Điểm báo ngày 24/7/2018

Cập nhật ngày : 24/07/2018 01:29

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 24 tháng 07 năm 2018)

 

Xử lý nghiêm hành vi phá rừng trái pháp luật

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp. Trong đó, đề xuất quy định xử phạt hành vi phá rừng trái pháp luật.

Cụ thể, người có hành vi chặt phá cây rừng; đào, bới, san ủi, nổ mìn; đắp đập, ngăn dòng chảy tự nhiên; xả chất độc hoặc các hành vi khác gây thiệt hại đến rừng với bất kỳ mục đích gì (trừ hành vi khai thác rừng trái pháp luật được đề xuất mức phạt riêng) mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được phép chuyển đổi mục đích sử dụng rừng nhưng không thực hiện đúng quy định cho phép bị xử phạt như sau:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 5 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng dưới 500 m2; rừng sản xuất dưới 400 m2; rừng phòng hộ dưới 300 m2; rừng đặc dụng dưới 200 m2; gây thiệt hại về lâm sản là thực vật rừng thông thường trị giá dưới 5000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá dưới 4 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trị giá dưới 3 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng từ 500 m2 đến dưới 1.500 m2; rừng sản xuất từ 400 m2 đến dưới 800 m2; rừng phòng hộ từ 300 m2 đến dưới 500 m2; rừng đặc dụng từ 200 m2 đến dưới 300 m2; gây thiệt hại về lâm sản là loài thực vật rừng thông thường trị giá từ 5 đến dưới 10 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 4 triệu đồng đến dưới 7 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trị giá từ 3 triệu đồng đến dưới 5 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Phạt tiền từ 10 – 25 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng từ 3.000 m2 đến dưới 5.000 m2; rừng sản xuất từ 800 m2 đến dưới 1.000 m2; rừng phòng hộ từ 500 m2 đến dưới 800 m2; rừng đặc dụng từ 300 m2 đến dưới 400 m2; gây thiệt hại về lâm sản là loài thực vật rừng thông thường trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 7 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trị giá từ 5 triệu đồng đến dưới 7 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Phạt tiền từ 25 – 50 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng từ 5.000 m2 đến dưới 10.000 m2; rừng sản xuất từ 1.000 m2 đến dưới 2.000 m2; rừng phòng hộ từ 800 m2 đến dưới 1.000 m2; rừng đặc dụng từ trên 400 m2 đến dưới 500 m2; gây thiệt hại về lâm sản là loài thực vật rừng thông thường trị giá từ 20 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trị giá từ 7 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Phạt tiền từ 50 – 70 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng từ 10.000 m2 đến dưới 20.000 m2; rừng sản xuất từ 2.000 m2 đến dưới 3.000 m2; rừng phòng hộ từ 1.000 m2 đến dưới 2.000 m2; rừng đặc dụng từ 500 m2 đến dưới 800 m2; gây thiệt hại về lâm sản là loài thực vật rừng thông thường trị giá từ 30 triệu đồng đến dưới 40 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 20 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 15 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng từ 20.000 m2 đến dưới 30.000 m2; rừng sản xuất từ 3.000 m2 đến dưới 5.000 m2; rừng phòng hộ từ 2.000 m2 đến dưới 3.000 m2; rừng đặc dụng từ 800 m2 đến dưới 1.000 m2; gây thiệt hại về lâm sản là loài thực vật rừng thông thường trị giá từ 40 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá dưới 30 triệu đồng đến dưới 40 triệu đồng;  thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 15 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Dự thảo cũng nêu rõ, người có hành vi bóc vỏ hoặc hủy hoại rễ cây rừng hoặc có hành vi khác ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển cây rừng thì mỗi cây rừng có đường kính tại vị trí 1,3m dưới 8 cm bị xâm hại phạt 100.000 đồng; mỗi cây rừng đường kính tại vị trí 1,3 m từ 8 cm trở lên bị xâm hại phạt 500.000 đồng.

Mức xử phạt đề xuất trên là mức phạt được áp dụng đối với cá nhân; tổ chức vi phạm áp dụng phạt tiền bằng 2 lần mức phạt tiền với cá nhân có cùng hành vi và mức độ vi phạm.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp. Trong đó, đề xuất quy định xử phạt hành vi phá rừng trái pháp luật.

Cụ thể, người có hành vi chặt phá cây rừng; đào, bới, san ủi, nổ mìn; đắp đập, ngăn dòng chảy tự nhiên; xả chất độc hoặc các hành vi khác gây thiệt hại đến rừng với bất kỳ mục đích gì (trừ hành vi khai thác rừng trái pháp luật được đề xuất mức phạt riêng) mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được phép chuyển đổi mục đích sử dụng rừng nhưng không thực hiện đúng quy định cho phép bị xử phạt như sau:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 5 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng dưới 500 m2; rừng sản xuất dưới 400 m2; rừng phòng hộ dưới 300 m2; rừng đặc dụng dưới 200 m2; gây thiệt hại về lâm sản là thực vật rừng thông thường trị giá dưới 5000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá dưới 4 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trị giá dưới 3 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng từ 500 m2 đến dưới 1.500 m2; rừng sản xuất từ 400 m2 đến dưới 800 m2; rừng phòng hộ từ 300 m2 đến dưới 500 m2; rừng đặc dụng từ 200 m2 đến dưới 300 m2; gây thiệt hại về lâm sản là loài thực vật rừng thông thường trị giá từ 5 đến dưới 10 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 4 triệu đồng đến dưới 7 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trị giá từ 3 triệu đồng đến dưới 5 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Phạt tiền từ 10 – 25 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng từ 3.000 m2 đến dưới 5.000 m2; rừng sản xuất từ 800 m2 đến dưới 1.000 m2; rừng phòng hộ từ 500 m2 đến dưới 800 m2; rừng đặc dụng từ 300 m2 đến dưới 400 m2; gây thiệt hại về lâm sản là loài thực vật rừng thông thường trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 7 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trị giá từ 5 triệu đồng đến dưới 7 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Phạt tiền từ 25 – 50 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng từ 5.000 m2 đến dưới 10.000 m2; rừng sản xuất từ 1.000 m2 đến dưới 2.000 m2; rừng phòng hộ từ 800 m2 đến dưới 1.000 m2; rừng đặc dụng từ trên 400 m2 đến dưới 500 m2; gây thiệt hại về lâm sản là loài thực vật rừng thông thường trị giá từ 20 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trị giá từ 7 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Phạt tiền từ 50 – 70 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng từ 10.000 m2 đến dưới 20.000 m2; rừng sản xuất từ 2.000 m2 đến dưới 3.000 m2; rừng phòng hộ từ 1.000 m2 đến dưới 2.000 m2; rừng đặc dụng từ 500 m2 đến dưới 800 m2; gây thiệt hại về lâm sản là loài thực vật rừng thông thường trị giá từ 30 triệu đồng đến dưới 40 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 20 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 15 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng từ 20.000 m2 đến dưới 30.000 m2; rừng sản xuất từ 3.000 m2 đến dưới 5.000 m2; rừng phòng hộ từ 2.000 m2 đến dưới 3.000 m2; rừng đặc dụng từ 800 m2 đến dưới 1.000 m2; gây thiệt hại về lâm sản là loài thực vật rừng thông thường trị giá từ 40 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá dưới 30 triệu đồng đến dưới 40 triệu đồng;  thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 15 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng (trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).

