Tổng cục lâm nghiệp - CategoryLayout

CategoryLayout

Điểm báo ngày 30/3/2017

ĐIỂM BÁO

LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 30 tháng 03 năm 2017)

 

Ninh Thuận: Tăng cường phòng, chống cháy rừng mùa khô 2017

Tỉnh Ninh Thuận đang cảnh báo cháy rừng ở cấp độ III; riêng khu vực các huyện Ninh Sơn, Ninh Phước, Bác Ái đang cảnh báo cháy rừng ở cấp IV (cấp nguy hiểm, nguy cơ xảy ra cháy rừng cao), dự báo thời gian tới tăng lên cấp độ V. 

Ở Ninh Thuận, nắng nóng và khô hanh kéo dài khiến nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. UBND tỉnh chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng theo dõi chặt chẽ diễn biến của thời tiết; tăng cường các biện pháp phòng, chống cháy rừng; theo dõi tin báo cháy từ vệ tinh, xác định vị trí đám cháy để kịp thời kiểm tra, dập lửa khi xảy ra sự cố. 

Theo đó, các đơn vị Kiểm lâm, chủ rừng bố trí người trực 24/24 giờ trên các chốt canh lửa, trạm quan sát cháy ngoài thực địa để kịp thời phát hiện đám cháy, thông báo và huy động lực lượng chữa cháy kịp thời. 

Lực lượng Kiểm lâm ở địa bàn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc canh tác nương rẫy của đồng bào trong mùa khô hanh; xử lý thực bì, thu gom cành khô, lá rụng làm giảm vật liệu cháy trong rừng... 

Các đơn vị quản lý rừng thực hiện nghiêm các biện pháp phòng chống, cháy rừng; kiểm tra chặt chẽ không để người và phương tiện ra vào rừng tại những khu vực trong thời kỳ cao điểm về cháy rừng; nghiêm cấm tuyệt đối không được đốt lửa trong và ven rừng. 

Ông Dương Đình Sơn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Thuận cho biết: Tỉnh Ninh Thuận dành hơn 4,1 tỷ đồng để sửa chữa, mua sắm máy bơm nước, vòi tưới chữa cháy, các trang thiết bị, dụng cụ phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô 2017. Bên cạnh đó, các lực lượng chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng... 

Tỉnh Ninh Thuận hiện có trên 202.000 ha rừng, trong đó có khoảng 2/3 diện tích là rừng khộp rụng lá về mùa khô, nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Trong 3 tháng đầu năm 2017, địa bàn tỉnh xảy ra hai vụ cháy rừng nhưng nhờ phát hiện, ngăn chặn kịp thời nên chỉ thiệt hại gần 2.000 m2 rừng tại địa bàn huyện Ninh Sơn và Bác Ái. 

Mùa khô năm 2016 (từ 21/2 - 25/10/2016), Ninh Thuận xảy ra 64 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 24,34 ha rừng tự nhiên. (TTXVN/Tin Tức Online 29/3; VTV1- bản tin thời sự lúc 10 ngày 29/3) Về đầu trang

Chính sách phát triển rừng trồng gỗ lớn: Thách thức và khuyến nghị

Từ năm 2008, Nhà nước đã có chính sách khuyến khích người dân trồng rừng sản xuất gỗ lớn theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg nhằm tăng thu nhập cho người làm nghề rừng, đặc biệt là bà con đồng bào miền núi, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, sinh thái. 

Đến nay, sau gần 10 năm thực hiện, chính sách này vẫn tiếp tục được bổ sung, chỉnh sửa theo hướng tạo điều kiện cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia đầu tư trồng các loài cây sản xuất gỗ lớn. Tuy nhiên, bên cạnh một số thuận lợi và những kết quả đạt được, việc thực thi chính sách cũng đối mặt với không ít khó khăn, bất cập. 

Các mô hình trồng rừng gỗ lớn nhận được nhiều sự ủng hộ từ các nhà quản lý và chuyên gia bởi xét về cả lý thuyết và thực tiễn áp dụng thì rừng gỗ lớn mang lại lợi ích kinh tế cao hơn cho các hộ gia đình, đồng thời giúp bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Về chi phí đầu tư, trồng rừng gỗ lớn cũng có chi phí thấp hơn so với trồng rừng gỗ nhỏ do giai đoạn về sau chủ yếu là chi phí bảo vệ rừng thay vì phải tái đầu tư chi phí giống, công trồng, chăm sóc. Mặt khác, nhu cầu gỗ lớn cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước ngày càng gia tăng nên càng tạo điều kiện, môi trường cho các mô hình trồng rừng gỗ lớn phát triển. 

Dù vậy, các mô hình trồng rừng gỗ lớn vẫn chưa tạo được hiệu quả thực sự do gặp nhiều khó khăn trong khi triển khai. Vướng mắc đầu tiên là vấn đề quy hoạch quỹ đất để trồng rừng sản xuất còn khá hạn chế, manh mún, thậm chí đan xen giữa các chủ rừng nhà nước và hộ gia đình cũng như giữa các loại rừng với nhau. Điểm bất lợi thứ hai là trồng rừng gỗ lớn có chu kỳ kinh doanh dài trong khi thủ tục vay vốn từ các ngân hàng còn khó khăn, thời gian cho vay ngắn, khó tiếp cận, do đó, các doanh nghiệp và hộ gia đình thường trồng rừng gỗ nhỏ để xoay vòng vốn nhanh. Khó khăn tiếp theo là vấn đề cơ sở hạ tầng lâm nghiệp và quản lý giống. Hiện Việt Nam chưa xây dựng được các vùng cung cấp nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến gỗ cũng như hệ thống đường lâm nghiệp và các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho các vùng chuyên canh trồng rừng. 

Vấn đề quản lý giống và quy trình kỹ thuật cũng chưa tốt. Tuy đã có nhiều giống mới được Bộ NN&PTNT công nhận nhưng mới trong giai đoạn khảo nghiệm mà chưa được nhân giống để chuyển giao, cung cấp cho sản xuất quy mô lớn cũng như chưa có giống và nguồn giống phù hợp cho trồng rừng gỗ lớn và trồng rừng gỗ nhỏ theo từng vùng, từng điều kiện lập địa. Dù vậy, điểm đáng quan ngại nhất vẫn là tâm lý các hộ trồng rừng chưa thực sự mong muốn trồng rừng gỗ lớn, các chủ rừng cho rằng trồng rừng gỗ nhỏ (5 – 7 năm) có hiệu quả kinh tế cao hơn do có nguồn thu nhanh hơn, có thể sớm quay vòng đầu tư tiếp thay vì chỉ nhận một lần thu nhập nếu phát triển gỗ lớn. Mặt khác, sức ép về dân số và phát triển kinh tế vùng núi cũng khiến công tác bảo vệ rừng, nhất là đối với rừng sản xuất là rừng trồng gỗ lớn gặp khó khăn hơn. Đó là chưa kể tới những rủi ro về thiên tai, cháy rừng xảy ra trong khi nhà nước chưa có chính sách bảo hiểm đối với rừng trồng, trong đó có rừng trồng gỗ lớn. 

Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015 được xem là chính sách đầu tiên khuyến khích người dân trồng rừng sản xuất gỗ lớn, tuy nhiên, chính sách này chưa thực sự tạo động lực thúc đẩy người dân tham gia. Cụ thể, Điều 5 Quyết định 147 quy định điều kiện nhận hỗ trợ đầu tư trồng rừng là “đối với chủ rừng thì phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đối với doanh nghiệp nhà nước phải là đất trồng rừng sản xuất đã được giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng ổn định lâu dài (50 năm)” – điều này khiến các hộ rất khó tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ. Thêm vào đó, mức hỗ trợ 3 triệu đồng/ha cho trồng rừng gỗ lớn và 2 triệu đồng/ha cho trồng rừng gỗ nhỏ là quá thấp, thủ tục phức tạp nên không hấp dẫn các hộ gia đình. 

Năm 2011, Chính phủ ban hành Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg về sửa đổi, bổ sung Quyết định 147/2007/QĐ-TTg theo hướng nâng mức hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn lên 4,5 triệu đồng/ha. Riêng với các hộ gia đình thuộc 63 huyện nghèo, mức hỗ trợ được nâng từ 5 triệu đến 10 triệu đồng/ha (theo Quyết định số 2621/QĐ-TTg ngày 31/12/2012), tuy nhiên những định mức này cũng chưa thực sự khuyến khích người dân trồng rừng gỗ lớn. Theo đơn giá trồng rừng hiện nay (ở khu vực khó khăn trung bình), các hộ phải bỏ ra tổng chi phí 25 – 30 triệu đồng/ha/7 năm (đối với cây chu kỳ kinh doanh ngắn), bao gồm: chi phí chuẩn bị hiện trường trồng rừng, giống, phân bón, nhân công, tiền chăm sóc cho 3 năm đầu, tiền bảo vệ rừng cho các năm tiếp theo đến khi khai thác. Đối với khu vực khó khăn như vùng dân tộc, miền núi, chi phí trồng rừng còn cao hơn rất nhiều. Do đó, phần kinh phí còn thiếu để trồng rừng, các hộ gia đình phải đi vay để bù vào, mặc dù được vay ưu đãi, song khoản chi phí này vẫn là gánh nặng cho các hộ nghèo, đặc biệt đối với các hộ trồng rừng có chu kỳ kinh doanh dài với nhiều rủi ro. Thậm chí, theo Dự thảo sửa đổi Quyết định 147, việc tăng hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn lên mức 8 triệu đồng/ha cũng chưa khuyến khích các hộ tham gia đầu tư. 

Liên quan đến chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực lâm nghiệp, Chính phủ cũng ban hành một số quyết định như: Quyết định số 73/2010/QĐ-TTg  của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế đầu tư xây dựng công trình lâm sinh, Quyết định 147/2007/QĐ-TTg, Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg  của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg; Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng…… 

Tuy nhiên, các quy định về đầu tư bộc lộ một số điểm tồn tại, hạn chế như: chưa quy định, hướng dẫn quản lý theo chuỗi; quy định về dự án lâm sinh chưa rõ ràng, đặc biệt chưa thể hiện tính đặc thù của dự án lâm sinh; quy định về hình thức lựa chọn nhà thầu còn chưa phù hợp với thực tế (hầu hết các dự án quy mô nhỏ, chủ đầu tư có năng lực tự tổ chức thực hiện); đầu tư dàn trải cho rất nhiều hạng mục và quy định tỷ lệ % đối với các hạng mục xây dựng cơ sở hạ tầng trên tổng mức đầu tư của các hạng mục lâm sinh trong dự án lâm sinh dẫn đến đầu tư quy mô nhỏ, manh mún… 

Về chính sách tín dụng đối với trồng rừng sản xuất, theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010, hộ gia đình được vay tối đa tới 50 triệu đồng để sản xuất lâm nghiệp, tuy nhiên lãi suất cho vay được thực hiện theo cơ chế tín dụng thương mại hiện hành. Đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo thì Nhà nước có các chính sách riêng cho từng đối tượng, thời hạn cho vay theo thỏa thuận và phù hợp với khả năng trả nợ của hộ gia đình, mức lãi suất hiện hành là 7,2%/năm đối với người nghèo. Đối với hộ nghèo thuộc 63 huyện nghèo (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP), Nhà nước hỗ trợ lãi suất vốn vay ưu đãi bằng 50% lãi suất cho vay hộ nghèo. Như vậy, ở địa bàn các xã thuộc khu vực khó khăn, ngoài số tiền được Nhà nước hỗ trợ khi trồng rừng sản xuất (tối đa 4,5 triệu đồng/ha), phần còn thiếu (khoảng 20 triệu đồng/ha) các hộ gia đình phải vay từ ngân hàng tối thiểu với lãi suất 7,2%/năm – đây là số tiền lãi khá lớn phải trả đối với hộ gia đình khi có sản phẩm thu hoạch. Điều này cũng có nghĩa là tối thiểu trong 7 năm, hộ gia đình mới trả được nợ vay ngân hàng đối với trồng rừng. Mặt khác, vay vốn từ các ngân hàng thương mại thường có lãi suất cao, điều kiện vay và thủ tục vay hết sức khó khăn (phải có tài sản thế chấp, nhưng các ngân hàng chưa chấp nhận thế chấp tài sản là rừng trồng), thời gian cho vay ngắn nên các doanh nghiệp và hộ gia đình khó tiếp cận được nguồn vốn. Hơn nữa, trồng rừng gỗ lớn có chu kỳ kinh doanh dài và rủi ro cao, vì vậy các ngân hàng cũng không ưu tiên cho các khoản vay này, vì vậy các hộ gia đình và cá nhân càng khó có cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng để trồng rừng. Nếu được vay vốn, ngân hàng cũng chỉ cho vay tối đa khoảng 50% giá trị đầu tư với lãi suất thương mại cao nên sau khi trừ chi phí, giá trị thu được thường rất thấp. 

