Điểm báo ngày 13/6/2018

Cập nhật ngày : 13/06/2018 03:44


ĐIỂM BÁO L
ĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 13 tháng 06 năm 2018)

TT-Huế: Gió lốc hoành hành vật đổ hàng loạt cây lâm nghiệp

Mưa lớn kéo dài kèm theo gió lốc quét qua địa bàn huyện miền núi A Lưới (tỉnh TT-Huế) từ đêm 11 đến trưa 12/6 gây hư hỏng nhà cửa, công trình cấp nước, cùng nhiều diện tích cây trồng của dân, chủ yếu là ở địa bàn xã Đông Sơn.

Theo thông tin vào chiều 12/6 từ ông Hồ Văn Tôi, Phó Chủ tịch UBND xã Đông Sơn (huyện A Lưới, TT-Huế), hiện địa phương vẫn tiếp tục thống kê thiệt hại do trận mưa lớn và lốc xoáy kéo dài gây ra trên địa bàn. Bước đầu cho thấy, trận thiên tai đã gây hư hỏng nhà cửa, công trình cấp nước, cùng nhiều diện tích cây trồng của dân.

Trước đó, vào khoảng 22 giờ tối 11/6, tại địa bàn xã Đông Sơn bắt đầu có mưa lớn, sau đó có gió giật mạnh và giông lốc. Gió lớn, giông lốc kéo dài từ thời điểm đó cho đến 11 giờ trưa hôm nay, 12/6, quét qua địa bàn 3 thôn của xã Đông Sơn đã làm tốc mái nhiều nhà dân, công trình trạm cấp nước... Trận lốc còn làm gãy đổ, hư hại nhiều diện tích cây lâm nghiệp là keo tràm, trong tổng số 600 ha diện tích rừng kinh tế của toàn xã Đông Sơn.

Theo ông Hồ Văn Tôi, kể từ sau trận bão cuối năm 2017, trên địa bàn mới xuất hiện trở lại một đợt gió mạnh gây ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng, nhà cửa, tài sản của dân như vậy.

“Mặc dù đây là trận lốc lớn, gió giật mạnh kéo dài, nhưng nhờ tập trung đầu tư nhà cửa, hạ tầng kiên cố kể từ sau trận bão cuối năm 2017, nên thiệt hại về công trình xây dựng trên địa bàn xã đã được giảm thiểu.

Hiện, chính quyền xã vẫn còn tiến hành thống kê cụ thể số lượng, mức độ thiệt hại do giông lốc gây ra và báo cáo đề xuất cấp trên hỗ trợ khẩn cấp do thiên tai cho địa phương”, ông Tôi cho biết. (Tiền Phong Online 12/6) Về đầu trang

 https://www.tienphong.vn/xa-hoi/tthue-gio-loc-hoanh-hanh-vat-do-hang-loat-cay-lam-nghiep-1283920.tpo

Nhiều cá thể gấu ngựa được giải cứu

Theo thông tin từ Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cho biết, ngày 12-6, cơ quan chức năng tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành chuyển giao một cá thể gấu ngựa đã bị nuôi nhốt khoảng 18 năm đến Trạm Cứu hộ gấu thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên.

Như vậy, chỉ trong vòng 1 tuần, đã có hai cá thể gấu ngựa của địa phương được tự nguyện chuyển giao.

Trước đó, ngày 6-6, một cá thể gấu ngựa khác cũng đã được chuyển giao về Trạm cứu hộ. Những vụ chuyển giao liên tiếp nói trên đã cho thấy, nỗ lực của Chính phủ cũng như các tổ chức bảo tồn như ENV và các đối tác trong việc thúc đẩy chấm dứt hoạt động nuôi nhốt gấu tại Việt Nam. ENV đánh giá cao sự tích cực của cán bộ kiểm lâm Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng trong việc thuyết phục, thúc đẩy các hộ gia đình nuôi nhốt gấu tự nguyện chuyển giao.

Với hai cá thể gấu được chuyển giao trong tháng này, hiện Lâm Đồng còn 6 cá thể gấu bị nuôi nhốt. Các cơ quan chức năng cùng các tổ chức đang tiếp tục nỗ lực để vận động chuyển giao 6 cá thể gấu còn lại, sớm đưa Lâm Đồng trở thành địa phương tiếp theo trong cả nước trở thành địa phương không còn gấu nuôi nhốt.