Dự thảo cũng nêu rõ, người có hành vi bóc vỏ hoặc hủy hoại rễ cây rừng hoặc có hành vi khác ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển cây rừng thì mỗi cây rừng có đường kính tại vị trí 1,3m dưới 8 cm bị xâm hại phạt 100.000 đồng; mỗi cây rừng đường kính tại vị trí 1,3 m từ 8 cm trở lên bị xâm hại phạt 500.000 đồng.

Mức xử phạt đề xuất trên là mức phạt được áp dụng đối với cá nhân; tổ chức vi phạm áp dụng phạt tiền bằng 2 lần mức phạt tiền với cá nhân có cùng hành vi và mức độ vi phạm. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 23/7) Về đầu trang

 https://baotainguyenmoitruong.vn/tu-van-phap-luat/xu-ly-nghiem-hanh-vi-pha-rung-trai-phap-luat-1256167.html

 

Gia Lai đảm bảo kế hoạch trồng mới 7.000 ha rừng

Ông Tào Huy Nam, Phó Trưởng phòng Sử dụng và Phát triển rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai cho biết, để đảm bảo tiến độ trồng rừng năm 2018, UBND tỉnh Gia Lai đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ trong quản lý, chăm sóc, đặc biệt đối với diện tích 7.000 ha rừng trồng mới với tổng chi phí là hơn 15 tỷ đồng.

Theo đó, trong diện tích 7.000 ha rừng trồng mới năm 2018, có 120 ha rừng phòng hộ, gần 6.000 ha rừng sản xuất và 1.000 ha diện tích trồng cây phân tán. Tính đến giữa tháng 7/2018, các đơn vị nhận khoán đã trồng được gần 2.000 ha rừng.

Như vậy, đến thời điểm này toàn tỉnh mới chỉ hoàn thành được gần 30% kế hoạch. Trả lời cho vấn đề này, ông Tào Huy Nam cho biết, tuy tiến độ về thời gian có chậm hơn so với kế hoạch đề ra, nhưng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai vẫn sẽ đảm bảo kế hoạch rừng trồng mới năm 2018.

Theo ông Nam, các địa phương, doanh nghiệp, chủ rừng đã tiến hành phát dọn thực bì, đào hố, chuẩn bị sẵn sàng cây giống. Địa bàn tỉnh Gia Lai địa hình đồi núi, quỹ đất manh mún, nằm rải rác gây khó khăn trong việc trồng mới. Mùa mưa sẽ kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12 cũng là thời điểm trồng rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai nên các đơn vị nhận khoán trồng rừng vẫn sẽ đảm bảo kế hoạch.

Năm 2017, tỉnh Gia Lai trồng mới được 6.000 ha rừng, diện tích này bằng 10 năm trước cộng lại. (TTXVN/Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 23/7; Đại Đoàn Kết 24/7, tr7) Về đầu trang

 http://cpv.org.vn/kinh-te/gia-lai-dam-bao-ke-hoach-trong-moi-7-000-ha-rung-491290.html

 

Bình Định: Khởi tố nhóm “lâm tặc” chống người thi hành công vụ

Chiều 23-7, Cơ quan CSĐT Công an huyện An Lão (Bình Định) đã ra quyết định khởi tố bị can về tội chống người thi hành công vụ đối với 3 bị can Trần Quang Lập (43 tuổi), Lê Quốc Nguyên (34 tuổi) và Nguyễn Cao Sơn (46 tuổi) – cùng trú ở xã An Hòa, huyện An Lão.

Kết quả điều tra bước đầu cho thấy, cuối tháng 3-2018, UBND xã An Hưng thành lập tổ công tác liên ngành kiểm lâm, công an, xã đội, địa chính, lâm nghiệp đê kiểm tra và xử lý những trường hợp lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép ở địa phương.

Hiện trường môt vụ phá rừng nghiêm trọng ở xã An Hưng, huyện An Lão.

Khi tổ kiểm tra liên ngành tiếp cận khoảng 5, tiểu khu 9 đã phát hiện 3 đối tượng Trần Quang Lập, Nguyễn Cao Sơn, Lê Quốc Nguyên đang sử dụng máy cưa cầm tay đốn hạ trái phép cây dừng.

Lúc đầu nhóm “lâm tặc” này né tránh nhưng bất ngờ sau đó chặn đường, đe dọa tính mạng những cán bộ trong tổ kiểm tra liên ngành rồi giật lại máy cưa đã bị thu giữ. (Công An Nhân Dân 24/7, tr5; Công An Nhân Dân Online 23/7; Người Lao Động Online 23/7) Về đầu trang

 http://cand.com.vn/ban-tin-113/khoi-to-nhom-lam-tac-chong-nguoi-thi-hanh-cong-vu-502730/

https://nld.com.vn/thoi-su/binh-dinh-khoi-to-3-lam-tac-chong-nguoi-thi-hanh-cong-vu-20180723163246138.htm

Tổ chức lại công tác quản lý, bảo vệ rừng ở Quảng Nam: Nâng cao vai trò cộng đồng thôn, bản

Tại Kỳ họp thứ 7, HĐND tỉnh Quảng Nam khóa IX vừa qua, vấn đề quản lý, bảo vệ rừng (BVR) trên địa bàn tỉnh được các đại biểu quan tâm, đưa ra thảo luận. Trước đó, UBND tỉnh Quảng Nam cũng đã tổ chức cuộc họp nghe báo cáo Đề án tổ chức lại công tác quản lý, BVR trên địa bàn H. Nam Giang - địa phương được UBND tỉnh chọn để áp dụng thí điểm đề án trên.

