẽ giúp đồng bào bảo vệ rừng để có sinh kế bền vững dưới tán rừng.

Cùng với việc ngăn chặn, đẩy lùi và kiểm soát được tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, tỉnh Thái Nguyên đã thành lập Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng. Anh Nguyễn Quang Lịch (Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn) cho biết, những ngày đầu tiếp quản một diện tích rộng hàng chục ngàn ha, dù địa hình phức tạp nhưng sức nóng của việc khẩn trương giải cứu rừng đầu nguồn nên đơn vị liên tục tổ chức các cuộc hành quân vào vùng lõi rừng đặc dụng, qua các hang Rắn, hang Gió, hang Hút và các lũng Mông Xay, Tu Lườn, bãi Miếu để truy đuổi hàng trăm người cư trú trái phép ra khỏi rừng.

Khi mà tiếng mìn phá đá khai thác vàng trái phép, tiếng cưa lốc đốn cây, tiếng súng săn trên rừng đã vắng thì nhiệm vụ của chúng tôi vẫn chưa thể dừng lại, anh Lịch nói. Nếu chỉ làm công tác tuyên truyền, vận động người dân chấp hành lâm luật, không vi phạm vào tài nguyên rừng, như thế sẽ trở nên sáo rỗng, bởi cuộc sống của họ đang hết sức khó khăn. Áp lực đối với rừng chỉ giảm xuống khi sinh kế của đồng bào được tạo ra ổn định, bền vững.

Hoàng Văn Lý có tiếng sát thú ở bản Mông Lũng Luông (xã Thượng Nung). Bao nhiêu con thú rừng bị Lý hạ sát – Lý không nhớ. Lý chỉ thấy thích khi bắt được con thú kêu khóc vì bị mắc cạm. Vậy mà Lý đột nhiên từ bỏ sở thích săn thú của mình. Đầu tháng 4/2012, Lý đã tự nguyện mang nộp cho Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng gần 30 chiếc cạm kiềng. Chuyện Lý từ bỏ sở thích săn bắn khiến bà con người Mông trên bản Lũng Luông, Lũng Hoài và Lũng Cà nhớ lại hồi cuối năm 2011, Hoàng Văn Chi đã tự vác con hươu xạ còn sống đến nộp cho cán bộ kiểm lâm. Ông Lý Văn Múa, người cao tuổi ở bản Lũng Luông bảo: Thế là chúng nó đã nghĩ được lâu dài.

Rừng ở trong dân, dân sống nhờ rừng, từ nhận thức đó, Ban quản lý khu bảo tồn đã vận động hầu hết các xóm bản nằm trong vùng đệm thực hiện đăng ký, nhận khoán bảo vệ rừng đặc dụng. Đồng thời, thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Theo chân những cán bộ kiểm lâm “lội rừng”, lên chốt Bản Mùn (xã Nghinh Tường), ông Triệu Tiến Thắng (tổ trưởng tổ quản lý bảo vệ rừng xóm Thượng Lương, xã Nghinh Tường) cho biết, cả 55 hộ dân toàn xóm đều nhận giao khoán bảo vệ rừng với tổng số 774ha. Việc khoán bảo vệ rừng đã đem lại hiệu quả rõ rệt, tạo công ăn việc làm cho người dân, khuyến khích động viên nhân dân gắn bó với rừng. Những năm trước, Bản Mùn từng là điểm nóng về tình trạng xâm hại rừng. Ít nhiều đồng bào người Dao trong bản còn lên rừng chặt gỗ. Nay, bản đã chia thành 3 nhóm, chủ động thực hiện việc tuần rừng, kiểm tra rừng thường xuyên.

Ông Hà Văn Linh (Chủ tịch UBND xã Nghinh Tường) cho biết, cán bộ Ban quản lý khu bảo tồn đã gắn bó với người dân sinh sống liền kề rừng. Họ hướng dẫn cho bà con cách phát triển kinh tế đồi rừng bền vững; sâu sát với dân, tích cực giúp đỡ người nghèo, bày cho kỹ thuật trồng ngô giống mới, cách giữ nước trong ruộng để cấy lúa. Cán bộ kiểm lâm về bản hướng dẫn cho đồng bào kỹ thuật trồng ngô trên đất dốc, làm kinh tế đồi rừng.

Một trong những mô hình hiệu quả là hỗ trợ đồng bào trồng cây dược liệu ba kích dưới tán rừng. Theo đó, các hộ thực hiện trồng ba kích được hỗ trợ 100% giống, phân bón và tập huấn kỹ thuật. Người dân chỉ phải bỏ công, chuẩn bị tư liệu, hiện trường để sản xuất. Kết thúc quá trình, 100% sản phẩm thu hoạch được đều thuộc về nhân dân. Ba kích tỏ ra thuận với đất rừng Thần Sa – Phượng Hoàng. Cây giống nhanh chóng bén rễ, bám vào thân những cây thân gỗ, leo lên quang hợp để nuôi củ. Cây lớn nhanh, xanh tốt và đặc biệt là số cây sống đạt tỷ lệ tuyệt đối 100%.

Ông Hoàng Văn Mót (xóm Thâm Thạo, xã Nghinh Tường) cho biết, tham gia mô hình, gia đình ông trồng 1ha ba kích. Sau 3 năm thu hoạch, sản lượng đã đạt 3 tấn, tương đương với 600kg củ khô. Nhân với giá thị trường là 400.000đ/kg, ông Mót có 240 triệu đồng. Chia 3 năm, mỗi năm cho thu nhập 80 triệu đồng.