Về vấn đề tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu, Nghị định số 75/2011/NĐ-CP quy định danh mục các dự án được vay tín dụng đầu tư của nhà nước không đề cập đến các dự án liên quan đến lâm nghiệp. Văn bản này cũng quy định chỉ có tổ chức, doanh nghiệp mới được vay tín dụng đầu tư. Về tín dụng xuất khẩu, Nghị định cũng quy định sản phẩm hàng mây tre đan, đồ gỗ xuất khẩu thuộc danh mục mặt hàng được vay vốn tín dụng xuất khẩu, còn các hoạt động chế biến lâm sản khác và trồng rừng gỗ lớn không thuộc danh mục các dự án được vay vốn tín dụng đầu tư của nhà nước. 

Với chính sách cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài, Nghị định số 78/2010/NĐ-CP về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ; Quyết định số 29/2011/QĐ-TTg 01/06/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục ngành, lĩnh vực được hưởng mức lãi suất ưu đãi khi vay lại nguồn vốn vay ODA của Chính phủ không quy định hoạt động trồng rừng, chăm sóc rừng, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt, chế biến MDF từ gỗ rừng trồng trong nước thuộc danh mục lĩnh vực được hưởng mức lãi suất ưu đãi khi vay lại nguồn vốn vay ODA của Chính phủ. 

Về chính sách sử dụng thuế tài nguyên rừng cũng chưa có chính sách quy định thuế tài nguyên rừng được đầu tư trực tiếp để tái tạo lại rừng nên việc sử dụng tiền thuế tài nguyên không thống nhất, nhiều địa phương sử dụng vào mục đích khác mà không đầu tư tái tạo lại rừng. 

Riêng với chính sách đất đai, Nghị định số 210/2013/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, dự án đầu tư trồng rừng, bảo vệ rừng sản xuất phát triển cây giống lâm nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ cao trong lâm nghiệp, chế biến bảo quản lâm sản, sản xuất giấy, ván nhân tạo, dịch vụ tư vấn đầu tư, khoa học kỹ thuật về sản xuất lâm nghiệp thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư trong nông nghiệp và nông thôn được miễn giảm 70% tiền sử dụng đất, nếu thuê đất được miễn tiền thuê đất 15 năm đầu; nhà đầu tư có dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư nếu thuê đất, thuê mặt nước của hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án đầu tư đó thì được Nhà nước hỗ trợ 20% tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định này cho 5 năm đầu tiên. Tuy nhiên, quỹ đất lâm nghiệp tập trung quy mô lớn để trồng mới rừng sản xuất không còn, những nơi có điều kiện thuận lợi thì đã trồng rừng; diện tích chưa trồng phần lớn là ở vùng cao, xa, điều kiện đi lại khó khăn, nên đầu tư kém hiệu quả. Quy mô diện tích đất lâm nghiệp của mỗi hộ gia đình nhỏ lẻ (tuyệt đai đa số các  hộ gia đình chỉ có 1-2ha/ hộ), số hộ có diện tích đất lâm nghiệp trên 5 ha rất ít. Các hộ gia đình vùng miền núi đời sống khó khăn, thiếu vốn sản xuất nên trồng rừng quảng canh, chu kỳ ngắn để nhanh có sản phẩm và thu nhập. Công tác giao đất lâm nghiệp cho các chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở một số địa phương còn chậm. Nhiều chủ rừng vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để có thể vay vốn sản xuất kinh doanh rừng. 

Trước tiên, cần quy hoạch diện tích rừng trồng gỗ lớn với vài trăm ha và bao gồm đất của các công ty lâm nghiệp và các hộ gia đình mong muốn trồng rừng gỗ lớn theo lộ trình cho từng giai đoạn, có thể điều chỉnh tăng dần hướng tới diện tích lớn hơn và ổn định diện tích trồng rừng hàng năm. Bên cạnh đó, cần đưa vào Luật Bảo vệ phát triển rừng sửa đổi quy định việc chuyển đổi rừng trồng sản xuất gỗ lớn cho các mục đích phi lâm nghiệp phải theo quy định cho rừng đặc dụng để tránh chuyển đổi mục đích sử dụng tràn lan. 

Thứ hai, cần nghiên cứu chọn tạo giống có chất lượng cao kể cả mua công nghệ nước ngoài để chuyển giao nhanh giống chất lượng cao, các kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng cho các địa phương. Trước mắt cần khuyến khích các công ty lâm nghiệp nhà nước và chủ trang trại rừng quy mô lớn thử nghiệm và nhân rộng trồng rừng gỗ lớn để người dân thấy rõ hiệu quả và tự nhân rộng. 

Thứ ba, cần xây dựng hướng dẫn kỹ thuật điều tra lập địa và trồng rừng thâm canh, chuyển hóa rừng trồng cung cấp nguyên liệu gỗ lớn; miễn hoặc giảm tiền thuê đất và thuế sử dụng đất đối những diện tích trồng rừng gỗ lớn, chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ lớn; thí điểm chính sách bảo hiểm đối với rừng trồng kinh doanh gỗ lớn để người trồng rừng yên tâm đầu tư kinh doanh. Đặc biệt, cần sửa đổi các chính sách hiện hành về vay vốn tín dụng ưu đãi, thuận tiện cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vay vốn đầu tư trồng rừng sản xuất gỗ lớn. Ngoài việc hỗ trợ kinh phí cho giống, khuyến lâm và cơ sở hạ tầng, không nên hỗ trợ vốn cho không để trồng rừng sản xuất mà nên chuyển sang hình thức cho vay ưu đãi để trồng rừng gỗ lớn. Thí dụ sau năm thứ năm, nhà nước sẽ cho vay ưu đãi lãi suất thấp hoặc hỗ trợ lãi suất để trồng rừng gỗ lớn và trả gốc và lãi khi khai thác chính. 

Song song với vấn đề hỗ trợ, cần khảo sát, đánh giá sâu về thực trạng của ngành chế biến xuất khẩu gỗ rừng trồng  sản xuất ở Việt Nam, phân tích hoạt động của một số ngành hàng gỗ rừng trồng được lựa chọn để có đủ cơ sở đề xuất giải pháp và chính sách phát triển rừng trồng sản xuất; quy hoạch, bố trí hợp lý các nhà máy chế biến gỗ và lâm sản gắn với vùng nguyên liệu; có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp chế biến gỗ liên kết với các hộ và công ty lâm nghiệp trồng rừng gỗ lớn và thương mại gỗ hợp pháp có sự bảo đảm pháp lý của Nhà nước, ví dụ vay vốn ưu đãi, giảm thuế cho doanh nghiệp và người trồng rừng, hỗ trợ khuyến lâm, đường lâm nghiệp, chứng chỉ rừng… 

Ngoài ra, Chính phủ cũng cần chú ý sửa đổi dự thảo về chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất gỗ lớn thay thế Quyết định số 147/2007/QĐ -TTg theo hình thức cho vay vốn ưu đãi hoặc hỗ trợ lãi suất từ năm thứ sáu trở đi (nếu nguồn vốn hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn hạn chế) với mức vay tương ứng 30% giá trị đầu tư và ưu đãi trả gốc và lãi một lần vào thời điểm khai thác. Không nên áp dụng hình thức „cho không” đối với các hộ trồng rừng sản xuất; hình thức này chỉ nên sử dụng để hỗ trợ quy hoạch, tạo giống chất lượng cao, khuyến lâm và cơ sở hạ tầng lâm nghiệp. (ThienNhien.Net 29/3) Về đầu trang

Sẽ giảm thiệt thòi cho người làm nghề rừng

Thứ trưởng thường trực Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn khẳng định: Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tới đây sẽ từng bước được thực hiện theo cơ chế thị trường. 

Theo đó sẽ mở rộng thêm các nguồn thu phi lâm sản từ DVMTR để tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người làm nghề rừng. 

Trao đổi với NNVN về chính sách chi trả DVMTR, Thứ trưởng thường trực Hà Công Tuấn cho rằng: DVMTR là xu hướng tất yếu để tạo nguồn tài chính bền vững, nhất là trong điều kiện thích ứng với biến đổi khí hậu, chúng ta buộc phải khôi phục phát triển rừng và không khai thác rừng tự nhiên nữa, nhưng vẫn phải tăng thu nhập cho người làm nghề rừng. Đây cũng là chính sách mà nhiều nước trên thế giới đã triển khai có hiệu quả. 

Theo Thứ trưởng, nguồn thu từ DVMTR những năm qua đã có tác động rõ rệt tới chất lượng của trên 5,8 triệu ha rừng, chiếm trên 40% diện tích có rừng hiện nay của cả nước. Đây là nguồn kinh phí có ý nghĩa không chỉ nâng cao đời sống người làm nghề rừng mà còn có tác động tích cực tới công tác bảo vệ phát triển rừng. 

“Nếu so sánh với ngân sách đầu tư hỗ trợ từ TƯ cho các địa phương trong bảo vệ phát triển rừng thì trong những năm qua, nguồn thu từ DVMTR đã chiếm tỉ lệ lớn hơn. Điều này đặc biệt có ý nghĩa để giảm bớt dần gánh nặng cho ngân sách nhà nước, nhất là như năm 2017 này” – Thứ trưởng Tuấn đánh giá. 

Thưa Thứ trưởng, nhiều chuyên gia cho rằng, mức chi trả DVMTR hiện nay vẫn còn thấp, chưa xứng đáng với giá trị đóng góp thực tế của rừng? 

Chúng ta đã triển thực hiện khai chi trả DVMTR khoảng 9 năm, trong đó có 2 năm thí điểm tại Sơn La và Lâm Đồng. Đến năm 2010, Chính phủ chính thức có Nghị định 99/2010/NĐ-CP (Nghị định 99) để triển khai việc chi trả DVMTR trên toàn quốc. 

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 147/NĐ-CP (Nghị định 147) về sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định 99. 

Theo đó, từ ngày 1/1/2017 đơn giá tiền DVMTR đối với các NM thủy điện đã được điều chỉnh tăng từ 20 đồng/kWh như trước đây lên 36 đồng/kWh điện thương phẩm; đối với các NM cung ứng nước sạch đơn giá sẽ tăng từ 40 đồng/m3 lên 52 đồng/m3 nước thương phẩm. 

Mặc dù vậy theo đánh giá của các nhà khoa học và chuyên gia quốc tế, mức chi trả này hiện vẫn còn ở mức rất thấp so với giá trị thực đóng góp của rừng. Vì vậy, cùng với việc thực hiện cơ chế thị trường, chúng ta chắc chắn sẽ phải từng bước tăng dần mức chi trả DVMTR lên. 

Mặc dù chi trả DVMTR là chính sách dành cho giữa người mua và người bán, nhưng phải có bàn tay kiến tạo của nhà nước để đảm bảo hai bên có sự hài hòa nhằm đảm bảo sự công bằng, minh bạch. Nhà nước cũng không coi DVMTR là nguồn ngân sách, mà chỉ kiến tạo cho bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ tiếp cận dần tới cơ chế thị trường. 

Về lâu dài, tất yếu DVMTR sẽ là cơ chế hoàn toàn điều tiết giữa bên mua và bên bán, giảm dần vai trò điều tiết của nhà nước, tuy nhiên trước mắt, chúng ta chưa thể bung ra để cho thị trường tự điều tiết được. Đây cũng chính là thực hiện cơ chế quản lí nhà nước trong nền kinh tế theo định hướng XHCN. 

