Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 01/9/2017

Điểm báo ngày 01/9/2017

Cập nhật ngày : 01/09/2017 1:58:40 CH

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

 (Ngày 01 tháng 9 năm 2017)

Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi phá hoại rừng tự nhiên

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các địa phương và cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm quy định, phá hoại rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc.

Thời gian gần đây, báo Thanh tra đưa tin: Rất nhiều lực lượng tham gia nhận khoán, bảo vệ, trông coi tại Vườn quốc gia Ba Bể, nhưng những cây gỗ nghiến quý hiếm vẫn bị chặt hạ; trong đó có nhiều cây gỗ nghiến bị chặt hạ ngay tại nơi Công an huyện và Ban chỉ huy quân sự huyện Ba Bể nhận giao khoán, bảo vệ.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các địa phương và cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm quy định, phá hoại rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (Lao Động 01/9, tr2; Tài Nguyên & Môi Trường Online 01/9; Kinh Tế & Đô Thị Online 31/8; Báo Chính Phủ Điện Tử  31/8; Moitruong.net.vn 31/8; Xây Dựng Online 31/8; Baoquangninh.com.vn  31/8; Nghean.gov.vn 31/8; Hagiangtv.vn 31/8; Thanh Tra Online 31/8; Nhandantv.vn 01/9) Về đầu trang

Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng: Người dân phải sống được bằng rừng

Qua đợt làm việc tại Lào Cai về kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn 2006 - 2016. Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc mong mỏi người dân phải sống được bằng rừng. Phần đông là người dân tộc thiểu số, gắn bó và sinh sống chủ yếu với rừng, việc người dân chưa sống được bằng nghề rừng cũng là thiệt thòi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Ghi nhận của Đoàn giám sát tại Lào Cai cho thấy, từ năm 2006 - 2016, diện tích rừng được giao cho 34 cộng đồng là 639,2ha. Tổng diện tích đã giao cho hộ gia đình là 449,9ha; số hộ được giao là 427. Theo ước tính của Đoàn giám sát, bình quân mỗi hộ gia đình chỉ được giao từ 1 - 2ha diện tích rừng. Diện tích này dường như là quá nhỏ so với nhu cầu bảo vệ và phát triển rừng của người dân.

Qua trao đổi trực tiếp với đại diện cộng đồng và hộ gia đình được giao đất, giao rừng, hầu như ai cũng có nhu cầu nhận thêm đất, rừng với ước mong có thêm tư liệu sản xuất để tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống. Anh Ly Seo Sáu, người Mông, cư trú tại xã Lùng Sui cho biết, các hộ gia đình và cá nhân đều ý thức được vai trò làm chủ trên đất lâm nghiệp, tình trạng phá rừng hầu như không xảy ra, nhất là với rừng tâm linh. Anh Sáu được nhận 2,7ha rừng tự nhiên, với phí dịch vụ môi trường rừng hàng năm, khoảng 300.000 đồng. Anh vẫn mong muốn được nhận thêm đất, thêm rừng, dù rừng ở xa.

Còn anh Hoàng Văn Chấn, ở xã Bản Mế chia sẻ thêm, trước kia khi chưa có chủ, rừng như tấm áo vá, bị người dân khoanh nuôi làm màu. Nhưng từ khi Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, tháng nào anh cũng lên kiểm tra xem rừng có bị chặt phá hay không, người dân cũng không còn đốt nương làm rẫy. Anh cũng thường xuyên đầu tư cây trồng để phát triển lâm nghiệp. Tuy nhiên, với số vốn tự có còn ít ỏi, anh Chấn bày tỏ mong muốn Nhà nước có chính sách hỗ trợ về vốn hoặc cây giống, phân bón cho hộ gia đình, cộng đồng được giao đất, giao rừng.

Chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng và hộ gia đình là chủ trương đúng đắn, được người dân ủng hộ, đánh giá cao, rừng ngày càng được bảo vệ tốt hơn. Ở những nơi có rừng tâm linh, đất rừng được sử dụng như là nơi hội tụ văn hóa, tín ngưỡng thờ cúng, sinh hoạt của cộng đồng. Những khu vực này được giữ gìn, bảo tồn nghiêm ngặt bởi chính văn hóa của đồng bào nơi đây.

Rừng được bảo vệ tốt, nhưng kết quả phát triển rừng chưa tương xứng với mục tiêu và mong muốn. Đây là thực tế mà Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc chỉ ra tại Lào Cai. Cụ thể, Lào Cai chưa có sự phân định giữa giao đất, giao rừng. Nghĩa là, Lào Cai mới giao đất cho cộng đồng và hộ dân cư theo diện tích và khoảng cách địa lý, chứ chưa thực sự giao rừng, vì số cây trong rừng chưa từng được thống kê, kiểm đếm trước khi giao cho cộng đồng, hộ dân cư. Nghịch lý nữa là, rừng ở ngoài quy hoạch lại được người dân phát triển tốt hơn rừng ở trong quy hoạch lâm nghiệp (?).

Đáng lưu ý, khi lý giải vì sao rừng giao cho cộng đồng và hộ gia đình còn ít, đại diện lãnh đạo tỉnh Lào Cai nói rằng, đất, rừng ở Lào Cai được giao cho nhiều chủ thể quản lý, bảo vệ và phát triển, trong đó có UBND xã, Ban quản lý rừng, doanh nghiệp, bộ đội biên phòng, cộng đồng và người dân… Song chính Lào Cai cũng chưa thể đánh giá được cách thức, hình thức giao rừng cho chủ thể nào quản lý thì hiệu quả hơn, mang lại nguồn lợi kinh tế tốt hơn. Đồng nghĩa, làm thế nào để người dân sống được từ rừng vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp.

Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Đặng Xuân Phong cho biết, Lào Cai luôn quan tâm đến phát triển lâm nghiệp bền vững, thậm chí tỉnh đã có Đề án trọng tâm về phát triển lâm nghiệp, xác định rõ phát triển cây gì ở khu vực nào, địa bàn nào. Thế nhưng, trước kia còn có Quyết định 661 (ngày 29.7.1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng), Trung ương có hỗ trợ kinh phí theo hướng, địa phương trồng mới bao nhiêu hecta thì nhận bằng đó tiền. Sau này, chúng ta vẫn giao cho các địa phương trồng mới rừng, nhưng kinh phí lại để địa phương tự chủ động. Với Lào Cai - một tỉnh nghèo còn đang nhận trợ cấp từ ngân sách trung ương, thì lấy đâu ra tiền để tự cân đối trồng rừng, phát triển rừng?

Một vấn đề nữa cũng được Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai nêu ra, là quy hoạch chưa phù hợp với thực tiễn. Có lẽ không nên quy hoạch phải trồng bao nhiêu hecta rừng, bao nhiêu hecta cây dược liệu mà nên quy hoạch bao nhiêu sản phẩm. Chi khi nào có đầu ra thì mới mở rộng và phát triển rừng, phát triển dược liệu được.

Chia sẻ với những khó khăn của Lào Cai, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Hà Ngọc Chiến lưu ý, tiềm năng phát triển rừng vẫn còn, tầm nhìn quy hoạch rừng vẫn đóng vai trò quan trọng. Ngay trong công tác rà soát, quy hoạch bản đồ, diện tích đất, rừng còn sai lệch so với thực tế, thì trước mắt Sở TN - MT, Sở NN - PTNT tỉnh Lào Cai cần “ngồi” lại để thống nhất lại số liệu. Tổng kết lại các mô hình giao đất, giao rừng, đánh giá hiệu quả, đề ra chiến lược, giải pháp khắc phục khó khăn, phát triển lâm nghiệp. “Chúng ta vẫn còn xót xa khi có những hộ thu nhập trực tiếp từ rừng chỉ khoảng 200 nghìn đồng/năm. Làm sao người dân muốn gắn bó với rừng và coi rừng là một nghề được?”, Chủ tịch Hà Ngọc Chiến trăn trở.

Tuy Lào Cai rất quyết liệt muốn giao đất, giao rừng cho cộng đồng và hộ gia đình, nhưng kết quả chỉ đạt 40%; phần diện tích đất, rừng các xã quản lý còn lớn. Trong khi nhu cầu của người dân còn nhiều. Vấn đề không mới nhưng vẫn thời sự, là “phải thực sự coi trọng phát triển lâm nghiệp, để người dân coi bảo vệ, phát triển rừng như một nghề đem lại ấm no cho chính mình”, Chủ tịch Hà Ngọc Chiến bày tỏ. Được vậy, chắc chắn công cuộc bảo vệ và phát triển rừng sẽ đạt kết quả cao hơn, như mục tiêu và mong muốn đề ra. (Đại Biểu Nhân Dân 01/9, tr1+3; Đại Biểu Nhân Dân Online 01/9) Về đầu trang

Vụ hạ rừng thông 20 tuổi để trồng mắc ca tại Kon Tum: Ảnh hưởng môi trường không đáng kể?

Ngày 31-8, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNN) tỉnh Kon Tum tổ chức họp báo thông tin về việc khai thác và chuyển đổi diện tích rừng thông trồng để thực hiện các dự án nông nghiệp trên địa bàn huyện Kon Plông (Báo Người Lao Động ngày 28-8 đã phản ánh).

Ông Nguyễn Trung Hải, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Kon Tum - chủ trì buổi họp báo, đã cung cấp một số thông tin về hiện trạng đất rừng và đất lâm nghiệp tại địa bàn huyện Kon Plông; các chủ trương của trung ương và địa phương về tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Theo ông Hải, có 6 dự án phát triển nông nghiệp chuyển đổi đất rừng với tổng diện tích hơn 480 ha, trong đó diện tích rừng thông là hơn 400 ha. Đây là những khu vực quy hoạch đất rừng sản xuất không ảnh hưởng đến quy hoạch rừng phòng hộ. Những diện tích này cũng không nằm trong quy hoạch phát triển khu du lịch sinh thái của tỉnh Kon Tum. Hơn nữa, đây là những diện tích thông trồng, đã đến thời kỳ khai thác, hiệu quả kinh tế không cao.