Anh Nguyên Văn Tuyên (Phó Giám đốc BQL KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng) cho biết, dự án trồng ba kích tại KBTTN đã mở ra một hướng đi mới, một cách nhìn nhận mới về phát triển sinh kế cho người dân dưới tán rừng đặc dụng, phòng hộ. Đó cũng là cơ sở để đồng bào vững tin thực hiện một số mô hình khác. Hiện nay, trên địa bàn, các mô hình đang phát huy hiệu quả như mô hình trồng chuối tây ở xã Thượng Nung, mô hình trồng đinh lăng, hà thủ ô ở xã Phú Thượng. Anh Tuyên nhận xét, với vị trí là khu vực phòng thủ chiến lược, cùng với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước trong xây dựng hạ tầng cơ sở, việc tạo sinh kế để đồng bào vùng đệm, vùng lõi yên tâm phát triển kinh tế chính là giải pháp bền vững để hạn chế áp lực đối với rừng. (Vacne.org.vn 2/9) Về đầu trang

Tổ chức Actionaid Việt Nam: Kiểm tra triển khai mô hình sinh kế rừng tại huyện Thông Nông

Đoàn công tác Tổ chức Actionaid Việt Nam (AAV) và Nhà tài trợ Dự án "Khuyến khích người dân tham gia cải thiện quản trị rừng và giảm nghèo Việt Nam" (PFG) đã đến thăm mô hình sinh kế rừng và làm việc tại huyện Thông Nông .

Tổ chức Actionaid Việt Nam làm việc với huyện Thông Nông về dự án, mô hình sinh kế rừng triển khai trên địa bàn huyện.

Thời gian qua, huyện Thông Nông đã làm tốt công tác trồng rừng, nhất là những vùng triển khai dự án và cam kết thực hiện hiệu quả dự án với mục đích giúp người dân giảm nghèo, tăng thêm thu nhập, phủ xanh đất trống, đồi trọc. Huyện mong muốn, Tổ chức AAV làm cầu nối tiếp tục quan tâm, hỗ trợ huyện trong thực hiện Dự án PFG.

Hiện nay, Tổ chức AAV hỗ trợ huyện Thông Nông  triển khai các dự án: nước sạch và vệ sinh môi trường; phát triển hệ thống quản lý thông tin ngành lâm nghiệp (FORMIS). Các dự án triển khai chủ yếu quản lý rừng bền vững và có sự gắn kết hệ thống quản lý thông tin với sự tham gia tích cực của người dân để quản lý rừng bền vững, trên cơ sở đó, người dân có thể cải thiện và nâng cao sinh kế. Tổ chức AAV đề nghị, trong thời gian tới, huyện Thông Nông sẽ cùng đồng hành, hỗ trợ triển khai thực hiện để dự án đạt hiệu quả, tạo điều kiện cho Tổ chức mở rộng dự án tại huyện.

Đoàn công tác thăm mô hình sinh kế trồng rừng  tại xóm Lũng Lừa, xã Đa Thông.

Trước đó, đoàn công tác cũng đã trực tiếp đến thăm mô hình sinh kế trồng rừng  tại xóm Lũng Lừa, xã Đa Thông. Mô hình được thực hiện từ đầu năm 2016 với diện tích rừng trồng là 12 ha, 154 hộ dân tham gia, tổng kinh phí tài trợ phân phón và giống hơn 200 triệu đồng, với 2 loại cây trồng là thông mã vĩ và keo tai tượng. Hiện nay, cây sinh trưởng phát triển tốt.

Chiều cùng ngày, đoàn đã họp tham vấn về quy trình lập kế hoạch phát triển rừng tại UBND xã Đa Thông với sự tham gia của các thành viên  thuộc 5 nhóm nòng cốt dự án cấp xã gồm: Cần Yên, Lương Thông, Đa thông, Lương Can, Bình Lãng. Lãnh đạo UBND huyện, UBND xã Đa Thông đã trình bày tóm tắt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện, xã, định hướng phát triển rừng thời gian tới. Hạt Kiểm lâm huyện và đại diện cộng đồng xóm Lũng Lừa đã hướng dẫn sử dụng bản đồ FOMIT trong quản lý và phát triển rừng, quy hoạch phát triển rừng tại xóm Lũng Lừa được xây dựng trên hệ thống bản đồ FOMIT trong quản lý sinh kế rừng. Đại diện Dự án PFG chia sẻ những kinh nghiệm và hướng dẫn cách sử dụng bản đồ FOMIT, kết quả khảo sát thị trường lâm sản gỗ để người dân tìm hướng phát triển, khai thác nguồn tài nguyên rừng hiệu quả nhất. (Caobangtv.vn 4/9) Về đầu trang

Quảng Nam ngăn chặn hàng chục đường dây săn bắt thú rừng

Sau hơn 4 tháng nhập cuộc, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh đã phát hiện, ngăn chặn trên 20 đường dây săn bắn thú rừng chuyên nghiệp.

Không cần súng đạn hay chông tẩm thuốc độc để giết thú như trước đây, để qua mặt các cơ quan chức năng, các đối tượng thường cải trang thành người dân bản địa đi rừng để vào giăng bẫy. Chỉ bằng ruột phanh xe đạp hay sợi cáp lớn hơn để làm thòng lọng; rồi dùng thân cây rừng làm đòn bẩy là có thể tạo những chiếc bẫy thú rất hiệu nghiệm. Những đường dây bẫy này có thể kéo dài hàng ngàn mét, với hàng trăm chiếc bẫy được giăng. Và khi các loại thú rừng như lợn lòi, sơn dương, nai lọt vào trận đồ bát quái này thì khó có con nào có thể thoát được.

Tuần tra ngày, tuần tra đêm, lập chốt, ngăn chặn không cho người lạ mặt vào rừng là những biện pháp hữu hiệu mà các hạt kiểm lâm các huyện miền núi có rừng tại Quảng Nam đang triển khai để đối phó với nạn săn bắt động vật hoang dã. Tuy nhiên, do được tổ chức khép kín, tinh vi và hoạt động trong rừng sâu, nên phải rất khó khăn, các kiểm lâm viên mới phát hiện các đường dây bẫy thú này. (VTVNews 3/9) Về đầu trang

Tăng cường công tác phối hợp bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng ở khu vực biên giới

Xã Trung Lý (Mường Lát) có 6 km đường biên giới tiếp giáp với huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn (Lào), xã có trên 18.749 ha rừng tự nhiên, chủ yếu là các loại cây le, lau lách, nứa. Những năm trước đây, tình trạng cháy rừng thường xảy ra, nguyên nhân chủ yếu do cháy lan từ nước bạn Lào sang.