Những năm gần đây, nguồn thu từ DVMTR cả nước hàng năm dao động khoảng 1.300 tỉ đồng/năm và chắc chắn sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tới đây theo cơ chế thị trường giữa một bên là người mua (đơn vị sử dụng DVMTR) và người bán (người làm nghề rừng). Trước mắt trong năm 2017, cùng với việc thực hiện đơn giá DVMTR theo Nghị định 147, tổng nguồn thu DVMTR cả nước sẽ được tăng lên gấp rưỡi so với các năm trước đây, tức khoảng 1.700 tỉ đồng.

Trước hết, phải khẳng định đây là nguồn tài chính vô cùng lớn. Cả ngành lâm nghiệp hiện nay giá trị SX gỗ hàng năm chỉ khoảng 3.400 tỉ đồng, nếu cộng cả nguồn từ DVMTR thì giá trị SX của toàn ngành lâm nghiệp đã tăng thêm gấp rưỡi.

Tới đây, nguồn thu từ giá trị phi lâm sản, tức các nguồn từ DVMTR của ngành lâm nghiệp sẽ ngày càng tăng lên. Trong đó, chủ trương là sẽ dần mở rộng thêm các loại hình DVMTR để tăng thêm nguồn thu cho người làm nghề rừng. 

Hiện nay, chúng ta mới chỉ thực hiện chi trả DVMTR đối với 3/5 loại hình chi trả DVMTR. Cụ thể tới đây, sẽ mở rộng thêm các loại DVMTR nào thưa ông? 

Quốc hội hiện đã có chương trình sửa đổi Luật Bảo vệ Phát triển rừng và sẽ cho ý kiến tại kỳ họp vào tháng 5/2017, dự kiến sẽ thông qua Luật sửa đổi vào kỳ họp tháng 10/2017. Điểm mới trong Luật sửa đổi lần này là sẽ đưa thêm những nguồn thu khác từ dịch vụ phi lâm sản, trong đó DVMTR sẽ là một bổ sung mới quan trọng vào Luật. Trên cơ sở của Luật sửa đổi, chúng ta sẽ có điều kiện hoàn thiện các cơ chế chính sách dưới Luật để mở rộng thêm các nguồn thu từ các dịch vụ phi lâm sản, đồng thời khuyến khích những dịch vụ trực tiếp giữa chủ rừng với các đơn vị sử dụng DVMTR, nhất là cho hoạt động du lịch sinh thái. Mục tiêu sẽ là từng bước tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người làm nghề rừng lên. 

Hiện tại, Việt Nam cũng đang phối hợp chặt chẽ với các bạn bè quốc tế để tiến tới việc hình thành cơ chế chi trả DVMTR đối với việc hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính thông qua Tín chỉ CO2. Nếu chúng ta triển khai được tín chỉ CO2 trong một vài năm tới đây thì nguồn thu từ DVMTR có thể sẽ tăng gấp đôi so với hiện nay, tức khoảng 2.600 – 3.000 tỉ đồng/năm. Điều này sẽ giúp tăng đáng kể nguồn thu DVMTR cho người làm nghề rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/3, tr1+11) Về đầu trang

Giải quyết tình trạng phá rừng và di cư tự do ở Mường Nhé

Ngày 29/3, tại huyện Mường Nhé, UBND tỉnh Điện Biên đã tổ chức sơ kết một tháng thực hiện kế hoạch của UBND tỉnh về việc giải quyết tình trạng phá rừng và di cư tự do trên địa bàn huyện Mường Nhé. 

Kế hoạch được triển khai từ ngày 1/3/2017, tỉnh Điện Biên đã thành lập Ban chỉ đạo với 454 cán bộ, chiến sĩ của các sở, ngành, lực lượng vũ trang của tỉnh và huyện Mường Nhé. 

Cơ quan thường trực là Công an tỉnh Điện Biên đã phân công lực lượng thành 6 tổ công tác trực tiếp phụ trách địa bàn 11 xã của huyện Mường Nhé và 1 tổ thường trực đặt tại Công an huyện. 

Thực hiện kế hoạch, các tổ công tác đã tổ chức họp dân, tổ chức cho đại diện các hộ ký cam kết; tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của nhân dân đối với việc quản lý, bảo vệ rừng, nhận biết các hành vi được làm và không được làm với công tác bảo vệ rừng và dân di cư tự do. 

Các tổ công tác đã tổ chức 118 cuộc họp dân với 4.442 người tham gia; phát 2.784 tờ rơi tuyên truyền, tổ chức cho 4.343 hộ ký cam kết không di cư tự do, không phá rừng trái phép. 

Sau gần một tháng thực hiện kế hoạch, các tổ công tác đã rà soát thống kê được 1.745 hộ, 8.834 khẩu di cư đến Mường Nhé, trong đó số dân di cư tự do thuộc diện bố trí sắp xếp theo Đề án 79 là 1.594 hộ, 8.013 khẩu; số dân di cư tự do không thuộc diện bố trí sắp xếp theo Đề án 79 là 151 hộ, 821 khẩu (trong đó, số dân di cư mới vào địa bàn năm 2017 là 31 hộ, 109 khẩu). 

Các tổ công tác đã vận động bố trí phương tiện đưa về nơi cư trú cũ 25 hộ, 79 khẩu. Qua điều tra, rà soát, các tổ công tác đã phát hiện 49 vụ, 76 đối tượng có hành vi hủy hoại rừng với tổng diện tích rừng bị phá là 271.982 m2; đã khởi tố 15 vụ, 16 bị can có hành vi hủy hoại 128.308 m2 rừng; xử lý vi phạm hành chính 13 vụ, 14 đối tượng; đang tiến hành điều tra, xác minh 21 vụ. 

Thiếu tướng Sùng A Hồng - Giám đốc Công an tỉnh Điện Biên cho biết: Qua một tháng triển khai thực hiện đã kịp thời ngăn chặn có hiệu quả tình trạng phá rừng, tình trạng dân di cư tự do ở huyện Mường Nhé. 

Thời gian tới, các ngành chức năng sẽ tiếp tục triển khai lực lượng xuống các bản để tổ chức họp dân, ký cam kết, phát tờ rơi tuyên truyền vận động nhân dân không phá rừng và di cư tự do; tiếp tục tổ chức rà soát số dân di cư tự do đến địa bàn, cấp sổ hộ khẩu và Giấy chứng minh nhân dân đối với số hộ đủ điều kiện cư trú; phát hiện, vận động và kiên quyết đưa về nơi ở cũ đối với số dân di cư tự do mới vào địa bàn. 

Cùng với đó, lực lượng chức năng tiếp tục tổ chức, rà soát, kiểm đếm diện tích rừng, phát hiện và xử lý nghiêm khắc đối với các đối tượng có hành vi hủy hoại rừng; nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ đưa các vụ án hủy hoại rừng ra xét xử công khai... (BNEWS.VN/ TTXVN 29/3; Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 29/3; VietnamPlus.vn 29/3) Về đầu trang

Phú Thọ: Quản lý, bảo vệ rừng quốc gia Xuân Sơn hiệu quả

Vườn quốc gia Xuân Sơn có diện tích hơn 15.000 ha, thuộc 6 xã của huyện Tân Sơn, giáp ranh với huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình và huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Vườn có nhiều loại gỗ quý, đặc biệt có 47 loài đang đang nằm trong sách đỏ của Việt Nam và quốc tế, vì vậy BQL vườn quốc gia Xuân Sơn luôn đặc biệt chú trọng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng. 

Hiện nay, trong vùng lõi rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn có hơn 700 hộ dân sinh sống, đa phần là dân tộc thiểu số nên trình độ, nhận thức của người dân còn hạn chế, cuộc sống còn nhiều khó khăn dẫn đến tình trạng khai thác rừng, phát nương làm rẫy còn tràn lan. Mặt khác, biên chế lực lượng các trạm quản lý, bảo vệ rừng mỏng, quân số lại ở phân tán ở nhiều trạm, phải quản lý một diện tích rừng rộng lớn, địa hình đi lại khó khăn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý, bảo vệ rừng. Để từng bước khắc phục những khó khăn trên, Vườn quốc gia Xuân Sơn đã có nhiều giải pháp giữ rừng hiệu quả. Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về rừng phải đặt lên hàng đầu, cán bộ của các trạm quản lý, bảo vệ rừng đã thường xuyên xuống các thôn, bản tuyên truyền cho người dân hiểu đúng và đủ về chính sách, pháp luật bảo vệ, phát triển rừng. Thời gian qua, đơn vị đã mở 29 lớp tuyên truyền với hơn 1.400 lượt người tham gia để trang bị cho người dân những kiến thức cơ bản về quản lý, bảo vệ rừng, xây dựng nhiều áp phích, biển, bảng tuyên truyền, in ấn tờ rơi… về công tác bảo vệ rừng, PCCCR, từ đó nâng cao ý thức của người dân địa phương và du khách về Luật bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học. 

Với địa giới hành chính tiếp giáp phức tạp về địa lý, diện tích rừng giáp ranh trải dài, vành đai giáp ranh lại tập trung nhiều diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, vì vậy công tác phối kết hợp được đặc biệt chú trọng. Khắc phục khó khăn về giao thông, lực lượng mỏng, phương tiện hạn chế, đội quản lý và bảo vệ rừng Xuân Sơn đã thực hiện tốt quy chế phối kết hợp với hạt kiểm lâm Tân Sơn, các huyện Đà Bắc ( Hòa Bình ) và Phù Yên ( Sơn La ) tổ chức nhiều đợt tuần tra, kiểm tra khu vực rừng giáp ranh kết hợp tuyên truyền cho cộng đồng người dân thôn, bản nhận thức được tầm quan trọng đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất, hiểu biết và nắm rõ được ranh giới các loại rừng. Đồng thời, thường xuyên theo dõi, trao đổi thông tin giữa các đơn vị về tình hình rừng giáp ranh để kịp thời ngăn chặn các hành vi vi phạm về chặt phá rừng, cháy rừng, du canh, du cư,… 

Nhờ sự nỗ lực, cố gắng kể trên, những năm qua không có vụ vi phạm về chặt phá rừng nghiêm trọng. Tuy nhiên để công tác quản lý, bảo vệ rừng đạt hiệu quả cao hơn, ngoài sự nỗ lực phối kết hợp để quản lý, bảo vệ rừng của BQL Vườn quốc gia Xuân Sơn với các hạt kiểm lâm có liên quan thì vai trò của người dân sinh sống trong vùng đệm, đặc biệt là vùng lõi cần phải được quan tâm hàng đầu. Ngoài việc tuyên truyền về kiến thức, pháp luật bảo vệ rừng cho bà con thôn, bản thì cần tạo điều kiện, cơ chế thuận lợi để thu hút các nguồn lực xã hội tham gia vào việc phát triển kinh tế rừng, nâng cao đời sống, thu nhập cho bà con, giảm thiểu tối đa việc chặt phá rừng, phát nương làm rẫy tràn lan, gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái, sinh học của Vườn quốc gia Xuân Sơn. (Báo Phú Thọ Online 29/3) Về đầu trang

Ba tỉnh chung tay bảo vệ rừng phòng hộ Dầu Tiếng

Ngày 29-3, tại TP Tây Ninh, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và Bình Phước tổ chức hội nghị ký kết phối hợp bảo vệ rừng khu vực giáp ranh của ba tỉnh nhằm ngăn chặn các hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản, động vật rừng. 

Theo đó, các đơn vị sẽ thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản; các tụ điểm, đối tượng chuyên nghiệp mua bán, cất giữ trái phép lâm sản trên các khu vực giáp ranh của các tỉnh để chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp kiểm tra, truy quét, xử lý các trường hợp vi phạm. 

Các đơn vị được ủy thác điều tra xác minh, tống đạt quyết định và thực hiện các quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng và lâm sản đối với tổ chức cá nhân vi phạm có địa chỉ cư trú ở tỉnh này, nhưng bị xử phạt ở tỉnh kia, theo yêu cầu của cơ quan kiểm lâm mỗi tỉnh. 

Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh cho biết, trong số tổng diện tích 33.500 ha của rừng phòng hộ Dầu Tiếng, có tới 10.664 ha nằm trong vùng giáp ranh giữa các tỉnh. Thời gian qua, tại các khu vực này thường xảy ra tình trạng người dân sinh sống ở các khu vực chung quanh lén lút vào rừng để chặt trộm cây rừng gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự nói chung và diện tích rừng nói riêng. 

