Điểm báo ngày 04/9/2018

Cập nhật ngày : 04/09/2018 02:31

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 04 tháng 09 năm 2018)

 

Bình Định: Bắt người chặn xe công vụ khiến kiểm lâm gãy ngón tay rồi bỏ trốn

Thấy xe kiểm lâm, ông Phan Văn Mỵ đã vượt lên trước xe lạng lách, đánh võng rồi dừng lại để xe trước đầu ô tô nhằm cản đường, dùng đá đập vỡ kính bên phải buồng lái.

Ngày 1/9, ông Lê Văn Đẩu, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định), xác nhận, công an huyện này đã bắt được đối tượng Phan Văn Mỵ, người được cho là có hành vi chặn xe công vụ khiến một cán bộ kiểm lâm bị gãy đốt tay, phải nhập viện vào đêm 22.8.

Theo ông Đẩu, Công an huyện Vĩnh Thạnh đã khởi tố bị can, tiếp tục mở rộng điều tra các đối tượng khác để xử lý nghiêm theo quy định.

Theo thông tin ban đầu, lúc 21h ngày 22.8, tại khu vực làng K10 (thuộc thôn Định Nhất, xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh), ông Phan Văn Mỵ cùng nhóm người đi trên xe mô tô vượt lên phía trước ô tô mang biển kiểm soát 77B-0735 chở ông Đặng Bá Quang, Hạt trưởng Hạt Kiểm Lâm Vĩnh Thạnh và kiểm lâm viên Thái Thanh Tường đi công tác từ xã Vĩnh Sơn về trung tâm huyện.

Thấy xe kiểm lâm, ông Mỵ đã vượt lên trước xe lạng lách, đánh võng rồi dừng lại để xe trước đầu xe ô tô nhằm cản đường, dùng đá đập vỡ kính bên phải buồng lái. Anh Hà Thanh Bằng, kiểm lâm viên, lái xe dừng lại, bước xuống đã bị ông Mỵ nhảy vào xô xát khiến anh bị gãy ngón tay bên bàn tay phải. Sau khi gây sự với kiểm lâm, ông Mỵ đã bỏ trốn vào rừng.

Ô tô mang biển kiếm soát 77B-0735 bị chặn lại trước khi xảy ra vụ việc xô xát khiến kiểm lâm viên gãy ngón tay.

Nguyên nhân ban đầu của vụ việc được xác định là do trước đó, trên đường đi công tác, lực lượng kiểm lâm huyện phát hiện 2 đối tượng chở gỗ lậu nên tổ chức truy bắt. Khi đó, ông Mỵ đã dùng mô tô chạy trước cản đường để 2 đối tượng chở gỗ chạy trốn, sau đó bám theo lực lượng kiểm lâm chặn xe với mục đích gây sự.

“Cán bộ kiểm lâm của hạt bị tấn công đã được xuất viện nhưng do bị gãy xương nên thời gian bình phục còn phải kéo dài”, ông Đặng Bá Quang, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh, thông tin. (Dân Việt 1/9; Công An Nhân Dân Online 1/9; Doanhnghiepvn.vn 31/8; Sài Gòn Giải Phóng Online 31/8; Kienthuc.net.vn 1/9; VTCNews 1/9; Người Lao Động Online 1/9; Thanh Niên Online 31/8) Về đầu trang

 http://danviet.vn/phap-luat/bat-nguoi-chan-xe-cong-vu-khien-kiem-lam-gay-ngon-tay-roi-bo-tron-909137.html

https://nld.com.vn/thoi-su/binh-dinh-bat-ke-lieu-linh-tan-cong-kiem-lam-20180901094732846.htm

https://thanhnien.vn/thoi-su/khoi-to-ke-hanh-hung-kiem-lam-de-tra-thu-viec-bi-duoi-bat-go-lau-998653.html

http://cand.com.vn/ban-tin-113/khoi-to-bat-tam-giam-doi-tuong-danh-kiem-lam-vien-gay-ngon-tay-508545/

http://doanhnghiepvn.vn/phap-luat/bat-duoc-doi-tuong-tan-cong-kiem-lam-roi-bo-tron-vao-rung/20180831085043660

http://www.sggp.org.vn/khoi-to-doi-tuong-chan-dau-xe-cong-vu-tan-cong-can-bo-kiem-lam-542840.html

https://kienthuc.net.vn/xa-hoi/bat-thanh-nien-danh-nhan-vien-kiem-lam-nhap-vien-1108560.html

https://vtc.vn/chan-xe-danh-can-bo-kiem-lam-nhap-vien-nam-thanh-nien-bi-bat-giu-d423879.html

Lâm Đồng: Kiểm lâm bị thương nặng khi bắt xe chở gỗ lậu

Ngày 31/8, ông Nguyễn Ngọc Toán - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đạ Huoai (Lâm Đồng) cho biết, nhận tin báo của người dân có xe chở gỗ lậu trên địa bàn xã Đoàn Kết, Đội 12 của huyện Đạ Huoai, trong đó có lực lượng kiểm lâm nhanh chóng đến hiện trường ngay trong đêm.

