Điểm báo ngày 27/7/2018

Cập nhật ngày : 27/07/2018 03:31

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 27 tháng 07 năm 2018)

Nạn voi rừng phá hoa màu ở Đồng Nai

Một đàn voi rừng khoảng 10 cá thể liên tục quần phá hoa màu của người dân xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Xung đột giữa voi và người ngày càng trở nên nghiêm trọng, nhưng dự án (DA) bảo tồn loài voi và bảo vệ con người sau nhiều năm triển khai vẫn chưa hoàn tất.

Có mặt tại xã Thanh Sơn trong những ngày cuối tháng 7, ngoài những cơn mưa như trút nước, chúng tôi còn cảm nhận không khí hoang mang, lo sợ đang bao trùm lên cuộc sống người dân nơi đây bởi nạn voi rừng kéo về tìm kiếm thức ăn, phá hoại hoa màu khiến cuộc sống của họ bị đảo lộn hoàn toàn.

Anh Nguyễn Văn Hiền, ngụ ấp 7 cho biết, thường voi rừng xuất hiện vào lúc hơn 5 giờ chiều, lúc đó người dân không còn có mặt ở nương rẫy nữa nên cũng không biết để xua đuổi không cho chúng phá hoại hoa màu. Nhưng nếu voi xuất hiện vào lúc họ đang ở đó thì cũng chẳng dám đuổi vì voi rất hung dữ có thể chúng sẽ tấn công lại. Việc voi rừng kéo nhau về khiến cuộc sống của người dân bị đảo lộn, thiệt hại kinh tế nặng nề. Còn anh Chồi A Sú ngụ ấp 4 nói rằng: “Chúng tôi đã ngán voi rừng lắm rồi, nghịch ngợm và rất phá. Chúng đi đến đâu là quật ngã cây, phá trái, hoa màu đến đó. Lúc cơ quan chức năng mới lắp hàng rào điện để ngăn voi ra khu dân cư, khu nương rẫy thì chúng tôi cũng an tâm hơn, vì voi bị điện giật nên bỏ đi. Tuy nhiên, cả tháng nay voi vẫn về, phá hoại hết hoa màu của chúng tôi. Mỗi lần voi xuất hiện là cuộc sống của chúng tôi bị đảo lộn, đi rẫy thì sợ voi nhưng không đi lại sợ con cái chết đói”.

Cách đây không lâu, một con voi ngà lệch dẫn đàn về phá rẫy và sát hại một người dân khi người này đi vào rừng chích cá. Theo người dân, do rừng tự nhiên bị thu hẹp, thức ăn của voi ngày càng ít nên voi về khu nương rẫy của người dân để kiếm ăn, phá. Có những thời gian, chúng tôi phải ngủ ở chòi ngoài rẫy để canh voi, thấy voi về là đánh kẻng, đốt lửa để đuổi voi. “Nhưng càng ngày voi càng lỳ, chúng tôi chẳng dám ở lại rẫy nữa. Thà chịu mất hoa màu còn hơn mất mạng”, ông Nguyễn Hoàng Phìn, ngụ ấp 6 nói.

Để giải quyết vấn nạn xung đột giữa voi và người, tỉnh Đồng Nai đã triển khai dự án khẩn cấp bảo tồn voi và hàng rào điện là một trong các hạng mục chính, được đưa vào vận hành tháng 9-2017. Hàng rào điện dài 50km, cao 2,2m, dòng điện công suất thấp, được phát ra trong khoảng 1/3 giây, nên khi người đụng vào sẽ giật bắn ra, không nguy hiểm tới tính mạng, nó còn khiến voi hoảng sợ không dám lại gần. Dự án còn các hạng mục khác như trồng bổ sung thức ăn cho voi, đánh giá lại nguồn nước, trồng cây thuốc trị bệnh cho voi... với tổng kinh phí hơn 84 tỷ đồng, nhưng hiện dự án vẫn chưa hoàn tất.

Trước tình hình trên, Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai đã cử lực lượng phản ứng nhanh của chi cục phối hợp lực lượng công an, dân quân tự vệ huyện Định Quán, chính quyền xã Thanh Sơn, người dân ở ấp 4, 5, 6, 7, triển khai các biện pháp xua đuổi voi quay vào rừng, tuyên truyền vận động người dân tránh xung đột với voi để không ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng. Ngoài ra, theo ông Lê Việt Dũng (Phó Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai), chi cục đang kiến nghị UBND tỉnh và Tổng cục Lâm nghiệp xây dựng thêm 20km hàng rào điện nối điểm cuối tại xã Thanh Sơn đến giáp bờ sông Đồng Nai. (Sài Gòn Giải Phóng 26/7, tr6; Sài Gòn Giải Phóng Online 26/7) Về đầu trang

 http://www.sggp.org.vn/nan-voi-rung-pha-hoa-mau-o-dong-nai-535081.html

Quảng Ninh: Một tấm gương giữ rừng

Giữa những ngày nắng nóng, đến với rừng của cụ Triệu Tài Cao, gần 80 tuổi, người dân tộc Dao ở thôn Bằng Anh, xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, ai cũng cảm nhận được hương vị thanh mát của tự nhiên, thứ hương vị không một công trình nhân tạo nào có được…

Nhấp ngụm nước vối tươi, nghe cụ Cao kể chuyện về rừng thấy thấp thoáng bao thăng trầm của những ngày xưa cũ. Ngày còn thiếu ăn, ngày cụ nhận khoán 30 ha rừng vẫn còn hoang hoải, thi thoảng lại bị lấy trộm khúc gỗ, cái cây vì người ta nói không có sổ đỏ thì đâu làm minh chứng là rừng của cụ được…

Nhưng dù gì, trong thâm tâm cụ luôn tâm niệm một điều, giữ được rừng là giữ được nhà. Có lẽ đó là một điều tâm linh mà người Dao luôn tâm niệm, bởi mỗi khi ốm đau, bệnh tật người Dao cũng thường vào rừng hái lá nọ, củ kia, về ninh, sắc để làm thuốc chữa… cứ như thế, mỗi cánh rừng không những nuôi sống mà còn chữa lành bao vết thương cho đồng bào người Dao.