Trước đó, những cá thể gấu nuôi nhốt cuối cùng ở TP Cần Thơ và tỉnh Ninh Bình cũng đã được tự nguyện chuyển giao đến các trung tâm cứu hộ. Theo ghi nhận của ENV, hiện đã có 22 tỉnh thành không có gấu nuôi nhốt. (Công An Nhân Dân 13/6, tr1; Đại Đoàn Kết 13/6, tr2; Công An Nhân Dân Online 12/6; Tiền Phong Online 12/6; Lao Động Thủ Đô Online 12/6) Về đầu trang

http://cand.com.vn/doi-song/nhieu-ca-the-gau-ngua-duoc-giai-cuu-495222/

https://www.tienphong.vn/cong-nghe/lien-tiep-giai-cuu-2-ca-the-gau-ngua-1283957.tpo

http://laodongthudo.vn/lien-tiep-giai-cuu-hai-ca-the-gau-ngua-o-lam-dong-74814.html  

Điện Biên: Để người dân thực sự là chủ của rừng

Thực hiện kế hoạch giao đất, giao rừng gắn với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lâm nghiệp. Những năm qua, huyện Mường Ảng luôn tích cực phối hợp với đơn vị tư vấn và các sở, ngành liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện việc cấp GCNQSDĐ. Đến nay, huyện Mường Ảng đã có quyết định giao 10.164ha đất có rừng cho 220 cộng đồng dân cư, hộ dân và các cá nhân, bước đầu đã tạo được chuyển biến trong công tác quản lý vào bảo vệ rừng, giúp cho rừng có chủ thực sự và góp phần nâng cao đời sống của người dân.

Hiện nay, huyện Mường Ảng có diện tích đất lâm nghiệp trên 33.200ha, trong đó 13.294ha đất lâm nghiệp có rừng. Xác định việc giao đất, giao rừng gắn với cấp GCNQSDĐ cho các cá nhân, hộ dân, cộng đồng dân cư trên địa bàn là cần thiết nhằm giúp người dân có đất sản xuất và được hưởng lợi từ những cánh rừng được giao quản lý, bảo vệ. Ông Nguyễn Hữu Hiệp, Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Ảng, cho biết: Để người dân thực sự là chủ của rừng, ngay sau khi có kết quả trích đo địa chính các thửa đất chúng tôi chỉ đạo Tổ chuyên viên giúp việc Ban chỉ đạo trồng rừng sản xuất, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện chủ trì tổ chức hướng dẫn cho UBND các xã xây dựng phương án giao đất cho các hộ gia đình để trồng rừng sản xuất tập trung trên cơ sở tổ chức họp lấy ý kiến của các Ban, ngành, đoàn thể, đại diện bản của xã và các hộ gia đình về phương án giao đất, số liệu đo đạc địa chính, tình trạng tranh chấp đất đai. Tiếp đến UBND xã trình HĐND cấp xã thông qua phương án. Khi phương án được HĐND xã thông qua, UBND xã trình các cơ quan chuyên môn huyện để thẩm định.

Khi có kết quả thẩm định, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mường Ảng tham mưu cho UBND huyện phê duyệt phương án giao đất cho các hộ gia đình trồng rừng sản xuất tập trung của xã; Quyết định giao đất trồng rừng sản xuất tập trung cho từng hộ gia đình. Đồng thời tại UBND xã niêm yết công khai phương án giao đất cho các hộ gia đình trồng rừng sản xuất tập trung tại trụ sở UBND xã và các điểm sinh hoạt cộng đồng dân cư. Bên cạnh đó, huyện Mường Ảng chỉ đạo xã lập hồ sơ cấp GCNQSD đất cho hộ gia đình; Niêm yết công khai kết quả lập hồ sơ tại trụ sở UBND cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 15 ngày…

Ngoài ra, huyện Mường Ảng giao Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và một số phòng, ban liên quan có trách nhiệm kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp; xác nhận điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào đơn đăng ký; gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định; Chuẩn bị hồ sơ để cơ quan tài nguyên và môi trường trình ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cập nhật bổ sung việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; Bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng HĐND - UBND huyện để trao cho người được cấp.

Mặc dù được chuẩn bị khá kỹ, nhưng trong quá trình thực hiện giao đất gắn với giao rừng, huyện Mường Ảng vẫn còn xảy ra tình trạng tranh chấp giữa bản với bản; cộng đồng bản với hộ dân; hộ dân với hộ dân; công tác rà soát thực hiện lập phương án giao đất giao rừng còn có lô thiếu chính xác về ranh giới, chủng loại cây và trữ lượng; đặc biệt là mốc giới thửa đất còn tình trạng các chủ rừng liền kề, giáp ranh không rõ ranh giới… Tuy nhiên, nhờ sự vào cuộc chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị, đến nay huyện Mường Ảng đã hoàn thành việc giao đất gắn với giao rừng và cấp GCNQSDĐ cho 220 cộng đồng dân cư, hộ dân và các cá nhân; ban hành 10 quyết định về việc giao đất, giao rừng cho 9 xã, 1 thị trấn và cấp 267 giấy CNQSDĐ cho các chủ rừng theo Kế hoạch 388 của UBND tỉnh. Hồ sơ giao đất, giao rừng đã hoàn chỉnh và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đánh giá về công tác triển khai cấp GCNQSDD của huyện Mường Ảng tại Hội nghị tập huấn nghiệp vụ thiết kế, lập hồ sơ, quy trình thẩm định hồ sơ thiết kế kỹ thuật, dự toán công trình lâm sinh; hướng dẫn thực hiện giao đất lâm nghiệp chưa có rừng cho các hộ cá nhân, hộ gia đình diễn ra vào tháng 5 vừa qua, đồng chí Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định: Mường Ảng là huyện thực hiện tốt công tác giao đất, giao rừng và cấp GCNQSDĐ mà các huyện, đơn vị trên địa bàn tỉnh cần học hỏi, nhân rộng mô hình. (Dienbien.gov.vn 12/6) Về đầu trang

http://www.dienbien.gov.vn/portal/Pages/2018-6-12/VPUB--De-nguoi-dan-thuc-su-la-chu-cua-rung05vczo.aspx