Phát hiện 2 chiếc xe máy chở 2 phách gỗ, các cán bộ Đội 12 ra hiệu dừng lại để kiểm tra. Hai đối tượng vội bỏ lại xe cùng tang vật rồi chạy trốn vào rừng. Theo quán tính, chiếc xe chở gỗ tiếp tục lao về phía trước, đụng vào người anh Nguyễn Tiến Phương, kiểm lâm viên Hạt Kiểm lâm Đạ Huoai.

Anh Phương được đưa vào Trung tâm Y tế huyện Đạ Huoai cấp cứu. Sau khi tiến hành chụp phim, thăm khám…, các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân bị nứt xương đùi. Hiện vết thương bị sưng to khiến anh Phương không thể đi lại được, phải tiếp tục nằm điều trị tại bệnh viện.

Lực lượng chức năng đã đưa tang vật mà các đối tượng vứt bỏ tại hiện trường về tạm giữ tại trụ sở Hạt Kiểm lâm Đạ Huoai để xử lý. Tang vật gồm 2 xe máy không có biển số cùng 2 phách gỗ có khối lượng hơn 0,5 m3.

Cũng theo ông Toán, lợi dụng đêm tối và trời mưa, các đối tượng nhanh chân tẩu thoát vào rừng. Lực lượng chức năng đã truy tìm trong rừng và vào xã Đoàn Kết nắm tình hình nhưng chưa lần ra tung tích 2 đối tượng chở gỗ lậu.

Các phương tiện mà hai đối tượng sử dụng để chở gỗ lậu là loại xe độ chế (sườn xe này ráp với máy xe kia) và không có biển số, do đó việc tìm ra chủ sở hữu rất nan giải.

Vụ việc đang được cơ quan chức năng huyện Đạ Huoai tiếp tục điều tra làm rõ. (Tiền Phong Online 31/8) Về đầu trang

 https://www.tienphong.vn/xa-hoi/kiem-lam-bi-thuong-nang-khi-bat-xe-cho-go-lau-1319236.tpo

Tuyên Quang: Tóp đầu cả nước về tỷ lệ che phủ rừng

Nằm trong tốp 3 địa phương dẫn đầu cả nước về tỷ lệ che phủ rừng, là niềm tự hào trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang.

Nhiều năm qua, cấp ủy, chính quyền và nhân dân Tuyên Quang luôn xác định bảo vệ, phát triển rừng là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững không chỉ đối với Tuyên Quang mà cả vùng hạ du.

Từ những năm trước đây cho tới giai đoạn hiện nay tỉnh Tuyên Quang luôn xác định muốn bảo vệ và phát triển được rừng phải đảm bảo cuộc sống cho người dân, nghề rừng phải góp phần nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống; rừng phải có chủ thực sự. Xuất phát từ chủ trương đó, từ năm 2006 đến nay, tỉnh đã 3 lần thực hiện quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch phân 3 loại rừng (rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; việc phân định, cắm mốc ranh giới được thực hiện trên thực địa làm cơ sở để thực hiện giao rừng, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình để quản lý, bảo vệ và trồng rừng.

Quan tâm chăm lo, bảo đảm các điều kiện sản xuất, giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân sống ở gần rừng; bằng nhiều giải pháp tổng hợp như tạo quỹ đất sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đưa những giống cây lâm nghiệp chất lượng cao vào trồng rừng nhằm rút ngắn chu kỳ sản xuất, giải quyết tốt nước tưới để nâng cao năng suất rừng trồng; khuyến khích, thuê khoán người dân tham gia tuần rừng, bảo vệ rừng để có thêm thu nhập; vận động nhân dân thay thế vật liệu làm nhà thay cho gỗ. Đồng thời đa dạng các hình thức tuyên truyền, tạo chuyển biến rõ nét về nhận thức của nhân dân đối với công tác bảo vệ rừng.

Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm lâm. Hiện nay toàn tỉnh có 40 trạm kiểm lâm và 40 chốt bảo vệ rừng. Trong điều kiện biên chế của lực lượng kiểm lâm còn mỏng, mặc dù nguồn ngân sách khó khăn nhưng hằng năm tỉnh vẫn bố trí hơn 4 tỷ đồng để ký hợp đồng với gần 100 người lao động hỗ trợ lực lượng kiểm lâm. Kiểm lâm và tuần rừng được bố trí làm nhiệm vụ tại các chốt bảo vệ rừng đặt sâu trong vùng lõi của các khu rừng tự nhiên, phòng hộ, đặc dụng.