Theo báo cáo, Quảng Nam hiện còn hơn nửa triệu héc-ta rừng tự nhiên, được giao cho 4 ban quản lý (BQL) rừng đặc dụng và 7 BQL rừng phòng hộ làm chủ rừng. Tuy có nhiều nỗ lực song thời gian qua, địa phương này liên tục xảy ra nhiều vụ phá rừng quy mô lớn; khi xảy ra phá rừng thường đá bóng trách nhiệm do bộ máy giữ rừng cồng kềnh, chồng chéo... Vì vậy, Quảng Nam đang tiến hành cải tổ triệt để bộ máy giữ rừng theo hướng tinh gọn theo hướng mỗi huyện chỉ có một Hạt Kiểm lâm, tách Hạt Kiểm lâm ra khỏi BQL rừng, quy trách nhiệm cho lãnh đạo huyện, xã.

Song, việc cải tổ này cũng khiến chính quyền cơ sở và cả ngành Kiểm lâm băn khăn. Cụ thể như Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh có diện tích 75.000ha nằm trên 2 huyện Nam Giang và Phước Sơn, nếu giao rừng về cho địa phương có nghĩa là khu bảo tồn này tách làm 2 do 2 huyện quản lý. Điều này trái với Nghị định 117 của Chính phủ. Còn nếu để như hiện nay Kiểm lâm kiêm luôn BQL rừng chẳng khác nào “vừa đá bóng, vừa thổi còi”...

Bên cạnh đó, các địa phương miền núi cũng nhìn nhận nguyên nhân xảy ra phá rừng một phần do liên quan công tác quản lý cấp ủy, chính quyền; bố trí Kiểm lâm thiếu đồng bộ; chính sách giao khoán rừng cho người dân còn nhiều bất cập; đơn giá giao khoán BVR không phù hợp, chưa có sự đồng nhất... Trước sự bất hợp lý trên, nhiều ý kiến cho rằng nên giao khoán rừng cho nhóm hộ theo diện tích và số lượng cây có trong đó.

Trong khi đó, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Đinh Văn Thu cũng cho rằng, nên quy định chi tiết việc giao khoán BVR theo hướng thay đổi hình thức giao khoán BVR từ nhóm hộ sang giao khoán cho cộng đồng thôn, bản. Theo đó cần có định mức giao khoán về diện tích, đơn giá, số người tham gia nhằm đảm bảo thu nhập, lựa chọn những cá nhân đủ sức khỏe, có tâm huyết tham gia BVR. Kiểm lâm địa bàn, cán bộ lâm nghiệp cấp xã chịu trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ, theo dõi, đôn đốc, tham gia tuần tra, đánh giá hiệu quả công việc của các đội tuần tra và cùng chịu trách nhiệm nếu không hoàn thành nhiệm vụ.

Nêu giải pháp về công tác BVR, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh  Quảng Nam Nguyễn Ngọc Quang cho rằng, cần có cách tiếp cận mới về giữ rừng, nghiên cứu khoán BVR cho lực lượng Kiểm lâm; nâng cao vai trò trách nhiệm của chủ rừng là các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng. Cho nên xem xét sắp xếp bộ máy, cán bộ cần thiết để bổ sung, bố trí các lực lượng giữ rừng phù hợp với từng nhiệm vụ cụ thể... (Công An Đà Nẵng Online 23/7) Về đầu trang

 http://cadn.com.vn/news/99_192699_to-chuc-lai-cong-tac-quan-ly-bao-ve-rung-o-quang-nam-nang-cao-vai-tro-cong-dong-thon-ban.aspx

 

Đề nghị điều chỉnh giảm chỉ tiêu trồng rừng ven biển giai đoạn 2015 - 2020

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho phép điều chỉnh giảm mục tiêu trồng rừng giai đoạn 2015-2020 phù hợp với điều kiện thực tiễn của các địa phương.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hiện Đề án “Bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 - 2020”, từ năm 2015 đến 2017, cả nước trồng được 12.385 ha rừng ven biển, đạt 22% so với nhiệm vụ của Đề án. Kết quả trồng và bảo vệ rừng đã nâng độ che phủ của rừng ven biển từ 16,9% năm 2014 lên 17% năm 2017.

Theo Đề án “Bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 - 2020” sẽ thực hiện bảo vệ 310.695 ha rừng hiện có; phục hồi 9.602 ha rừng kém chất lượng (bình quân 1.600ha/năm); trồng rừng mới 46.058ha (bình quân 7.676 ha/năm).

Như vậy, nhiệm vụ còn lại từ năm 2018 đến 2020 của Đề án là bảo vệ tốt 311.551 ha rừng ven biển hiện có; tiếp tục trồng 43.275 ha rừng ven biển, gồm: trồng mới 28.643 ha rừng phòng hộ, đặc dụng, 8.216ha rừng sản xuất và trồng bổ sung phục hồi 6.406 ha rừng phòng hộ ven biển.

Tuy nhiên, với kết quả thực hiện thời gian qua, kế hoạch trồng rừng năm 2018 của các địa phương và tình hình bổ sung, huy động vốn các dự án ODA, dự án mở mới thuộc Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020 còn rất khó khăn và hạn chế, nên mục tiêu trồng tiếp 43.275 ha rừng ven biển đến năm 2020 theo Đề án là khó khả thi.

Do đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho phép điều chỉnh giảm mục tiêu trồng rừng giai đoạn 2015-2020 của Đề án phù hợp với điều kiện thực tiễn của các địa phương theo kế hoạch trung hạn và các dự án đã được phê duyệt thực hiện giai đoạn 2015-2020.

Cụ thể, điều chỉnh giảm chỉ tiêu trồng rừng ven biển giai đoạn 2015-2020 xuống còn 25.085 ha (giảm 30.575 ha so với Đề án); trong đó, giai đoạn 2015-2017 đã trồng 12.385 ha; giai đoạn 2018-2020 tiếp tục trồng 12.700 ha rừng ven biển.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đề nghị các bộ, ngành liên quan phân bổ vốn đầu tư đầy đủ, kịp thời cho các dự án trồng rừng ven biển đã được duyệt thuộc Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020; Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020 theo kế hoạch đầu tư công…

Cùng với đó là sớm hoàn thiện các thủ tục đầu tư, phân bổ vốn đối với các dự án khởi công mới theo danh mục dự án ưu tiên đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Văn bản số 730/TTg-NN ngày 26/5/2017. Xem xét gia hạn vốn đầu tư thực hiện các Dự án trồng rừng ven biển năm 2017 chuyển sang năm 2018 đối với các tỉnh được phân bổ vốn muộn, triển khai không kịp kế hoạch, thời vụ trồng rừng.

Các đơn vị tiếp tục huy động, kêu gọi vốn ODA, vốn xã hội hóa từ các doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân… để tăng nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng ven biển.