Cao Bằng: Khai thác “nông sản” rừng và nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên

Vào những ngày nông nhàn, ở các bản làng nông thôn, bà con lại lên rừng khai thác guột để có thu nhập. Đây là một loài cây được bà con ví như “nông sản” của rừng. Tuy nhiên, mặt trái của việc khai thác ồ ạt loại cây này có nguy cơ làm cạn kiệt các loại dược liệu quý hiếm của địa phương.

Cây guột thuộc ngành dương xỉ, thân cây khá tròn, to bằng chiếc đũa, vỏ màu nâu sậm, dài thẳng, tán lá màu xanh, mọc trên rừng, phát triển mạnh và tạo thành bụi cây lớn ở nơi đất ẩm và có ánh sáng. Nhiều cây có thể dài tới 4 - 5m. Trước đây, thương lái chỉ thu mua ruột cây với giá vài nghìn đến hơn chục nghìn đồng/kg. Sau 2 năm ngừng thu mua, hiện nay, cả phần vỏ guột cũng đều được thu mua hết.

Năm nay, ruột cây guột phơi khô được thu mua với giá 23.000 đồng/kg nên nhiều người chịu khó lên rừng khai thác guột để bán.

Mấy ngày nay, ông Đặng Hoẻn ở xóm Đông Rẻo, xã Bắc Hợp, huyện Nguyên Bình đều lên rừng lấy guột về. Hai ông bà miệt mài tước các phần của cây ra đem phơi ngoài nắng, đến phiên chợ sẽ có người đến tận nhà thu mua, ông bà sẽ có thêm thêm đồng ra đồng vào. Ông Hoẻn cho biết: “Cây này ở trong rừng, mình muốn lấy cây to cây dài phải vào trong bụi. Cây này thu lâu lắm rồi, nhưng 2 - 3 năm gần đây không thu vì giá rẻ, thu cả cây thì sức khỏe mình không thể mang đi được. Năm ngoái, năm kia có 2.000 đồng/kg. Năm nay, cây này có giá 23.000 đồng/kg ruột khô, phần trên của vỏ thì 3.000 đồng/kg, phần vỏ dưới được 6.000 đồng/kg”.

Những năm gần đây, xuất hiện một số làng nghề đan guột ở Hà Nội, tạo ra các sản phẩm đa dạng như: rổ, rá, tủ, bàn, ghế, khung ảnh, lọ hoa, con giống… từ loại cây guột mọc hoang dại tại các vùng rừng núi phía Bắc và một số tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, ở tỉnh ta, mặt hàng thô này đều được thương lái thu mua để bán sang Trung Quốc. Mặt khác, khai thác guột trên diện rộng gây ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên rừng. Do vậy, để phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bà con, cần có những giải pháp phù hợp để bà con làm giàu chính đáng, góp phần bảo vệ và tôn tạo rừng đầu nguồn. (Caobangtv.vn 12/6) Về đầu trang

http://caobangtv.vn/tin-tuc-n18922/khai-thac-nong-san-rung-va-nguy-co-anh-huong-tieu-cuc-den-tai-nguyen.html

Giá nhựa sơn “lao dốc”, dân Phú Thọ chặt cây truyền thống

Khi còn “hoàng kim”, mang lại nguồn thu nhập ổn định, người dân ở huyện Tam Nông (Phú Thọ) đua nhau trồng cây sơn. Niềm vui ngắn chẳng tày gang, giờ đây, giá nhựa sơn “xuống đáy”, thậm chí không có ai mua khiến người dân lao đao…

Tam Nông là huyện có truyền thống trồng cây sơn lấy nhựa, có thời điểm, sơn được coi là cây chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Nhưng chỉ được vài năm, giá nhựa sơn xuống thấp dần, đến nỗi người dân phải ồ ạt chặt bỏ loại cây truyền thống.

Anh Hà Văn Trường, trú tại khu 4, xã Thọ Văn cho biết: “Trước đó, nhựa sơn có giá khoảng 200.000 – 300.000 đồng/kg, mang lại thu nhập cao cho bà con. Tuy nhiên, thời gian gần đây sơn xuống giá quá thấp khiến người dân không còn mặn mà. Mặc dù sơn đang vào giai đoạn thu hoạch nhưng một số hộ đã chặt bỏ để trồng cây lâm nghiệp khác như bạch đàn hoặc bỏ đất trống".