Từ năm 2016 đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện Tân Châu, Ban Quản lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng phối hợp Hạt Kiểm lâm liên huyện Bình Long - Hớn Quảng (tỉnh Bình phước) đã tổ chức 32 đợt truy quét tại các điểm "nóng" khu vực giáp ranh, phát hiện gần 2.500 cây rừng non (từ 3 - 5 năm tuổi) bị chặt phá, tập kết tại các bến bãi dưới sông Sài Gòn. Ngoài ra, ngành chức năng còn phát hiện 244 cây rừng (loại cây lớn) bị khai thác trái phép, hơn 15 ha rừng bị tác động (phát, đốt, lấn...) trái phép. (Nhân Dân điện tử 29/3) Về đầu trang

Diễn đàn Vì sao doanh nghiệp yêu rừng

Lần đầu tiên, tính từ thời điểm Mục tiêu Phát triển Bền vững (SGD) được chính thức thông qua vào tháng 9.2015, thay thế cho Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, Việt Nam đã tổ chức Diễn đàn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với chủ đề Vì sao doanh nghiệp yêu rừng, tại Hà Nội vào ngày 29.3 và tại TP Hồ Chí Minh vào ngày 30.3. 

Tại diễn đàn này, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia các cam kết của Liên Hợp Quốc thông qua Chương trình Giảm phát thải từ mất rừng và quy thoái rừng (UN - REDD Việt Nam). 

Phát biểu tại diễn đàn, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Văn Hà cho rằng quản lý rừng bền vững là mục tiêu tổng thể của ngành lâm nghiệp và để thực hiện mục tiêu này cần có sự gắn kết với cộng đồng doanh nghiệp, nhằm chia sẻ trách nhiệm, phối hợp trong việc bảo vệ rừng và sinh kế. 

 UN–REDD được biết đến là Chương trình hợp tác Liên Hợp Quốc về giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển. Chương trình UN - REDD được đánh giá là phù hợp, đáp ứng được mục tiêu tăng diện tích bao phủ rừng ở Việt Nam lên 45% vào năm 2020 thông qua thực hiện các chính sách giải quyết các nguyên nhân của việc chặt phá rừng và suy thoái rừng nhằm giảm 20% lượng phát thải khí nhà kính từ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn của Việt Nam. Chương trình là thể hiện rõ ràng nhất việc Biến đổi khí hậu và thích nghi với Biến đổi khí hậu đã trở thành mối quan tâm chung của nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới. UN - REDD Việt Nam không chỉ là chương trình bảo vệ và phát triển rừng mà còn hướng tới mục tiêu cải thiện đời sống của cộng đồng địa phương thông qua việc chia sẻ trách nhiệm xã hội với doanh nghiệp. (Đại Biểu Nhân Dân Online 29/3; Thời Báo Kinh Tế Việt Nam 30/3, tr12) Về đầu trang

Tuyên Quang: Nà Hang đẩy nhanh tiến độ trồng rừng vụ xuân

Các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nà Hang đang tích cực chuẩn bị cây giống, vật tư nông nghiệp đẩy nhanh tiến độ trồng rừng vụ xuân, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch giao. 

Năm 2017, Nà Hang có kế hoạch trồng mới 700 ha rừng, trong đó 650 ha trồng mới rừng tập trung, 50 ha trồng cây phân tán. Để thực hiện tốt kế hoạch trồng rừng năm 2017, Hạt Kiểm lâm huyện Nà Hang, Hạt Kiểm lâm Rừng đặc dụng Nà Hang và 12 xã, thị trấn trong huyện đã tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về công tác trồng rừng, tổ chức rà soát diện tích rừng đủ điều kiện để đưa vào trồng rừng. Đồng thời, tổ chức hướng dẫn nhân dân cách trồng, kỹ thuật chăm sóc, đảm bảo trồng đúng thời vụ với từng loại cây trồng. UBND huyện Nà Hang chỉ đạo các xã đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, bảo vệ chăm sóc tốt diện tích rừng đã trồng, chủ động cây giống, cuốc hố, phân bón, đảm bảo hoàn thành việc trồng rừng trong khung thời vụ tốt nhất. Đến nay, một số địa phương có diện tích trồng rừng lớn như các xã Yên Hoa, Đà Vị, Sơn Phú, Thượng Nông đã cơ bản xử lý xong thực bì, đang tập trung cuốc hố, bỏ phân. 

Ông Chẩu Trung Kiên, Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cho biết, để hoàn thành kế hoạch, huyện đã giao chỉ tiêu trồng rừng cho các xã. Cán bộ nông nghiệp hướng dẫn kỹ thuật, đôn đốc phát dọn thực bì, cuốc hố, nghiệm thu sơ bộ hiện trường trồng rừng. Đồng thời, chú trọng tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách trồng rừng đến mọi người dân trên địa bàn. Phòng đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức, cá nhân liên quan tập trung sản xuất cây giống lâm nghiệp; xác định đối tượng trồng rừng và ứng vốn hỗ trợ trồng rừng theo cơ chế, chính sách quy định. Hiện nay, các cơ quan chức năng và các đơn vị liên quan trên địa bàn huyện đang khẩn trương thực hiện rà soát toàn bộ diện tích rừng trồng mới, tiến hành sản xuất, chăm sóc cây giống.

Theo Hạt Kiểm lâm huyện Hoàng Quang Huy, năm 2017 Hạt được giao chỉ tiêu trồng 400 ha rừng mới tập trung trên diện tích bà con đã khai thác do Hạt quản lý. Ngay từ đầu năm, Hạt đã tập trung kiểm tra, thống kê rà soát các vườn ươm trên địa bàn để hướng dẫn các chủ vườn ươm mua hạt giống rõ nguồn gốc để tiến hành gieo ươm cây giống đảm bảo tiêu chuẩn để cung ứng cho người trồng rừng. Bên cạnh đó, tập trung về cơ sở, hướng dẫn nhân dân phát dọn thực bì, trồng rừng vụ xuân đảm bảo đúng thời vụ. Đến nay, đã tiến hành trồng được 172 ha, trong đó một số xã đã trồng được diện tích lớn như xã Đà Vị 80 ha, Yên Hoa 35 ha, Thượng Nông 30 ha... (Báo Tuyên Quang 29/3) Về đầu trang

Huyện Chợ Mới, Bắc Cạn có gần 6.000 ha rừng cho khai thác thường xuyên

Huyện Chợ Mới đang tập trung đầu tư phát triển ngành công nghiệp chế biến lâm sản; Phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành này đến năm 2020 đạt trên 10%/năm. Hiện có gần 6.000 ha rừng ở huyện Chợ Mới cho khai thác thường xuyên. 

   Chợ Mới là địa phương có diện tích rừng trồng lớn với hơn 11.500 ha, chủ yếu là cây keo, mỡ, hồi, quế, lát... chất lượng rừng trồng đạt cao. Bình quân mỗi năm huyện trồng rừng mới đạt trên 1.700 ha. Trong đó phần lớn diện tích đã và đang trong độ tuổi khai thác là tiềm năng, điều kiện để phát triển vùng nguyên liệu dồi dào cung cấp cho ngành công nghiệp khai thác, chế biến gỗ trên địa bàn. Hiện nay trên địa bàn huyện Chợ Mới ngoài nhà máy sản xuất, chế biến gỗ tại Khu công nghiệp Thanh Bình có công suất hoạt động 8.400m3 sản phẩm/năm còn có khoảng 40 cơ sở chế biến gỗ. Ngoài ra, các xưởng tư nhân sản xuất các mặt hàng khác như đồ gỗ cao cấp, nội, ngoại thất, hàng mỹ nghệ hằng năm cũng tiêu thụ khối lượng lớn gỗ rừng trồng trong nhân dân.  Đây là cơ sở để huyện hình thành và phát triển mạnh tiềm năng, thế mạnh ngành công nghiệp chế biến lâm sản. Hiện nay, Chợ Mới đang thực hiện nhiều giải pháp vận dụng linh hoạt, hiệu quả chính sách ưu đãi để thu hút, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực trồng rừng, chế biến sản phẩm từ gỗ rừng trồng. (Backantv.vn 29/3) Về đầu trang

Đồng Tháp: Xuất hiện hàng ngàn con cò quý ở thị trấn Tràm Chim

Những ngày gần đây hàng ngàn con cò ốc và cò trắng  xuất hiện ở cánh đồng lúa phía trước trụ sở Huyện ủy và UBND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. 

Theo thông tin trên báo Nông Nghiệp, sở dĩ cò tập trung về khu vực này vì  nơi đây nông dân đang làm đất, bơm nước vào ruộng… để sạ lúa nên có nguồn thức ăn dồi dào như: cua, ốc… nhất là loài ốc bươu vàng, thức ăn chủ yếu của đàn cò ốc. Mỗi con cò ốc có trọng lượng từ 1,2 – 1,5kg. Đây là loài chim quý đã được ghi vào sách đỏ Việt Nam nên được bảo vệ nghiêm cấm săn bắt dưới mọi hình thức. 

Vườn Quốc gia Tràm Chim và UBND các xã-thị trấn quanh vùng đệm yêu cầu người dân khi thấy cò ốc kiếm ăn trên ruộng lúa của mình thì không được chọc phá hoặc săn bắt. Nếu phát hiện trường hợp săn bắt hoặc mua bán trái phép cò ốc, ngành chức sẽ xử lý nghiêm theo luật định. 

Số lượng đàn cò ốc bay về sinh sống ở thị trấn Tràm Chim-trung tâm huyện Tam Nông, nơi có khu du lịch Vườn QGTC nhiều như vậy cho thấy hệ sinh thái của Vườn quốc gia đã tốt lên, thu hút nhiều cá thể loài chim nước, cùng nhiều loài lưỡng cư, bò sát và các phiêu sinh vật khác… 

Vườn Quốc gia Tràm Chim ở huyện Tam Nông (Đồng Tháp) là khu Ramsar thứ 2.000 của thế giới. Diện tích vườn quốc gia Tràm Chim hơn 7.313ha, thuộc địa phận 5 xã: Tân Công Sính, Phú Đức, Phú Thọ, Phú Thành, Phú Hiệp và thị trấn Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. 

Đây là một trong 8 khu vực bảo tồn các loài chim quan trọng nhất của Việt Nam với hơn 100 loài động vật có xương sống, 40 loài cá và 147 loài chim nước. 

Đặc biệt, nhiều loài chim quý hiếm trên thế giới như sếu đầu đỏ, te vàng, bồ nông, gà đãy Java… liên tục xuất hiện nhiều ở Vườn Quốc gia Tràm Chim. Một trong các điểm du lịch sinh thái nổi bật của Đồng Tháp là Vườn quốc gia Tràm Chim – khu Ramsar có tầm quan trọng quốc tế, xếp thứ 2.000 trên thế giới và thứ 4 ở Việt Nam. (Moitruong.net.vn 29/3) Về đầu trang

 

Hàng rào điện tử ngăn chặn voi rừng phá rẫy của dân: Hoàn thành trong 2 tháng tới

Thời gian gần đây, đàn voi rừng hơn 10 con thường xuyên vào khu dân cư, khiến nhiều hộ sản xuất nông nghiệp tại huyện Định Quán bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Voi thường xuyên kéo về ăn cây ăn trái, phá tài sản của người dân, đe dọa trực tiếp tính mạng, ảnh hưởng đến đời sống của những hộ dân sống ven rừng. 

Hơn 10 ngày trở lại đây, khu rẫy của gia đình ông Nguyễn Văn Khơi (tổ 2, ấp 4, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán) liên tục bị đàn voi rừng “ghé thăm”. Hậu quả để lại là hơn 400 cây chuối được ông Khơi vay tiền ngân hàng đầu tư chuẩn bị đến kỳ thu hoạch đã bị đàn voi rừng ăn và phá nát. Không chỉ có chuối, hàng trăm gốc điều, xoài của người dân trong khu vực cũng bị đàn voi rừng khoảng 12 con kéo về quật đổ và ăn hết trái. Ông Nguyễn Văn Khơi cho biết, voi kéo về ăn cũng mấy lần rồi. Lần trước kéo về chỉ 4 - 5 con, ông còn đuổi được. Đợt này rất đông, cả voi lớn voi nhỏ chừng mười mấy con. Điều, xoài voi đều bẻ ăn hết, trong đó thiệt hại lớn nhất là chuối. “Khoảng chừng 1 tháng nữa là đến đợt thu hoạch để bán trả tiền phân bón cho đại lý, giờ bị voi phá như thế này không biết làm sao”, ông Khơi than thở. 