Ông Vũ Văn Bắc, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Plông, cho biết trước khi giới thiệu đất cho doanh nghiệp (DN), nhiều cơ quan chuyên môn đã khảo sát, đánh giá hiện trạng rừng thì đây là diện tích thông trồng kém hiệu quả. Vùng đất này trước đây mật độ trồng 1.600 cây/ha nhưng hiện đạt chưa tới 300 cây/ha. "Hai quả đồi cạnh nhau nhưng có thể bên quả đồi này thông rất đẹp, còn quả đồi kia lại rất xấu. Không khẳng định toàn bộ nhưng đa phần diện tích chuyển đổi trồng mắc ca là thông xấu, cây thấp" - ông Bắc lý giải khi các phóng viên đặt vấn đề diện tích thông trên địa bàn hiện rất đẹp, phát triển tốt nhưng tại sao lại thông tin cây kém phát triển.

Về việc triệt hạ 91 ha trong tổng số 198 ha rừng thông và giao đất cho Công ty TNHH Đăng Vinh (Bình Định) để trồng cây mắc ca vấp phải nhiều ý kiến trái chiều, như cây mắc ca không đạt hiệu quả, không phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tại địa phương và đầu ra không có, đại diện Sở NN-PTNN thừa nhận việc tỉnh Kon Tum đồng ý cho thực hiện dự án khi chưa trồng khảo nghiệm trên địa bàn huyện Kon Plông. Tuy nhiên, so sánh với các địa phương đã trồng cây mắc ca thành công như tỉnh Đắk Nông thì Kon Plông có nhiều điều kiện tương đồng. Về đầu ra, tỉnh đang kết hợp với Hiệp hội Mắc ca Việt Nam để khảo sát, thành lập các trạm thu mua.

Theo ông Nguyễn Trung Hải, trên địa bàn có một DN đưa cây mắc ca về trồng tự phát đã phát triển tốt. Tính toán sơ bộ cho thấy nếu cây mắc ca đạt năng suất, một năm có thể lãi 300 triệu đồng. Về độ cao, đất dốc, điều kiện để cây mắc ca phát triển, đầu ra của sản phẩm thì chắc chắn DN đã tính toán theo phương án của họ. "Nếu dự án không hiệu quả thì trước hết DN phải chịu trách nhiệm" - ông Hải nói và cho biết việc trồng cây gì là do DN đề nghị, UBND tỉnh và Sở NN-PTNT chỉ là cơ quan khuyến cáo.

Ông Nguyễn Hải Vân, đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum, cho biết dự án trồng cây mắc ca đã được UBND tỉnh Kon Tum phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; đồng thời có quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất và cho Công ty TNHH Đăng Vinh thuê để trồng mắc ca.

Trước các chất vấn của phóng viên về việc huyện Kon Plông đã được quy hoạch là khu du lịch sinh thái, việc triệt hạ rừng thông để trồng mắc ca sẽ ảnh hưởng lớn đến phát triển du lịch, môi trường thì ông Nguyễn Trung Hải cho rằng bản thân cây mắc ca cũng là cây lâm nghiệp. "Ở Úc cũng trồng rừng bằng cây mắc ca. Cây mắc ca khi được 7-8 năm thì cũng tạo cảnh quan, khí hậu, môi trường như là cây thông. Vì vậy, không ảnh hưởng nhiều đến môi trường" - ông Hải khẳng định.

Tuy nhiên, PGS-TS Bảo Huy, giảng viên cao cấp Trường ĐH Tây Nguyên, cho rằng thay cây thông bằng mắc ca là phản cảm về du lịch, sinh thái. Rừng thông trồng nơi đây thích hợp về khí hậu, thổ nhưỡng nên sinh thái tốt. Những loại cây trồng chưa được kiểm chứng như mắc ca thì chắc chắn không thể khẳng định tính ổn định, bền vững như rừng thông được.

Cũng theo ông Huy, về mặt cảnh quan, cây thông tạo cảnh quan tốt, mắc ca không thể thay thế được. Còn những yếu tố khác liên quan đến môi trường về hấp thụ carbon, giữ đất, giữ nước, chắn gió thì cần phải nghiên cứu, chứ không ai khẳng định được bằng hay không bằng. (Tiền Phong 01/9, tr5; Người Lao Động Online 31/08; VOVNews 31/8; Danviet.vn 31/8; Tiền Phong Online 31/8; Baokontum.com.vn 31/8; Tiền Phong Online 31/8) Về đầu trang

Kon Tum chuyển rừng thông kém hiệu quả sang trồng Mắc ca và các loại cây ăn quả khác

Sở NN và PTNT tỉnh Kon Tum đã tổ chức họp báo thông tin về việc khai thác và chuyển đổi diện tích rừng sản xuất (trồng thông) để thực hiện các dự án nông nghiệp tại huyện Kon Plông.

Theo ông Nguyễn Trung Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trên cơ sở căn cứ Luật, Nghị quyết, Nghị định và các Quyết định, Kế hoạch của Trung ương cùng địa phương, tỉnh Kon Tum có chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Về chủ trương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có Quyết định số 5940/QĐ-BNN-TCLN ngày 5/4/2016 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển cây Mắc ca vùng Tây Bắc và Tây nguyên đến năm 2020, tiềm năng phát triển đến năm 2030; trong đó tỉnh Kon Tum có 290 ha. Huyện Kon Plông có điều kiện lập địa, khí hậu phù hợp.

Mặc khác, khu vực dự kiến trồng cây Mắc ca là diện tích rừng thông trồng sinh trưởng kém, không có hiệu quả kinh tế. Diện tích trên ngoài vùng quy hoạch du lịch. Do đó, UBND tỉnh Kon Tum đã có chủ trương chuyển đổi diện tích thông trồng trên sang phát triển các loại cây trồng khác mang lại hiệu quả kinh tế cao; trong đó có cây Mắc ca nhằm tái cơ cấu và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp của địa phương.

Đối với diện tích chuyển đổi hơn 187 ha rừng sản xuất trồng thông tại xã Đăk Long huyện Kon Plông sang trồng Mắc ca (có báo cáo đánh giá tác động môi trường) đây là diện tích rừng thông đã đến tuổi khai thác nhưng sinh trưởng phát triển kém. Theo đó, sản lượng bình quân của rừng thông trồng là 50 m3/ha, trong khi đó với rừng thông trồng nguyên liệu giấy ở tuổi 16 đã đạt sinh khối là 140 m3/ha.

Theo ông Nguyễn Công Bắc - Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Plông, đơn vị giao đất cho biết, trước khi giao đất, đơn vị đã đánh giá hiện trạng rừng. Diện tích trên, trước trồng bình quân 1.600 cây/ha, sau chết dần. Toàn bộ gần 200 ha nhưng chỉ trồng được hơn 90 ha. Rừng này cũng đã được tỉa thưa.

Trước thắc mắc của các phóng viên về hệ lụy của việc phá rừng thông để sang trồng cây Mắc ca ông Hải khẳng định, diện tích trồng cây Mắc ca, đây cũng là cây lâm nghiệp, tạo cảnh quan. Việc trồng Mắc ca hay cây ăn trái ảnh hưởng ít đến môi trường. Sở Nông nghiệp là cơ quan khuyến cáo trồng khảo nghiệm trước khi trồng đại trà, doanh nghiệp trồng hay không tùy, doanh nghiệp chịu trách nhiệm toàn bộ việc đầu tư của dự án.

Ngoài ra, ông Hải cho biết, trong quá trình triển khai, cơ quan chuyên môn cũng sẽ theo sát dự án. Nếu sau 1 năm không triển khai thì dự án sẽ thu hồi. Đây là rừng trồng đến kỳ khai thác nếu không chuyển cũng khai thác và trồng lại rừng.

“Việc khai thác rừng thông trồng kém hiệu quả để trồng một số loại cây nông nghiệp có giá trị kinh tế cao là phù hợp với định hướng phát triển của Chính phủ; định hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh cũng như quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010-2020 của huyện Kon Plông. Hiện nay diện tích chuyển đổi có nhiều kiểu địa hình khác nhau, đối với diện tích có độ dốc cao, không thể trồng cây công nghiệp được có thể trồng xen kẻ rừng sản xuất hoặc cây gỗ lớn” ông Hải khẳng định.

Trước đó, trong tháng 8, TTXVN và nhiều cơ quan báo chí khác đã có bài phản ánh về việc tỉnh Kon Tum chuyển đổi rừng sản xuất (trồng thông) sang cây Mắc ca và các loại cây ăn quả khác tạo nhiều dư luận trái chiều. (Thanh Niên 01/9, tr14; TTXVN/Bnews.vn 31/8; Tamnhin.net.vn 31/8) Về đầu trang

Đắk Lắk hiện thực hóa "Dự án khẩn cấp bảo tồn voi"

Trên tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với công tác bảo tồn voi, HĐND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Nghị quyết số 78/2012/NQ-HĐND ngày 21/12/2012 quy định về bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk với 6 chính sách quan trọng gồm: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực bảo tồn Voi; Quy hoạch đất đai tạo nơi chăn thả voi nhà; Chăm sóc sức khoẻ, bảo tồn và phát triển đàn voi nhà; Hỗ trợ voi nhà sinh sản; Bảo tồn sinh cảnh nơi cư trú, sinh sống của voi hoang dã; Hạn chế xung đột giữa voi với người.