Đối với các tỉnh, thành phố ven biển, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị các địa phương chỉ đạo các đơn vị là chủ đầu tư thực hiện các dự án đảm bảo đúng kế hoạch đã được phê duyệt. Coi việc quản lý, bảo vệ rừng ven biển là nhiệm vụ đặc biệt ưu tiên trong Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Đặc biệt, các địa phương cần kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng rừng ven biển sang mục đích khác; không chuyển loại rừng đặc dụng ven biển sang rừng phòng hộ, rừng sản xuất; hạn chế tối đa việc chuyển mục đích sử dụng rừng ven biển để sản xuất kinh doanh, làm suy giảm diện tích và chất lượng rừng.

Theo số liệu rà soát, báo cáo của các tỉnh đến tháng 12/2017, diện tích rừng và đất lâm nghiệp ven biển toàn quốc là 469.170 ha; trong đó 311.551 ha có rừng, 157.619 ha chưa có rừng.

So với diện tích trong Đề án (số liệu năm 2014), tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp ven biển năm 2017 tăng 82.127 ha. (TTXVN/Bnews.vn 23/7) Về đầu trang

 http://bnews.vn/de-nghi-dieu-chinh-giam-chi-tieu-trong-rung-ven-bien-giai-doan-2015-2020/91326.html

Trồng rừng thâm canh cây keo lai theo hướng bền vững

Theo Trung tâm Khuyến nông quốc gia, keo lai có đặc tính sinh trưởng nhanh về đường kính, chiều cao và hình khối (thân cây thẳng, cành nhánh nhỏ, sinh trưởng và phát triển tốt), khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt, có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện địa chất và các loại đất khác nhau. Ngoài giá trị về mặt kinh tế, cây keo lai còn có giá trị về mặt môi trường như có khả năng cải tạo đất, chống xói mòn.

Keo lai mọc nhanh, cành lá phát triển mạnh, sau khi trồng từ 1 đến 2 năm rừng đã khép tán, cải thiện được tiểu khí hậu, đất đai nơi trồng, che chắn hạn chế dòng chảy, trả lại một lượng cành khô lá rụng cho đất. Hiện tại, ở các tỉnh như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, keo lai chiếm 70% diện tích, keo tai tượng chiếm 15%. Keo lai hom năng suất đạt từ rừng trồng khoảng 18 đến 20 m3/ha/năm; năng suất rừng trồng mô từ 20 đến 25 m3/ha/năm; nơi đầu tư thâm canh cao và lập địa tốt có thể đạt hơn 30 m3/ha/năm.

Tuy nhiên, nhiều chủ rừng vẫn sử dụng các giống cũ, hoặc giống không rõ nguồn gốc để trồng, trong khi các giống keo lai tiến bộ kỹ thuật mới được công nhận còn chậm đưa vào sản xuất. Vì vậy, để trồng rừng thâm canh cây keo lai theo hướng bền vững, sản xuất gỗ lớn, nông dân cần đưa nhiều loại giống keo lai đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận như: BV10, BV16, BV32, BV71, BV75... vào trồng rừng. Giống chỉ được sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy mô, hoặc giâm hom và được sản xuất bởi những cơ sở uy tín, đồng thời cây giống được Chi cục Kiểm lâm kiểm tra, thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn xuất vườn mới đem trồng rừng.

Quá trình chăm sóc keo lai cần bón phân đúng chủng loại, liều lượng và thời điểm. Keo lai rất cần bón phân, nhất là giai đoạn bón lót đối với những vùng đất xấu ở Bắc Trung Bộ. Đồng thời áp dụng các biện pháp như tỉa cành, nhánh, đơn thân để tạo dáng thân thẳng, hạn chế gãy đổ khi mưa bão, tăng tỷ lệ sử dụng gỗ, nhất là gỗ xẻ. (Nhân Dân 24/7, tr2; Nhân Dân Online 24/7) Về đầu trang

 http://www.nhandan.com.vn/nation_news/item/37097302-trong-rung-tham-canh-cay-keo-lai-theo-huong-ben-vung.html

 

Hồi âm sau bài báo “Ngăn chặn kịp thời hành vi mở đường chiếm đất rừng đầu nguồn” tại Đăk Lăk: Đang lập phương án thu hồi đất lấn chiếm rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng

Ngày 8-6-2018, Báo Quân đội nhân dân đăng bài “Ngăn chặn kịp thời hành vi mở đường chiếm đất rừng đầu nguồn” của tác giả Bình Định. Tiếp nhận thông tin bài báo, UBND tỉnh Đắc Lắc đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện Krông Năng xác minh và xử lý vụ việc, thông tin cho báo chí tại cuộc họp báo định kỳ tháng 7-2018.

Ngày 25-6-2018, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắc Lắc có Văn bản số 1612/SNN-CCKL “về việc phản hồi thông tin của Báo Quân đội nhân dân”; ngày 27-6-2018, UBND huyện Krông Năng có Báo cáo số 165/BC-UBND, báo cáo tình hình xử lý các trường hợp sử dụng đất có nguồn gốc lấn chiếm đất rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng tại Tiểu khu 320, xã Cư Klông. Các văn bản trên khẳng định, thông tin Báo Quân đội nhân dân phản ánh về tình trạng lấn chiếm đất rừng, mở đường trái pháp luật dẫn đến xô xát là có thật. Hiện, Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng và UBND xã Cư Klông đang lập phương án xử lý, thu hồi đất lấn chiếm theo đúng tinh thần Chỉ thị số 1685/CT-TTg, ngày 27-9-2011 của Thủ tướng Chính phủ  "Tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ" và Chỉ thị số 03/CT-UBND, ngày 16-3-2013 của UBND tỉnh Đắc Lắc. Những vụ việc xô xát do các hộ dân mở đường trái phép cũng đang được các cơ quan chức năng điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Báo Quân đội nhân dân hoan nghênh tinh thần làm việc khẩn trương, có trách nhiệm của các cấp chính quyền và cơ quan chức năng tỉnh Đắc Lắc trong tiếp nhận, xử lý vụ việc báo phản ánh. (Quân Đội Nhân Dân 24/7, tr6; Quân Đội Nhân Dân Online 23/7) Về đầu trang

 http://www.qdnd.vn/phong-su-dieu-tra/dieu-tra/dang-lap-phuong-an-thu-hoi-dat-lan-chiem-rung-phong-ho-dau-nguon-krong-nang-544867

 

Trồng rừng gỗ lớn ở Bình Định: Lợi ích lớn

Phát triển rừng gỗ lớn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao hơn, mà còn giúp giảm xói mòn, rửa trôi đất…, góp phần bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, loại rừng này vẫn chưa phát triển rộng rãi tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có tại các địa phương.

Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm thuộc Sở NN&PTNT Bình Định, tính đến nay, toàn tỉnh có 134.306 ha rừng trồng, gồm 97.212 ha rừng sản xuất, số còn lại là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Trong số diện tích hơn 97.000 ha rừng sản xuất thì có hơn 80.000 ha rừng do các doanh nghiệp và hộ nông dân sở hữu, còn lại của các công ty lâm nghiệp. Theo ước tính, mỗi năm toàn tỉnh Bình Định trồng mới và trồng lại rừng sau khai thác với diện tích trên dưới 10.000 ha rừng. Hầu hết diện tích rừng sản xuất được thu hoạch non khi cây phát triển từ 4 - 5 năm tuổi. Thế nhưng nếu nuôi rừng để khai thác cây gỗ lớn (chu kỳ khai thác từ 14 - 15 năm) thì không những góp phần tăng hiệu quả kinh tế mà con nâng cao khả năng bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn, rửa trôi đất.

Ông Phạm Bá Nghị, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định, đánh giá: Hiệu quả kinh tế của trồng rừng gỗ lớn so với rừng gỗ nhỏ cao gấp nhiều lần tùy theo tuổi khai thác và đường kính cây. Hiện nay, năng suất rừng trồng phục vụ nguyên liệu giấy tại tỉnh đạt bình quân khoảng 100 tấn/ha với chu kỳ trồng từ 5 - 7 năm. Với giá gỗ nguyên liệu ở mức 1,2 triệu đồng/tấn, 1 ha rừng trồng thu được 120 triệu đồng. Trừ chi phí đầu tư và chi phí công khai thác (khoảng 30 triệu đồng/ha), người trồng rừng còn lãi từ 60 - 70 triệu đồng/ha. Tính ra, mỗi năm, người trồng rừng chỉ lãi khoảng 10 triệu đồng/ha. Tuy nhiên, nếu duy trì chăm sóc rừng đến 10 - 12 năm mới khai thác theo chương trình cây gỗ lớn thì mức doanh thu có thể đạt tới 250 triệu đồng/ha, gấp đôi thu nhập so với trồng rừng nguyên liệu giấy.

Ông Nguyễn Ngọc Đạo, Phó Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn, cho biết: Bên cạnh thu nhập kinh tế mang lại cao gấp đôi, trồng rừng gỗ lớn còn tăng khả năng hấp thụ khí cacbon, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu nhờ thời gian trồng kéo dài. Do vậy, xu hướng trồng rừng gỗ lớn được công ty xác định là hướng đi bền vững trong thời gian tới. Hiện nay, đơn vị đã thực hiện trồng 600 ha rừng keo lai theo chương trình trồng rừng gỗ lớn trên địa bàn huyện Hoài Ân.

Lợi ích kinh tế và môi trường mang lại từ chương trình trồng rừng gỗ lớn là khá cao, thế nhưng hiện nay đa số nông dân vẫn chưa mặn mà. Ông Cù Văn Mẫn, một hộ trồng rừng ở xã Phước Thành (huyện Tuy Phước, Bình Định), cho biết: Sở dĩ nông dân chúng tôi chưa “hít” chương trình trồng rừng gỗ lớn là bởi đa số người trồng rừng có thu nhập thấp, không đủ điều kiện tài chính để theo chu kỳ khai thác dài cho cây gỗ lớn. Trồng rừng gỗ nhỏ (chu kỳ khai thác từ 4 - 5 năm) mang lại nguồn thu nhanh hơn, có thể sớm quay vòng vốn đầu tư tiếp. Bên cạnh đó, do hầu hết người trồng rừng kinh tế vay vốn của các ngân hàng, tổ chức tín dụng để trồng rừng nên phải tiến hành thu hoạch rừng sớm để trả nợ. Một lý do nữa làm cho người trồng rừng phải lo thu hoạch sớm rừng trồng là do công tác quản lý, bảo vệ rừng tại một số địa phương chưa tốt, nếu kéo dài thời gian trồng và chăm sóc, khi cây đạt kích thước lớn dễ bị kẻ trộm khai thác…

Theo các chuyên gia về lâm nghiệp, lợi ích của việc trồng rừng gỗ lớn đã được khẳng định thế nhưng để phát triển mạnh diện tích rừng trồng gỗ lớn, ngành chức năng cần thay đổi từ công tác quy hoạch, nghiên cứu giống mới, kỹ thuật lâm nghiệp, đến việc ban hành các chích sách về phát triển thị trường, chính sách bảo hiểm rừng trồng, hỗ trợ tín dụng cho trồng rừng gỗ lớn, xây dựng mối liên kết từ khâu trồng đến khai thác theo chuỗi giá trị…

Theo ông Phạm Bá Nghị, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định, trong bối cảnh khả năng cung cấp gỗ xẻ từ rừng tự nhiên đã cạn kiệt, nguồn nguyên liệu cho sản xuất đồ mộc xuất khẩu của các DN chế biến đồ gỗ trên địa bàn tỉnh hầu hết là nhập khẩu thì trồng rừng gỗ lớn thay thế là một giải pháp quan trọng. Hiện, ngành Nông nghiệp đã xây dựng và trình đề án phát triển cây gỗ lớn để UBND tỉnh phê duyệt. Theo đó, trong thời gian từ nay đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, toàn tỉnh sẽ trồng rừng gỗ lớn với diện tích 10.000 ha, triển khai tại 3 Công ty Lâm nghiệp Sông Kôn, Hà Thanh và Quy Nhơn. Đồng thời triển khai tại các địa phương có nhiều diện tích rừng trồng tại các huyện như Phù Cát, Vân Canh, Hoài Ân… (Tài Nguyên & Môi Trường 24/7, tr9) Về đầu trang

https://baotainguyenmoitruong.vn/tai-nguyen/binh-dinh-loi-ich-lon-tu-viec-trong-rung-go-lon-1256121.html

Văn hóa khai thác rừng của người Xtiêng

Người Xtiêng là cư dân có mặt sớm trên vùng miền Đông Nam Bộ. Theo các nguồn sử liệu, trước khi lưu dân Việt đến sinh sống trên vùng đất miền Đông Nam Bộ thì cư dân Xtiêng cùng các nhóm người Chơro, Mạ, Cơho, M’nông đã từng cư trú. Chính vì vậy, người Xtiêng và những nhóm cư dân trên được xem là cư dân bản địa/cư dân gốc, cư dân tại chỗ. Hiện nay, các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh và Đồng Nai có người Xtiêng sinh sống khá đông đảo.