Cũng theo anh Trường, gia đình anh trồng 1ha, cây sơn vào đang độ già là thời điểm thích hợp để thu hoạch, nhưng do giá xuống thấp bằng nửa năm ngoái nên vẫn để đó. Tình trạng người dân đổ xô đi chặt bỏ cây sơn đang kỳ thu hoạch diễn ra ở nhiều xã trên địa bàn huyện Tam Nông như: Thọ Văn, Dị Nậu, Xuân Quang, Văn Lương, Cổ Tiết… Hiện, chỉ còn 2 xã Thọ Văn và xã Dị Nậu người dân còn giữ lại chưa chặt hết. 

Trao đổi với Dân Việt, ông Hà Văn Tấn – Chủ tịch UBND xã Thọ Văn cho biết: “Tổng diện tích cây sơn hiện có của xã là 176ha, trong đó một nửa là cây trồng mới, còn lại là cây già đang độ thu hoạch.

Thời điểm năm 2012, diện tích cho ra sản phẩm là 142ha, năng suất đạt 4,3 tạ/ha, sản lượng 61 tấn, so với các loại cây trồng trên đất đồi, cây sơn cho mức thu nhập cao nhất. Bình quân 1ha cây sơn theo thời giá hiện nay có thể cho thu nhập hàng chục triệu đồng/năm, trong khi cây bạch đàn với chu kỳ kéo dài 7 năm nhưng thu nhập không cao.

Nhưng thời gian gần đây người dân đã chặt bỏ khoảng 10ha do sơn xuống giá, chuyển đổi sang cây trồng khác như bạch đàn, cây chè”.

Tuy nhiên, không có chuyện người dân chặt hết cây sơn mà vẫn duy trì ổn định diện tích đã  trồng nhưng không phát triển thêm như thời điểm trước đây”, ông Tấn khẳng định.

Cách đây khoảng 5 năm, giá sơn cao nhất lên đến 300.000 đồng/1kg, trung bình dao động khoảng 180.000 – 250.000 đồng/1kg nhưng hiện nay sơn xuống giá chỉ còn 110.000 – 130.000 đồng/kg nên nhiều hộ dân không còn mặn mà.

Theo ông Tấn, một cây sơn có chu kỳ kéo dài 6 năm, trong đó mất 3 năm đầu cây phát triển, đến năm thứ 4, 5, 6 cây sẽ cho nhựa. Thời kỳ cây sơn cho nhựa tốt nhất được gọi là sơn ngang dao, một công lao động một ngày có thể cắt được 3 sào sơn.

"Chúng tôi vẫn thường xuyên tuyên truyền người dân duy trì ổn định diện tích cây sơn vì đây là cây truyền thống, cây chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cho bà con trong xã. Một số diện tích rừng không thể trồng sơn do độ dốc lớn sẽ được thay thế bằng cây lâm nghiệp khác. Xã tuyệt đối không có chủ trương chặt hạ cây sơn, bởi sơn là cây có từ lâu đời”, ông Tấn nói.

Cây sơn đã chặt, nhưng vấn đề trồng cây gì đem lại hiệu quả kinh tế vẫn là bài toán khó giải ở Tam Nông.

Ông Trần Quốc Phong – Trường phòng NNPTNT huyện Tam Nông xác nhận có tình trạng người dân trên địa bàn đua nhau chặt hạ vì sơn xuống giá.

Toàn huyện Tam Nông đã có 12 xã tham gia trồng cây sơn với tổng diện tích hơn 500ha, trong đó có gần 400 -  450ha  đang cho thu hoạch, sản lượng đạt từ 130 - 150 tấn/năm.

Nhựa sơn được các thương nhân, thợ sơn đánh giá là có chất lượng tốt, vì có độ bám, độ bền cao. Nhờ chất lượng tốt, sản lượng tiêu thụ nhựa sơn trên thị trường trong nước và xuất khẩu những năm qua ngày càng cao, dẫn đến diện tích cây sơn ta trên địa bàn huyện được mở rộng.

Tuy nhiên, khoảng 2 năm trở lại đây, giá sơn xuống thấp nên người dân một số xã đua nhau chặt nhằm thay thế cây trồng khác.

Theo ông Phong, sơn là cây chủ lực trên vùng đất lâm nghiệp của huyện do vậy huyện không bao giờ khuyến khích người dân phá bỏ cây sơn trồng cây khác; không mở rộng nhưng phải giữ vững. Cái khó cho việc duy trì ổn định diện tích sơn là việc tiêu thụ khó khăn, hiện nay sơn vẫn xuất khẩu theo đường tiểu ngạch là chính.