Trong những năm 1980, đàn voi hoang dã tại Đắk Lắk có trên 550 cá thể, thì nay chỉ còn khoảng 60-80 con. Những năm gần đây, voi hoang dã xung đột với con người với tần xuất năm sau nhiều hơn năm trước. Từ tháng 6/2012 đến nay, đã có hơn 100 đợt voi hoang dã di chuyển đến những khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp của nhân dân và các doanh nghiệp kiếm ăn, phá hoại làm thiệt hại hàng trăm ha cây trồng như chuối, mỳ, cao su, bắp, lúa... phá chòi canh rẫy trên địa bàn các huyện Buôn Đôn, EaSúp, Cư Mgar và Ea H’leo. Đã có trường hợp voi tấn công làm chết và bi thương con người như: năm 2011 voi sát hại 1 người thuộc huyện Ea H’leo, năm 2012 voi sát hại 1 người ở huyện EaSúp, và 01 người bị gãy chân  vào năm 2016.

Trao đổi với chúng tôi, Ông Huỳnh Trung Luân giám đốc trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk cho biết: Nguyên nhân dẫn đến tình trạng voi hoang dã xung đột với người được xác định là do con người tác động quá mức đến rừng nguyên sinh trong quá trình khai thác lâm sản cùng với việc chuyển đổi rừng sang trồng cây nông nghiệp, cây công nghiệp đã làm cho môi trường sống của voi hoang dã ngày càng thu hẹp, nguồn thức ăn bị khan hiếm dần, nhất là vào mùa khô. Từ đó, voi rừng đã thường xuyên đến nương rẫy nơi có nhiều thức ăn “để giải quyết cái đói” dẫn đến xung đột với người cũng là bất khả kháng.

Ông Huỳnh Trung Luân cho biết thêm: Nguyên nhân đàn voi rừng giảm mạnh là có tình trạng bị săn bắn trộm để lấy ngà, như năm 2012 đã có 3 cá thể voi rừng bị sát hại bằng súng đạn. Một nguyên nhân nữa là do biến đổi khí hậu, mùa khô nguồn nước từ các sông suối khô cạn đã làm nhiều voi con chết trong lúc theo mẹ đi kiếm ăn, tìm nước uống. Trong hơn một năm qua, đã có đến 5 cá thể voi rừng con hoang dã bị chết trong đó có 3 voi con sa xuống hồ nước. Từ năm 2009 đến nay đã thống kê được 22 cá thể voi rừng bị chết.

Vào những năm 1980 toàn tỉnh Đắk Lắk có khoảng 502 cá thể voi nhà, thì nay chỉ còn 44 cá thể. Voi nhà tập trung ở 2 huyện Buôn Đôn và huyện Lắk chủ yếu sử dụng vào mục đích phục vụ khách du lịch và tham gia các lễ hội văn hóa truyền thống của địa phương. Cỡi voi lội sông, thăm rừng là một sản phẩm du lịch đặc sắc của Đắk Lắk mà du khách trong và ngoài tỉnh đến Khu du lịch Bản Đôn, huyện Buôn Đôn và điểm du lịch Hồ Lắk, huyện Lắk đều muốn được cõi voi.

Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk nhận định: Đặc tính của voi là ăn nhiều loại cây trong rừng, nhưng hiện nay diện tích rừng tự nhiên để chăn thả voi nhà ngày càng bị thu hẹp và cách khá xa vùng nuôi voi nhà. Vì vậy chế độ ăn hàng ngày cho voi không được đảm bảo về dinh dưỡng, hơn nữa voi nhà phải thường xuyên phục vụ khách du lịch đã làm giảm tuổi thọ, khả năng sinh sản của voi. Hơn nữa mô hình quản lý voi hiện nay là độc lập theo từng tổ chức, hộ gia đình để phục vụ khai thác du lịch thường xuyên, nên voi nhà không có cơ hội gặp gỡ, giao phối để đi đến sinh sản. Ghi nhận trong 30 năm qua, voi nhà tại Đắk Lắk đã không sinh sản, trong khi số lượng voi đang giảm dần qua các năm.

Triển khai Nghị quyết 78 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Đắk Lắk về bảo tồn voi đã hiện thực hóa “Dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020. Mục tiêu tiêu là: Bảo tồn, phát triển bền vững quần thể voi hoang dã và voi nhà; khôi phục, bảo vệ nguồn gen động vật, thực vật nguy cấp quý hếm và đa dạng sinh học trong vùng sinh cảnh voi; ngăn chặn, phong ngừa hiệu quả xung đột voi với người; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật, kiểm soát các hoạt động buôn bán vận chuyển trái phép ngà voi và dẫn xuất của voi, góp phần bảo tồn các quần thể voi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”.

Ông Huỳnh Trung Luân chia sẻ: Từ những chính sách đề ra đã giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách trong công tác bảo tồn voi, đó là kiểm soát được quần thể voi hoang dã, thực hiện các giải pháp làm giảm thiểu xung đột voi với người, thành lập các tổ chức bảo vệ voi, hỗ trợ thiệt hại cho người dân khi bị voi phá, tấn công.

Hiện nay, trung tâm bảo tồn voi đã được cấp 200ha đất rừng nguyên sinh tại xã Krông Na, huyện Buôn Đôn làm sinh cảnh để bảo tồn voi. Trong năm 2015, 2016 trung tâm đã cứu hộ được hai cá thể voi rừng bị trúng bẩy và voi rừng con bị lạc đàn. Hiện nay, hai cá thể này đang được chăm sóc và phát triển tốt tại trung tâm và sẽ từng bước đưa trở lại thiên nhiên trong khu vực 200ha rừng nguyên sinh. Đây là vùng bán hoang dã để 2 các thể voi hoang dã sinh sống nhưng cũng là vùng để làm nơi chăn thả voi nhà tạo điều kiện cho voi nhà gập gỡ, giao phối để sinh sản.

Đối với voi nhà, hàng năm voi được khám chữa bênh định kỳ, nhà nước hỗ trợ 100% tiền khám chữa bệnh và thuốc chữa bệnh cho voi.

Trong năm 2015, Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk đã thực hiện thành công việc tạo sinh cảnh để voi nhà của hộ ông Y Mứ Bkrông chủ voi cái Bang Nang giao phối mang thai được hơn 20 tháng dự kiến sinh vào cuối tháng 9/2017. Đây là tín hiệu vui đối với Tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung sau 30 năm voi nhà không thấy sinh sản. Voi nhà manh thai chủ hộ Y Mứ Bkrông đã được trao kinh phí 171 triệu đồng bù cho việc voi đi phục vụ du lịch để chủ voi yên tâm chăm sóc voi Bang Nang đến khi sinh voi con nuôi lớn thành công.

Cùng thời điểm này có 5 cặp voi nhà thả trong rừng tự nhiên để giao phối. Trong quá trình theo dõi cho thấy các cặp voi rất thân thiện bên nhau và thực hiện các hành vi giao phối. Công trình nghiên cứu khoa học cấp tỉnh về khả năng sinh sản trên voi thuần dưỡng tại Đắk Lắk đang mở ra triển vọng mới cho việc bảo tồn voi nhà.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong bảo tồn voi hiện nay là quần thể voi hoang dã tuy đã được giám sát nhưng số lượng còn khoảng 60-80 cá thể và sinh cảnh sống tự nhiên suy giảm, chia cắt đang ảnh hưởng rất lớn cho phát triển bền vững.

Trong khi đó, voi nhà có 44 con (25 voi cái và 19 voi đực) chỉ còn là 25 con gồm 16 voi cái và 19 voi đực trong độ tuổi sinh sản. Nhưng để voi gặp gỡ giao phối mang thai có hiệu quả cao thì vẫn cần sự đầu tư mạnh mẽ hơn nữa để sự phối hợp giữa chủ voi và Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk trong việc chăm sóc sức khỏe cho voi, xác định thời điểm voi cái động dục đưa vào rừng thả để gặp gỡ giao phối là vấn đề mấu chốt để ngày càng có nhiều những voi mẹ sinh sản như voi Bang Nang. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 31/8) Về đầu trang

Lấy ý kiến tham gia Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi

Sáng 31/8/2017, Đoàn ĐBQH khóa XIV của tỉnh tổ chức hội nghị lấy ý kiến tham gia Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) sửa đổi. Đồng chí Trần Văn Tiến, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XIV của tỉnh chủ trì hội nghị.

Dự thảo Luật BV&PTR sửa đổi có 12 chương và 111 điều. Tại hội nghị, các đại biểu nhất trí với tính cần thiết của việc ban hành luật và thảo luận, tham gia góp ý vào các nội dung chính như: Thống nhất tên gọi là Luật Lâm nghiệp thay cho Luật BV&PTR; phạm vi điều chỉnh của luật đã mở rộng hơn so với luật hiện hành và kết cấu, nội dung được thiết kế theo hướng điều chỉnh toàn bộ các hoạt động theo chuỗi giá trị lâm nghiệp; một số khái niệm như: “rừng”, “lâm nghiệp”, “lâm sản”, “ quyền sử dụng rừng”, “rừng phòng hộ”, “cộng đồng dân cư”... cần được tiếp tục rà soát và làm rõ hơn; về nguyên tắc hoạt động của lâm nghiệp cần phải đưa ra những nguyên tắc khái quát, tập trung hơn; chính sách Nhà nước về lâm nghiệp chưa tập trung; về phân loại rừng cần căn cứ vào mục đích sử dụng rừng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư nguồn lực, tổ chức bộ máy, quy định chế độ quản lý, bảo vệ, khai thác đối với từng loại rừng. Trong dự thảo luật có phân 7 loại chủ rừng nhưng trong cách giải thích các loại chủ rừng chưa có sự gắn kết với nhau, cần phải thể hiện chủ rừng thống nhất chặt chẽ với các điều khoản quy định khác trong luật. Những hành vi bị cấm được quy định tại điều 9 cần nghiên cứu để phù hợp với các luật đã ban hành trước đó; nghiên cứu sự phù hợp giữa giao rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng rừng để đảm bảo tính khả thi cao, không bị vướng mắc, chồng chéo với các luật khác, nhất là Luật Đất đai...