Rừng của cụ Cao đa số là lim – thứ gỗ quý mà nhiều người muốn có. Giữ rừng đời cụ đã khó, làm sao để các con hiểu được và giữ được rừng theo hướng khoanh nuôi, tái sinh về sau mới là điều cụ trăn trở. Tuổi cao, cụ cũng phải tiến hành chia cho các con khoảnh rừng này, nhưng nói là chia, cụ vẫn luôn giữ cho khu vừng toàn vẹn, ít nhất là chừng nào cụ còn sống trên đời này.

Anh Triệu Tiến Trìu, con của cụ Cao cũng chia sẻ: “Trước đây nhà tôi giữ rừng vất vả lắm, diện tích thì rộng, người thì ít, nhất là khi chưa được giao sổ đỏ. Từ những năm 80 khi được giao khoán thì mới ổn định dần. Nhưng việc giữ được rừng nguyên sinh như hiện nay gia đình cũng rất vất vả, bởi vừa phải lo bảo vệ rừng vừa phải lo trang trải kinh tế gia đình”.

Anh Trìu cũng băn khoăn:“Trước đây, các cây dược liệu trong rừng rất sẵn nhưng giờ cũng trở nên hiếm. Nhiều hộ gần nhà tôi sau khi được giao rừng đã chuyển đổi ngay sang trồng keo. Với loại cây này chỉ sau 4-5 năm, người dân sẽ có ngay khoản thu 100 triệu đồng/ha và đây sẽ là khoản lớn để các hộ có thể đầu tư nâng cấp nhà cửa”.

Dù có băn khoăn nhưng các con cụ cũng không bao giờ nghĩ đến hướng tác động đến rừng, bởi nếu không, cánh rừng riêng chỉ tính gỗ lim đã có giá trị lên đến 6-7 tỷ đồng của cụ làm sao còn vững đến lức này. Một hướng đi khác mà cụ Cao cùng các con đang phát triển kinh tế là đưa thêm các loại cây dược liệu như trà hoa vàng, ba kích, vôi tía, trầm gió… trồng dưới tán rừng trên 3 ha. Sau từ 2-3 năm, thu nhập gia đình cụ từ việc thu hoạch cây trám, nhựa trám và một số loại dược liệu khoảng 100 triệu đồng. Thu nhập này chỉ giúp gia đình cụ đủ trang trải cuộc sống hằng ngày. Đây là cách làm dù chưa thể đem lại hiệu quả kinh tế cao ngay nhưng bền vững hơn và có hy vọng phát triển hơn nữa trong lúc nguồn dược liệu ngày càng khan hiếm.

Cụ Cao đã già, chuyện cụ kể nghe câu được, câu mất, chỉ cảm nhận qua ánh mắt và sắc giọng cụ khi nói về rừng mới thấy quyết tâm giữ rừng của cụ đã trở thành văn hóa và truyền thống trong ngôi nhà gỗ được dựng từ những năm 60 giữa rừng Hoành Bồ này.

Nói chuyện tương lai của khu rừng được bảo tồn nguyên vẹn duy nhất của cả tỉnh Quảng Ninh này, anh Trìu tiếp nối câu chuyện của cha mình rất hồ hởi: “Chuyện giữ rừng của cha tôi giờ không đơn độc nữa, nhiều cấp ban ngành rất quan tâm, đặc biệt là ngay tại xã, nói đến rừng ông Cao ai cũng biết, cũng vì thế chẳng còn lo mất rừng như ngày trước”.

Anh phấn khởi kể: “Mới đây tôi được biết Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Quảng Ninh đang phát triển mạnh 'mỗi làng một sản phẩm' nên sắp tới nhiều sản phẩm dược liệu sẽ được huyện thẩm định đưa vào phát triển theo mô hình này. Hiện huyện đang thẩm định, đăng ký sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu 'Trà hoa vàng' đấy”.

Để phát huy kinh tế rừng, anh Triệu Tiến Trìu cũng mong muốn được hỗ trợ về vốn đầu tư, cây giống, kỹ thuật trồng và đặc biệt là cách phòng trừ sâu bệnh. Gia đình tự gây một số diện tích trầm nhưng cứ đến mùa hè là sâu bệnh hoành hành khiến cây không thể phát triển được.

Hiện nay, nhiều loại dược liệu dưới tán rừng của cụ Cao được rất nhiều thương lái đến hỏi mua nhưng gia đình chưa đồng ý vì muốn để thêm thời gian, sản phẩm có thêm chất lượng cao hơn. Nhờ trồng cây dược liệu dưới tán rừng nên những người bảo vệ và phát triển rừng như cụ Triệu Tài Cao có thêm sinh kế hằng ngày.

Ông Đỗ Quyết Tiến, Bí thư xã Tân Dân cho biết, đây được xem là mô hình tiêu biểu của địa phương, huyện, thậm chí đối với cá nhân thì đây còn là mô hình của tỉnh Quảng Ninh. Tỉnh Quảng Ninh rất quan tâm mô hình của ông Cao, bởi tỉnh đang hướng tới phát triển bảo vệ môi trường tự nhiên. Tuy vậy ông Tiến cũng băn khoăn: “Việc khoanh nuôi bảo vệ rừng chỉ nhận được khoản kinh phí hỗ trợ của Nhà nước nếu là rừng phòng hộ, còn rừng tự nhiên được giao cho sản xuất là không có. Hiện Nhà nước có hỗ trợ trồng cây gỗ lớn để vận động nhân dân thay đổi nhận thức, thay đổi cây keo bằng cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao hơn. Tuy nhiên, chính sách chỉ hỗ trợ với diện tích trên 3 ha, nhưng xã hầu như không có gia đình nào có diện tích này. Các chính sách như hỗ trợ cây giống, chỉ 10 triệu đồng/ha nên không đủ khuyến khích, thu hút được người dân”.