Trước thực trạng trên, Hạt Kiểm lâm Mường Lát chỉ đạo kiểm lâm địa bàn tham mưu cho chính quyền địa phương xây dựng phương án bảo vệ rừng (BVR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) theo kế hoạch hằng năm; đồng thời kiện toàn ban chỉ đạo và các tổ đội quần chúng BVR, PCCCR ở tất cả các thôn, bản; xây dựng phương án PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ”;  tăng cường công tác tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, các quy định về canh tác nương rẫy đến đông đảo quần chúng nhân dân; hướng dẫn người dân đốt nương làm rẫy đúng quy định. Ở các bản giáp biên với Lào, hai bên tổ chức kết nghĩa các cặp bản với nhau, đồng thời xây dựng kế hoạch phối hợp BVR, PCCCR. Thời gian qua hai bên đã làm tốt công tác BVR, PCCCR ở khu vực giáp biên, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi phá rừng, khai thác rừng, vận chuyển lâm sản trái phép... (Báo Thanh Hóa Online 4/9) Về đầu trang

Quảng Bình: VQG Phong Nha – Kẻ Bàng vận động người dân nộp hàng chục khẩu súng

Ngày 1.9, Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng cho biết, thời gian qua đã vận động người dân nộp nhiều loại vũ khi nguy hiểm dùng để săn bắn động vật rừng quý hiếm.

Theo đó, thời gian gần đây, lực lượng kiểm lâm của vườn đã phối hợp với các cơ quan chức năng và địa phương trên địa bàn hai huyện Bố Trạch và Minh Hóa vận động người dân giao nộp 52 khẩu súng các loại, trong đó có 49 khẩu súng tự chế, 2 khẩu AK và 1 khẩu CKC. Đây chính là các loại vũ khí người dân dùng để săn, bắn động vật rừng, trong đó chủ yếu là các loài linh trưởng.

Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, lực lượng kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã nhiều lần phát hiện, thu giữ vũ khí mà đối tượng dùng để săn bắn động vật rừng quý hiếm.

Điển hình là ngày 15.6.2017, tại khu vực đường Hung Lầm thuộc khoảnh 5, tiểu khu 600 (Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, thuộc địa giới hành chính xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch), tổ tuần tra Trạm Kiểm lâm Chà Nòi thuộc Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng phát hiện 2 đối tượng đang đi vào rừng.

Phát hiện tổ tuần tra, 2 đối tượng bỏ chạy, vứt lại bao lác bên lề đường. Qua kiểm tra, phát hiện trong bao lác do các đối tượng để lại có chứa 1 khẩu súng dạng CKC và 10 viên đạn.

Gần đây nhất, ngày 26.8.2017, tại khu vực Hung Trung, thuộc khoảnh 7, Tiểu khu 609, lâm phận VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tổ tuần tra Trạm Kiểm lâm Khe Gát thuộc Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng phát hiện 2 đối tượng đang gùi 2 bao lác đi từ trong rừng ra. Tổ tuần tra truy đuổi, bắt giữ được 1 đối tượng cùng 1 bao lác, đối tượng còn lại đã vứt lại tang vật và lợi dụng địa hình rừng núi để chạy thoát.

Qua kiểm tra, toàn bộ tang vật thu giữ  gồm 1 khẩu súng tiểu liên AK không còn đạn, đã cũ, rỉ sét, không có số hiệu; 17 kg xương động vật (nghi là Sơn dương) và 4 cá thể Linh trưởng (nghi là Voọc Hà Tĩnh) đã chết, bị cạo lông, mổ đầu lấy óc, mổ bụng lấy nội tạng, sấy khô qua lửa, có tổng trọng lượng 12,6 kg. (Lao Động Online 2/9) Về đầu trang

Bình Định: An Lão gia tăng các vụ phá rừng, chiếm đất lâm nghiệp

Trên địa bàn huyện An Lão, trong 8 tháng đầu năm 2017, cơ quan chức năng đã phát hiện 52 vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, trong đó có 35 vụ vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép và 17 vụ phá rừng với diện tích bị phá 61.203m2, 3 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép với diện tích 12.565m2.

Huyện An Lão có diện tích đất tự nhiên trên 69.688 ha, trong đó đất có rừng 62.630 ha, chiếm 89,8% gồm: rừng tự nhiên 48.363 ha; rừng trồng 14.267 ha. Thời gian qua, tình trạng phá rừng, chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn huyện diễn ra phức tạp tại các xã: An Trung, An Dũng, An Quang, An Nghĩa, An Tân, An Hưng và thị trấn An Lão. Cơ quan chức năng đã phát hiện 52 vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, trong đó đã xử lý 30/35 vụ vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép, tịch thu 10,28m3gỗ các loại, 01 xe ô tô, 3 xe mô tô, 01 xe độ chế, xử phạt hành chính 39,7 triệu đồng, xử lý hành chính 5/17 vụ phá rừng với số tiền 67,5 triệu, đồng. Cơ quan chức năng đã tiến hạnh khởi tố, chuyển Cơ quan điều tra 1 vụ phá rừng đầu nguồn và đang điều tra, xác minh các vụ phá rừng còn lại.

Theo ông Đoàn Văn Tá - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão, nguyên nhân của tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp là do một số loại lâm sản quý như gỗ hương, lim, huỳnh đàn, trắc, dổi có lợi nhuận khá lớn nên thu hút nhiều người dân địa phương tham gia. Đáng ngại là nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số phá rừng để lấy đất sản xuất, làm nương rẫy có chiều hướng gia tăng. Trong khi đó, phương án giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho người dân quản lý, bảo vệ chưa đáp ứng tình hình thực tế. Hạt Kiểm lâm phụ trách địa bàn hoạt động trong điều kiện rừng núi xa xôi, không thông thạo tiếng đồng bào dân tộc thiểu số nên hạn chế trong việc tham mưu cho chính quyền địa phương trong các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng.    