"Chúng tôi rất mong nhà nước quan tâm hơn về nguồn tiêu thụ giúp cây sơn tiếp tục phát triển”, ông Phong nói. (Dân Việt 13/6) Về đầu trang

http://danviet.vn/thi-truong-nong-san/gia-nhua-son-lao-doc-dan-phu-tho-chat-cay-truyen-thong-884436.html

Sản phẩm gỗ Việt Nam: Tạo khác biệt nhờ nguồn nguyên liệu

Theo các chuyên gia, hiện thị trường đồ nội thất thế giới có giá trị sản phẩm khoảng 428 tỷ USD và được dự báo tăng 3,5% trong năm 2018 và tăng thêm trong các năm tới. Do đó, doanh nghiệp (DN) Việt hoàn toàn có thể xuất khẩu nhiều hơn con số 8 tỷ USD nếu sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu và đẩy mạnh hình thức xúc tiến thương mại (XTTM).

Ông Huỳnh Văn Hạnh - Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) - cho biết, trong 15 năm qua, chỉ số phát triển ngành gỗ luôn duy trì tăng 8 -15%/năm, ngay cả lúc kinh tế toàn cầu biến động. Vấn đề lớn nhất của DN chế biến gỗ (CBG) Việt Nam là đang khai thác nhiều phân khúc khách hàng có giá trị gia tăng thấp, gia công vẫn chiếm đa số. "Để nâng tầm ngành gỗ Việt, DN CBG cần khai thác giá trị cao nhất là xuất bán cả không gian nội thất cao cấp, thay vì tăng gia công và bán sản phẩm như hiện nay" - ông Hạnh nhấn mạnh.

Theo Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (VIFORES), muốn nâng cao giá trị cho ngành gỗ, Việt Nam cần tận dụng thế mạnh nguồn nguyên liệu trong nước, cụ thể là nguyên liệu gỗ cây keo (tràm bông vàng) để tạo sự khác biệt. Đây là loại gỗ hợp pháp mà Việt Nam đang chế biến nội thất xuất khẩu nhiều nhất.

Các thống kê của ngành gỗ cho thấy, hiện cả nước có hơn 3.000.000 ha keo, nếu sau tỉa thưa duy trì 500 cây/ha ở tuổi rừng 10 năm sẽ cho 150 m3 gỗ sản xuất. Chỉ cần khai thác 150.000 ha/năm rừng keo sẽ cho 22,5 triệu m3 gỗ đủ đáp ứng tổng nhu cầu nguyên liệu trong năm của toàn ngành cho thị trường nội địa lẫn xuất khẩu. Đặc biệt, nguồn nguyên liệu từ gỗ keo rẻ hơn so với gỗ nhập khẩu - là cơ sở hình thành chuỗi sản xuất khép kín cho gỗ Việt Nam với bản sắc riêng.

Cùng với việc khai thác hiệu quả nguồn nguyên liệu, việc thực hiện các hoạt động XTTM để quảng bá, giới thiệu sản phẩm gỗ cũng là hình thức giúp DN nâng cao giá trị và gia tăng doanh số bán hàng. Ông Huỳnh Văn Hạnh cho hay, hiện nay kênh XTTM hội chợ, triển lãm được xem là hiệu quả và ít tốn tiền nhất. Vì vậy, trong năm 2018 HAWA đã thông tin đến các DN về lịch tổ chức một số sự kiện đồ gỗ ở nước ngoài, khi DN có nhu cầu tham gia HAWA sẽ tổ chức đoàn khảo sát hoặc trưng bày tại các sự kiện này để hỗ trợ DN tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường.

Tuy nhiên ông Hạnh cũng lưu ý, việc XTTM tại chỗ qua kênh hội chợ nội địa đang được nhiều DN, nhất là DN có quy mô nhỏ chọn lựa, bởi thời gian tham gia ít nhưng hiệu quả mang lại tức thời. Đơn cử với VIFA Expo, nếu như kỳ tổ chức năm 2017 chỉ thu hút trên 2.000 lượt khách quốc tế đến tham quan và thu về trên 20 triệu USD giao dịch tại chỗ thì đến kỳ VIFA Expo 2018 đã thu hút 4.528 lượt khách quốc tế tham quan, con số giao dịch tại chỗ cũng được ước tính tăng hơn. Do đó, hàng năm HAWA vẫn duy trì, mở rộng hai sự kiện VIFA Expo và VIFA Home nhằm tạo cầu nối giao thương thiết thực cho DN. (Công Thương Online 13/6) Về đầu trang

http://baocongthuong.com.vn/san-pham-go-viet-nam-tao-khac-biet-nho-nguon-nguyen-lieu.html  

Hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Yên Bái

Yên Bái có tổng diện tích rừng trên 432.381ha, trong đó có 174.123 ha rừng tham gia cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).

Những năm qua, tỉnh đã triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR, mỗi năm người dân được nhận trên 65 tỷ đồng từ phí môi trường rừng, đây là nguồn lực quan trọng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Huyện Mù Cang Chải có 80.341 ha rừng, trong đó có 60.090 ha rừng tự nhiên, 19.536 ha rừng trồng nằm trong 3 lưu vực sông Hồng, sông Đà và lưu vực Nậm Tha. Đây là tiềm năng lớn về nguồn thu DVMTR từ các nhà máy thủy điện trên địa bàn.