Nghe lực lượng kiểm lâm cơ sở kể mới đây Bí thư tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Văn Đọc đến thăm khu rừng của cụ, chính ông đã phải thốt lên vì rừng cụ Cao quý hiếm quá, cần được bảo tồn bằng mọi giá. Ông có hỏi lực lượng kiểm lâm liệu trong tỉnh còn khu rừng nào thế này không, rất tiếc câu trả lời là không còn nữa.

Rừng của cụ Cao giờ là duy nhất của cả tỉnh, cũng khó có cánh rừng nào trải dài cùng năm tháng mà vẹn nguyên như thế, có lẽ mỗi cánh rừng phải có một tâm hồn đồng điệu để cùng lo toan, vun vén cho người yêu rừng phải sống được cùng rừng… (Báo Chính Phủ Điện Tử  26/7) Về đầu trang

 http://baochinhphu.vn/nguoi-totviec-tot/mot-tam-guong-giu-rung/342314.vgp

 

Rút hươu sao Hà Tĩnh khỏi danh mục động vật rừng, trở thành giống vật nuôi

Đó là thông tin đáng mừng vừa được Đoàn công tác của Cục chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) kết luận sau chuyến khảo sát, làm việc tại huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh).

Để phát triển chăn nuôi loài vật này, người dân và chính quyền các cấp ở Hương Sơn đã nhiều lần đề nghị lên cấp trên đưa hươu sao ra khỏi danh mục động vật rừng thông thường và bổ sung vào danh mục giống vật nuôi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất - kinh doanh, xây dựng thương hiệu...

Tiếp thu những kiến nghị này, Đoàn công tác của Cục Chăn nuôi do Phó Cục trưởng Tống Xuân Chinh làm trưởng đoàn đã trực tiếp về khảo sát, kiểm tra thực tế, trao đổi với người dân và làm việc với các sở ngành, chính quyền địa phương.

Tất cả các ý kiến thảo luận, trao đổi đều cho thấy, từ nhiều năm nay, tại huyện Hương Sơn nói riêng và tỉnh Hà Tĩnh nói chung không phát hiện thấy hươu sao tồn tại trong rừng tự nhiên. Do đó có thể khẳng định, nguồn giống hươu sao hoàn toàn do người dân tạo ra.

Rút hươu sao Hà Tĩnh khỏi danh mục động vật rừng, trở thành giống vật nuôi

Với quy mô 19 con hươu, mỗi năm gia đình chị Phùng Thị Tân (Sơn Giang) có nguồn thu trên 160 triệu đồng từ bán con giống và nhung...

Mặt khác, qua một số tài liệu, phương thuốc thì sản phẩm nhung hươu đã được sử dụng cách đây hàng trăm năm và hươu sao đã được con người thuần hóa cách đây hơn 300 năm...

Bên cạnh đó hươu sao là vật nuôi hiền lành, dễ thích ứng, mang lại giá trị kinh tế cao cho nhiều địa phương, trong đó điển hình là ở Hương Sơn. Thực tế cũng cho thấy, từ năm 2008 - 2017, bình quân mỗi năm, đàn hươu sao ở Hương Sơn tăng 6% và toàn huyện đang có khoảng 33.450 con, có 345 cơ sở nuôi với quy mô trên 10 con, mỗi năm mang về nguồn thu từ 120 - 150 tỷ đồng.

Sau khi khảo sát thực tế, nghe báo cáo, xét nguyện vọng đề xuất của địa phương và người dân, ông Tống Xuân Chinh và đoàn công tác đã nhất trí đưa hươu sao ra khỏi danh mục động vật rừng thông thường theo tinh thần Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/9/2012 của Bộ NN&PTNT quy định về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường.

Đoàn công tác sẽ sớm đề nghị Bộ NN&PTNT công nhận hươu sao là giống vật nuôi, bổ sung vào Danh mục giống vật nuôi được sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam. (Baohatinh.vn 26/7) Về đầu trang

http://baohatinh.vn/nong-nghiep/rut-huou-sao-ha-tinh-khoi-danh-muc-dong-vat-rung-tro-thanh-giong-vat-nuoi/158606.htm

 

Đăk Lăk: Nhiều diện tích cao su trên đất rừng khộp kém phát triển

Ea Súp là một trong những huyện của tỉnh Đắk Lắk với nhiều diện tích rừng khộp bị phá bỏ chuyển đất sang trồng cao su. Đến nay, nhiều diện tích cao su trồng trên đất rừng khộp kém phát triển dù hết chu kỳ kiến thiết cơ bản (từ 5 - 6 năm) nhưng vườn cây vẫn khẳng khiu chưa đưa vào kinh doanh khai thác mủ được.

Thậm chí, nhiều vườn cây kém phát triển nên chủ dự án, hộ gia đình không chăm sóc để chết hàng trăm hécta, hoặc phá bỏ chuyển sang trồng các loại cây trồng khác mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Theo Sở NNPTNT tỉnh Đắk Lắk, trên địa bàn huyện Ea Súp có 9 dự án thí điểm trồng cao su của doanh nghiệp, với tổng diện tích thuê đất gần 7.000 ha; trong đó, trồng được 1.050 ha.

Theo đó, Công ty cổ phần Cao su Trí Đức có diện tích trồng nhiều nhất, với gần 300 ha, các doanh nghiệp khác trồng thí điểm từ 100 - 200 ha.