Tại buổi làm việc với UBND       huyện An Lão mới đây, ông Hồ Quốc Dũng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định đã yêu cầu chính    quyền địa phương và các ngành chức năng phải siết chặt hơn nữa       động của các chốt kiếm tra lâm sản tại các địa bàn trọng điểm và các trục đuờng giao thông quan trọng mà các đối tượng lâm tặc thường xuyên vận chuyển lâm sản để kịp thời phát hiện, xử lý. Lực lượng Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với Công an, UBND các xã, thị trấn thống kê, phân hóa các đối tượng “đầu nậu”, chủ đường dây buôn bán lâm sản trái phép để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Đồng thời, phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, tránh tình trạng phát hiện nhiều vụ phá rừng nhưng không xử lý được. Tỉnh Bình Định đồng ý chủ trương cho chuyển các diện tích rừng phòng hộ do UBND xã quản lý sang Ban quản lý rừng phòng hộ huyện quản lý để thắt chặt các biện pháp bảo vệ.

UBND tinh Bình Định cũng đã ban hành Quyết định số 2777 ngày 04/8/2017 về việc thành lập Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng An Toàn thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng An Toàn để thực hiện các chức năng thừa hành pháp luật về bảo vệ rừng và phát triển rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn. (Bảo Vệ Pháp Luật 5/9, tr5) Về đầu trang

"Tôn dày" dấu mốc bảo tồn sinh thái

Kế hoạch hành động đa dạng sinh học năm 1995 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 845 là chính sách nền tảng đầu tiên của Việt Nam trong bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH). Sau hơn hai thập kỷ, chính sách này là “bệ phóng” quan trọng để “tôn dày” dấu mốc bảo tồn.

Đa dạng sinh học (ĐDSH) là nền tảng cho sự sống và phát triển của con người. ĐDSH được xem là “vốn tự nhiên” cho giảm nghèo, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), mất an ninh lương thực, khủng hoảng kinh tế mà nhiều khu vực, quốc gia đang phải đối mặt.

Trên cơ sở đó, năm 1995, Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động ĐDSH đã xác lập các dự án hành động cần đầu tư thực hiện trong giai đoạn 1996 - 2000. Đến năm 2007, để phù hợp với mục tiêu và bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Chính phủ đã phê duyệt KHHĐ quốc gia ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 nhằm thực hiện Công ước ĐDSH và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học. Tiếp đó, với tầm nhìn mới về ĐDSH là nền tảng của nền kinh tế xanh, bảo tồn ĐDSH là giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được Chính phủ ban hành vào năm 2013.

Từ đó cho thấy, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH như: Hệ thống khung pháp luật và chính sách quốc gia về bảo tồn ĐDSH ngày càng được củng cố, hoàn thiện; nhận thức xã hội và sự tham gia của các bên liên quan vào công tác bảo tồn ĐDSH có nhiều chuyển biến rõ rệt, nhất là các dịch vụ hệ sinh thái trọng yếu tiếp tục được duy trì và cung cấp các dịch vụ quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Luật ĐDSH 2008 được ban hành đã thể hiện sự nhận thức đúng đắn tầm quan trọng và sự cần thiết trong việc điều chỉnh thực trạng bảo tồn ĐDSH hiện nay của Việt Nam. Một hành lang pháp lý được xây dựng góp phần hệ thống hoá các quy định rải rác trước đó cũng như bổ sung thêm những nội dung mới nhằm điều chỉnh đầy đủ và thực thi có hiệu quả pháp luật bảo tồn ĐDSH - một trong những phương thức bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên.

Qua gần 10 năm kể từ khi có hiệu lực, Luật ĐDSH đã tiếp thêm nhựa sống cho công tác quản lý bảo tồn ĐDSH trong các hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước, vùng biển của Việt Nam với một số thành tích đáng khích lệ, chẳng hạn đã thu thập nhiều tư liệu bổ sung, đánh giá hiện trạng ĐDSH ở các khu rừng đặc dụng làm cơ sở cho việc đề xuất trong chiến lược rà soát, quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý, tổ chức bảo tồn các vườn quốc gia (VQG), các khu bảo tồn thiên nhiên. Tại một số địa phương đã xây dựng các tiêu chí cụ thể xác định loài và chế độ quản lý bảo vệ thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 37 của Luật).

Đáng chú ý, Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết các Điều ước quốc tế liên quan đến ĐDSH như: Công ước Liên Hợp Quốc về đa dạng sinh học (UNCBD), Công ước về Các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (RAMSAR), Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động, thực vật bị đe dọa tuyệt chủng (CITES), Nghị định thư về An toàn sinh học (CARTAGENA)… Nhiều cam kết quốc tế đã được luật hóa trong Luật ĐDSH năm 2008.

Có thể thấy rằng, những nội dung nội luật hóa quan trọng nhất là các nội dung trong Công ước của Liên Hợp Quốc về ĐDSH như: Quy định rõ và đầy đủ về nội dung và trình tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo tồn ĐDSH cấp cả nước và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quy định rõ và đầy đủ về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật, bao gồm bảo vệ loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và phát triển bền vững các loài sinh vật; quy định về trách nhiệm quản lý nguồn gen và quản lý các hoạt động liên quan đến nguồn gen…

Nhiều địa phương trong cả nước như: Hà Nội, Nghệ An, Vĩnh Phúc… đã tiến hành khảo sát điều tra các loài sinh vật ngoại lai xâm hại để có biện pháp kiểm soát ngăn ngừa tại Điều 50 của Luật ĐDSH. Cùng với đó, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 22 ngày 1/7/2011 hướng dẫn đưa ra danh mục các loài ngoại lai xâm hại cần quan tâm phát hiện ở các địa phương ngăn chặn nguy cơ tiềm ẩn của các loài sinh vật ngoại lai xâm hại đến các hệ sinh thái và ĐDSH.

Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen là một nội dung hoàn toàn mới đối với hệ thống pháp luật Việt Nam từ trước đến nay. Theo GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, Luật ĐDSH đã đề xuất cơ chế quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích có được từ nguồn gen ở Việt Nam. Điều đó thể hiện sự nghiêm túc của Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu thứ ba của Công ước ĐDSH, đó là chia sẻ một cách công bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn gen.