Kết luận hội nghị, đồng chí Trần Văn Tiến, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XIV của tỉnh đánh giá cao những ý kiến đóng góp của các đại biểu tại hội nghị. Đoàn ĐBQH khóa XIV của tỉnh sẽ tiếp thu để tổng hợp, nghiên cứu, xem xét và báo cáo với Quốc hội . (Baovinhphuc.com.vn 31/8) Về đầu trang

Bắc Giang: Biến rừng nghèo thành vàng!

Người làm nghề rừng phải giàu được nhờ rừng, đó là tinh thần mà Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 – 2020 đã đặt ra. Thực tế ở nhiều nơi, trồng rừng đang là con đường làm giàu thực sự.

Thực tiễn mà NNVN ghi nhận ở huyện Sơn Động (tỉnh Bắc Giang) là một ví dụ điển hình.

Khoảng mười năm về trước, Sơn Động từng là một điểm nóng về nạn phá rừng. Sở dĩ tình trạng phá rừng ở Sơn Động lúc ấy rất phức tạp, bởi rừng nghèo kiệt thì bát ngát, nhưng dân lại không có đất để trồng rừng. Rừng lúc đó đại đa số trên danh nghĩa vẫn là rừng tự nhiên, rừng phòng hộ thuộc quản lí của các Ban quản lí rừng. Tiếng là rừng tự nhiên, trông xa có vẻ xanh um, nhưng tới gần chỉ toàn cây bụi, cây gỗ nhỏ còng queo.

Những năm 2007 – 2008, phong trào trồng rừng đã bắt đầu nhen nhóm ở Sơn Động. Một số hộ dân chuyển từ trồng ngô, trồng sắn sang trồng rừng kinh tế (lúc ấy đa số vẫn là bạch đàn) đã bắt đầu cho thu hoạch những vụ đầu tiên có giá trị. Điều đó càng khiến cho cơn khát đất trồng rừng của người dân bùng lên. Người ta ngày đêm ngấm ngầm, lén lút chặt, lấn dần sang các diện tích rừng tự nhiên để lấy đất trồng rừng kinh tế, thậm chí cả ở những diện tích rừng mà nhà nước đã giao cho chính họ để khoanh nuôi bảo vệ.

Trước những nhức nhối này, cuối năm 2009, UBND tỉnh Bắc Giang đã phải có quyết định về việc cho phép chuyển đổi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang rừng sản xuất. Theo đó, đã có khoảng hơn 40 nghìn ha rừng trên toàn tỉnh (bao gồm gần 1.450ha rừng đặc dụng và trên 38 nghìn ha rừng phòng hộ) được phép chuyển từ các Ban quản lí rừng về cho UBND các huyện để giao lại cho người dân sản xuất. Tại huyện Sơn Động, trong giai đoạn từ năm 2008 – 2012, gần 12 nghìn ha rừng phòng hộ do các Ban quản lí rừng và các Cty lâm nghiệp đã được bàn giao về cho UBND huyện quản lí và giao lại cho người dân trồng rừng kinh tế.

Xin chưa phân tích và so sánh sự khác nhau về giá trị bảo hộ và bảo vệ môi trường giữa rừng phòng hộ và rừng kinh tế, tuy nhiên thực tế ở huyện Sơn Động, sau giai đoạn tỉnh Bắc Giang có chủ trương cho phép chuyển đổi một số diện tích rừng phòng hộ sang cho người dân trồng rừng kinh tế, đến nay, bộ mặt về môi trường, đời sống của người dân ở đây đã hoàn toàn thay da đổi thịt.

Không còn cảnh những quả đồi trọc nham nhở như trước đây, dọc quốc lộ 31 ngược lên trung tâm huyện Sơn Động bây giờ, một màu xanh ngút ngàn đã được bao phủ. Chỉ sau 7 – 8 năm gần đây, Sơn Động đã trồng được trên 10 nghìn ha rừng, đưa tổng diện tích rừng trồng toàn huyện lên tới gần 30 nghìn ha (trong tổng số khoảng 65 nghìn ha rừng toàn huyện). Không chỉ đưa màu xanh trở lại cho rừng núi, một ngành kinh tế lâm nghiệp giúp làm giàu cho đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở đây đã hình thành thực thụ.

Hữu Sản có gần 90% là người đồng bào dân tộc Tày, trước đây là xã đặc biệt khó khăn điển hình của huyện Sơn Động. Ông Bế Văn Kính, Chủ tịch UBND xã bảo rằng, ông chỉ nhớ khi lớn lên thì đã thấy những ngọn núi ở Hữu Sản chẳng còn rừng nữa. Chẳng đâu xa, khoảng trước năm 2010, đại đa số đồi núi ở Hữu Sản là đồi trọc, mỗi năm dân chỉ trồng theo kiểu được chăng hay chớ một vụ ngô, sắn, lúa nương…, còn lại thì chỉ có cỏ tranh mới mọc nổi.

Thế nhưng kể từ khi phong trào giao đất để người dân trồng rừng kinh tế mở ra ở nhiều xã lân cận, Hữu Sản theo đó đã có bước đổi thay ngoạn mục. Chỉ trong vòng 5 – 7 năm trở lại đây, hơn 95% diện tích đất lâm nghiệp toàn xã đã phủ một màu xanh bạt ngàn, trong đó chủ yếu là rừng trồng kinh tế với cây keo lai là đối tượng cây lâm nghiệp chủ lực. Với chu kỳ trồng cây keo lai chỉ khoảng 5 năm, từ năm 2016 đến nay, một số diện tích rừng trồng của các hộ dân đã cho thu hoạch lần đầu.

Trồng rừng đang là con đường làm giàu hiện hữu cho người dân ở huyện Sơn Động

Anh Lê Văn Bộ ở thôn Dần 1 (xã Hữu Sản) bảo rằng, nếu không có trồng rừng, ngôi nhà khang trang với tổng chi phí gần 200 triệu đồng như bây giờ có lẽ chỉ mãi là ước mơ. Gia đình anh trước đây là hộ nghèo có tiếng trong xã, trước năm 2012 còn ở nhà tranh, vách đất. Nhà có 5 miệng ăn chỉ trông chờ vào 2 sào lúa nên chẳng cần kể lể cũng biết cơ cực thế nào.

Sau ngày Lâm trường Sơn Động giải thể, gia đình anh được xã bàn giao gần 3ha đất rừng (trước đây là rừng nghèo, chỉ có nứa và thông) để chuyển mục đích sử dụng sang trồng rừng SX. Chu kỳ đầu tiên được anh trồng từ năm 2007 nhờ có nguồn giống keo lai hỗ trợ của chương trình trồng rừng dành cho các xã nghèo thuộc chương trình 30a của Chính phủ. Sau 5 năm chăm sóc, rừng đã không phụ công người.

Cuối năm 2012, mặc dù giá gỗ lúc ấy còn rất rẻ, tuy nhiên với hơn 3ha ban đầu, đã giúp gia đình anh có trong tay hơn 100 triệu đồng để xây nhà. Ngày cầm trên tay khoản tiền bán rừng, vợ chồng anh mừng phát khóc. Khóc vì chưa bao giờ có tiền nhiều đến thế. Thấy trồng rừng có tiền, anh tiếp tục mượn thêm đất để mở rộng trồng keo lai. Cuối năm 2016, lứa keo lai thứ hai gần 5ha đã cho thu hoạch, trừ tất cả chi phí lãi gần 200 triệu đồng. Số tiền này không chỉ giúp anh trả hết cho món nợ xây nhà, mà còn dư giả để mua sắm tivi, tủ lạnh, xe máy xịn…

Hộ anh Bộ chỉ là một ví dụ cho sự đổi thay của trên 500 hộ đồng bào dân tộc thiểu nhờ trồng rừng ở Hữu Sản. Với diện tích trung bình từ 2 ha/hộ trở lên (có hộ sở hữu 30 – 40ha), mỗi chu kỳ cây keo lai kéo dài từ 4 – 5 năm đã có thể đem lại thu nhập cho bà con nơi đây từ 60 – 70 triệu đồng/ha.

Có cung ắt có cầu, mới đây, đã có 2 doanh nghiệp chế biến dăm gỗ đầu tư dây chuyền chế biến trên địa bàn xã, cùng nhiều cơ sở thu mua, cung ứng giống cây lâm nghiệp. Những quả đồi chỉ 5 – 7 năm trước đây cho không ai nhận, bây giờ có giá trị chuyển nhượng lên tới hàng trăm triệu đồng/ha. Dù chỉ mới ở những giai đoạn đầu tiên, nhưng rừng ở Hữu Sản nói riêng cũng như hàng loạt xã khác ở Sơn Động đã thực sự đẻ ra vàng. Bóng dáng của một ngành kinh tế lâm nghiệp hàng hóa đang hừng hực chuyển mình từng ngày ở đây. (Thiennhien.net 31/8) Về đầu trang

Thanh Hóa: Cải tạo 2.592 ha rừng nghèo kiệt

Từ năm 2013 đến nay, tỉnh đã phê duyệt 2.592,41 ha rừng nghèo kiệt để chuyển sang trồng lại rừng và cao su. Trong đó, cải tạo để trồng lại rừng 1.835,53 ha, chuyển sang trồng cao su 756,88 ha.