Một cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho rằng, nguyên nhân khiến đàn voi kéo về rẫy của dân trong những ngày qua là do vùng Đông Nam bộ đang vào đợt cao điểm của mùa khô. Cây trái và nhiều loại thức ăn trong rừng không đủ cung cấp cho voi, do đó chúng di chuyển đến khu vực bìa rừng vào rẫy của dân tìm thức ăn. 

Hạt Kiểm lâm huyện Định Quán cho biết, từ đầu tháng 2 -2017 đến nay, đàn voi rừng liên tục kéo về phá hoại cây trái, hoa màu và tài sản của người dân sống ở gần bìa rừng. Đến thời điểm hiện nay, qua thống kê có khoảng 28 hộ dân có cây trái và tài sản bị đàn voi phá. Ngoài ra, một số hộ dân còn bị đàn voi quật phá, làm đổ và hư hỏng các tài sản như chòi canh, xoong nồi, bể đựng nước, lều bạt… Ông Nguyễn Văn Chiểu, Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Định Quán cho biết, tần suất voi rừng ra các nương rẫy các hộ dân trong thời gian vừa qua tương đối nhiều, nhất là thời điểm cuối tháng 2 và từ đầu tháng 3 đến nay. Voi rừng ra đến 7 - 8 đợt, gây thiệt hại cho hàng chục hộ ở ấp 4 và ấp 5 xã Thanh Sơn. Thiệt hại chủ yếu của người dân là hoa màu, cây điều, cây chuối, xoài  và các dụng cụ sinh hoạt của người dân sống ven rừng. 

Theo chính quyền xã Thanh Sơn, voi rừng thường kéo về phá rẫy của dân vào ban đêm, khoảng từ 21 giờ đến 3 giờ sáng ngày hôm sau. Đàn voi rừng thường có khoảng 12 đến 15 cá thể gồm cả voi trưởng thành và voi con. Khi vào rẫy của dân, Tổ phản ứng nhanh gồm lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương xuống hiện trường cùng với người dân sử dụng đèn pha công suất lớn rọi thẳng vào voi, sau đó dùng loa, còi, đốt lửa để xua đuổi voi”. 

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trước năm 2.000, vùng hoạt động của đàn voi trên là khoảng 50.000 ha, nhưng đến nay vùng hoạt động chỉ ở khoảng 34.000 ha và voi có chiều hướng đến gần các cánh rừng giáp khu dân cư sinh sống. Ông Lê Việt Dũng, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, để hạn chế sự xung đột ngày càng gay gắt giữa voi và người dân, ngoài tăng cường các biện pháp để xua đuổi voi thì Chi cục Kiểm lâm tỉnh đang khẩn trương triển khai xây dựng hàng rào điện tử để ngăn chặn voi vào khu vực dân cư.  

Theo ông Lê Việt Dũng, hiện nay, dự án hàng rào điện tử khẩn cấp bảo tồn voi trên địa bàn Đồng Nai đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng, xây dựng các trạm cấp điện để lắp đặt hệ thống hàng rào điện tử dài 30km. Trong đó có 20km hàng rào cố định và 10km hàng rào di động tại những khu vực rừng thuộc xã Thanh Sơn (huyện Định Quán), Phú Lý, Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu). Dự kiến trong 2 tháng tới sẽ hoàn thành, đóng điện đưa vào sử dụng. Khi đó, sẽ góp phần hạn chế tình trạng xung đột giữa voi và người dân như thời gian qua. 

Riêng tại địa bàn huyện Định Quán, ngoài thành lập các tổ phản ứng nhanh từ ấp, xã đến huyện trong năm 2016, dự án hàng rào điện tử ngăn ngừa xung đột giữa voi và người được triển khai. Với tổng chiều dài của dự án khoảng 25km, chủ yếu ở ấp 4 và ấp 5 và một phần ấp 7 xã Thanh Sơn. Dự án này đến cuối năm 2017 sẽ hoàn thành. “Đến nay tiến độ của dự án này đạt khoảng 50%. Khi có hàng rào điện tử thì tình trạng voi ra khu dân cư để phá hoa màu của dân chắc chắn sẽ giảm”, ông Chiểu cho biết. (Laodongdongnai.vn 29/3) Về đầu trang

Sớm xây dựng Khu Bảo tồn thiên nhiên Phuxailaileng

Báo Nghệ An đăng tải ý kiến của kỹ sư Nguyễn Đình Võ về việc sớm xây dựng Khu Bảo tồn thiên nhiên Phuxailaileng. 

“Sở dĩ chúng tôi tâm huyết với đề nghị cần sớm xây dựng Khu Bảo tồn thiên nhiên Phuxailaileng bởi đây là một khối núi lớn, nằm giữa biên giới Việt - Lào, có độ cao tuyệt đối 2.711m - cao nhất dãy Trường Sơn, nóc nhà của Bắc Trung bộ và Bắc Việt - Lào, cao thứ nhì của Việt Nam, chỉ sau Phanxiphăng (3.143m) của Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn - nóc nhà phía Bắc của Tổ quốc. 

Trong tự nhiên, độ cao là điểm tựa quan trọng của địa quyển, có ảnh hưởng lớn đến khí quyển, thủy quyển đặc biệt là sinh quyển. Phuxailaileng lại là trung tâm của vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển thế giới Miền Tây Nghệ An (UNESCO 2007), có vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường chống biến đổi khí hậu - phong phú về đa dạng sinh học và là đầu nguồn của nhiều khe suối thuộc hệ thống đầu nguồn lưu vực sông Cả. 

Năm 2003, Hội KHKT Lâm nghiệp đã tổ chức hội thảo về "Ý tưởng thành lập Khu BTTN Phuxailaileng do Cộng đồng quản lý" được Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ, có đủ các nhà khoa học đầu ngành trong nước và thế giới đến từ EU, đặc biệt có ngài Giáo sư - Tiến sỹ James Hardcastle đại diện Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) tham dự và có các bài phát biểu quan trọng. Hội thảo đã thảo luận sâu rộng, nhất trí cao với ý tưởng do hội đề ra và kiến nghị với các cơ quan thẩm quyền nhà nước nghiên cứu sử dụng, thực hiện. 

Năm 2014, với tinh thần trách nhiệm cao, Sở Khoa học và Công nghệ đã xây dựng đề tài nghiên cứu "Đa dạng sinh học khu vực Phuxailaileng" do Trung tâm môi trường và phát triển cùng liên hiệp hội phối hợp với khoa Sinh - Trường Đại học Vinh thực hiện, một lần nữa chứng minh đề xuất trên là đúng. Bước đầu đã phát hiện và thống kê được 726 loài thực vật bậc cao của 398 chi, 139 họ thuộc 4 ngành thực vật. 

Có nhiều loài quý hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ thế giới (IUCN) phong phú đa dạng về nhóm cây làm thuốc, trong đó họ nhân sâm (Araliaceae) có tới 10 loài, đặc biệt có loài Panax SP. được coi là Sâm Fuxailaileng, gần giống như Sâm Ngọc linh Nam Trường Sơn vậy. Ghi nhận được 348 loài động vật có xương sống, trong đó có 60 loài thú, 147 loài chim, 76 loài lưỡng cư bò sát, có nhiều loài quý hiếm (sách đỏ Việt Nam, sách đỏ IUCN, Nghị định 32/2006) và giá trị kinh tế cao, có một số loài ở mức độ nguy cấp (EN) hoặc sẽ nguy cấp (VU) cần có biện pháp mạnh để bảo tồn và phát triển. 

Trong hệ thống rừng đặc dụng của Nghệ An, từ thấp đến cao, chúng ta đã có Khu BTTN Pù Huống từ dưới 100m đến 1.600m; Vườn quốc gia Pù Mát đến 1.800m; Khu BTTN Pù Hoạt đến 2.400m. Tuy nhiên, với Phuxailaileng ở độ cao 2.711m có những nét độc đáo riêng mà các khu rừng nói trên chưa có, không thể để nó mai một, mất mát. 

Hệ thực vật ở đây vừa mang tính chất nhiệt đới - á nhiệt đới - vừa mang tính chất ôn đới - vừa mang tính chất thường xanh vừa mang tính chất rụng lá - nửa rụng lá. Theo các nhà khoa học, Phuxailaileng thuộc khu vực Trường Sơn là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới. Thực vật vùng này có quan hệ mật thiết với khu hệ thực vật Ấn Độ, Miến Điện, Mã Lai và gần gũi với hệ thực vật Hải Nam - Nam Trung Hoa, có nhiều nguồn gen quý cho việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. 

Mới đây, Công ty CP Tư vấn đầu tư và công nghệ môi trường HQ phối hợp với Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh, Trường Đại học Vinh và UBND huyện Kỳ Sơn tổ chức Hội thảo quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Nghệ An đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Theo đó, đến năm 2020, điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất, thành lập mới và đưa vào hoạt động Khu bảo tồn thiên nhiên Phuxailaileng có diện tích 49.517,51ha; diện tích vùng đệm là 15.492,17ha. Khu bảo tồn nằm trong diện tích của các xã Na Ngoi, Nậm Càn, Mường Típ, Tây Sơn (Kỳ Sơn) và xã Tam Hợp, Lưu Kiền  (Tương Dương)... 

Như vậy, việc thành lập Khu BTTN phuxailaileng là cần thiết và cấp bách. Tuy vậy, trao đổi với một số nhà chuyên môn, họ đang lo ngại về nguồn vốn đầu tư và tổ chức thực hiện cần có thêm thời gian. 

Theo chúng tôi có mấy giải pháp giải quyết sau: Về mặt tổ chức: Không làm theo kiểu lâm nghiệp truyền thống - chủ yếu do Nhà nước - mà thực hiện theo lâm nghiệp xã hội: dân biết, dân bàn, dân làm do cộng đồng thực hiện. Tổ chức nhà nước chỉ gọn nhẹ để hướng dẫn chỉ đạo, kiểm tra. 

Về ban quản lý: Do điều kiện địa chính trị tại đây thích hợp có thể tổ chức liên ngành: Bộ đội Biên phòng và Kiểm lâm vừa quản lý việc bảo vệ an ninh biên giới, vừa quản lý việc bảo vệ xây dựng rừng, thực thi các chương trình nghiên cứu đa dạng sinh học. Tranh thủ sự tham gia của các hiệp hội khoa học kỹ thuật tư vấn các chương trình dự án: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, văn hóa - giáo dục cộng đồng phù hợp. 

Có bài học từ VQG Hoàng Liên Sơn, tại đây có thể xây dựng những tuyến du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm từ VQG Pù Mát (hoặc từ Khu BTTN Pù Hoạt) về cội nguồn đất trời, vùng cao vùng sâu, hoang dã của Phuxailaileng, thưởng thức những cảm giác mạnh mẽ, sảng khoái ở độ cao 2.711m, ngắm nhìn phong cảnh tứ phương, đất trời của Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, rất hấp dẫn các nhà khoa học và du khách trong nước và quốc tế ưa khám phá cái mới lạ của tự nhiên. 

- Nhân dân được tổ chức lại theo hướng nông thôn mới - những làng sinh thái, làng văn hóa cộng đồng, là lực lượng sản xuất chính để thực hiện việc bảo vệ rừng, bảo tồn nhiên nhiên, bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc. 

Nhân dân ở đây chủ yếu là người Mông, xen ghép với một số người Thái và người Khơ mú, giàu bản sắc; có những sản phẩm nổi tiếng như bò Mông, gá ác (gà đen), cải ngọt, đồ sắt người Mông cần được bảo tồn và phát triển. Từng bước hạn chế và chấm dứt hẳn việc du canh, du cư, săn bắt hái lượm trái phép các sản phẩm trong rừng, sống lành mạnh bằng nghề rừng. Phát triển việc canh tác lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng là hướng quan trọng. Thế mạnh là các dược liệu như bo bo (Altinia Blethro kcaslyx Kschum); sâm phuxailaileng (Panax SP.) và nhiều loài khác. 