Qua kiểm tra, đánh giá của các đơn vị chức năng, nhiều diện tích cao su của các dự án sinh trưởng kém, không đồng đều nguyên nhân là do điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng không thích hợp, không được đầu tư chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, chưa thực hiện tốt phòng cháy chữa cháy, chống ngập úng…

Năm 2010, Công ty TNHH Anh Quốc được tỉnh Đắk Lắk cho thuê 1.160 ha tại tiểu khu 293, xã Cư M’Lan để trồng 434,5 ha cao su, diện tích còn lại là trồng rừng. Đến năm 2011, Công ty đã trồng 100 ha cao su thế nhưng chỉ vài năm sau đó, diện tích cao su mới trồng này đã chết gần hết. Công ty TNHH TM-DV-XNK Hoàng Gia Phát được tỉnh cho thuê gần 978 ha đất tại tiểu khu 134, 138 ở xã Ia J’Lơi để trồng cao su.

Đến nay, Công ty đã trồng trên 100 ha, nhưng qua kiểm tra đã có 30 ha bị chết cháy, chết khô, diện tích còn lại cũng phát triển kém. Công ty TNHH SX-XD-TM Đức Tâm cũng có nhiều diện tích cao su èo uột, chậm phát triển…

Không chỉ diện tích cao su của các doanh nghiệp kém phát triển mà phần lớn diện tích cao su của các nông hộ ở 10 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Ea Súp trồng trên diện tích đất rừng khộp cũng xảy ra tình trang tương tự nên các nông hộ chặt bỏ chuyển đất sang trồng cây ăn quả như: xoài, chuối, hoặc các loại cây ngắn ngày như mía đường, ngô lai, đậu đỗ…mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Gia đình anh Nguyễn Văn Tú, ở xã Ea Lê trước đây do chạy theo phong trào nên gia đình cũng đã đầu tư hàng chục triệu đồng để trồng trên 3 ha cao su. Sau 5 năm trồng, đầu tư chăm sóc nhưng vườn cây vẫn không phát triển nên gia đình mạnh dạn chặt bỏ toàn bộ diện tích chuyển sang trồng mía để có thu nhập cho gia đình…

Theo TS Tôn Nữ Tuấn Nam- Viện Khoa học Kỹ thuật Nông, lâm nghiệp Tây Nguyên, điều kiện đất đai, khí hậu vùng rừng khộp rất khắc nghiệt bởi tầng đất canh tác mỏng, khả năng ngập úng trong mùa mưa cao, lượng bốc hơi, nhiệt độ cao trong mùa khô nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng, phát triển của nhiều loại cây công nghiệp dài ngày, trong đó có cây cao su.

Do vậy, cần thận trọng khi có chủ trương phát triển cây cao su trên đất rừng khộp. (Tuần Tin Tức 26/7, tr16) Về đầu trang

Diện tích trồng rừng tăng cao

Bộ NN&PTNT cho biết, trong 6 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới tập trung, diện tích rừng được giao khoán bảo vệ sản lượng gỗ khai thác đều cao hơn so với cùng kỳ năm trước.

Theo đó, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 104,4 nghìn ha, tăng 15,1%; rừng trồng được chăm sóc đạt 337,4 nghìn ha, tăng 8%; rừng được giao khoán bảo vệ 5.610,6 nghìn ha, tăng 11,5%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 5.444 nghìn m3, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. (Công Thương 27/7, tr10) Về đầu trang

Thu thuế sinh thái tại bán đảo Sơn Trà, một đề xuất đáng chú ý

Tại Hội thảo Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững khu vực miền Trung – Tây Nguyên tổ chức vào ngày 21-7 tại Đà Nẵng, PGS.TS Miki Yoshizumi đến từ Đại học Ritsumeikan (Nhật Bản) cho rằng, chính quyền TP nên tính đến việc thu thuế sinh thái tại bán đảo Sơn Trà. Đây là phương pháp tiềm năng nhằm kiểm soát sử dụng tài nguyên thiên nhiên dựa trên mô hình nguyên tắc người sử dụng trả tiền và nguyên tắc trả tiền cho phần gây ô nhiễm.

Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Đà Nẵng, Trung tâm Bảo tồn đa dạng  sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet), Trung tâm Con người và thiên nhiên cùng nhóm Nghiên cứu – Giảng dạy môi trường và Tài nguyên sinh vật của Đại học Đà Nẵng phối hợp tổ chức. Hội thảo có sự tham gia của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng cùng 150 nhà khoa học trong và ngoài nước, đại diện các sở, ngành của thành phố, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp.

Theo PGS.TS Miki Yoshizumi, cùng có vườn quốc gia tương tự như Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà của Đà Nẵng, chính quyền quần đảo Balearic của Tây Ban Nha đã ban hành quy định về thuế sinh thái, thu từ những du khách đến tham quan chỉ với 1 EUR/người để trang trải các hoạt động giảm thiểu thiệt hại về môi trường do ngành du lịch gây ra. Mô hình thuế sinh thái Balearic đầu tiên mang lại khoản ngân sách lên đến 45 triệu EUR/năm dù chỉ mới áp dụng riêng cho các khách sạn. Mô hình thuế sinh thái Balearic thứ hai được áp dụng vào năm 2016 được đánh giá là mang lại từ 60-70 triệu EUR/năm, khoản tiền này sẽ được chi cho các dự án du lịch bền vững của cả quần đảo. “Thuế sinh thái là phương pháp rất tiềm năng khi áp dụng tại bán đảo Sơn Trà”, bà Miki Yoshizumi đề xuất. Cùng chung quan điểm này, TS Bùi Minh nguyệt (Trường Đại học Lâm nghiệp) cho rằng, nếu thu phí tham quan bán đảo Sơn Trà ở mức 50.000 đồng/người thì sẽ có ngân sách 60 tỷ đồng/năm để chi phí cho quá trình quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học, đầu tư các giải pháp giảm thiểu tác động gây ô nhiễm môi trường. Bà Nguyệt cho rằng: “Cần xây dựng phương án thí điểm tổ chức, phát triển du lịch sinh thái gắn liền với bảo tồn thiên nhiên thông qua việc thu phí vào cửa từ 50.000-100.000 đồng/lượt khách và cung cấp các gói dịch vụ du lịch chuyên biệt”.