Theo đánh giá của các chuyên gia, nội dung tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích trong Luật ĐDSH 2008 và Nghị định 65/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ĐDSH đã thể hiện tương đối đầy đủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Đây là một nỗ lực lớn đối với quá trình hội nhập quốc tế, trong bối cảnh các bên vẫn đang trong quá trình thương lượng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh.

Mặc dù, đây là nội dung mới và khó nhưng trong thời gian qua, Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường) đã vận dụng các điều khoản trong Luật ĐDSH để tiến hành thử nghiệm ở một số VQG, khu bảo tồn như: Bạch Mã, Ba Vì, Cát Bà, Côn Đảo, Bidoup Núi Bà, Vân Long... Qua đó, cộng đồng sống xung quanh các khu bảo tồn thiên nhiên được cải thiện chất lượng cuộc sống bằng các sinh kế, tăng việc làm thông qua hoạt động bảo tồn ĐDSH. Đây là giải pháp tạo sự đồng thuận, nhất trí tham gia của cộng đồng trong chiến lược bảo tồn ĐDSH.

Việc thành lập hệ thống các khu bảo tồn là bước đi rất quan trọng trong việc bảo tồn các loài, quần xã sinh vật và hệ sinh thái. Hiện nay, Việt Nam đã quy hoạch và thành lập được 164 Khu bảo tồn (KBT) rừng đặc dụng, trong đó, có 30 VQG, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 11 KBT loài và sinh cảnh, 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng thực nghiệm nghiên cứu khoa học với tổng diện tích gần 2,2 triệu ha. Dự kiến đến năm 2020, hệ thống này sẽ mở rộng đến 2,4 triệu ha với 176 khu (34 VQG, 58 KBT thiên nhiên, 14 KBT loài và sinh cảnh, 61 khu bảo vệ cảnh quan và 09 khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm.

Cùng với đó, Việt Nam cũng đã quy hoạch 16 KBT biển và 45 KBT vùng nước nội địa. Ngoài ra, trong hệ thống cũng đã có 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới, 2 khu di sản thiên nhiên, 5 khu di sản ASEAN và 8 khu đất ngập nước Ramsar được quốc tế công nhận. Bên cạnh đó, các hình thức bảo tồn chuyển chỗ về ĐDSH cũng được phát triển trong cả nước mang lại hiệu quả cao về bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật quý, hiếm, góp phần xóa đói giảm nghèo ở một số địa phương. Những con số trên cho thấy, sự thay đổi nhận thức về cân bằng giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế, mà quan trọng hơn đó chính là sự nỗ lực, quan tâm, cam kết và hành động của nhà nước vì các lợi ích chung của xã hội, trước mắt và lâu dài.

Một thành tựu quan trọng khác của công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua chính là huy động được nguồn lực tài chính, kỹ thuật và sự tham gia tích cực của các tổ chức đa phương, tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước. UNDP, WB, JICA, UNEP, GIZ, IUCN, WWF, FFI, WCS, Birdlife International, TRAFFIC là những tổ chức đã có những đóng góp đáng kể cho quá trình xây dựng chính sách, pháp luật về bảo tồn ĐDSH, cũng như hỗ trợ thiết lập và quản lý nhiều VQG/KBT có giá trị ĐDSH toàn cầu.

Thông qua các dự án hỗ trợ, nhiều loài động, thực vật mới có giá trị cho khoa học đã được phát hiện, phát hiện lại và được đầu tư bảo tồn như: Sao la, Mang lớn, một số loài linh trưởng, Chim trĩ… Bên cạnh đó, sự hình thành các tổ chức xã hội trong nước như: VACNE, ENV, PanNature, MCD, GreenVIET, Wildlife At Risk… đã gia tăng nỗ lực đóng góp cho bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam từ cả hiện trường đến diễn đàn chính sách của quốc gia, quốc tế. Xu hướng các doanh nghiệp và tổ chức cộng đồng tham gia bảo tồn thiên nhiên đang được hình thành, hứa hẹn tạo nhiều nguồn lực cho bảo vệ các giá trị và di sản ĐDSH của Việt Nam. Tài Nguyên & Môi Trường Online 2/9) Về đầu trang

TPHCM: Giữa rừng ngập mặn Cần Giờ

Chiếc ca nô cao tốc của Hạt kiểm lâm Cần Giờ, TP.HCM, lướt trên mặt sông phẳng như gương, uốn lượn giữa những cánh rừng bạt ngàn của huyện Cần Giờ. Tôi sững sờ trước vẻ đẹp mê hồn của thiên nhiên và không có lời nào khác ngoài câu: “Tuyệt!”.

Cách đây vài chục năm, những người đến Cần Giờ nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng được coi là “hy sinh”, là can đảm. Nay thì khác… 

Căn nhà đầu tiên chúng tôi đến nằm ở phân khu 3, tiểu khu 4B của rừng phòng hộ Cần Giờ. Chủ nhân là bà Đinh Thị Hồng (Ba Hồng), năm nay 67 tuổi. Bà Ba Hồng là 1 trong 10 hộ đầu tiên vào rừng nhận khoán giữ rừng năm 1990. Trước đó, từ những năm 1980, bà đã là một trong những người đầu tiên góp sức trẻ, thời gian để trồng rừng, biến vùng đất trắng thành màu xanh ngắt, mênh mông của những cánh rừng hôm nay.

Trong ngôi nhà xây khá khang trang giữa rừng, bà Ba Hồng nhớ lại những ngày đi trồng rừng: Hồi đó, đi trồng rừng cực khổ vô cùng, mỗi chuyến đi từ 10 ngày đến nửa tháng. Đến mỗi nơi trồng, việc đầu tiên là lo chỗ ở. Vì tất cả đều bị ngập khi nước lên nên mọi người phải móc bùn đắp cao lên thành cái nền, sau đó trải vải nhựa xuống, rồi mới dựng chòi. Hồi đó, đoàn viên, thanh niên tham gia đông lắm. Đêm ngủ chia thành 2 dãy, nam, nữ riêng. Để tụi trẻ có hứng thú làm, tôi chia thành từng tổ, rồi thi đua, tổ nào làm nhanh, làm tốt sẽ có thưởng, sau giờ làm việc lại tổ chức văn nghệ, thi hát hò… Tụi trẻ làm không biết mệt. Sau mỗi chuyến đi rừng như thế, lại có vài đôi nên vợ chồng.