Hiện tại, Trung tâm tư vấn phát triển lâm nghiệp của hội đang có dự án bảo tồn và phát triển cây bo bo - một loại dược liệu quý do chương trình dự án nhỏ của Quỹ môi trường thế giới (GEF/SGP) tài trợ đã và đang thực hiện thành công nhân rộng ở vùng này. Sâm Phuxailaileng cũng cần có chương trình nghiên cứu phát triển. Đề nghị tỉnh hướng chương trình phát triển dược liệu tại Nghệ An đưa thực thi tại vùng này. 

Tổ chức dịch vụ du lịch như: dẫn đường, tổ chức các lễ hội quảng bá văn hóa truyền thống và ẩm thực để phục vụ du khách, là hướng quan trọng để cải thiện đời sống nhân dân. 

Về nguồn vốn: Trước mắt cần tập trung mọi nguồn lực chính sách đối với các xã miền núi, vùng sâu vùng xa biên giới như 135, định canh định cư, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ an ninh biên giới, xây dựng nông thôn mới... Đặc biệt là các nguồn vốn trong các chương trình bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên, phục hồi sinh thái rừng nghiên cứu khoa học, khi khu BTTN được thành lập, đầu tư cho nhân dân làm. 

Tích cực tuyên truyền, quảng bá để thu hút đầu tư quốc tế là biện pháp quan trọng để giải quyết nguồn vốn đầu tư. Kinh nghiệm từ Pù Mát, sau khi thành lập Khu BTTN quảng bá ra thông tin quốc tế, chúng ta có được dự án Lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên Nghệ An do EU tài trợ giá trị 17,5 triệu EUR. 

Hiện nay, trong các hội nghị thượng đỉnh thế giới về bảo vệ môi trường chống biến đổi khí hậu (COP), đặc biệt là COP 21 tại Pari (Pháp), rất quan tâm đến việc bảo vệ và phát triển rừng. Nhiều nước cam kết đóng góp tài chính để bảo vệ và phát triển rừng thay vì cắt giảm nguồn khí thải công nghiệp. 

Ngân hàng Thế giới (WB) đã có những chương trình điều hòa cho các bên "mua" và "bán" chất thải nhà kính thông qua đầu tư vào trồng rừng và bảo vệ rừng. Nhiều tổ chức quốc tế như: IUCN, WWF, UNESCO, GEE,… và nhiều nước phát triển cũng rất quan tâm trong việc đầu tư bảo vệ và phát triển nếu chúng ta làm tốt công tác quảng bá và xây dựng các dự án để tranh thủ. 

Trước mắt tỉnh cần có kế hoạch tổ chức khảo sát, bổ sung toàn diện để xây dựng luận chứng kinh tế - kỹ thuật và dự án đầu tư trình các cấp thẩm quyền phê duyệt. Trong đó Hội KHKT Lâm nghiệp sẽ làm tốt công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội dự án này. (Baonghean 29/3) Về đầu trang

Nghệ An: Động vật hoang dã bán công khai ở chợ

 Động vật hoang dã như sơn dương, dúi, chồn… sau khi săn bắn về được bày bán công khai ở các bản làng vùng cao. Đáng lo ngại, đây đang là thực phẩm được nhiều người săn lùng trong khi thú rừng đang ngày càng khan hiếm. 

Có thời điểm, tại thị trấn Hòa Bình (Tương Dương) không khó để bắt gặp người dân tay xách những con dúi rừng còn sống vừa đào được còn lấm lem bùn đất mang đi bán. Chúng tôi gặp một phụ nữ ở bản Chắn (xã Thạch Giám), chị cho biết, mấy con dúi này chồng chị vừa đi rừng đào được, con nhỏ thì hơn 1kg, con lớn 1,4 kg. Giá dúi cũng không quá đắt, chỉ 150.000 đồng/kg. Chỉ một loáng, người phụ nữ kia đã bán hết số dúi kia. 

Tại một số địa bàn khác của huyện Kỳ Sơn, việc bà con dân bản đi săn bắn hàng ngày và mang về những loài thú rừng như sơn dương, chồn, dúi để bán cũng không còn xa lạ. Một thợ săn ở bản Nậm Khiên (xã Nậm Càn) cho hay, mỗi lần đi săn họ thường ở rừng 2-3 ngày, có khi cả tuần nếu chưa săn được gì. Với những loài vật nhỏ như dúi thì chủ yếu dùng cuốc, thuổng để đào, còn sơn dương, chồn phải dùng súng kíp. Chúng tôi để lại số điện thoại để “đặt hàng” người thanh niên này. 

Vào giữa tháng 2/2017, chúng tôi nhận được một cuộc điện thoại vào đêm khuya của một thanh niên thông báo vừa bắn hạ được 1 chú sơn dương lớn. Khoảng 23 giờ đêm, chiếc xe máy đến chỗ hẹn chở theo bì tải còn ướt máu của con sơn dương nặng hơn 50 kg vừa mới săn được. Sau một hồi thương lượng, con sơn dương được bán lại cho một cửa hàng với giá hơn 7 triệu đồng. 

Khi hỏi, anh mang sơn dương đi bán mà không sợ bị bắt à? Anh trả lời ấp úng: “Phải đi ban đêm thôi, ban ngày gặp bộ đội biên phòng thì bị tịch thu ngay”. Cũng theo lời anh, mùa này người dân đi xa có thể bắn được nhiều sơn dương. Thịt sơn dương vừa bổ, rẻ và sạch nên có chừng nào đều được lùng mua chừng đó. 

Vào các phiên chợ biên giới giữa Kỳ Sơn và Noọng Hét (Lào) không khó khăn để tìm mua được 1 con don rừng (loại động vật cùng họ với nhím) và chồn. Ngoài ra khách hàng thoải mái lựa chọn đủ các loại chồn: chồn bay, chồn bạc má, chồn hương… với giá vừa phải. Nhiều khách hàng khi đến phiên chợ đều tìm mua các loại động vật này vì theo họ đây là “đặc sản”. 

Có thể nhận thấy rằng, các loại động vật hoang dã đang bị săn bắt và đứng trước nguy cơ tuyệt diệt, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng. Cần sớm ngăn chặn tình trạng này để bảo vệ môi trường, bảo tồn sự đa dạng sinh học trên núi rừng miền Tây Nghệ An.   (Baonghean.vn 29/3) Về đầu trang

 Rừng Nam Đông tiếp tục “chảy máu”

Tình trạng phá rừng trái phép và khai thác gỗ lậu trên địa bàn huyện miền núi Nam Đông (TT-Huế) những tháng đầu năm 2017 tuy có giảm nhưng vẫn nhức nhối. Nguy cơ chặt phá rừng có khả năng gia tăng khi mà một số hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất. 

Trung tá Nguyễn Huy Đông- Phó trưởng CAH Nam Đông cho biết, sau khi tiếp nhận hồ sơ khởi tố hình sự 7 vụ hủy hoại rừng với 8 bị can từ Hạt kiểm lâm (HKL) H.Nam Đông, đến cuối tháng 3-2017, cơ quan điều tra CAH đã kết luận 5 vụ với 5 bị can. Hiện CA đang tiếp tục điều tra làm rõ các vụ còn lại. Ông Hoàng Văn Chúc- Hạt trưởng HKL H.Nam Đông cho biết, trước đó, vào cuối tháng 6-2016, đơn vị phối hợp với Đội Kiểm lâm cơ động- PCCCR số 2 và UBND xã Thượng Nhật (H.Nam Đông) tiến hành kiểm tra tại tiểu khu 423, 421, 426 thuộc địa bàn quản lý của xã này thì phát hiện một số vị trí rừng tự nhiên bị phá trái phép với tổng diện tích 8,44 ha. 

Phần lớn diện tích rừng tự nhiên bị xâm hại thuộc rừng đã giao cho các cộng đồng thôn 1, 2 xã Thượng Nhật quản lý bảo vệ. Quá trình điều tra, truy xét đối tượng vi phạm, HKL đã mời 11 đối tượng đến làm việc và lập biên bản ghi lời khai. Bước đầu, 11 đối tượng này đã công nhận về hành vi phá rừng trái pháp luật của mình và cơ quan chức năng đã lập biên bản vi phạm hành chính 11 đối tượng. Điều đáng nói, trong đó có 8 vụ phá rừng, loại rừng sản xuất theo quy định phải khởi tố hình sự. Điều đáng nói, diện tích rừng bị phá đều ở vị trí, khoảnh, tiểu khu thuộc địa bà xã Thượng Nhật- giáp ranh với vùng Quảng Nam. 

Theo ông Hoàng Văn Chúc, năm 2016, tình hình chặt phá rừng, lấn chiếm rừng lấy đất sản xuất ở địa bàn H.Nam Đông nổi lên thành điểm nóng của tỉnh. Trong năm đã xảy ra 25 vụ phá rừng với diện tích 12,909 ha, tăng 74% so với năm trước. Ngoài ra, tình hình khai thác, mua bán, cất giấu, vận chuyển lâm sản tuy khối lượng có giảm nhưng còn ở mức cao, trong năm 2016, lực lượng chức năng đã bắt giữ 54 vụ, tịch thu 63,251m3 gỗ. 

Chưa đầy 3 tháng đầu năm 2017, lực lượng kiểm lâm H.Nam Đông tiếp tục phát hiện 3 vụ phá rừng trái phép, trong đó, lực lượng chức năng đã xác định rõ 2 vụ gồm: vụ Hồ Văn Lực phá rừng tại Lô 47, khoảnh 8, tiểu khu 421 (xã Thượng Nhật) và vụ phá rừng tại khoảnh 4, tiểu khu 395 ở xã  Thượng Quảng là do Trần Văn Krớ phá. Ngoài ra, vụ phá rừng ở Lô a2, khoảnh 6, tiểu khu 411 ở xã Thượng Lộ, cơ quan chức năng đang điều tra, truy tìm đối tượng. Tìm hiểu các đối tượng vi phạm đến hành vi phá rừng, họ đều cho rằng, vẫn biết chặt phá rừng là vi phạm pháp luật tuy nhiên do không có đất sản xuất nên họ đã lấn chiếm, chặt phá rừng của Nhà nước để trồng keo, cao su tạo kế sinh nhai. 

Theo HKL H. Nam Đông, ngoài 3 vụ phá rừng trái phép, từ đầu năm đến nay, HKL H.Nam Đông phối hợp với Ban Quản lý Rừng phòng hộ H.Nam Đông đã phát hiện 10 vụ khai thác, vận chuyển gỗ quý trên tuyến đường quốc phòng 74 và khu vực Khe La Mạ. Điều đáng nói, một số đối tượng bị phát hiện trong khi vận chuyển gỗ lậu lại là người ở từ TP Huế lên. Theo ông Hoàng Văn Chúc, một phần nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng là hiện nay nhu cầu đất đai để sản xuất vì sinh kế của người dân ngày càng tăng, nhiều hộ gia đình thiếu đất sản xuất, nhất là các hộ mới lập gia đình. Hơn nữa, hiện nay mực nước hồ Tả Trạch dâng rất cao so với năm 2016, nhiều gia đình bị mất đất sản xuất do ngập nước, nên dẫn đến nguy cơ xảy ra chặt phá rừng, xâm lấn rừng lấy đất sản xuất là rất lớn. Bên cạnh đó khi mở đường quốc phòng 74 nối 2 huyện Nam Đông- A Lưới, đường La Sơn - Túy Loan cùng với lòng hồ Tả Trạch rộng thì nguy cơ khai thác, vận chuyển lâm sản sẽ gia tăng. 