Cũng trong khuôn khổ hội thảo, các nhà nghiên cứu, chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học trong nước và quốc tế đã trao đổi các giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên như: động Phong Nha, hang Sơn Đoòng, Pù Mát, Lý Sơn, Cù lao Chàm, Yók Đôn... Theo GS Đặng Vũ Minh - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, trong những năm gần đây lượng khách du lịch tìm đến các vùng rừng núi, hang động tham quan ngày càng gia tăng. Song song với việc mang lại nguồn thu lớn thì hoạt động du lịch cũng gây áp lực lớn lên công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Trong bối cảnh đó, hội thảo là dịp để chia sẻ kinh nghiệm phát triển du lịch tại các hệ sinh thái tự nhiên, đề xuất các giải pháp phát triển bền vững, phù hợp với khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Qua đó tham vấn các ý kiến đóng góp về phát triển loại hình du lịch dựa vào tự nhiên, gắn liền với văn hóa bản địa, giáo dục môi trường, và đóng góp tích cực cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. (Đất Việt 26/7, tr12) Về đầu trang

 

Hà Tĩnh: Thả về rừng trăn gấm nặng trên 30kg

Thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh cho biết, vào chiều 26.7, đơn vị này phối hợp với Vườn quốc gia Vũ Quang đã thả về rừng một cá thể Trăn gấm (hoa), trọng lượng khoảng trên 30kg.

Trước đó, nhận được tin gia đình bà Phan Thị Hạnh (ở thôn Bình Tiến A, xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) có nuôi một con trăn gấm, Chi cục kiểm lâm tỉnh đã đến vận động gia đình tiến hành thả trăn về với tự nhiên.

Bà Phan Thị Hạnh (áo đen) bàn giao cá thể trăn gấm (hoa) cho lực lượng chức năng.

Được gia đình đồng ý, sau khi tiến hành kiểm tra thấy sức khỏe của trăn bình thường, Chi cục kiểm lâm đã phối hợp với gia đình bà Phan Thị Hạnh và Vườn quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh) đã thả cá thể trăn về Vườn quốc gia Vũ Quang.

Được biết, con trăn đã được gia đình bà mua về nuôi cách đây gần 8 năm khi chưa đầy 1kg.

Trăn gấm thường sống ở rừng thưa, gần các sông suối. Chúng dành phần lớn thời gian trên cây. Loài này có khả năng bơi lội rất giỏi, chủ yếu hoạt động về đêm.

Thức ăn của trăn gấm gồm các loài thú và chim, chuột…. Trăn gấm cũng nằm trong sách đỏ Việt Nam, thuộc nhóm động vật nghiêm cấm khai thác và sử dụng.

Một cá thể chim Trĩ cũng đã được các lực lượng chức năng thả về tự nhiên trước đó.

Chiều 25/7, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ về tình hình nhập khẩu phế liệu vào Việt Nam và các giải pháp quản lý.

Các ý kiến phát biểu tại cuộc họp cho rằng, tình trạng nhập khẩu phế liệu vào Việt Nam thời gian qua diễn biến phức tạp, nghiêm trọng. Nhu cầu về phế liệu như giấy vụn, nhựa… để làm nguyên liệu là có thật. Điều này có lợi về kinh tế cho nhà sản xuất nhưng không có lợi về môi trường. Hiện nay còn tồn đọng nhiều container phế liệu nhập khẩu tại các cảng. Các ý kiến cho rằng, cần tăng cường quản lý, chấn chỉnh tình trạng này.

Phát biểu kết luận cuộc họp, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ liên quan tiếp thu ý kiến để ngăn chặn tốt hơn nữa tình trạng nhập phế liệu được đánh giá là nghiêm trọng, nhất là số phế liệu nhập về đang tồn đọng tại các cảng hiện nay.  (Lao Động Online 27/7) Về đầu trang

 https://laodong.vn/xa-hoi/tha-ve-rung-tran-gam-nang-tren-30kg-621377.ldo

Thả nhiều động vật hoang dã về tự nhiên

Ngày 26-7, theo thông tin từ Hạt kiểm lâm Đà Lạt (Lâm Đồng), đơn vị này vừa tiến hành thả 9 con khỉ làm du lịch về rừng tự nhiên.

Trước đó, ngày 24-7,9 con khỉ (4 con mặt đỏ, 5 con đuôi lợn) còn tập tính hoang dạ, có tuổi đời từ 4-8 năm với trọng lượng trung bình 5-10kg/con được nuôi trong Khu du lịch Quốc gia hồ Tuyền Lâm (phường 4, thành phố Đà Lạt) đã được cơ quan chức năng thả về rừng. Cùng ngày, tại rừng đặc dụng tiêu khu 292B, thuộc địa phận thôn Séo Mý Tỷ, xã Tả Van (Sa Pa-Lào Cai), Trung tâm Cứu hộ, Bảo tổn và Phát triển sinh vật Hoàng Liên phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Hạt Kiểm lâm huyện Sa Pa, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Hoàng Liên và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sa Pa tiến hành thả 20 cá thể rắn về với thiên nhiên. (Đại Đoàn Kết 27/7, tr12) Về đầu trang

 

Quảng Ninh: Tăng cường quản lý, bảo vệ động vật hoang dã

UBND tỉnh Quảng Ninh vừa ban hành văn bản số 5215/UBND-NLN1 nhằm tăng cường công tác chỉ đạo và thực hiện các biện pháp đồng bộ giữa các sở, ngành, địa phương trong việc ngăn chặn, kiểm soát các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh.