Nói về những ngày đầu làm “người rừng”, bà Hồng kể: “Hồi mới vào đây, cực khổ không bút nào tả xiết, điện không, nước ngọt không, đường mòn để đi cũng không nốt. Đêm phải đốt đèn dầu, muỗi nhiều như vãi trấu, nước ngọt thì phải chèo ghe đi mấy tiếng mới đến xã để mua. Hôm nào gặp gió ngược, đi nửa ngày không đến nơi, gió hơi mạnh mạnh chút là run, lỡ lật ghe, không sợ chết đuối mà mọi thứ trên ghe coi như “cúng” cho hà bá”.

Nói về những khó khăn hồi mới vào rừng, nhất là chuyện “đối phó” với những người phá rừng, bà Ba Hồng kể: “Hồi đó tình trạng phá rừng ở Cần Giờ cũng nghiêm trọng lắm chứ không phải như bây giờ đâu. Người ta chủ yếu săn bắt, chặt cây về bán cho lò than. Và hầu hết họ đều nghèo. Biết vậy nên khi bắt được họ phá, mình không làm căng mà nói chuyện tình cảm. phân tích cho họ hiểu, đây là chén cơm của gia đình, nếu anh chị phá rừng là chúng tôi nhịn. Rồi bảo rừng này là công sức của hàng ngàn người từ mấy chục năm nay, phá là mang tội lớn. Sau khi cho họ đi, còn cho gạo, nước mang theo”, bà Ba Hồng kể.

Cách nhà bà Ba Hồng vài cây số đường sông là nhà bà Nguyễn Kim Hoàng (Tư Hoàng), một phụ nữ có hoàn cảnh giống bà Ba Hồng, đó là năm 1990, bà một mình dắt đàn con 5 đứa lít nhít vào rừng cho đến nay. Nhìn dáng cao gầy, nước da hồng hào, săn chắc, ít ai nghĩ năm nay bà Tư Hoàng đã 68 tuổi. “Tôi hợp đồng giữ gần 250ha rừng, nhưng giao lại cho tụi nhỏ làm từ mấy năm nay rồi. Tôi còn khỏe, vẫn muốn làm, nhưng mấy ảnh nói tôi già rồi, làm chi cho cực”, bà Tư cười bảo.

 “Cô có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất thời mới vào rừng?”, tôi hỏi. Bà Tư Hoàng trầm ngâm giây lát rồi nói: “Những cái đáng nhớ thì kể vài ngày chưa hết. Có lần, một người phụ nữ cùng mấy đứa nhỏ lên chặt cây, tụi tôi bắt được, lúc đầu tính bắt đưa về kiểm lâm, nhưng đứa nhỏ van xin, nói tụi con đói lắm. Xuống dưới xuồng kiểm tra thì thấy 4 - 5 đứa trẻ lít nhít mà gạo thì hết. Tôi nhìn mà ứa nước mắt. Lên kêu thằng con trai chia nửa khạp gạo, nửa lu nước cho họ. Hỏi ra mới biết, cha tụi nhỏ chết rồi, nhà không có, mấy mẹ con họ chỉ có chiếc xuồng làm nhà, cứ lênh đênh nay đây mai đó như vậy”. 

Hiện nay, những người gây dựng, chăm sóc và bảo vệ rừng Cần Giờ đa số đã “nghỉ hưu”, chuyển giao cho thế hệ thứ hai. Và đây là thế hệ đầu tiên được “hưởng lợi” từ cha anh mình. Anh Nguyễn Thành Trung, con trai thứ tư của 4 bà Tư Hoàng, người tiếp quản hợp đồng của mẹ, cho biết, mỗi năm, thu nhập từ lương giữ rừng cũng ngót 300 triệu chưa trừ chi phí, thuế. Ngoài ra, anh còn có 2 ao nuôi các loại cá, cuộc sống khá tốt.

Nói về quyết định dắt đàn con vào rừng sống năm 1990, bà Hồng cho biết: “Tôi đi bởi vì những cánh rừng này do chính tôi gieo hạt. Nhiều năm sống, ăn ngủ trong rừng, tôi quen rồi. Lúc đó tôi lo nhất là vào đó các con sống ra sao. Nhưng mấy đứa nhỏ động viên, bảo nếu mẹ muốn đi thì tụi con ủng hộ”, bà Hồng nói.

Gia đình bà Hồng hiện đang nhận chăm sóc 191ha rừng, mỗi năm được Nhà nước chi trả lương giữ rừng hơn 200 triệu. Ngoài ra, anh Trần Minh Tùng, con trai bà Hồng còn nuôi thêm ốc len, mỗi năm cũng thu được hơn trăm triệu. “So với ngày xưa mới vào, thế là tốt lắm rồi chú ạ”, anh Tùng nói. Anh Tùng cho biết, anh lấy được vợ hiền là chị Nguyễn Thị Lắng, cũng từ những ngày đi trồng rừng. Nay anh chị đã có 3 đứa con khôi ngô, trong đó 2 con lớn đã học xong cao đẳng trên thành phố, cậu út học cấp 1 ở xã Tam Thôn Hiệp, Cần Giờ. Hiện anh Tùng đã nhận thay mẹ hợp đồng chăm sóc, bảo vệ rừng.