Để ngăn chặn hạn chế chặt phá rừng, xâm lấn rừng và và khai thác, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép, HKL H. Nam Đông đề ra một số giải pháp như: tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các chủ rừng Nhà nước thực hiện phòng chống chặt phá rừng. Thúc đẩy các cộng đồng, hộ gia đình được giao rừng tăng cường các hoạt động tuần tra bảo vệ rừng. Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các  đơn vị tuần tra bảo vệ rừng và tổ chức truy quét có hiệu quả các điểm nóng về khai thác lâm sản trái phép. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, bảo vệ rừng như cập nhật ảnh viễn thám để sớm phát hiện các vụ phá rừng... (Cadn.com.vn 29/3) Về đầu trang

http://cadn.com.vn/news/75_163826_rung-nam-dong-tiep-tuc-chay-mau-.aspx

Bạt núi Sơn Trà: Xin ý kiến Thủ tướng rà soát thủ tục triển khai dự án

Ngày 29.3, Thành ủy Đà Nẵng cho biết, Chánh văn phòng Đào Tấn Bằng, vừa ký thông báo kết luận một số nội dung liên quan đến xây dựng công trình không phép, trái phép; một số công trình thi công không đảm bảo chất lượng, xuống cấp ngay sau khi đưa vào sử dụng… 

Đối với dự án khu du lịch sinh thái biển Tiên Sa bạt núi Sơn Trà để xây dựng gây bức xúc trong dư luận trong thời gian qua, Thành ủy Đà Nẵng đã đề nghị Ban cán sự đảng UBND TP chỉ đạo các cơ quan chức năng và địa phương có liên quan yêu cầu chủ đầu tư dừng ngay việc thi công; xử lý, tháo dỡ các hạng mục công trình xây dựng đã thi công nhưng không đảm bảo các thủ tục về xây dựng theo quy định của pháp luật. 

UBND TP tổng hợp, báo cáo xin ý kiến Thủ tướng và các bộ, ngành T.Ư về việc chỉ đạo rà soát các thủ tục pháp lý liên quan đến việc triển khai dự án, đặc biệt lưu ý các yếu tố đảm bảo quốc phòng, an ninh và cảnh quan môi trường sinh thái tại khu vực theo quy định của pháp luật. 

Thành ủy Đà Nẵng cũng yêu cầu nghiên cứu, rà soát lại quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà đến năm 2025 định hướng đến năm 2050 (theo Quyết định số 2163/QĐ-TTg ngày 09-11-2016 của Thủ tướng Chính phủ), báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh nhằm đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng an ninh, bảo tồn cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái tại khu vực bán đảo Sơn Trà. 

“Theo đó, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ những dự án ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, cảnh quan môi trường; đối với những dự án góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo các yếu tố về quốc phòng, an ninh, hài hòa với cảnh quan môi trường thì công khai cho dư luận biết để tạo sự đồng thuận cao khi triển khai thực hiện”, kết luận nêu. 

Ban thường vụ Thành ủy Đà Nẵng cũng đề nghị UBND TP khẩn trương báo cáo Chính phủ và các ban, bộ, ngành T.Ư có liên quan được biết, theo dõi, chỉ đạo về tình hình xây dựng trái phép tổ hợp khách sạn và căn hộ Central Coast và công trình cải tạo tại số 3 đường Phạm Hùng (Q.Cẩm Lệ). 

Về trách nhiệm liên quan đến 3 dự án không phép và trái phép này, Thành ủy Đà Nẵng chỉ đạo UBND TP báo cáo cụ thể, làm rõ nguyên nhân, đề xuất hình thức xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân có liên quan thiếu trách nhiệm, buông lỏng công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực, địa bàn phụ trách, kể cả trách nhiệm người đứng đầu, trên tinh thần thượng tôn pháp luật, đúng, sai rõ ràng… 

Để chấn chỉnh thực trạng đã nêu, Thành ủy Đà Nẵng đề nghị Ban cán sự đảng UBND TP tham mưu Thành ủy ban hành chỉ thị về chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị, an toàn lao động tại các công trình xây dựng trên địa bàn TP, hoàn thành trước ngày 30.4.2017. (Thanh Niên Online 29/3) Về đầu trang

Nhắm mắt' phá rừng phòng hộ để chăn nuôi bò ở Phú Yên

Mưu sinh ở vỉa hè qua ống kính Tại các khu rừng tự nhiên tái sinh có chức năng phòng hộ ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên hiện có hàng chục héc ta bị đốn hạ theo kiểu phát trắng để phục vụ Dự án “Chăn nuôi bò thịt chất lượng cao” của Công ty cổ phần Chăn nuôi Phú Yên. 

Thực trạng này diễn ra công khai tại Tiểu khu 310 và Tiểu khu 311 nằm gần lòng hồ Thủy điện Sông Hinh thuộc địa bàn xã Sông Hinh, do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Sông Hinh quản lý. 

Được người dân chỉ đường, chúng tôi xâm nhập vào hai tiểu khu trên. Tại hiện trường, những người làm thuê sử dụng cưa lốc phát trắng từng vạt rừng tại những địa điểm gần kề nhau. Tiếng cưa lốc liên tục vang dội cả khu rừng. Không chỉ cây nhỏ, kể cả rất nhiều cây lớn có đường kính từ 20 - 50 cm cũng bị đốn hạ không thương tiếc. 

Trao đổi với phóng viên, ông Trần Thanh Tâm, người đứng ra nhận khoán chặt hạ cây rừng tại Tiểu khu 310, nói: “Ở đây có 11 máy. Bình quân mỗi máy như thế này, mỗi ngày cũng chặt hạ được gần 1 ha. Tiến độ là đánh nhanh rút gọn, chứ ở gì nhiều trong rừng. Dự kiến sẽ làm trong vòng 4 tháng”. 

Khi được hỏi về diện tích đã chặt phá, ông Tâm cho biết thêm, chưa thể đo được diện tích vì còn dính dây leo trong rừng. 

Điều khiến người dân bức xúc vì đây là những cánh rừng phòng hộ đầu nguồn. Dọc bìa rừng, trên các thân cây còn cắm những biển cấm “Rừng phòng hộ, Cấm khai thác gỗ, lâm sản khác...”. 

Ông Nguyễn Đình Phú, người dân thôn Lương Phước, xã Hòa Phú, huyện Tây Hòa, cho biết: “Đây là rừng phòng hộ không thể đánh đổi. Trước nay, rừng này được cắm biển “Rừng phòng hộ”, tại sao nay lại đi phá rừng phòng hộ. Tôi coi ti vi rất nhiều, Thủ tướng yêu cầu phải giữ rừng phòng hộ. Chính tôi cũng là một người đi trồng trong rừng phòng hộ... Nếu làm cái gì đó có lợi cho Nhà nước thì tôi sẵn sàng bỏ. Còn đây là làm cho một công ty mà phá cả cánh rừng thì không chỉ người dân như tôi và cả hàng trăm, hàng nghìn người cũng không đồng ý”. 

Không chỉ người dân Phú Yên đau xót khi phải chứng kiến khu rừng đang bị triệt hạ, ngay cả những người được thuê đốn phát rừng cũng phải ngậm ngùi, miễn cưỡng. Vì miếng cơm, manh áo, họ buộc phải nhắm mắt, tự tay mình cắt bỏ đi “lá phổi của chính mình”. 

Ông Vi Văn Nội quê ở Lạng Sơn, nay lập nghiệp tại xã Sơn Thành Đông, huyện Tây Hòa đã hơn 20 năm và là một trong những người được thuê phá rừng cho biết: “Tôi cũng thấy tiếc chứ, nhưng vì nghèo đói quá công ty thuê thì phải làm thôi… Rừng rú bây giờ hết rồi. Người dân muốn một ít đất để sản xuất thì không được nhưng bây giờ thì làm cả mấy chục, mấy trăm héc ta”. 

Cây có đường kính lớn trong rừng phòng hộ bị đốn hạ không thương tiếc.

Được biết, dự án “Chăn nuôi bò thịt chất lượng cao” của Công ty cổ phần Chăn nuôi Phú Yên được UBND tỉnh Phú Yên chấp thuận và ra quyết định chủ trương đầu tư vào ngày 4/10/2016. 

Để thực hiện dự án, diện tích cần thu hồi là hơn 463 ha tại Tiểu khu 310 và Tiểu khu 311 do Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh quản lý. Trước đó, ngày 15/9/2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra Quyết định số 2133/QĐ-BTNMT về việc phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án “Chăn nuôi bò thịt chất lượng cao”. Theo đó, có nội dung: “Chỉ được triển khai dự án khi có phương án trồng rừng thay thế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật”. 

Tuy nhiên, đến nay, chủ đầu tư là Công ty cổ phần Chăn nuôi Phú Yên mới đang thuê đơn vị tư vấn khảo sát thực địa các vùng với diện tích khoảng 500 ha; trong đó, chọn ra 377 ha để lập phương án trồng rừng thay thế. 

Ngay cả khi rừng đã bị phá để triển khai dự án, người đứng đầu ngành tài nguyên và môi trường của tỉnh vẫn chưa nắm rõ. 

Ông Nguyễn Như Thức, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên cho biết: “Dự án chăn nuôi bò chất lượng cao ở Sông Hinh đến nay đã có đánh giá tác động môi trường. Ở đây mới có giai đoạn 1 thôi, bốn trăm mấy chục héc ta; còn giai đoạn 2 nữa chưa triển khai. Không biết lâu nay thủ tục khai thác rừng là như thế nào. Cái này thì Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý, còn Tài nguyên và Môi trường thì đã hướng dẫn cho công ty những bước tiếp theo...”. 

Dự án “Chăn nuôi bò thịt chất lượng cao” là chủ trương lớn của tỉnh Phú Yên, góp phần phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân. Thế nhưng, từ khi triển khai dự án cho đến nay, người dân Phú Yên rất bức xúc và tha thiết đề nghị phải dừng ngay dự án để kiểm tra lại trước việc hàng trăm héc ta rừng đã và sẽ bị phát trắng. Trong khi chờ các cơ quan chức năng xem xét làm rõ dự án, những cánh rừng vẫn tiếp tục bị đốn hạ…. (TTXVN/Tin Tức 29/3) Về đầu trang

http://baotintuc.vn/phong-su-dieu-tra/nham-mat-pha-rung-phong-ho-de-chan-nuoi-bo-o-phu-yen-20170329095534063.htm

Cửa rừng đóng nhưng chưa 'khóa'

Ngày 27/3, ông Trần Hữu Thế- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên xác nhận tỉnh đang cho khai thác rừng tại hai tiểu khu 310, 311 thuộc xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh để giao đất cho Công ty cổ phần chăn nuôi Thảo Nguyên Phú Yên thực hiện dự án chăn nuôi bò thịt chất lượng cao. 

Theo đó, để phục vụ Dự án chăn nuôi bò thịt của Công ty Thảo Nguyên, UBND tỉnh Phú Yên ban hành quyết định chuyển mục đích sử dụng 377ha rừng tại hai tiểu khu 310, 311 sang mục đích không phải lâm nghiệp. 

Trong số diện tích rừng bị chuyển đổi có hơn 273 ha tự nhiên, còn lại là rừng trồng, do Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Sông Hinh quản lý. Được biết, toàn bộ diện tích rừng chuyển đổi trên đều có chức năng rừng phòng hộ đầu nguồn, vốn được bảo vệ nghiêm ngặt. 

Từ việc chuyển đổi này, hàng ngàn cây gỗ có đường kính 40-50cm đã bị đốn hạ. Chỉ mới sau gần một tuần, đã có hàng chục hecta rừng bị tàn phá hoàn toàn. Một điều đáng chú ý, trong quyết định của Bộ TN&MT về phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án trên nêu rõ: Chỉ được triển khai thực hiện dự án khi có phương án trồng rừng thay thế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật. 

Thế nhưng theo ông Huỳnh Xuân Quang, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên thì hiện nay, Công ty Thảo Nguyên chỉ mới đang thuê đơn vị tư vấn khảo sát thực địa để lập phương án trồng rừng thay thế. 

Không chỉ ở Phú Yên, tại tỉnh Khánh Hòa cũng trong tháng 3/2017, tại khoảnh 4, tiểu khu 205 rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc huyện Khánh Vĩnh do Công ty Lâm sản Khánh Hòa quản lý cũng để xảy ra tình trạng chặt phá rừng. 

Theo Giám đốc Công TNHH MTV lâm sản Khánh Hòa, ước tính có khoảng 20 cây gỗ dẻ, sến, chua khét…thuộc nhóm 5 đến nhóm 7 đã bị các đối tượng phá rừng đốn hạ, cưa xẻ, những cây gỗ bị đốn hạ có đường kính từ 0,4 đến 1 m, dài từ 1,2 đến 2m, lượng gỗ tang vật đã thu gom được hơn 12,9m3. 