Năm 2017, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái chi trả cho người dân Mù Cang Chải trên 43,7 tỷ đồng, trong đó, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Mù Cang Chải 27 tỷ đồng, Khu Bảo tồn loài sinh cảnh Mù Cang Chải 15,5 tỷ đồng, Ban Chi trả tiền DVMTR huyện Mù Cang Chải trên 700 triệu đồng. Tiền DVMTR góp phần giúp đời sống của hàng nghìn lượt hộ dân làm nghề rừng được cải thiện đáng kể. Xã Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải được thiên nhiên ưu đãi cho tài nguyên rừng phong phú và toàn xã có trên 17.618 ha rừng chiếm hơn 73% diện tích toàn xã.

          Cuộc sống người dân ở đây chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp, trong đó, thu nhập chính từ rừng. Từ khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã làm thay đổi một phần cuộc sống của người dân, góp phần tích cực vào xóa đói giảm nghèo. Trung bình mỗi năm xã Chế Tạo được nhận trên 6 tỷ đồng từ phí DVMTR. Từ số tiền này, nhiều hộ dân đã có tiền mua lương thực dự trữ lúc giáp hạt, mua sắm được những vật dụng, đồ dùng sinh hoạt trong gia đình. Bà con trong xã rất phấn khởi vì việc giữ rừng đã được hưởng lợi từ rừng.

          Ông Giàng A Dờ, bản Háng Tày, xã Chế Tạo cho biết: "Từ khi thực hiện chính sách chi trả tiền DVMTR, đời sống bà con trong bản đã được cải thiện. Bà con đều biết giữ rừng là có nguồn nước cung cấp cho nhà máy thủy điện, có điện nhà máy sẽ nộp phần lợi nhuận cho việc bảo vệ rừng bà con sẽ có tiền trang trải cuộc sống”.

Nói về hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR, ông Nguyễn Anh Tuấn - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mù Cang Chải cho biết: "Ban Quản lý khu bảo tồn loài sinh cảnh Mù Cang Chải quản lý trên 19.000 ha rừng đặc dụng. Năm 2017, được nhận trên 15 tỷ đồng tiền DVMTR. Cùng với các nguồn thu nhập khác từ rừng, tiền DVMTR đã góp phần nâng cao thu nhập của người dân. Chính sách DVMTR đã nâng cao nhận thức và trách nhiệm của chính quyền các xã và người dân về công tác bảo vệ, phát triển rừng. Tại các khu vực rừng được chi trả tiền DVMTR, người dân đã nhiệt tình hơn trong công tác trồng, chăm sóc rừng và tình trạng xâm lấn, chặt phá rừng từng bước được hạn chế”.

Cũng như huyện Mù Cang Chải, huyện Văn Chấn đã thực hiện khá hiệu quả công tác DVMTR. Hiện, toàn huyện Văn Chấn có 70.116 ha đất có rừng, trong đó, có trên 20.534 ha rừng được chi trả DVMTR. Năm 2017, Ban Chi trả tiền DVMTR huyện Văn Chấn  đã chi trả 4,058 tỷ đồng cho chủ rừng và người nhận giao khoán bảo vệ.

Ông Nguyễn Văn Quỳnh - Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn cho biết: "Chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn huyện Văn Chấn đã góp phần tạo việc làm, cải thiện sinh kế, ổn định đời sống cho gần 2.500 hộ gia đình. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm cũng như năng lực, hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ rừng, các tổ chức cá nhân với sự nghiệp bảo vệ, phát triển rừng”.

Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái, năm 2017, tổng diện tích rừng có cung ứng DVMTR là 174.123 ha, đã chi trả 66,7 tỷ tiền DVMTR thu được của 25 nhà máy thủy điện và 4 công ty cung cấp nước sạch.

Chính sách chi trả DVMTR đã đem lại những tín hiệu tích cực, huy động nguồn lực xã hội để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, giảm đáng kể đầu tư từ ngân sách nhà nước cho quản lý, bảo vệ rừng, góp phần nâng cao vị thế, vai trò của môi trường rừng, nâng cao thu nhập, ổn định đời sống của người dân vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sống gắn bó với rừng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, đó là, thu nhập của các hộ gia đình từ DVMTR bình quân cả tỉnh chưa đạt 2 triệu đồng/hộ/năm. Đây là con số còn thấp, khó đảm bảo cuộc sống  cho người làm nghề rừng.

Bên cạnh đó, việc chi trả tiền DVMTR theo từng lưu vực của mỗi cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng đã tạo sự chênh lệch rất lớn, đơn giá chi trả theo đầu nguồn sông Đà là 800.000 đồng/ha; trong khi đó, đầu nguồn sông Hồng là 218.700 đồng/ha.