Người Xtiêng có một số tên gọi khác như: Xa Điêng, Bù lơ, Bù Đek, Bù Biêt, Bù Đip, Bù Lâp...Tên gọi chính thức của dân tộc này được định danh trong Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam là Xtiêng, số thứ tự là 22 xếp theo số lượng cư dân. Theo số liệu thống kê năm 2009, dân số Xtiêng có: 66.888 người.

Hiểu rừng

Đầu thế kỷ XX, vùng miền Đông Nam Bộ vẫn còn những cánh rừng liền khoảnh, bạt ngàn trải dài, diện tích lớn. Trong đó có những khu rừng già, rừng nguyên sinh nhiệt đới với nhiều hệ động vật, thực vật phong phú.

Nguồn động vật hết sức dồi dào cả về số lượng cũng như các loài, gồm có cả các loại thú lớn quý hiếm và các loại thú nhỏ như: Voi, tê giác, trâu rừng, nai, mển, khỉ, heo rừng, gà rừng…Ngoài ra còn nhiều loài bò sát cũng như các loài chim rừng.

Vùng miền Đông Nam Bộ có nhiều sông (sông Bé, sông Đồng Nai, sống La Ngà, sông Buông…), suối, ao hồ tự nhiên với diện tích và trữ lượng nước khá lớn. Hệ thống sông, suối, hồ, bàu ở Đông Nam Bộ không chỉ cung cấp nguồn nước mà còn có thủy sản vô cùng phong phú, đa dạng.

Cũng như các dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời ở Đông Nam Bộ, dân tộc Xtiêng có cách ứng xử phù hợp với thiên nhiên trong cư trú, sản xuất và khai thác các nguồn tài nguyên từ thiên nhiên. Qua thời gian sinh sống lâu dài, cư dân người Xtiêng đã hình thành nên được những phong tục, bản sắc đặc sắc của cộng đồng trong ứng xử mới môi trường tự nhiên. Người Xtiêng khai thác sử dụng tự nhiên để phục vụ, đáp ứng trong quá trình sinh sống của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Hoạt động khai thác các nguồn lợi động vật từ tự nhiên của người Xtiêng thường tập trung vào các loại thú rừng chủ yếu là: Heo rừng, gà rừng, nai, mễn, kỳ đà, các loại chim.…Đây là các loại thú vừa và nhỏ đồng thời có sống lượng lớn cả về chủng loại cũng như về số lượng nên việc khai thác săn bắt có phần dễ dàng hơn so với các loại thú lớn.

Để săn bắt thú rừng, người Xtiêng có kinh nghiệm trong nắm bắt đặc điểm, quy luật sinh sống của từng loài thú.

+ Nhận biết tập quán động vật qua loại trái, lá rừng

Heo rừng là loại động vật rất thích ăn trái cầy chín. Vì thế, khi rừng vào mùa trái cầy chín thì lúc đó cũng là lúc người Xtiêng săn bắt heo rừng. Chồn là loài động vật rất ưa thích ăn trái Cà ua, vì thế muốn săn bắt được loại thú này, người Xtiêng thường đặt bẫy những địa điểm có cây Cà ua nhiều trái vì chồn thường đến tìm thức ăn. Nai, mển là thú thích ăn các chồi lá non. Vì vậy, người Xtiêng đặt bẫy hoặc phục núp nơi có nhiều cây xanh nhiều chồi non để săn bắn.

+ Nhận biết thú qua dấu vết thú để lại

Heo rừng là loại động vật có đặc tính dùng mõm để đào ủi tìm kiếm nguồn thức ăn nên chúng sẽ để lại những dấu vết trên mặt đất. Người Xtiêng đi săn lần theo những dấu vết này để săn bắt chúng.

+ Xác định thú qua chất thải (phân)

Chồn trong quá trình di chuyển tìm kiếm nguồn thức ăn thường xuyên để lại phân trên đường đi. Người Xtiêng đi săn lần theo dấu phân này để tìm nơi trú ẩn của nó.

+ Nhận biết qua dấu vết nguồn thức ăn

Khỉ, heo rừng, chồn là loài động vật thường xuyên ra nương rẫy ăn các loại hoa màu của con người trồng. Chính vì vậy mà khi phát hiện trên nương rẫy có dấu vết của các loại hoa màu bị các loài vật này ăn thì hôm sau có thể tiến hành đặt bẫy tại nơi chúng đến.

- Nhận biết thú qua mùa vụ cây trồng

Khi mùa bắp cho thu hoạch cũng chính là mùa các loài động vật rừng như: Khỉ, Heo rừng hay các loài chim thường xuyên đến phá hoại mùa màng. Do vậy, đây cũng thời điểm người Xtiêng  săn bắt hay đặt bẫy thú rừng trên nương rẫy.

+ Nhận biết đặc tính của con vật

Đối với gà rừng chỉ có thể săn bắt vào mùa nắng. Khi mùa nắng đến cũng là  mùa sinh sản của gà rừng. Vì vậy, gà trống, gà mái thường xuyên xuất hiện đi tìm bạn tình để giao phối ghép đôi. Trong quá trình tìm bạn tình, gà trống sẽ thường xuyên cất tiếng gáy nhằm thu hút sự chú ý của gà mái quanh khu vực chúng xuất hiện. Người Xtiêng đi săn sẽ tìm đến nơi gà trống ở hoặc gáy để đặt bẫy hay săn bắn.

Mùa săn

Cung tên (ná, nỏ) là vũ khí được người Xtiêng sử dụng khá phổ biến, đặc biệt đối với đàn ông trong đi săn. Những người đi săn nắm biết hoặc tìm đến chỗ thú hay trú ở hoặc đi ăn, tụ tập mà phục bắn. Những người đi săn với loại vũ khí này thường là những tay thiện xạ, bắn giỏi. Họ lựa thế để bắn váo con thú khi chúng mất cảnh giác.

Tên đi săn thường được tẩm một loại dược chất do họ chế biến. Đây là loại chất độc có tính gây tê được người Xtiêng chế từ cây rừng. Chỉ cần mũi tên trúng hoặc sướt nhẹ vào con thú thì lượng chất độc này sẽ khiến con thú không kiểm soát được, tê liệt và bị bắt.

Trong môi trường tự nhiên, người Xtiêng vừa nắm bắt nắm bắt tập tính của loài thú theo từng mùa mà còn chế tạo ra những loại bẫy như: Bẫy kẹp, hố, bẫy thắt cổ, bẫy đạp, bẫy ống, bẫy cung tên, bẫy lò xo…kết hợp với điều kiện tự nhiên rất độc đáo.