Qua 4 năm thực hiện, các chủ rừng Nhà nước và hộ gia đình, cá nhân được giao rừng đã cải tạo, trồng lại được 1.835,53 ha rừng, hoàn thành 100% diện tích được phê duyệt. Đồng thời, trồng mới được 600,8 ha cao su, còn lại 156,08 ha các chủ rừng Nhà nước và hộ gia đình, cá nhân không trồng cao su mà trồng rừng kinh tế. Trong quá trình triển khai cải tạo rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao và cây cao su được các địa phương, đơn vị thực hiện đúng theo quy định. Bên cạnh đó, các chủ rừng được phép cải tạo rừng đã thực hiện đầu tư trồng lại rừng theo hướng thâm canh, có chăm sóc, bón phân. Vì vậy, sau 4 năm diện tích rừng và cao su được trồng sinh trưởng nhanh. Riêng diện tích rừng trồng lại phần lớn cây lấy gỗ có đường kính từ 10 đến 12 cm, chiều cao khoảng 8 m, trữ lượng gỗ khoảng 45m3/ha. Thông qua việc cải tạo rừng nghèo kiệt đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thay đổi phương thức trồng rừng theo hướng bền vững nâng cao giá trị kinh tế. (Báo Thanh Hóa Online 31/8) Về đầu trang

Bình Định: Dùng cưa máy phá sạch hơn 5.000 m2 rừng phòng hộ

Qua tuần tra, lực lượng kiểm lâm huyện Vân Canh phát hiện một số đối tượng dùng cưa máy triệt hạ rừng phòng hộ với diện tích lớn.

Ngày 30/8, ông Phạm Văn Lộc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh (Bình Định), cho biết qua tuần tra, truy quét, lực lượng Ban quản lý rừng phòng hộ và lực lượng Hạt Kiểm lâm huyện vừa phát hiện một số đối tượng vác máy cưa, rựa vào khoảnh 3, tiểu khu 357B, xã Canh Thuận (huyện Vân Canh) để cưa, chặt hạ cây rừng trong rừng phòng hộ.

Theo ông Lộc, qua kiểm tra đo đạc ban đầu, lực lượng chức năng xác định đã có 5.200 m2 rừng phòng hộ trạng thái TXP (lá rộng thường xanh) với nhiều cây gỗ lớn có đường kính 15-35 cm bị cưa hạ; khoảng hơn 3,5 ha đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ trạng thái DT2 (đất trống nhưng có cây bụi, dây leo) cũng bị phát trắng.

Hiện nay, cơ quan chức năng xác định người đứng ra thuê người và trục tiếp giám sát hiện trường là ông Trần Văn Lợi (52 tuổi, trú làng Hiệp Hà, thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, Bình Định).

“Do đây là vụ phá rừng trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, nên Hạt đã phối hợp với ngành chức năng huyện Vân Canh làm văn bản đề nghị Trung tâm quy hoạch Nông nghiệp – Nông thôn tỉnh Bình Định tổ chức giám định thiệt hại về rừng.

Dự kiến, ngày 1/9, công tác này sẽ được thực hiện. Sau đó, Hạt căn cứ vào kết quả giám định sẽ có báo cáo, tham mưu cho cấp có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật”- ông Lộc nói.

Cũng theo ông Lộc thông tin, phần lớn các vụ phá rừng là người đồng bào nên việc xử lý gặp nhiều khó khăn. Sắp tới, cơ quan chức năng sẽ tiến hành củng cố hồ sợ đưa ra khởi tố 2 vụ phá rừng gây hậu quả nghiêm trọng để răn đe. (Phapluat.com 31/8; Dân Trí 31/8; Baovemoitruong.com 31/8) Về đầu trang

Kon Tum: Phá nát cánh rừng biên giới

Cánh rừng cổ thụ thuộc xã Đắk Long, huyện Đắk Glei đã bị lâm tặc đốn hạ hàng trăm cây có đường kính hơn 2 người ôm. Trong khi đó, báo cáo của Hạt kiểm lâm Đắk Glei về Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum, thì việc bảo vệ rừng ở đây có vẻ như đang rất ổn.

Trước khi đến điểm phá rừng, để những lâm tặc có tiếng liều lĩnh ở xã Đắk Long không phát hiện, chúng tôi cải trang thành người đi bẫy gà rừng. Đây là địa bàn giáp với biên giới nước Lào, nơi quy tụ những “ông trùm” lâm tặc tại tỉnh Kon Tum.

Xuất phát từ 6 giờ sáng trên hai xe máy độ chế chuyên dụng của lâm tặc dùng để phá rừng, chúng tôi đi qua cầu treo Đắk Long thuộc khu vực thôn Đắk Tu, xã Đắk Long. Men theo đường mòn dưới chân núi khoảng 4km gặp một dãy núi có độ dốc lớn chắn ngang. Người dẫn đường cho biết, để vượt qua dãy núi này, xe máy độ chế của lâm tặc phải có tời ở phía trước, bánh sau được gắn xích nhằm tạo cho xe khả năng vượt núi hiệu quả nhất. Ở đây, thường mỗi tốp lâm tặc 5 người vào rừng xẻ gỗ. Thành phẩm sẽ có “ông trùm” đến tận chân núi thu mua.

Sau 1 giờ đồng hồ vượt núi, chúng tôi đặt chân đến con suối Đắk Giao, đây chính là điểm rừng bị phá. Con suối này nằm dưới hai dãy núi lớn nên có độ dốc cao, dễ trượt chân lao xuống vách đá, rất nguy hiểm. Ngoài ra, những bẫy lợn rừng đặt khắp nơi, không để ý sẽ bị sập bẫy, cáp cuốn chân treo ngược lên trời. Men theo đường suối, trong diện tích khoảng 1 ha có 40 cây gỗ lớn, đường kính 2 người ôm đã bị cưa. Tiếp tục đi ngược suối Đắk Giao khoảng 3km chúng tôi chứng kiến khoảng 60 cây gỗ lớn đường kính từ 1 đến 2 người ôm bị đốn hạ.

Theo một “thổ địa” nơi đây, để đối phó với địa hình hiểm trở, sau khi cắt hạ cây, lâm tặc sẽ đẩy gỗ xuống lòng suối rồi xẻ thành lóng. Sau đó sử dụng máy tời, cột cáp sắt vào gốc cây lớn trên đỉnh núi rồi kéo gỗ lên. Mỗi máy tời có thể kéo cây gỗ khoảng nửa tấn với khoảng cách 400m. Theo quan sát, những cây gỗ dổi lớn hơn 2 người ôm, lâm tặc chỉ cắt hạ xuống, không lấy về ngay mà đợi khô, khi trọng lượng giảm bớt sẽ cưa ra nhiều lóng để dễ vận chuyển. Những gốc đinh hương có giá trị cao bị cắt hạ và lấy đi luôn, nhiều cây mà chúng tôi chứng kiến còn ứa nhựa đỏ.

Ban đầu, tiếp nhận thông tin và hình ảnh về điểm phá rừng trên, ông Nguyễn Văn Tiến - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum cho rằng rừng thuộc xã Đắk Long không còn gỗ lớn như vậy, mà là gỗ vùng ngoài biên giới. Sau khi Tiền Phong cung cấp định vị cụ thể bằng hình ảnh, ông Tiến cho biết sẽ cử người tiến hành kiểm tra ngay, và hứa thông tin lại cho báo chí.

Theo ông Tiến, rừng tại xã Đắk Long do Ban quản lý rừng Đắk Long, Cty TNHH MTV lâm nghiệp Ngọc Hồi, một kiểm lâm địa bàn quản lý. Ngoài ra, tại đây cũng có 2 đồn biên phòng đóng chân, phía kiểm lâm cũng đã ký quy chế phối hợp. “Thời gian gần đây, Hạt kiểm lâm huyện Đắk Glei báo cáo về Chi cục không thấy rừng tại xã Đắk Long bị tàn phá. Trên địa bàn xã Đắk Long có 2 lối mở nhập khẩu gỗ từ nước bạn về nhưng đã được đóng từ thời điểm 30/7/2017 nên việc trà trộn giữa gỗ nhập khẩu và gỗ khai thác ở trên địa bàn là không có”- Ông Tiến nói. (Tiền Phong 01/9, tr10; Tiền Phong Online 31/8; Baogialai.com.vn 31/8) Về đầu trang

Quảng Ngãi: Hệ lụy từ một khu đất cấp cho nhiều người

Đã hoàn thành thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) nhưng sau mấy năm mòn mỏi chờ nhận GCN, hai hộ dân ở huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) lại “nhận về” một vụ tranh chấp đất vì huyện đã cấp đất cho hộ khác.

Theo phản ánh của ông Nguyễn Thiêm và ông Phan Quốc Vũ (đều trú tại xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ), thực hiện chính sách khuyến khích của Nhà nước, năm 2000, gia đình các ông đến vùng đất Núi Sang, thôn Diên Trường, xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ khai hoang phục hóa. Đến năm 2005, gia đình các ông cùng các lao động được thuê hoàn thành việc khai hoang và trồng keo trên diện tích 40 ha.