Vẫn biết, có rừng mới có nguồn nước, có thủy điện; tuy nhiên, thực tế hiện nay vẫn còn một số công ty sử dụng dịch vụ môi trường rừng còn chậm chưa thực hiện đúng việc nộp tiền và kê khai theo hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR đã quy định về việc thực hiện chi trả tiền DVMTR năm 2017 với số tiền là trên 1,2 tỷ đồng.

          Cụ thể như Công ty TNHH Thanh Bình nợ 9,0 triệu đồng; Công ty TNHH Thủy điện Nậm Tục nợ 130,9 triệu đồng; Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển điện Miền Bắc 3 nợ 557 triệu đồng; Công ty cổ phần Thủy điện Nậm Đông 4 nợ 251,7 triệu đồng, Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển điện Yên Bái còn nợ 237,8 triệu đồng...

Trong số các đơn vị chây ỳ kể trên, chỉ có Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển điện Miền Bắc 3 có văn bản xin chậm nộp vào quý 3 năm 2018.

Việc các đơn vị trên nợ tiền, đã làm ảnh hưởng đến chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn, khi họ chậm nộp tiền thì cũng đồng nghĩa với việc quỹ chậm chi trả cho người dân. Quỹ không có nguồn nào để ứng cho người bảo vệ rừng được mà đều phải dựa vào nguồn quỹ các đơn vị phải đóng, do vậy Quỹ vẫn chưa thể chi trả được.

Thiết nghĩ, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chân chính, có trách nhiệm với xã hội thì cần thực hiện nghiêm túc hơn Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ trong việc nộp đủ phí sử dụng tài nguyên để Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng sớm chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho nhân dân. Có như vậy, cuộc sống người dân mới được nâng lên, rừng mới được tái tạo và phát triển bền vững. (Báo Yên Bái Online 12/6) Về đầu trang

http://www.baoyenbai.com.vn/12/163063/Hieu_qua_chinh_sach_chi_tra_dich_vu_moi_truong_rung_o_Yen_Bai.htm

Chi trả Dịch vụ môi trường rừng: Giải pháp cho môi trường xanh – sạch – đẹp

 Các hệ sinh thái tự nhiên đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sống và tồn tại của con người, đặc biệt là hệ sinh thái rừng. Rừng không chỉ cung cấp nguyên vật liệu như gỗ, củi cho một số ngành sản xuất mà còn giúp duy trì và bảo vệ môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, do sự phát triển quá nhanh của xã hội mà không có chiến lược bảo vệ rừng khiến nguồn tài nguyên này đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu.

Trong những năm gần đây, nhận thức về giá trị, vai trò của rừng ngày càng được nâng cao, đặc biệt là sự tiếp cận với những cách nghĩ mới về những lợi ích mà rừng đem lại. Đó không còn là những giá trị trừu tượng mà đã được xem là một loại hàng hoá, có thể đem trao đổi và mua bán trên thị trường. Chính vì vậy, dịch vụ môi trường rừng đã ra đời và đang trở thành một biện pháp quản lý hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam.

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, có diện tích và trữ lượng rừng lớn nhất trong nước. Tuy nhiên, do nhu cầu xã hội phát triển, các biện pháp kĩ thuật hiện đại, tiên tiến trong sản xuất ngày càng được phát triển, tình trạng bùng nổ dân di cư tự do đã kéo theo hệ luỵ là phát sinh đất ở và đất sản xuất. Nên tình trạng người dân vào rừng để chặt phá rừng tự nhiên và lấn chiếm đất rừng trong những năm qua diễn biến hết sức phức tạp và ngày càng nhiều. Tổng diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái phép trên địa bàn qua các năm diễn biến phức tạp, trong khi đó các ngành chức năng của Ðắk Lắk mới chỉ thu hồi được một phần diện tích để trồng lại rừng…

Vì vậy trong bối cảnh hiện nay, Chi trả dịch vụ môi trường rừng được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ môi trường bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ. Chi trả dịch vụ môi trường rừng là công cụ kinh tế yêu cầu những người được hưởng lời từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó. Từ chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng và hộ nhận khoán rừng từng bước được nâng cao. Đặc biệt, chính sách này đã góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Bên cạnh đó, Chi trả Dịch vụ môi trường rừng còn mang lại nhiều lợi ích cho môi trường như:

Thứ nhất, phát triển cơ chế Chi trả dịch vụ môi trường rừng tất yếu đóng góp lớn vào việc bảo vệ và phát triển rừng. Với sự có mặt của Chi trả DVMTR, người làm rừng là những người cung cấp hàng hoá dịch vụ môi trường, nếu dịch vụ môi trường càng tốt thì càng được trả giá cao, điều này đưa đến hệ quả là người làm rừng có trách nhiệm bảo vệ và phát triển chính hàng hoá của mình giúp hạn chế tình trạng chặt phá rừng bừa bãi. Họ  sẽ phải tính toán và lên kế hoạch khai thác sao cho vẫn đảm bảo cung cấp được dịch vụ môi trường và vẫn thu được nguồn lợi trực tiếp từ rừng sản xuất. Tình trạng phá rừng làm nương rẫy sẽ được hạn chế,  giảm diện tích đất rừng bị hoang hoá. Thay vào đó là phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nhằm phát triển rừng với diện tích ngày càng lớn.