Người Xtiêng đặt bẫy nơi thú tập trung, nơi các luồng lạch mà chúng có thói quen sử dụng. Đặc biệt, về cách thức săn thú  sử dụng bẫy của người Xtiêng rất tinh vi, hiệu quả. “…Bẫy: Gồm có nhiều loại, nhưng phổ biến nhất là hai loại: Bẫy bằng ống lồ ô đối với các con thú nhỏ như: chuột, chồn, sóc, chim…

Và  bẫy hố đối với các con thú lớn như: Hươu, nai lợn rừng. Người Xtiêng có cách làm bẫy rất độc đáo: “Thú nhỏ: dùng một ống lồ ô to, khoét lỗ, trong kẹp một thanh sắt để khi thú chạy qua thì bị kẹp chân. Bẫy được đặt ngoài ruộng, trên rẫy hoặc bìa rừng, nơi có nhiều hang hay dấu chân thú.

Thú to, đào hố rộng, dưới hố dùng dây rừng thắt lại làm bẫy thòng lòng để thú rơi xuống thì dây kéo cột lại không lên được, trên miệng hố dùng một số cây mục gác ngang dọc, phủ trên ngụy trang bằng một số lá khô rừng, đào bẫy nơi có nhiều bụi rậm, hoặc nơi có nhiều dấu chân thú, bẫy tránh người bằng cách khắc dấu trên cây, tạo tín hiệu chung.

Quanh năm, những ngày nông nhàn họ tiến hành săn bắn, vào lúc chiều và tối họ bắt đầu săn, bắt, bẫy thú. Người dân thường làm các tum nhỏ náu mình, đặt bên cạnh rẫy và ngồi chờ thú đến rẫy bắn.

Mùa săn thường bắt đầu vào mùa khô, các thú vật tập trung ở những khu vực có đồng cỏ, sông suối, ao hồ. Người Xtiêng thường tổ chức săn tập thể vào thời điểm này. Họ bố trí các bẫy, hầm…, rào ngăn các đường đi của thú, sau đó đánh mõ, đốt lửa đuổi thú hướng vào những cạm bẫy, hầm đã chờ sẵn. Một thứ không thể thiếu trong chuyến đi săn này là chó săn, họ thuần dưỡng chó săn rất tốt, đôi khi họ chỉ cần đánh mõ, kêu la, bầy chó săn sẽ đuổi thú hướng về phía bẫy cần thiết” .

Về săn bắn tập thể, nhà nghiên cứu Phan An cho rằng: Trước đây, người Xtiêng có hình thức săn bắn tập thể. Những cuộc đi săn tập thể được xem là ngày hội của bon, sóc. Mọi người trong bon sóc hào hứng tham gia, chuẩn bị vũ khí như cung tên, giáo mác, chà gạc và lương thực.

Những thú rừng săn được sẽ được mổ thịt ngay tại chỗ. Thịt thú được xẻ thành từng phiến, sấy hoặc phơi khô đem về nhà làm lương thực dự trữ.

Trong cách đi săn vây tập thể, người Xtiêng dùng đến loại chó săn do mình thuần dưỡng và huấn luyện. Trong thời gian gần đây, người Xtiêng có sử dụng một số loại súng từ các tộc người khác. Nhưng người Xtiêng rất tiết kiệm đạn dược, họ chỉ sử dụng săn bắn các loại thú lớn như voi, tê giác, còn cung tên vẫn tiếp tục sử dụng phổ biến như trước .

Trong khai thác động vật rừng, người Xtiêng luôn quan tâm đến việc bảo vê và duy trì thú vật. Họ không săn bắt thú vào mùa chúng có chữa, sinh sản; không săn bắt những con thú còn nhỏ, không phá nơi chúng ở như hang, tổ, hốc cây, kẽ đá… (Pháp Luật Việt Nam Online 24/7) Về đầu trang

http://baophapluat.vn/rubic-cuoc-song/van-hoa-khai-thac-rung-cua-nguoi-xtieng-403096.html 

Phập phồng với cá sấu tái đàn

Sau 2 năm rớt thê thảm, hiện giá cá sấu bỗng nhiên bật tăng cao. Trong lúc người nuôi cá sấu đang phấn chấn với kế hoạch phát triển, tái đàn thì ngành chức năng lại lo lắng vì đầu ra và công tác quản lý.

Được mệnh danh là thủ phủ của nuôi cá sấu, những ngày này, người dân ở huyện Định Quán (Đồng Nai) bỗng nhiên "xôm tụ" hẳn. Từ đầu làng cho đến cuối xóm đều bàn tán chuyện con cá sấu đang "hot" trở lại.

Theo đó, nếu như tỉnh Đồng Nai có tổng đàn cá sấu hơn 180.000 con thì huyện Định Quán nuôi nhiều nhất với hơn 320 trang trại, tổng đàn hơn 110.000 con. Thời điểm thị trường Trung Quốc hạn chế nhập, giá cá sấu lao dốc chỉ còn khoảng 100 hộ nuôi nhỏ lẻ với số lượng khoảng 100 con/hộ. Khi giá cá sấu bắt đầu tăng trở lại, rất nhiều hộ trên địa bàn huyện đã và đang đăng ký nuôi. Hiện rất nhiều trang trại ở đây đã sẵn sàng kinh phí từ nhiều nguồn, như vay mượn, tích luỹ... để ôm ấp giấc mộng làm giàu bằng nuôi cá sấu.

"Không như nhiều vật nuôi khác, con cá sấu ít dịch bệnh, dễ nuôi. Thức ăn cho chúng cũng rất dễ kiếm, chỉ là các phế phẩm động vật như đầu, nội tạng gà, heo, cá... và không cần chế biến, mua về ném vào là chúng tranh nhau ăn. Mỗi lứa cá sấu nuôi từ 18 tháng - 2 năm là có thể xuất chuồng. Với giá hiện tại, người nuôi có thể thu về lợi nhuận khoảng 800.000 đồng/con mà lại ít tốn công như những con vật nuôi khác", chị Đinh Hồng Nhung ở xã Phú Ngọc tính toán.

Còn tại huyện Phước Long, địa phương nuôi cá sấu đứng đầu tỉnh Bạc Liêu, người dân cũng "tưng bừng" với phong trào nuôi cá sấu. Khảo sát sơ bộ của ngành chức năng, hiện toàn huyện có khoảng 1.000 hộ nuôi với hơn 140.000 con cá sấu, trong đó hầu hết là cá sấu nuôi mới. Người dân tập trung nuôi cá sấu đã khiến giá con giống tăng cao "chóng mặt" từng ngày.