UBND tỉnh yêu cầu thủ trưởng các sở, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị, trường học trên địa bàn tỉnh phổ biến quán triệt cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, sinh viên, học sinh và nhân dân tại đơn vị, địa phương mình nghiêm túc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loại động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm nói chung và rùa biển nói riêng; không săn bắt, sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn.

Đồng thời theo dõi, giám sát và tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện các hoạt động về bảo vệ rùa biển và các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn; tạo điều kiện để các tổ chức tham gia công tác bảo tồn, bảo vệ rùa biển tại địa phương.Đối với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND tỉnh yêu cầu đơn vị chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan và các địa phương xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc tuyên truyền các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và bảo tồn rùa biển và các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm tới cộng đồng dân cư theo quy định. Có phương án phối hợp với các lực lượng chức năng thường xuyên kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm đối với những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định pháp luật về săn, bẫy, bắt, mua, bán, vận chuyển, nuôi nhốt, chế biến, kinh doanh, tiêu thụ rùa biển và các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn.

Các đơn vị: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công thương, Sở Thông tin và Tuyên truyền, Công an tỉnh, Cục Hải Quan Quảng Ninh, UBND các huyện, thị xã, thành phố, các Hội, đoàn thể chính trị xã hội căn cứ chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình chủ động tuyên truyền, kiểm tra, giám sát và phối hợp với các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn. (Qtv.vn 26/7) Về đầu trang

http://qtv.vn/channel/5983/201807/quang-ninh-tang-cuong-quan-ly-bao-ve-dong-vat-hoang-da-3018309/

Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh thả cá thể trăn gấm về môi trường tự nhiên

Chiều 26/7, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh phối hợp với Vườn quốc gia Vũ Quang tiến hành thả một cá thể trăn gấm (trăn hoa) có trọng lượng khoảng trên 30 kg về môi trường tự nhiên. Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh thả cá thể trăn gấm về môi trường tự nhiên

Trước đó, nhận được tin gia đình bà Phan Thị Hạnh ở thôn Bình Tiến A, xã Thái Yên (Đức Thọ) có nuôi một con trăn gấm, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đã đến vận động gia đình để thả về với tự nhiên.

Được gia đình đồng ý, sau khi kiểm tra thấy sức khỏe của con trăn bình thường, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp tiến hành thả về Vườn quốc gia Vũ Quang.

Được biết, con trăn này đã được gia đình bà Hạnh mua về nuôi cách đây gần 8 năm khi mới nặng gần 1 kg.

Trăn gấm thuộc nhóm động vật nghiêm cấm khai thác và sử dụng. (Baohatinh.vn 26/7) Về đầu trang

http://baohatinh.vn/xa-hoi/chi-cuc-kiem-lam-ha-tinh-tha-ca-the-tran-gam-ve-moi-truong-tu-nhien/158670.htm

 

Quảng Nam: Phát hiện vận chuyển gỗ lậu trên sông Thu Bồn

Ngày 26/7, Phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Nam xác nhận, Đội Cảnh sát đường thủy của tỉnh vừa phát hiện một vụ vận chuyển gỗ lậu trên sông Thu Bồn.

Theo thông tin ban đầu, vào khoảng 5 giờ sáng, cùng ngày, Đội Cảnh sát đường thủy tổ chức tuần tra, mật phục trên sông Thu Bồn (đoạn chảy qua thôn Đông Khương 2, xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) đã phát hiện một ghe máy chở theo bè gỗ lậu di chuyển qua khu vực này.

Ngay lập tức, tổ công tác ra hiệu lệnh dừng phương tiện nhưng các đối tượng đã bất ngờ dùng dao chặt đứt dây buộc gỗ để số gỗ trên chìm xuống sông, rồi tăng ga bỏ chạy. Mặc dù cán bộ, chiến sĩ của Đội Cảnh sát đường thủy đã tổ chức truy đuổi nhưng các đối tượng này lợi dụng địa hình trên sông, tấp ghe vào bờ rồi nhanh chân tẩu thoát. 

Tiến hành trục vớt số gỗ các đối tượng bỏ lại, tổ công tác kiểm đếm có tổng cộng 34 lóng gỗ được xác định là giẻ đỏ, chò nâu, dầu, trám trắng… được thu giữ, bàn giao cho lực lượng kiểm lâm. Tổng khối lượng gỗ tang vật là 5,184 m3.

Vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục làm rõ. (Thanh Niên 27/7, tr9; Đại Đoàn Kết 27/7, tr10; Tài Nguyên & Môi Trường Online 26/7; Nông Nghiệp Việt Nam Online 26/7; Công An Nhân Dân Online 26/7) Về đầu trang

 https://baotainguyenmoitruong.vn/phap-luat/quang-nam-phat-hien-van-chuyen-go-lau-tren-song-thu-bon-1256307.html

https://nongnghiep.vn/truy-duoi-thu-giu-go-lau-van-chuyen-tren-song-thu-bon-post223480.html

http://cand.com.vn/doi-song/Bat-ghe-van-chuyen-gan-5-2m3-go-lau-tren-song-Thu-Bon-503138/

 

Bắc Kạn là tỉnh có nhiều lợi thế về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp

Ngày 26/7, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cùng đoàn công tác đã thăm, làm việc tại tỉnh Bắc Kạn.

Phát biểu tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển biểu dương kết quả tỉnh Bắc Kạn đạt được trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị rừng sản xuất.

Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, Bắc Kạn là tỉnh có nhiều lợi thế về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, có nhiều sản phẩm nông nghiệp chất lượng, được bảo hộ và chỉ dẫn địa lý, có độ che phủ rừng cao nhất cả nước. Tuy nhiên, việc sản xuất nông nghiệp còn manh mún, chưa chú trọng khâu chế biến và bao tiêu sản phẩm, dẫn đến sản phẩm làm ra bán giá thấp, bị ép giá, chưa đi vào các siêu thị lớn.

Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, thời gian tới, tỉnh cần tập trung rà soát, bổ sung để hoàn thành Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; rà soát, điều chỉnh tiêu chí, hệ số phân bổ vốn đầu tư; lựa chọn những đối tượng hàng hóa tập trung có điều kiện phát triển thành quy mô lớn. Các địa phương trên địa bàn rà soát quy hoạch, tổ chức sản xuất; phát triển các vùng chuyên canh cây ăn quả, rau sạch, gạo đặc sản, cây dược liệu; tiếp tục đôn đốc thực hiện các mô hình phát triển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mô hình tổ hợp tác sản xuất, hợp tác xã kiểu mới; tập trung chỉ đạo sát sao công tác trồng rừng năm 2018, phấn đấu trồng rừng đúng tiến độ, đạt chỉ tiêu kế hoạch giao; chủ động trong công tác phòng chống, giảm nhẹ thiên tai...

Ông Nguyễn Văn Du, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn cho biết, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 5,96%, (mục tiêu Đại hội đạt bình quân 6,6%/năm). GRDP bình quân đầu người năm 2017 đạt 27,82 triệu đồng/người, (mục tiêu Đại hội đạt 39 triệu đồng/người). Đời sống nhân dân được cải thiện, mỗi năm giảm 2-2,5% tỷ lệ hộ nghèo, đạt mục tiêu Nghị quyết. Tỉnh có 9 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 41% mục tiêu Nghị quyết. Năm 2018, dự toán chi ngân sách hơn 5.190 tỷ đồng, dự toán thu ngân sách 610 tỷ đồng, tăng 1,8% so với năm 2017. Giai đoạn 2016-2020, tổng vốn đầu tư công trung hạn của tỉnh hơn 6.647 tỷ đồng, tập trung xây dựng hạ tầng gắn với xây dựng nông thôn mới, các công trình trọng điểm.

Tỉnh Bắc Kạn kiến nghị Trung ương rà soát, điều chỉnh tiêu chí, hệ số phân bổ vốn đầu tư; nâng hạn mức dư nợ vốn vay ODA lên 50% đối với các tỉnh khó khăn, thu ngân sách thấp; điều chỉnh tổng mức đầu tư dự án hồ chứa nước Nặm Cắt (thành phố Bắc Kạn); bổ sung vốn dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 3B Xuất Hóa - Cửa khẩu Pò Mã; bố trí vốn xây dựng đường Chợ Mới - thành phố Bắc Kạn, Quân Bình-Hồ Ba Bể, Ba Bể-Na Hang (Tuyên Quang)…

Tại buổi làm việc, các thành viên đoàn công tác cùng với cán bộ tỉnh Bắc Kạn đã thảo luận, đưa ra nhiều ý kiến, kiến nghị nhằm giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong phát triển kinh tế, giảm nghèo và đầu tư ở Bắc Kạn.

Trước đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đã tới thăm mô hình trồng cam, quýt theo tiêu chuẩn VietGap của ông Bàn Văn Lợi, thôn Khuổi Cò, xã Dương Phong, huyện Bạch Thông.

Cùng ngày, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đã tới thăm công trình hồ chứa nước Nặm Cắt (thành phố Bắc Kạn). (TTXVN/Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 26/7) Về đầu trang

 http://cpv.org.vn/thoi-su/bac-kan-la-tinh-co-nhieu-loi-the-ve-phat-trien-san-xuat-nong-lam-nghiep-491834.html

 

Lào Cai: Trồng mới hơn 2.700 ha rừng

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai, trong 6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đã trồng mới 2.714,9 ha rừng các loại, bằng 45,2% kế hoạch và giảm 4,9% so với cùng kỳ.

Cụ thể, diện tích rừng sản xuất được trồng mới trong 6 tháng đầu năm 2018 là 2.019,5 ha, rừng phòng hộ, đặc dụng là 11 ha, trồng lại rừng sau khai thác là 503,9 ha và dân tự trồng 180,5 ha.

Tỉ lệ che phủ rừng trên trên địa bàn tỉnh Lào Cai hiện nay đạt khoảng 54%. Trong đó, diện tích có rừng là 351.645 ha, bao gồm 267.433 ha rừng tự nhiên, còn lại là diện tích rừng trồng.

Công tác tuyên truyền nâng cao ý thức và công tác bảo vệ, phòng, chống cháy rừng, cảnh báo nguy cơ cháy rừng luôn được cơ quan chức năng tỉnh Lào Cai chú trọng, nhờ đó, từ đầu năm 2018, đến nay trên địa bàn toàn tỉnh không có vụ cháy rừng sảy ra.

Công tác kiểm tra các điểm khai thác, chế biến lâm sản, kiểm soát vận chuyển lâm sản được tăng cường, 6 tháng đầu năm 2018, cơ quan chức năng tỉnh Lào Cai đã phát hiện xử lý 102 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 14 vụ (12,1%) so với cùng kỳ năm 2017.

Lào Cai là tỉnh miền núi biên giớ phía Bắc, hiện có 45 nhà máy thủy điện đã đi vào hoạt động, với tổng công suất 776 MkW, do đó, việc trồng và bảo vệ rừng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, tạo nguồn sinh thủy cho các nhà máy thủy điện, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 26/7) Về đầu trang

 https://baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong/lao-cai-trong-moi-hon-2-700-ha-rung-1256314.html

Tiến tới giảm loại hình du lịch cưỡi voi Tây Nguyên

Lần đầu tiên, loại hình du lịch cưỡi voi ở Tây Nguyên hiện nay được chính thức đưa ra một giải pháp để giảm dần với mục tiêu bảo vệ đàn voi nhà đang kiệt quệ vì phục vụ du lịch.