Thứ hai, do rừng phát triển, động thực vật có nơi để cư trú nên DVMTR cũng góp phần duy trì và bảo vệ đa dạng sinh học. Như đã biết, Đắk Lắk có một diện tích rừng tương đối lớn và nhiều loại động thực vật quý hiếm, việc giữ gìn và bảo vệ rừng có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn các loài hoang dã và duy trì hệ sinh thái hiện có. Rừng bị huỷ hoại dẫn đến có nhiều loài động vật bị chết do thiếu nơi cư trú hay mất nguồn thức ăn sẽ làm suy giảm về số lượng loài, chất lượng loài, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học.

Thứ ba, ngoài việc đem lại các giá trị lợi ích về giữ nước, chống bồi lắng lòng hồ thuỷ điện, chống xói mòn đất, rừng còn có giá trị quan trọng trong việc giảm thiểu  cac-bon, một trong những nhân tố gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu. Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang có những giải pháp khuyến khích trồng rừng nhằm giảm phát thải cac-bon thì Chính sách Chi trả DVMTR là một cơ chế tương đối hiệu quả trong giảm thải cac-bon. Lượng cac-bon được hấp thụ nhiều hơn sẽ góp phần ngăn chặn bớt tác hại của hiện tượng ấm lên toàn cầu. Thêm vào đó, với diện tích rừng ngày càng tăng lên, đương nhiên môi trường sẽ trong sạch hơn, giảm bớt các tác hại của ô nhiễm không khí và đem lại cho con người và các loài động vật môi trường sống tốt hơn, trong lành hơn.

Thứ tư, Chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng đã xây dựng được quỹ cho các hoạt động quản lý và phát triển rừng, góp phần tăng thêm vốn cho các hoạt động môi trường. Theo Nghị định 05/2008/NĐ-CP; Nghị định 99/2010/NĐ-CP; Nghị định 147/2016/NĐ-CP của Chính phủ, 10% số tiền thu được từ chi trả dịch vụ môi trường của các nhà máy thuỷ điện sẽ được dùng để thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng. Quỹ rừng có nhiệm vụ hỗ trợ các tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn. Khoản hỗ trợ này được dùng cho công tác tuyên truyền, phổ biến, triển khai thực hiện dự án, đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ và phát triển rừng…

Hằng năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk đã ưu tiên triển khai việc trồng rừng góp phần to lớn trong việc bảo vệ môi trường. Dự kiến trong năm 2018, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk sẽ trồng mới khoảng 30.000 cây sao đen hỗ trợ các chủ rừng, người dân, doanh nghiệp và các tổ chức khác trong chương trình trồng cây phân tán. Từ các hoạt động truyền thông Chính sách Chi trả DVMTR đồng hành cùng các em học sinh đến trường; Chương trình hỗ trợ trồng cây phan tán; các hoạt động tuyên truyền khác… thì việc bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng và trồng rừng  được nâng cao hơn, phát triển đa dạng và có hiệu quả hơn. (Daklakff.vn 12/6) Về đầu trang

http://daklakff.vn/tin-tuc/chi-tra-dich-vu-moi-truong-rung-giai-phap-cho-moi-truong-xanh-sach-dep.html

Bắc Kạn: Năm 2018 người dân Bạch Thông tự bỏ vốn trồng 111ha rừng

Theo kế hoạch, năm 2018, huyện Bạch Thông trồng 370ha rừng, nhưng đến nay toàn huyện đã đăng ký được 560ha, trong đó diện tích người dân tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng là 111ha.

Diện tích người dân tự bỏ vốn trồng rừng tập trung nhiều tại các xã Phương Linh, Lục Bình, Tú Trĩ, Nguyên Phúc... Các loại cây được người dân đưa vào trồng chủ yếu là keo, xoan, quế... .

Do người dân chủ động xử lý thực bì và chuẩn bị đặt mua cây giống từ các vườn ươm từ sớm, nên đến nay diện tích này cơ bản đã được trồng xong, nhiều diện tích cây rừng đang phát triển tốt. Bà con đang chủ động trồng dặm để đảm bảo diện tích. 

Trong những năm qua, người dân ở Bạch Thông chủ động bỏ vốn trồng rừng tăng dần qua từng năm, qua đó không chỉ nâng cao thu nhập mà còn góp phần giúp huyện hoàn thành chỉ tiêu trồng rừng hàng năm. (backantv.vn 12/6) Về đầu trang

http://backantv.vn/tin-tuc-n22039/nam-2018-nguoi-dan-bach-thong-tu-bo-von-trong-111ha-rung.html

Bình Phước: Lan tỏa phong trào trồng rừng

(Nông Nghiệp Việt Nam 13/6, tr12) Về đầu trang