Trước đó, cũng tại khu vực rừng phòng hộ Hòn Hèo thuộc thị xã Ninh Hòa, công nhân của Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Bắc Khánh Hòa phụ trách hồ nước Tiên Du cũng đã “phát dọn” hơn 17.500 m2 trong diện tích chỉ được phát dọn là 7.221 m2, như vậy hơn 10 nghìn m2 rừng phòng hộ của rừng Hòn Hèo cũng “được” phát luôn. 

Không chỉ các tỉnh Nam Trung Bộ tình trạng phá rừng liên tục xảy ra, mà các tỉnh Tây Nguyên tình cảnh này cũng diễn ra tương tự. Những vụ phá rừng liên tục được phát hiện, nhiều diện tích rừng đã bị đốn hạ không thương tiếc. 

Tính từ đầu tháng 1/2017 đến nay, tại các tỉnh Tây Nguyên các cơ quan chức năng liên tục phát hiện các vụ chặt phá rừng với quy mô lớn điển hình như: địa bàn huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, hàng chục mét khối gỗ phần lớn có đường kính 20-30 cm, dài 4-5 m; Tại tỉnh Kon Tum, ở Tiểu khu 365, thuộc lâm phần của Ban Quản lý rừng phòng hộ Đắk Hà, huyện Đắk Hà, hàng loạt cây gỗ lớn ở đây đã bị chặt hạ. Những gốc cây còn sót lại có đường kính trên dưới 40 cm. 

Trước đó, ngày 20/1, lực lượng tuần tra của Ban Quản lý rừng phòng hộ Đông Bắc Chư Pah, tỉnh Gia Lai đã bắt quả tang 2 thanh niên điều khiển một cặp bò kéo gỗ từ trên núi xuống suối Đắk Pơ Kai. Lực lượng chức năng xác định có 2 bãi gỗ với tổng cộng 54 cây, được cắt thành 73 lóng tròn (gần 30 m3). Cả hai bãi gỗ đều thuộc Tiểu khu 174 của Ban Quản lý rừng phòng hộ Đông Bắc Chư Pah.

Theo Bộ NN&PTNT, chỉ trong giai đoạn năm 2010-2015, Tây Nguyên bị mất hơn 312.400ha rừng, trong đó chủ yếu là rừng tự nhiên.  

Thực tế hiện nay, rừng vẫn đang bị tàn phá ngày đêm, việc suy giảm nhanh cả về diện tích và chất lượng của rừng đang tác động rất lớn đến biến đổi khí hậu; làm gia tăng lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán và nguy cơ hoang mạc hóa trên nhiều địa bàn... 

Vì vậy, để rừng không còn bị “chảy máu” các ngành chức năng cần vào cuộc một cách quyết liệt và trừng trị thích đáng những kẻ phá rừng cũng như mượn danh nghĩa để phá rừng.  

Những vụ phá rừng liên tục được phát hiện, nhiều diện tích rừng đã bị đốn hạ không thương tiếc. Tính từ đầu tháng 1/2017 đến nay, tại các tỉnh Tây Nguyên các cơ quan chức năng liên tục phát hiện các vụ chặt phá rừng với quy mô lớn điển hình như: địa bàn huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, hàng chục mét khối gỗ phần lớn có đường kính 20-30 cm, dài 4-5 m; Tại tỉnh Kon Tum, ở Tiểu khu 365, thuộc lâm phần của Ban Quản lý rừng phòng hộ Đắk Hà, huyện Đắk Hà, hàng loạt cây gỗ lớn ở đây đã bị chặt hạ. (Đại Đoàn Kết 29/3, tr1+10) Về đầu trang

Gia Lai: Thu hồi đất rừng bị lấn chiếm

Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành Kế hoạch số 1123/KH-UBND về việc tổ chức thu hồi diện tích đất rừng bị lấn chiếm để chuyển cây trồng phù hợp mục đích lâm nghiệp và trồng rừng. 

Theo đó, diện tích thu hồi trong 3 năm (2017-2019) tối thiểu là 30 ngàn ha; địa điểm thu hồi tại 17 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Về tiến độ, trong 2 năm (2017-2018) sẽ thu hồi tối thiểu 10 ngàn ha, bình quân mỗi địa phương là 600 ha; năm 2019 sẽ thu hồi tối thiểu 20 ngàn ha, bình quân mỗi địa phương là 1.200 ha. 

Mục đích chính của chương trình này là thu hồi diện tích đất rừng mà người dân lấn chiếm để trồng cây công nghiệp nay trả lại cho mục tiêu phát triển lâm nghiệp và giao lại cho người dân trồng rừng có hưởng lợi (được hỗ trợ cây giống, trợ cấp gạo, trồng cây ngắn ngày tăng thu nhập khi cây rừng chưa khép tán, chăn thả gia súc dưới tán cây rừng…) nhằm nâng cao độ che phủ rừng… (Báo Gia Lai 29/3) Về đầu trang

Hút cát tàn phá VQG Cát Tiên: Ai tiếp tay lộng hành?

Việc khai thác cát trái phép trong Vườn Quốc gia Cát Tiên đã diễn ra nhiều năm qua nhưng chưa được xử lý triệt để dẫn đến nhiều hệ lụy nguy hiểm. 

Thời gian gần đây dư luận xôn xao trước nạn khai thác cát trái phép khu vực thượng nguồn sông Đồng Nai chảy qua tỉnh này và Lâm Đồng. 

Người dân sống dọc hai bờ thuộc các xã Núi Tượng, Tà Lài, Đắc Lua, Đạ Tẻh… đang đối mặt với thực trạng đất đai canh tác bị sạt lở, mùa màng thất bát… do nạn khai thác cát gây ra. 

Đáng lo ngại hơn, một số điểm khai thác cát trái phép lại nằm trong khu vực vùng đệm của Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên. 

Chia sẻ với báo chí, ông Trần Văn Bình – Hạt trưởng hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Tiên cho biết, tình trạng khai thác cát trên lưu vực đã diễn ra trong nhiều năm nay. 

Theo ông Bình, việc một số điểm khai thác cát trái phép trên lại nằm trong khu vực vùng đệm của Vườn đã làm thay đổi dòng chảy gây sạt lở và ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái tự nhiên vốn có ở nơi đây hàng trăm năm qua. 

Ông Bình chia sẻ, trước đây rừng vốn dĩ yên ả nhưng nay phải oằn mình gánh chịu tiếng ồn và khói bụi, điều này khiến cho môi trường sống của một số loài động vật trong khu bảo tồn bị ảnh hưởng. 

Đặc biệt, lãnh đạo Vườn Quốc gia Cát Tiên đã nhiều lần gửi đơn kiến nghị địa phương nhưng sự việc vẫn chưa được giải quyết triệt để. 

Theo ông Bình, cũng giống như các đối tượng săn thú, chặt phá cây rừng, khai thác cát cũng “chiêu trò” không kém để giám sát cơ quan chức năng. 

"Chúng luôn cử người theo dõi lực lượng đi tuần tra bảo vệ, nếu thấy bóng dáng anh em kiểm lâm là chúng điện thoại cho phương tiện rời khỏi khu vực đi đến đoạn sông khác để tiếp tục khai thác nên rất khó bắt quả tang. đối tượng khain thác cát trái phép thường chọn vị trí chính giữa hai chốt để hút cát nên rất khó để bắt quả tang”, ông Bình khẳng định. 

Theo tìm hiểu, Vườn Quốc gia Cát Tiên hiện có 18 vị trí bị sạt lở với tổng diện tích 13.800 m2. Phần lớn các điểm sạt lở tập trung ở khu vực giáp ranh giữa Trạm Đà Cộ và Đà Mí thuộc xã Đạ Kho, huyện Đạ Tẻh, Lâm Đồng. 

Phía bờ sông thuộc UBND huyện Đạ Tẻh quản lý có 34 vị trí sạt lở đất, các vị trí sạt lở có mức độ khác nhau nhưng nguyên nhân chính là do tình trạng khai thác cát. 

Trao đổi cụ thể hơn về vấn đề này với báo chí, ông Mai Ngọc Huế - Chủ tịch UBND xã Núi Tượng, huyện Tân Phú thừa nhận tình trạng dọc bờ sông thuộc địa phận xã Núi Tượng sạt lở là có. 

Theo ông Huế, người dân cho rằng nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên là do tình trạng khai thác cát. 

 “Hiện trên địa bàn của xã chỉ có đơn một đơn vị khai thác cát là công ty Phú Thịnh, ngày trước đơn vị này có 6 ghe khai thác, thì nay giảm xuống còn 3 ghe khai thác theo yêu cầu của huyện. Thẩm quyền của xã cũng ở mực nhất định, bởi họ được Sở TN-MT cấp giấy phép”, ông Huế phân trần. 

Trong khi đó, tại cuộc họp với UBND tỉnh Đồng Nai và các sở, ngành ngày 28/3, ông Từ Nam Thành, phó giám đốc Sở GTVT Đồng Nai khẳng định, địa phương này sẽ ngừng tất cả dự án nạo vét sông. 

Ông Thành cho biết, trên địa bàn hiện có tổng cộng 14 dự án nạo vét, thông luồng cho tận khu khoáng sản. Trong đó, 6 dự án nạo vét luồng lạch, tận thu khoáng sản theo hình thức xã hội hóa trên địa bàn do Đồng Nai cấp phép đã dừng và tạm dừng hoạt động; 8 dự án do Bộ GTVT cấp phép hiện cũng đã tạm dừng khai thác. 

Phát biểu tại cuộc họp, ông Võ Văn Chánh - phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai nhấn mạnh, việc khai thác cát không thể cấm hoàn toàn vì đây là nguồn vật liệu quan trọng phát triển kinh tế. 

Tuy nhiên, tỉnh sẽ điều chỉnh lại quy hoạch theo hướng siết chặt lại các dự án và bến bãi. Dự án nào thật sự cần thiết, có quy hoạch khoáng sản ở đó thì mới quy hoạch bến bãi để phục vụ khu vực đó. (Đất Việt Online 29/3) Về đầu trang

http://baodatviet.vn/khoa-hoc/quan-diem/hut-cat-tan-pha-vqg-cat-tien-ai-tiep-tay-long-hanh-3332087/

Lô sừng động vật thu giữ tại Nội Bài là sừng tê giác

Kết quả giám định các mẫu sừng động vật do lực lượng Hải quan phát hiện ngày 14/3/2017 vận chuyển từ Kenya về sân bay quốc tế Nội Bài là sừng của loài tê giác đen và tê giác trắng. 

Theo kết quả giám định của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 5 mẫu lấy từ 5 chiếc sừng trong lô hàng có 1 mẫu là sừng của loài tê giác đen có tên khoa học Diceros bicornis, 4 mẫu và 1 mẫu vụn là sừng của loài tê giác trằng, có tên khoa học Ceratotherium simum. Hai loài này đều phân bổ tự nhiên tại châu Phi. 

Đáng lưu ý, loài tê giác đen và tê giác trắng nêu trên có tên trong Phụ lục I của Danh mục các loài động vật hoang dã quy định tại các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (ban hành kèm theo Thông tư 40/2013/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). 

Trước đó, ngày 14/3, trong quá trình làm thủ tục hải quan cho hành khách đi trên chuyến bay mang ký hiệu KQ 870, lực lượng Hải quan phát hiện hai va ly hành lý có số thẻ: 3706KQ002462 và 3706KQ002486 có dấu hiệu nghi vấn. Trên thẻ hành lý không có tên người nhận, không thể hiện trọng lượng. Qua soi chiếu sơ bộ thì hàng hóa nhập khẩu nghi là các sản phẩm từ động vật hoang dã (sừng tê giác). 

Ngay lập tức, Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) đã phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài tiến hành kiểm tra thực tế hai kiện hành lý trên, phát hiện bên trong va ly mầu xanh số thẻ 3706KQ002486, chứa  26 sừng động vật nghi sừng tê giác, trọng lượng 53kg. Bên trong va ly mầu nâu số thẻ 3706KQ002462, chứa 20 cái sừng, trọng lượng 50,7 kg. (Hải Quan Online 29/3) Về đầu trang

Bình luận