Năm 2012, sau khi thu hoạch keo, các ông đã trồng lại loại cây này. Ngày 24/10/2014, hai hộ cùng nộp đơn đăng ký cấp GCN quyền sử dụng đất gửi UBND huyện Đức Phổ. Đơn có xác nhận của UBND xã Phổ Khánh ngày 16/12/2014 và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đức Phổ ngày 18/12/2014 là đủ điều kiện cấp GCN theo Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Kèm theo đơn là đầy đủ bộ hồ sơ, như: trích lục bản đồ địa chính; mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất; tờ khai mốc thời gian sử dụng đất và hồ sơ khác liên quan (có những giấy tờ còn được thực hiện từ năm 2013).

“Ngày 3/4/2015, chúng tôi được UBND xã Phổ Khánh mời lên họp về việc xét duyệt đơn đề nghị cấp GCN lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn. Hội đồng xét duyệt gồm tất cả các ban ngành đoàn thể thôn, xã xác định gia đình chúng tôi đủ điều kiện được cấp GCN, được UBND xã ký, đóng dấu và niêm yết công khai”, ông Thiêm cho biết.

Sau đó, ông Thiêm, ông Vũ thực hiện đúng trình tự và nộp thuế trước bạ; thậm chí còn nhìn thấy phôi GCN được Văn phòng ĐKĐĐ Quảng Ngãi, chi nhánh huyện Đức Phổ in ra (GCN quyền sử dụng đất số BY 261626, vào sổ số CH01260 và GCN quyền sử dụng đất số BY 261625, vào sổ số CH01261). Tuy nhiên, đến nay không hiểu sao hai ông vẫn chưa nhận được GCN của mình.

Gia đình ông Thiêm, ông Vũ tiếp tục trồng trọt, quản lý và khai thác rừng keo trên diện tích nói trên. Nhưng đến ngày 24/3/2017, có khoảng 30 người đến chặt phá cây keo. Dù các ông đã ngăn cản nhưng việc chặt phá cây đã kéo dài đến ngày 1/6/2017 (diện tích khoảng 6ha, thiệt hại khoảng 600 triệu đồng). “Nhóm người chặt phá rừng của chúng tôi là do ông Đường Ngọc Cảnh và bà Nguyễn Thị Thừa (trú tại xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ) điều động đến. Khi đó, họ đưa ra lý do là có GCN do UBND huyện Đức Phổ cấp từ ngày 6/1/2014”, ông Thiêm cho biết thêm.

Sau khi sự việc xảy ra, ông Thiêm và ông Vũ đã gửi nhiều đơn thư tố cáo, đồng thời đề nghị cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn và thu hồi GCN đã cấp sai, chồng lấn vào diện tích đất rừng các ông đang quản lý cho hộ gia đình ông Đường Ngọc Cảnh và bà Nguyễn Thị Thừa. “Việc cấp GCN chồng lấn là do UBND huyện Đức Phổ nhưng khi chúng tôi gửi đơn thì cơ quan này đã đùn đẩy trách nhiệm, né tránh và chuyển đơn cho cơ quan khác. Điều này dẫn đến việc tài sản của chúng tôi bị hủy hoại, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của chúng tôi, kéo dài tình trạng tranh chấp, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương” – ông Nguyễn Thiêm bức xúc nói.

Được biết, đến đầu tháng 6/2017, UBND huyện Đức Phổ mới có những động thái đầu tiên nhằm giải quyết tranh chấp. Giữa tháng 7/2017, Chủ tịch UBND huyện Đức Phổ- ông Trần Em đã quyết định thành lập Tổ kiểm tra, rà soát hồ sơ cấp GCN lâm nghiệp đối với hộ bà Nguyễn Thị Thừa và các trường hợp khác có liên quan đến vụ tranh chấp giữa hộ ông Thiêm và hộ bà Thừa. Cùng với Tổ kiểm tra của huyện Đức Phổ rà soát hồ sơ cấp GCN thì hiện Ban Nội chính Tỉnh ủy Quảng Ngãi cũng đã vào cuộc xem xét khiếu nại của người dân. (Công Lý 01/9, tr8+9; Công Lý Online 01/9) Về đầu trang

Yên Bái thu 63,1 tỷ dịch vụ môi trường rừng

Tổng diện tích rừng của tỉnh Yên Bái sau kiểm kê là 523.275,2 ha, chiếm 75,9% diện tích tự nhiên...

Trên hệ thống đầu nguồn của sông Hồng, sông Đà, sông Chảy nơi có nhiều công trình thủy điện lớn của quốc gia đã thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng…

Rừng đầu nguồn ngòi Thia, nơi dự trữ nước cho nhà máy thủy điện Văn Chấn

Hiện có 17 Cty TNHH và Cty CP khai thác nguồn nước trên hệ thống sông, suối chảy qua tỉnh Yên Bái để chạy máy thủy điện, cung cấp nước sạch và nuôi trồng thủy sản. Trong đó có 13 Cty thủy điện khai thác 25 nhà máy thủy điện, 4 Cty cung cấp nước sạch và nuôi trồng thủy sản.

 Những nhà máy thủy điện có công suất lớn: Thác Bà, Hòa Bình, Sơn La, Huội Quảng, Văn Chấn… Tổng số tiền mà các DN phải chi trả dịch vụ môi trường rừng là 63,119 tỷ, với giá 20đ/kW/h, nếu theo QĐ số 1225/QĐ-UBND tỉnh Yên Bái ngày 3/7/2017 với giá 36đ/kW/h thì số tiền phải thu là 79,022 tỷ. Tuy nhiên, do Bộ Tài chính chưa điều chỉnh giá điện nên số tiền dịch vụ môi trường rừng các nhà máy thủy điện phải nộp cho tỉnh Yên Bái là 63,119 tỷ.

Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng tỉnh Yên Bái, tính đến ngày 28/8/2017 số tiền đã thu 24,12 tỷ, trong đó Quỹ môi trường rừng TW đã trả 17 tỷ, các nhà máy thủy điện nội tỉnh là 6,6 tỷ. Một số Cty nợ tiền dịch vụ môi trường rừng: Cty TNHH Thanh Bình, Cty TNHH thủy điện Nậm Tục, Cty CP thủy điện Mường Kim, Cty TNHH Xuân Thiện, Cty CP Đầu tư và Phát triển điện Yên Bái đến giữa quý II/2017 đã trả hết số nợ 1,522 tỷ. (Mtnt.hoinongdan.org.vn 31/8; Nông Nghiệp Việt Nam Online 31/8) Về đầu trang

TH làm kinh tế kết hợp bảo vệ hệ sinh thái rừng

Tiếp nối thành công của Dự án sữa tươi sạch TH true MILK, Tập đoàn TH tiếp tục sứ mệnh vì tầm vóc Việt, vì sức khỏe cộng đồng bằng các dự án bảo tồn, phát triển và khai thác bền vững nguồn dược liệu bản địa của Việt Nam.

Theo bà Thái Hương - Chủ tịch Tập đoàn TH, thị trường dược liệu trên thế giới ước đạt giá trị 120 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 8 - 10%. Lối sống lành mạnh, phòng bệnh hơn chữa bệnh đã trở thành xu hướng toàn cầu. Với phương châm một đồng phòng bệnh bằng vạn đồng chữa bệnh, nhu cầu sử dụng các thực phẩm chức năng, đặc biệt là các sản phẩm được chiết xuất hoàn toàn từ thiên nhiên để hỗ trợ sức khoẻ trên toàn thế giới ngày càng tăng. Tuy nhiên, thực tế thì ngược lại, trên thế giới đang sử dụng 80% các sản phẩm là chế phẩm hoá tổng hợp, chỉ có 20% là các sản phẩm từ thảo dược.

Việt Nam có nguồn tài nguyên động, thực vật đa dạng, được xếp hạng đa dạng sinh học thứ 16 trong số 25 nước có đa dạng sinh học nhất trên thế giới. Về dược liệu, Việt Nam cũng là 1 trong 15 nước trên thế giới có trong bản đồ dược liệu từ xa xưa bởi có nguồn tài nguyên động, thực vật đa dạng với nhiều loại cây thuốc đặc hữu có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao và có nền y học cổ truyền lâu đời. Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên và rừng Việt Nam đã bị cạn kiệt do người dân tàn phá rừng, khai thác tận thu các cây thuốc quý để xuất khẩu thô với giá rẻ mạt sau đó lại nhập bã dược liệu đã bị chiết xuất hết hoạt chất không còn tác dụng chữa bệnh hoặc các chế phẩm hoá tổng hợp về sử dụng. Khi nhiên nhiên cạn kiệt, người dân lại rơi vào vòng luẩn quẩn đói nghèo...

Cũng theo bà Thái Hương, nhằm thay đổi những thói quen và thực trạng phát triển dược liệu như trên, Tập đoàn TH đã và đang khai thác triển khai dự án trồng dược liệu và thảo dược trên toàn quốc với diện tích trên 15.000 ha. Với định hướng chiến lược và tầm nhìn sâu rộng, TH sẽ góp phần tạo dựng lưu giữ hệ sinh thái rừng và làm kinh tế dưới tán rừng theo 2 phương cách: Thu hái thảo dược hữu cơ tự nhiên và trồng các thảo dược theo hướng hữu cơ dưới tán rừng, làm kinh tế rừng... TH hướng tới lập bản đồ dược liệu ở vùng Tây Bắc (Sơn La, Hà Giang, Lai Châu) và Tây Nguyên (Dak Lak, Lâm Đồng). Hoạt động thu hái những thảo dược từ thiên nhiên và trồng rừng hữu cơ dưới tán rừng cũng sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo cho người dân vùng đệm quanh rừng, bảo vệ môi trường nơi cung cấp nguồn nước sạch và hệ sinh thái cho cả cộng đồng. Cùng với đó, Tập đoàn TH đã cho ra dòng sản phẩm TH true Herbal là dòng thực phẩm chức năng, nước uống thảo dược thiên nhiên với khởi phát đầu tiên là quả gấc và các sản phẩm chiết xuất từ quả gấc và những nhóm thảo dược dân dã khác có tác dụng hỗ trợ và bảo vệ sức khoẻ con người.