Anh Trần Minh Tùng, con trai bà Ba Hồng và anh Nguyễn Thành Trung, con trai bà Tư Hoàng, những người bắt đầu hưởng lợi từ rừng do thế hệ trước gầy dựng

Rời nhà bà Tư Hoàng, chúng tôi tiếp tục đến một căn nhà khá khang trang ở phân khu IV của ông Nguyễn Văn Sơn, 66 tuổi, vào nhận khoán giữ rừng từ năm 1986. Ông Sơn kể, ngót 30 năm chăm sóc, bảo vệ rừng, gia đình ông đã vượt qua biết bao khó khăn, vất vả, có những lúc tưởng không chịu nổi, định bỏ rừng. Nhưng rồi ông nghĩ, mình là một người lính, chẳng lẽ lại chịu thua? “Những năm đầu mới nhận khoán, gia đình tôi không dám nghĩ tới tiền công bởi bị phá dữ lắm! Khó khăn chồng chất, nghèo đói quanh năm, lại phải nuôi các con đang tuổi học hành”, ông Sơn kể.

Những năm sau này, nhà nước có chế độ tốt hơn cho những người giữ rừng, gia đình ông Sơn nhờ vậy mà khá dần lên. Ngoài nhận khoán gần 100ha rừng, ông còn đào ao thả cá, trồng cây kiểng kiếm thêm thu nhập. Hiện hợp đồng nhận khoán ông cũng đã chuyển cho con trai. “Thời chúng tôi vất vả lắm, bây giờ ngồi nhớ lại còn nổi gai ốc. Nhưng nhờ thế mà con cháu mình hôm nay mới có cái để hưởng. Đây chính là tài sản vô giá mà chúng tôi dành cho thế hệ sau”, ông Sơn nói. (Nông Nghiệp Việt Nam Online 4/9) Về đầu trang

Xanh tươi Côn Đảo

Lần đến với Côn Đảo của tôi là một khoảnh khắc khó quên để tìm lại dấu ấn lịch sử một thời kỳ đấu tranh hào hùng và bi thương của dân tộc. Ngỡ ngàng thay, Côn Đảo hôm nay đón tôi với một màu xanh bạt ngàn cây cỏ và một bầu không khí trong lành…

Rừng nguyên sinh Côn Đảo hiện ra trên lối đi dày đặc và phong phú với thảm thực vật xanh biếc, dầy đặc không chừa một khoảng trống, trải dài từ tận mép nước biển lên đến tận đỉnh núi. Lái xe bon bon trên con đường quanh co, uốn khúc để tận hưởng cảnh sắc một bên là núi cao trập trùng một bên là vách đá dựng đứng với làn nước xanh ngọc bích trong vắt, mênh mông đến tận chân trời. Rồi ngẫu hứng dừng lại chụp hình, ngồi đó hít hương vị biển chầm chậm, thật sâu và cảm nhận nó để tâm hồn trở nên thư thái hơn. Mùi của cơn gió mát lạnh, mùi đất, mùi cỏ sau mưa, mùi của làn mây dội thẳng vào mặt, hòa trộn tạo thành một mùi rất đặc biệt mà ở chốn thị thành ngột ngạt, căng thẳng, đầy bê tông, khói bụi không thể nào có được.

Ở đây, cảm giác như mỗi người dân trên đảo từ lái xe taxi đến người bán hàng quán đều ít nhiều hiểu biết về lịch sử mảnh đất này, dẫu cho họ là những người tứ xứ về đây lập nghiệp. Dẫn đường cho chúng tôi là một tài xế taxi quê từ ngoài Bắc, bác tâm sự: Cũng bôn ba nhiều miền đất nước, nhưng số phận lại run rủi đến với hòn đảo xinh đẹp này. Hợp đất, hợp người nên ở lại đây làm ăn cũng đã tới 7 - 8 năm nay rồi. Những năm trước, cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhưng mấy năm gần đây, du lịch tăng tốc, kinh tế phát triển nhanh, cái gì đất liền có đảo cũng có, sống ở đây như sống trong thiên đường mặt đất mà không nơi nào tôi thấy có được, đặc biệt là khí hậu vô cùng trong lành.

Quả đúng như vậy, Côn Đảo có 16 đảo lớn nhỏ với tổng diện tích khoảng 6.000 ha, trong đó, có 4.905 ha đất có rừng. Rừng ở Côn Đảo được bảo vệ nghiêm ngặt, không bị cháy hay chặt phá nên độ che phủ rừng của cây ở đây cao nhất nước chiếm 81%. Rừng thực sự là lá phổi xanh giúp cho Côn Đảo có đủ nguồn nước ngọt cung cấp phục vụ sản xuất và đời sống của dân trên đảo. Cây rừng Côn Đảo phong phú, đa dạng với 882 loài, 562 chi, 161 họ. Tại đây có các loài cây thuộc thực vật cổ sinh thái như: Thiên tuế, gắm, các cây họ na; có loài cây mang tính chất Đông Dương như: bứa, cọc rào; mang tính chất cây nhiệt đới châu Phi như: Bàng, chiêu liêu. Thực vật ở rừng Côn Đảo phong phú đa dạng, được xem như hệ thực vật thu nhỏ ở Việt Nam. Ở đây có cây lát hoa của rừng miền Bắc, cây dầu cát của rừng Tây Nguyên, cây đước, vẹt của rừng Nam Bộ.

 Động vật rừng Côn Đảo rất phong phú với 144 loài động vật có xương sống, 69 loài chim, 39 loài bò sát, lưỡng thê. Về tài nguyên sinh vật biển, Côn Đảo có 3 hệ sinh thái chính: Hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái san hô. Bò sát biển có 7 loài, trong đó có ba loài rùa biển có số lượng lớn đang sinh sống và thường lên đẻ trứng trên các hòn Bảy Cạnh, hòn Cau. Mỗi năm, vào mùa sinh nở có tới trên 1.000 rùa mẹ được sự bảo hộ của cán bộ Vườn Quốc gia Côn Đảo và có tới 100.000 rùa con được trả về với đại dương. Cá biển ở Côn Đảo có tới 160 loài thuộc 28 họ. Theo đánh giá của các nhà khoa học, tài nguyên sinh vật biển Côn Đảo thuộc dạng giàu có và đa dạng nhất ở Việt Nam. Cán bộ công nhân viên Vườn Quốc gia Côn Đảo đã vượt nhiều khó khăn để thực hiện tốt chương trình phòng chống cháy rừng, khoanh nuôi phục hồi, vệ sinh rừng và các chương trình dự án bảo tồn đa dạng sinh học biển, chương trình cứu hộ rùa biển. Tất cả nhằm giữ cho vẻ đẹp Côn Đảo - viên ngọc quý phía Đông Nam Tổ quốc.