Ngày 13-7-2018, Tổ chức Động vật châu Á, một tổ chức phi Chính phủ có uy tín toàn cầu đã tổ chức lễ ký kết thỏa thuận hỗ trợ chuyển đổi mô hình du lịch với Vườn Quốc gia Yok Đôn, Đắk Lắk. Theo đó, tổ chức này sẽ tài trợ 65 ngàn đô-la Mỹ để hỗ trợ việc triển khai phát triển mô hình du lịch thân thiện không cưỡi voi tại Đắk Lắk. Thời gian thực hiện dự án là 5 năm, bắt đầu từ tháng 7-2018 tới tháng 6-2023. Có mặt tại buổi lễ ký kết, ngoài đại diện 2 bên trao và nhận hỗ trợ, còn có các chủ voi, nài voi – những người được đánh giá là đặc biệt quan trọng trong mục tiêu thay đổi quan điểm, hành vi, phương pháp sử dụng voi nhà cho hoạt động du lịch tại địa phương.

Loại hình du lịch tiếp cận với voi không hoàn toàn bị loại bỏ, thay vào đó là một mô hình thân thiện và văn minh hơn. Tổ chức Động vật châu Á và Vườn Quốc gia Yok Đôn sẽ có các chiến lược tuyên tuyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ và bảo tồn voi ở Tây Nguyên. Mặt khác, tổ chức này còn tư vấn thiết kế khu vực chăm sóc voi, đảm bảo phù hợp với mục đích và an toàn cho cả voi và khách tham quan. Mục đích của hợp tác và cam kết này là nhằm thúc đẩy mô hình phát triển dự án du lịch thân thiện với voi đầu tiên ở Việt Nam.

Về phía Vườn Quốc gia Yok Đôn cam kết thay thế du lịch cưỡi voi bằng các dịch vụ du lịch sinh thái, thân thiện hơn với môi trường và với voi. Nhiều năm qua, các chủ voi và Vườn Quốc gia Yok Đôn - cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên rừng đã khai thác mô hình du lịch cưỡi voi trong khu du lịch Buôn Đôn, Đắk Lắk. Mỗi lượt các nài voi đưa khách du lịch qua sông du khách cưỡi voi phải trả phí từ 150 đến 200 ngàn đồng. Chủ voi thu về chi phí từ tiền vé của khách tham quan và cho khách du lịch cưỡi voi đi trong Vườn Quốc gia Yok Đôn khu vực gần sông Xê Rê Pốc, Buôn Đôn và Khu du lịch dịch vụ Buôn Đôn. Việc này được đánh giá là đã làm kiệt sức voi nhà nhiều năm qua khi chúng liên tục phải chở khách qua sông và đi thăm thú dưới thời tiết nắng nóng không được chăm sóc đúng tiêu chuẩn. Hơn thế nữa, voi có biểu hiện bị ngược đãi, mất đi bản năng sinh đẻ, mất nguồn gen tự nhiên và nhiều hệ lụy khác dưới góc nhìn văn hóa.

Cùng với dự án này, Vườn Quốc gia Yok Đôn tự nguyện cam kết không sử dụng voi cho các hoạt động cưỡi voi, lễ hội, các sự kiện cộng đồng hay các trải nghiệm khác mà phía Tổ chức Động vật châu Á cho rằng có thể ảnh hưởng tới voi. Voi được phép di chuyển tự do trong khu vực vườn quốc gia hằng ngày, không bị xích chân kể cả khi không có du khách. Voi không bị còng hai chân trước, hoặc bị xích vào ban đêm.

Với ý nghĩa bảo tồn voi, Tổ chức Động vật châu Á qua dự án này muốn có cái nhìn mới của cộng đồng về động vật hoang dã bị thuần hóa ở Tây Nguyên. Mục đích của các thỏa thuận cũng hướng đến các hợp phần nâng cao nhận thức về bảo tồn voi và các loài động vật hoang dã khác ở Việt Nam. Một phần của dự án sẽ dành cho nâng cấp cơ sở hạ tầng tại Vườn quốc gia Yok Đôn, phúc lợi cho động vật, đầu tư mở rộng, chăm sóc voi và quảng bá mô hình dịch vụ mới với du khách có nhận thức khác biệt về sự thân thiện của đời sống con người với môi trường thiên nhiên hoang dã.

Hiện tại, Nhà nước đã cấm săn bắn, thuần dưỡng đàn voi hoang dã trong rừng Tây Nguyên. Tuy nhiên, đàn voi đã từng bị săn và thuần hóa trước đây cũng không thoát khỏi những nguy hiểm rình rập. Chúng chết dần vì các hoạt động phục vụ du lịch quá sức, bị săn lấy ngà, nhổ lông đuôi... Các gia đình sở hữu voi hiện nay vẫn còn mua bán lại các con voi nhà. Theo truyền thống của người M,nông ở Tây Nguyên, voi được coi là thành viên trong gia đình. Khi rước voi về có cúng tế thần linh ban cho sức khỏe và sự sinh sôi. Tuy nhiên, voi nhà dần mất bản năng hoang dã vì bị bóc lột và bị sử dụng như động vật có sức kéo, vận tải và làm cảnh. Không phải nài voi nào cũng yêu quý và biết cách chăm sóc con vật to lớn của rừng này.

Để bảo tồn voi và bảo tồn cả hình ảnh có ý nghĩa về sự dũng mãnh của con người thuần voi Tây Nguyên, cần có cách nhìn khác, sự ứng xử trân trọng với voi và sử dụng chúng hợp lý với đời sống con người. Một phương thức hỗ trợ về tài chính, về cơ sở hạ tầng và phương pháp sử dụng voi được đánh giá là hợp lý trong bối cảnh hiện nay. (Biên Phòng Online 26/7) Về đầu trang

 http://www.bienphong.com.vn/tien-toi-giam-loai-hinh-du-lich-cuoi-voi-tay-nguyen/