Theo PGS.TS. Trần Thị Hồng Phương - Cục Quản lý Y dược cổ truyền - Bộ Y tế, hiện nay không chỉ Việt Nam mà trên thế giới, với xu hướng "trở về thiên nhiên", việc sử dụng các thuốc từ dược liệu của người dân ngày càng gia tăng, ít có những tác động có hại và phù hợp với quy luật sinh lý của cơ thể hơn.

Còn Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cũng nhấn mạnh, nền y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử lâu đời, từ xa xưa đã lưu truyền nhiều bài thuốc, cây thuốc để bảo vệ sức khoẻ con người. Tuy nhiên, nhiều dược liệu quý chưa được quy hoạch, khai thác chế biến còn thô sơ, lãng phí. Các nghiên cứu về dược liệu ở ta còn chưa theo kịp các nước trong khu vực. Theo đó, đề án phát triển ngành dược đến 2030 của ngành Y tế là phát triển bền vững, đầu tư bảo tồn, xã hội hoá nguồn nguyên liệu. Sử dụng dược liệu vừa làm tân dược, vừa làm y học cổ truyền, thực phẩm chức năng, thực phẩm và cân bằng phát triển kinh tế. Tập đoàn TH đã nắm bắt được xu hướng của thế giới, cũng như định hướng của ngành Dược Việt Nam nhằm phát triển, sử dụng dược liệu không chỉ cho y học mà còn cho thực phẩm, mỹ phẩm và hương liệu. TH đã kết hợp trồng rừng với phát triển nguồn lược liệu. Bộ Y tế ủng hộ TH khi đi vào sản xuất các sản phẩm, thực phẩm từ dược liệu. Cùng với đó, cũng khuyến khích tất cả các doanh nghiệp trong nước, ngoài nước ưu tiên cho phát triển nguồn dược liệu trong nước.

Bà Thái Hương chia sẻ thêm, một quốc gia chỉ vững mạnh khi con người được phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ, trong đó yếu tố tiên quyết cho sự phát triển này là nguồn dinh dưỡng thiết yếu như lúa gạo thực phẩm và các sản phẩm sữa, một chế độ chăm sóc bảo vệ sức khỏe bền vững. Những năm qua, những dự án đầu tư của tập đoàn TH theo hướng công nghệ cao và công nghệ sinh học, đã đạt nhiều thành tựu to lớn. Với tư duy hành động Nghiêm túc – Chân chính - Kiêu hãnh và chiến lược sử dụng Trí tuệ Việt, Tài nguyên Thiên nhiên Việt và Công nghệ đầu cuối của thế giới, trong tương lai không xa, các sản phẩm nước uống thảo dược TH true Herbal sẽ trở thành niềm tự hào của hàng Việt Nam trong lòng người tiêu dung. (Thời Báo Tài Chính Việt Nam Online 31/8) Về đầu trang

Phú Thọ: Khai thác tiềm năng đất rừng Phúc Lai

Mấy năm trở lại đây, đời sống của bà con xã Phúc Lai, huyện Đoan Hùng đã có bước chuyển tích cực nhờ phát huy lợi thế của địa phương trong sản xuất. Tuy nhiên, người dân chưa khai thác hết thế mạnh từ rừng, diện tích trồng rừng và đầu tư vào rừng còn chưa tương xứng.

Xác định được điều đó, Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2015-2020 đã ra Nghị quyết tập trung lãnh đạo, nâng cao năng suất, chất lượng cây lâm nghiệp, cây chè, cây bưởi Đoan Hùng, phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, trở thành sản phẩm mũi nhọn của địa phương. Để thực hiện tốt chỉ tiêu trồng rừng, hàng năm, xã tập trung rà soát, hướng dẫn bà con đăng ký diện tích rừng trồng mới. Trước mỗi vụ trồng rừng, xã phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức tập huấn, chăm sóc, vận động người dân phát dọn thực bì, chuẩn bị tốt cây giống, phân bón để trồng rừng đạt hiệu quả cao.

Hàng năm, diện tích rừng trồng mới ngày càng tăng, năm 2016, xã đã trồng mới 80ha cây lâm nghiệp, trong đó có trên 45ha dự án phát triển cây lâm nghiệp, trồng 1.600 cây phân tán; cải tạo, trồng mới 10ha chè và gần 14ha trồng bưởi. Đến nay toàn xã đã có 50ha cây lâm nghiệp cho khai thác với sản lượng gỗ đạt gần 2.500m3; 140ha chè cho thu hoạch, sản lượng đạt trên 1.800 tấn búp tươi.

Vài năm trở lại đây, cây bưởi đã mang về lợi nhuận cho người dân trồng bưởi ước từ vài chục triệu đến trăm triệu đồng/năm. Hiện nay, toàn xã có 40ha diện tích bưởi thu hoạch, giá trị đạt khoảng 1,5 tỷ đồng. Nguồn thu từ rừng, chè và  cây ăn quả đã giúp đời sống người dân cải thiện đáng kể, mức thu nhập bình quân đạt gần 18 triệu đồng/người/năm. Đây là nguồn nội lực tốt để bà con cùng Nhà nước thực hiện các tiêu chí về hạ tầng trong xây dựng nông thôn mới, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

Đến thăm mô hình vườn, rừng, chuồng của anh Khương Văn Duy và Trần Quang Thượng khu 5 mới thấy được đồi rừng đã mang đến sự thay đổi cho gia đình các anh. Anh Thượng cho biết: “Gia đình tôi đã kết hợp thành công việc nuôi gà thương phẩm với trồng các loại cây như keo, mỡ… vừa giúp tăng thu nhập cho gia đình vừa góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc. Mỗi năm tôi thu về 80 triệu đồng, sau khi đã trừ hết chi phí”. Hiện gia đình anh có 2ha chè, gần 3ha rừng cây lâm nghiệp.

Cũng như nhiều địa phương khác, Phúc Lai vẫn còn nhiều khó khăn trong việc nâng cao giá trị từ rừng. Do trồng rừng sản xuất có chu kỳ 7 năm, chế biến thô sơ nên giá trị sản phẩm mới chỉ đạt 80 đến 100 triệu đồng/ha. Người dân vẫn chủ yếu chọn cây keo để trồng rừng là chính, sau đó khai thác trắng rừng gây nguy cơ xói mòn, giảm dinh dưỡng trong đất. Đồng chí Lê Đức Thiện- Chủ tịch UBND xã Phúc Lai cho biết: Để phát triển kinh tế rừng, thời gian tới, xã tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để người dân đa dạng cơ cấu giống cây lâm nghiệp, lựa chọn các loại cây có giá trị kinh tế cao, tạo điều kiện nhân rộng các mô hình sản xuất dưới tán rừng, triển khai thực hiện tốt cơ chế, chính sách của Nhà nước cho vay vốn đầu tư sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững; kết hợp hài hòa cả lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường sinh thái. Trồng rừng, bảo vệ rừng đi đôi với khai thác sản phẩm từ rừng, tạo sản phẩm hàng hóa, tăng thu nhập cho người trồng rừng.

Chủ trương đẩy mạnh trồng và chăm sóc rừng ở Phúc Lai đã mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, để có hướng phát triển bền vững, Đảng bộ, chính quyền xã cần phối hợp với các cấp, ngành rà soát, quy hoạch vùng sản xuất tập trung đối với từng loại cây trồng; vận động nhân dân dồn đổi đất, tiến tới phát triển quy mô lớn, thuận tiện cho khai thác, vận chuyển; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân về vai trò, lợi ích và trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Tận dụng đất rừng nghèo để triển khai trồng rừng mới; tăng nhanh diện tích rừng sản xuất; tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài cho cá nhân. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào cây trồng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, rút ngắn chu kỳ kinh doanh, nâng cao giá trị thu nhập, đảm bảo hiệu quả sản xuất, kinh doanh từ nghề rừng. (Baophutho.vn 31/8) Về đầu trang

Quảng Bình: Nâng cao chất lượng rừng, tiến tới nâng tỷ lệ che phủ rừng lên mức 69-70% Tin có hình

Đó là mục tiêu tại Quyết định số 3057/QĐ-UBND ngày 30/8/2017 về việc phê duyệt Quy hoạch Bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Quảng Bình đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2040.

Mục tiêu của Quy hoạch là bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học, sử dụng hợp lý các giá trị đa dạng sinh học; duy trì và phát triển dịch vụ hệ sinh thái, môi trường, cảnh quan đa dạng sinh học, góp phần xóa đói, giảm nghèo; bảo tồn đa dạng sinh học nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác động của biến đổi khí hậu.

Để hoàn thành mục tiêu đề ra, các cấp, các ngành và địa phương tập trung quy hoạch bảo vệ hành lang đa dạng sinh học Khe Nét - Vũ Quang trên địa bàn các xã thuộc huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh) và các xã Thanh Hóa, Hương Hóa thuộc huyện Tuyên Hóa (tỉnh Quảng Bình) với diện tích khoảng 30.000 ha; 04 khu bảo tồn thiên nhiên dãy núi Giăng Màn, Khe Nét, Động Châu - Nước Trong và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng với diện tích khoảng 182.126 ha; 02 khu bảo vệ cảnh quan Núi Thần Đinh (Chùa Non) và Vũng Chùa - Đảo Yến với diện tích khoảng 8.136 ha. Bên cạnh đó, Quy hoạch cũng tập trung thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên trên vùng đất ngập nước tự nhiên, núi đá vôi, vùng đất chưa sử dụng không thuộc hệ sinh thái rừng; đồng thời quy hoạch các nhà bảo tàng thiên nhiên, vườn sưu tập cây thuốc, ngân hàng gen, các vùng được ưu tiên kiểm soát và phòng, chống các loài ngoại lai xâm hại...