Vòng quanh thăm Côn Đảo, đi đến đâu tôi cũng nghe nhiều du khách bàn tán về chuyện linh thiêng ở nghĩa trang Hàng Dương. Và cảm giác linh thiêng có phần kỳ bí ấy chúng tôi cũng trải qua khi đi viếng nghĩa trang, nơi yên nghỉ của hàng vạn chiến sĩ Cách mạng và đồng bào yêu nước, nhiều thế hệ bị tù đày kéo dài suốt 113 năm đen tối. Nghĩa trang Hàng Dương lặng lẽ mà sâu lắng, từng chiếc lá rơi, từng nắm đất cỏ úa vàng trong làn gió nhẹ mơn man, vẫn còn ấp ủ trong đó biết bao số phận đã bị vùi chôn. Những mộ bia tuy nhỏ bé, đìu hiu bỗng trở thành tượng đài cao vời vợi in đậm trong lòng mọi người, như nhắc nhở chúng ta phải sống cho xứng đáng với tiền nhân, với những anh hùng liệt sỹ đã nằm xuống nơi này.

Cảm xúc với những chiến sỹ yêu nước bị ngục tù lên cao khi người hướng dẫn viên giới thiệu "địa ngục trần gian" ở xứ Đông Dương với hệ thống các chuồng cọp và nhà tù chính trị, với Cầu tàu Côn Đảo mà nhiều người kể lại để làm cảng, cầu tầu, mỗi phiến đá là hàng chục mạng người ra đi. Hướng dẫn viên du lịch cũng nhắc lại con số 871; 914; 915 để tưởng nhớ số người đã chết trong lúc xây dựng Cầu Tàu. Nhưng con số đó mang tính ước lệ và chắc chắn là chưa đủ.

Khi chúng tôi viếng mộ chị Võ Thị Sáu cũng là lúc quá nửa đêm… Đáng ngạc nhiên là khung cảnh nghĩa trang Hàng Dương lại nhộn nhịp hơn ban ngày, người bán đồ lễ cho chúng tôi biết: “Đêm nào cũng vậy, cứ từ lúc nửa đêm cho tới 2 - 3 giờ sáng, người ta từ khắp nơi, sáng đi máy bay ra Côn Đảo thăm các di tích nhà tù, vui chơi, rồi đêm về đi viếng mộ chị Võ Thị Sáu. Số lượng người đông như trẩy hội, vào những ngày lễ, Chủ nhật, càng đông hơn nhiều. Tấm gương hy sinh cao đẹp của chị Võ Thị Sáu được mọi người sùng bái như một vị thánh”…

… Bình minh Côn Đảo với những tia nắng ló dạng từ biển trong trẻo đến mê hoặc lòng người. Mặt trời nhô lên trên mặt biển làm cảnh vật Côn Đảo lại trở nên sống động, rạng rỡ. Những tia nắng hình dẻ quạt đổ xuống mặt đất như từng dòng mật của trời đang từ từ chảy xuống mặt biển khiến nó rực rỡ những gam màu với các góc độ khác nhau lấp lánh kim cương, dát vàng, dát bạc. Gió biển nhẹ nhàng êm ái, hiu hiu thổi mang theo hơi ẩm của biển mơn man trên tóc, trên mặt. Tất cả tạo nên một cảm giác thật sảng khoái, dễ chịu. Chúng tôi tranh thủ qua Bến Đầm, để có cảm giác nhộn nhịp bán buôn trên bến dưới thuyền ở một cầu cảng lớn nhất trên đảo, thăm chùa Núi Một hay còn gọi là Vân Tự sơn, ngôi chùa được mệnh danh là có phong thủy đẹp nhất Việt Nam khi lưng tựa núi, cửa hướng biển cùng hàng loạt các địa danh du lịch khác như lăng mộ bà Phi Yến, bãi biển Đầm Trầu…

Gần 2 ngày trên đảo, ra về cảm giác tiếc nuối chưa được thưởng thức hết những danh lam thắng cảnh trên hòn đảo nhỏ mà xanh tươi xinh đẹp này là tâm tư của không ít du khách khi lần đầu đến đảo. Mong rằng, màu xanh ngút ngàn của núi rừng và những bãi tắm đẹp đẽ, cát trắng trải dài cùng không khí trong lành sẽ luôn là “đặc sản” giúp cho Côn Đảo ngày càng thêm giàu đẹp… (Tài Nguyên & Môi Trường Online 2/9) Về đầu trang

Xử lý nghiêm hành vi phá hoại rừng tự nhiên tại Bắc Kạn

Xử lý nghiêm hành vi phá hoại rừng tự nhiên tại Bắc Kạn - Thời gian gần đây, tại Vườn quốc gia Ba Bể đã xảy ra tình trạng phá rừng liên quan đến những cây gỗ nghiến quý hiếm.

Theo như báo Thanh tra đưa tin: Rất nhiều lực lượng tham gia nhận khoán, bảo vệ, trông coi tại Vườn quốc gia Ba Bể, nhưng những cây gỗ nghiến quý hiếm vẫn bị chặt hạ.

Nhiều cây gỗ nghiến bị chặt hạ ngay tại nơi Công an huyện và Ban chỉ huy quân sự huyện Ba Bể nhận giao khoán, bảo vệ.

Để làm rõ hơn việc này, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các địa phương và cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm quy định, phá hoại rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (Nguoilambao.vn 1/9) Về đầu trang

Quảng Ninh: Quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản

Để giữ vững uy tín thương hiệu sản phẩm nông lâm thủy sản của tỉnh trên thị trường, UBND tỉnh Quảng Ninh vừa phê duyệt Đề án nâng cao năng lực quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020.

Theo đó, Đề án bao gồm các nhiệm vụ trọng tâm như củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã; Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh; Triển khai Luật an toàn thực phẩm và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan... (Đại Đoàn Kết 5/9, tr7) Về đầu trang