Theo tìm hiểu của phóng viên,  từ đầu năm đến nay, giá cá sấu loại 1 (từ 8 đến 15 kg/con)  từ 180.000 - 190.00 đồng/ kg; cá sấu loại 2 (từ 15 kg trở lên) hoảng 150.000 - 160.00 đồng/kg, tăng gần 3 lần so với cùng kỳ năm 2016. Với mức giá trên, người nuôi thu lãi từ 70.000-90000 đồng/kg.

Theo các chuyên gia kinh tế, dù giá cá sấu đã ở mức hấp dẫn nhưng hiện lượng hàng xuất đi Trung Quốc không nhiều như thời gian trước, trong khi đây lại chính là thị trường trọng yếu. Vì vậy, chỉ cần thị trường này ngừng nhập hoặc có những động thái lũng đoạn giá, nguy cơ người nuôi sẽ gặp lại "vận hạn" 2 năm trước rất dễ dàng xảy ra. Riêng thị trường trong nước, số lượng tiêu thụ không nhiều, chỉ chủ yếu là cá sấu loại nhỏ để lấy da dùng trong ngành thời trang, như sản xuất ví da, dây lưng, đồ lưu niệm…

Ông Lâm Tùng Quế, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP Hồ Chí Minh cho hay, việc phát triển số lượng cá sấu mà chưa có giải pháp kiểm soát cũng khiến nhiều người, đặc biệt cư dân trong vùng bất an. Nguyên nhân con cá sấu là loài động vật hoang dã, hung dữ mà lại được nuôi nhốt ngay trong khu dân cư dù việc quản lý chặt chẽ, từ khâu cấp giấy chứng nhận trại nuôi, kiểm tra cấp giấy tới khi các hộ dân được cấp giấy chứng nhận. Do đó, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn thường xuyên cho các chủ trại ký cam kết để đảm bảo an toàn trại nuôi, đảm bảo không có cá sấu xổng ra ngoài tự nhiên. Tuy nhiên, khu vực ven hồ Trị An lại là vùng nuôi cá sấu tập trung nhiều nhất sẽ là mối nguy lớn nếu có sự cố xảy ra khiến cá sấu xổng chuồng.

"Thực tế hiện nay, phong trào nuôi cá sấu chủ yếu mang tính chất tự phát là chính. Vì vậy, đầu ra chỉ phụ thuộc vào thương lái và thành phần này mặc sức "làm mưa làm gió" với người nuôi. Đã đến lúc chúng ta phải bàn đến việc phát triển bền vững nghề nuôi cá sấu cũng như xây dựng các mối liên kết sản xuất- tiêu thụ trong nước, từng bước giảm sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc", ông Lâm Tùng Quế nói thêm. (Bizlive 24/7) Về đầu trang

 https://bizlive.vn/hang-hoa/phap-phong-voi-ca-sau-tai-dan-3461185.html

Giảm đáng kể tình trạng phá rừng

Đó là nhờ ký kết quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng (BVR), phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) vùng giáp ranh giữa 2 tỉnh Phú Yên và Bình Định sau gần 2 năm triển khai.

Phú Yên và Bình Định có vùng rừng giáp ranh dài hơn 50km, xa khu dân cư và địa hình hiểm trở. Đặc biệt, rừng tự nhiên ở khu vực này giàu trữ lượng, có nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Trước đây, công tác quản lý BVR giáp ranh gặp nhiều khó khăn, lâm tặc thường xuyên chặt phá, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Mặt khác, do nhận thức của người dân còn hạn chế, nên có hành vi phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp...

Trước tình hình đó, tháng 8/2016, Chi cục Kiểm lâm và UBND tỉnh Phú Yên và Bình Định đã ký kết quy chế phối hợp quản lý BVR, PCCCR và kiểm tra xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm... Từ đó, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp giảm đáng kể.

Điển hình tại Cty TNHH Lâm nghiệp Hà Thanh (Bình Định) quản lý, bảo vệ hơn 19.200ha rừng thuộc địa bàn huyện Vân Canh giáp ranh huyện Đồng Xuân. Theo ông Đỗ Minh Chấn, PGĐ Cty TNHH Lâm nghiệp Hà Thanh, trước đây nhiều vụ phát hiện phá rừng tại các tiểu khu 51, 57 thuộc lâm phận quản lý xã Phú Mỡ, nhưng lực lượng BVR của đơn vị không biết liên hệ để thông tin với ai.

Sau khi có sự phối hợp của kiểm lâm 2 tỉnh, nhiều vụ phá rừng đã được xử lý. Đặc biệt là vụ 31 hộ dân ở xã Phú Mỡ lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại các tiểu khu 373, 378, 379 thuộc xã Liên Canh đã được xử lý dứt điểm.

Còn ông Lê Văn Bé, Chi cục Kiểm lâm Phú Yên cho biết, sau gần 2 năm thực hiện quy phối hợp lực lượng kiểm lâm 2 tỉnh đã xử lý nhiều vụ vi phạm.

Cụ thể, tại điểm chốt xã Đa Lộc, 2 bên đã phát hiện và lập biên bản 2 vụ, tịch thu tang vật khoảng 0,5m3 gỗ chò và 150kg than hầm. Tại điểm chốt xã Phú Mỡ, cũng phát hiện và lập biên bản 2 vụ, tịch thu khoảng 1.000kg than hầm, hơn 220 cây cồng.

Bên cạnh đó Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh để xác lập hồ sơ vụ phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại các tiểu khu 373, 378, 379 (thuộc xã Liên Canh) của 31 hộ dân ở thôn Phú Hải, xã Phú Mỡ.

Hạt Kiểm lâm TX Sông Cầu phối hợp với Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước - TP Quy Nhơn và chính quyền địa phương vùng giáp ranh tổ chức nhiều đợt tuần tra, truy quét tại các tiểu khu 7, 10 (vùng giáp ranh giữa hai xã Xuân Lộc và Phước Mỹ), đã phá hủy 33 lò than, tiêu hủy tại rừng hơn 5.500kg than hầm...

Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục phó phụ trách Chi cục Kiểm lâm Bình Định cho biết, trên địa bàn huyện Vân Canh, lực lượng kiểm lâm 2 bên đã phối hợp truy quét 6 đợt phá hủy 11 lò than hầm, tịch thu gần 5.500kg than hầm, 3 ster củi, 1 cưa máy, phá hủy 2 lán trại xây dựng trái phép tại các tiểu khu 363A, 363B, 352… (Nông Nghiệp Việt Nam 24/7, tr11; Nông Nghiệp Việt Nam Online 24/7) Về đầu trang

https://nongnghiep.vn/giam-dang-ke-tinh-trang-pha-rung-post223215.html