Mặt khác, Quy hoạch đã xác định các giải pháp và giao trách nhiệm cụ thể cho các sở, ngành liên quan trong việc tổ chức thực hiện các chương trình, dự án phù hợp với mục tiêu, nội dung của Quy hoạch, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, góp phần vào việc bảo vệ, sử dụng, quản lý an toàn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh. (Quangbinh.gov.vn 31/8) Về đầu trang

Đắk Lắk: Nhiều gia đình vùng sâu làm giàu từ trồng rừng nguyên liệu

Hiện ở huyện M’Đrắk (Đắk Lắk) nhiều gia đình đồng bào dân tộc thiểu số các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo vươn lên làm giàu từ trồng rừng nguyên liệu; đây là địa phương có phong trào trồng rừng tốt nhất ở tỉnh Đắk Lắk.

Huyện M’Đrắk có nhiều diện tích đồi núi trọc, đất đai cằn cỗi gieo trồng các loại cây ngắn ngày mang lại hiệu quả kinh tế thấp. Địa phương vận động đồng bào các dân tộc chuyển phần lớn diện tích đất gò đồi, đồi núi trọc, đất trồng cây ngắn ngày kém hiệu quả sang trồng rừng; đồng thời, huyện tạo điệu kiện giúp đồng bào vay vốn ngân hàng đầu tư phát triển kinh tế rừng.

Các ngành chức năng trên địa bàn huyện phân công cán bộ kỹ thuật  hướng dẫn, giúp đỡ các gia đình chọn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc thâm canh cây rừng để đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao.

Ông Nguyễn Văn Song, Chủ tịch UBND xã vùng sâu Cư K’róa cho biết, địa phương có trên 70% gia đình tham gia phát triển nghề rừng bằng hình thức trồng  rừng với giống keo lai (hộ thấp nhất gần 1 ha nhiều nhất trên 10 ha). Nhờ vậy, hàng trăm gia đình thoát nghèo vươn lên làm giàu.

Gia đình anh Nguyễn Văn Điêu, ở thôn 1 xã Cư K’róa chuyển 8 ha đất nương rẫy sỏi đá, cằn cỗi sang trồng keo lai; trong đó, 3,5 ha đã cho khai thác thu về trên 300 triệu đồng. Anh Nguyễn Văn Điêu cho biết thêm, khi vườn cây đến chu kỳ khai thác, thương lái vào tận vườn đặt mua với giá thỏa thuận, người trồng không phải lo khai thác, vận chuyển …

Bà Mạc Thị Pơ, thôn 1 xã vùng sâu Cư K’róa cho biết, gia đình trồng 3 ha keo lai cấy mô, giống này có ưu điểm vượt trội so với keo giâm hom là kháng tốt sâu bệnh, ít phân cành, sớm cho thu hoạch (từ 4 đến 5 năm, giống keo lai giâm hom phải mất từ 6 - 7 năm mới cho thu hoạch), thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai tại địa phương. Vừa rồi, gia đình bà đã khai thác đợt 1 thu về trên 200 triệu đồng…

Ngoài ra, các gia đình đồng bào dân tộc trên địa bàn huyện M’Đắk liên kết với các doanh nghiệp như Công ty cổ phần tập đoàn Tân Mai, Công ty cổ phần Trồng rừng Trường Thành M’Đắk, Công ty TNHH Tam Phát…trồng rừng nguyên liệu để không những đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các doanh nghiệp, tăng thêm độ che phủ rừng mà còn tăng thu nhập, ổn định đời sống cho đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa trên địa bàn.

Hiện, huyện M’Đắk có tổng diện tích rừng trên 72.897 ha; trong đó, 13.864 ha rừng trồng, diện tích còn lại là rừng tự nhiên. Trong tổng diện tích rừng trồng, rừng trồng của các hộ gia đình có trên 6.000 ha, còn lại là của các doanh nghiệp. Diện tích rừng trồng tập trung chủ yếu ở các xã Ea Trang, Cư K’róa, Cư San, Ea M’doan… (Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 31/8; TTXVN 31/8) Về đầu trang

Lai Châu: Thêm gắn bó với rừng

Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), những năm qua đã tạo động lực để bà con xã Sùng Phài (huyện Tam Đường) thêm gắn bó với rừng. Nhờ rừng, bà con đã nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế VACR, hạn chế các vụ cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép.

Làng Giảng nhiều năm liền được công nhận là bản có thành tích bảo vệ rừng tốt nhất xã. Bản có 25 hộ, 100% đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Ông Thảo A Kỷ - Trưởng bản Làng Giảng, người có thâm niên 9 năm làm trưởng bản chia sẻ: So với 10 năm trước nhận thức của người dân đã thay đổi nhiều, đặc biệt trong công tác bảo vệ rừng. Trước đây, do cuộc sống còn khó khăn đa số bà con tự ý vào rừng chặt cây lấy gỗ, lấy củi, phá rừng làm nương nên cánh rừng của bản ngày càng kiệt quệ. Ngày đó, chính quyền tuyên truyền nhiều nhưng không có sự chuyển biến, vì bà con nghĩ rừng là của chung không phải của riêng nên không cần bảo vệ. Giữa lúc khó khăn đó, năm 2011 xã tiến hành chi trả tiền DVMTR đã tạo động lực để Nhân dân gắn bó với rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng tốt hơn.

Dẫn chúng tôi đi thăm cánh rừng do bản bảo vệ quản lý, nhìn những cánh rừng bạt ngàn màu xanh, ở các đường mòn dẫn lên các khu rừng bà con đều tự làm biển báo, biển cấm xâm hại rừng, thực bì được phát dọn gọn gàng là minh chứng khẳng định bà con trong bản đã biết bảo vệ rừng, gắn bó với rừng. Được biết, bản thành lập tổ chuyên trách bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng thường xuyên tuần tra, canh gác nhất là vào mùa khô. Quản lý chặt chẽ việc phát nương và đốt nương của bà con, khi đốt nương phải thông báo với trưởng bản, canh gác đến khi lửa tắt mới được về, tránh tình trạng lửa cháy lan vào rừng. Nhờ đó, nhiều năm trở lại đây bản không xảy ra tình trạng cháy rừng. Năm 2016, toàn bản có 34,26ha rừng được thanh toán tiền chi trả DVMTR với tổng số tiền 16 triệu đồng.

Tìm hiểu chúng tôi được biết, xã Sùng Phài có 8 bản với 395 hộ. Địa bàn chủ yếu rừng núi cao, độ dốc lớn, giao thông đi lại khó khăn. Một số hộ còn thờ ơ trong việc phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và bảo vệ rừng dẫn đến tình trạng phát nương trái phép, sử dụng lửa và đốt lửa trong, ven rừng không đảm bảo các quy định an toàn về PCCCR. Mùa khô năm 2015 - 2016 trên địa bàn xã xảy ra 1 vụ cháy thảm cỏ tại bản Cư Nhà La. Để nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương, nhận thức, chấp hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Nhân dân, xã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện thường xuyên lồng ghép các buổi tuyên truyền vào những ngày họp bản để vận động, nhắc nhở bà con thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý rừng, bảo vệ rừng. Tổ chức cho 8 bản ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Đồng thời, mỗi bản thành lập 1 tổ chuyên trách bảo vệ rừng. Nhiệm vụ của các tổ là tuyên truyền, thường xuyên tuần tra, canh gác lửa rừng, giáo dục Nhân dân chấp hành tốt Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tham gia huy động, chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra. Nếu hộ nào không tham gia tuần tra rừng, canh gác, chữa cháy rừng hoặc vi phạm hương ước, quy ước bảo vệ rừng của bản lần đầu tiên phạt 100 nghìn đồng đến lần thứ 3 mà vẫn vi phạm sẽ không được tham gia tổ chuyên trách bảo vệ rừng và không được bản chi trả tiền DVMTR.

Trao đổi với chúng tôi, anh Phàng A Sang - Phó Chủ tịch UBND xã Sùng Phài cho biết: “Từ khi triển khai chính sách chi trả DVMTR đã gắn được trách nhiệm của từng người dân đối với công tác bảo vệ, phát triển vốn  rừng. Nếu bản nào chăm sóc, giữ rừng tốt thì được nhận tiền chi trả DVMTR, các chính sách hỗ trợ về lương thực, khai thác nguồn lợi từ rừng. Năm 2016 tổng diện tích rừng của xã được nghiệm thu thanh toán tiền DVMTR 503,33ha, trong đó rừng phòng hộ 383,72ha, rừng sản xuất 119,61ha với tổng số tiền 239 triệu đồng. Giờ đây, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm đáng kể”.

Hiểu được lợi ích từ rừng mang lại, năm nay bà con ở các bản: Sùng Phài, Suối Thầu, Căn Câu, Sin Chải trồng mới 8,5ha rừng, chủ yếu trồng loại cây gỗ lớn như: lát hoa, cây thông, sơn tra. Trong quá trình triển khai trồng rừng, bà con luôn tuân thủ kỹ thuật từ khâu đào hố, trồng, chăm sóc mà cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện hướng dẫn, đảm bảo tỷ lệ cây sống cao.

Việc triển khai thực hiện chi trả DVMTR đã góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái và mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân xã Sùng Phài. (Báo Lai Châu Online 31/8) Về đầu trang