Một điểm quan trọng là cùng với lực lượng kiểm lâm, tỉnh đã thành lập 1.916 tổ, đội bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng ở các thôn, bản với hơn 18.000 thành viên; 137/137 xã, phường, thị trấn có rừng và đất lâm nghiệp đã thành lập ban chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng.

Về thể chế công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh được cụ thể hóa bằng quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân liên quan. Rà soát, quản lý chặt chẽ hoạt động của các cơ sở chế biến lâm sản, không để lợi dụng khai thác, buôn bán, chế biến lâm sản trái phép. 

Đi đôi với việc làm tốt công tác bảo vệ rừng, cấp ủy, chính quyền tỉnh luôn trăn trở làm sao nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp, người dân có thể sống từ nghề rừng và tiến tới làm giàu.

Đối với rừng tự nhiên, tỉnh thực hiện nghiêm quy định của Thủ tướng Chính phủ về việc đóng cửa rừng tự nhiên; quản lý nghiêm ngặt rừng tự nhiên, nhất là rừng đặc dụng, phòng hộ, đồng thời khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh phục hồi và từng bước khai thác phát triển loại hình du lịch sinh thái.

Đối với rừng sản xuất, tỉnh cụ thể hóa và ban hành một số chính sách phù hợp như hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, trợ cấp gạo trồng rừng thay thế nương rẫy, thực hiện tốt các chính sách tín dụng, hỗ trợ cây giống lâm nghiệp chất lượng cao... Tỉnh đã triển khai dự án sản xuất giống cây lâm nghiệp bằng phương pháp nuôi cấy mô với công suất 1,5 triệu cây giống/năm. Thực hiện xã hội hóa việc sản xuất và cung ứng giống cây lâm nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý, giám sát chặt chẽ chất lượng cây giống, đảm bảo cung cấp cây giống có chất lượng cao đủ tiêu chuẩn phục vụ cho trồng rừng. Ứng dụng khoa học công nghệ, rút ngắn chu kỳ và nâng cao năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích.

Tuyên Quang triển khai cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản lý rừng (FSC), nhờ đó giá trị gỗ rừng trồng tăng khoảng 15%. Đến nay, tổng diện tích rừng trồng của tỉnh được cấp chứng chỉ là 18.335 ha (xếp thứ 2 cả nước sau tỉnh Quảng Bình). Nhiều hộ dân đã chuyển sang phát triển rừng bền vững, tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu. Trong tổng số 509 hộ trồng rừng đã được cấp chứng chỉ FSC, nhiều hộ mỗi năm đã có thu nhập vài trăm triệu đồng.

Những năm qua, tỉnh đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực kinh tế lâm nghiệp, một số doanh nghiệp có năng lực đã đầu tư các dự án chế biến lâm sản công suất lớn như Nhà máy bột giấy và giấy An Hòa, hai nhà máy chế biến gỗ của Cty CP Woodsland... Đổi mới hình thức tổ chức sản xuất lâm nghiệp, tỉnh triển khai sắp xếp 5/5 công ty lâm nghiệp thuộc tỉnh quản lý theo hướng cổ phần hóa hoặc chuyển thành công ty TNHH hai thành viên trở lên để huy động thêm nguồn lực từ các nhà đầu tư, thúc đẩy liên doanh, liên kết giữa nhà máy chế biến gỗ với chủ rừng, tạo chuỗi giá trị, nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp.

Cty CP nguyên liệu giấy An Hòa đang thực hiện chính sách liên kết phát triển vùng nguyên liệu bằng hình thức hỗ trợ cây giống cho nhân dân trong vùng quy hoạch. Từ năm 2012 đến nay, công ty đã hỗ trợ cho 1.128 hộ gia đình trồng hơn 2.215ha rừng. Cty CP Woodsland Tuyên Quang đã liên kết với các công ty lâm nghiệp và các hộ gia đình thực hiện cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho 18.335ha rừng sản xuất. Công tác thu mua nguyên liệu ngày càng ổn định, đến nay Nhà máy bột giấy và giấy An Hòa có công suất tiêu thụ hơn 500.000 tấn nguyên liệu giấy/năm, Cty CP Woodsland khoảng 600.000 tấn nguyên liệu/năm, Nhà máy đũa Phúc Lâm khoảng 10.000m3 gỗ/năm… 

Quyết tâm giữ rừng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã giúp Tuyên Quang giữ được nhiều cánh rừng nguyên sinh, đặc dụng với hệ sinh thái đa dạng, là môi trường sống lý tưởng của các loài động, thực vật quý hiếm, thu hút được các tổ chức, nhà khoa học trên thế giới kêu gọi nguồn vốn đầu tư bảo tồn. Đó là khu dự trữ thiên nhiên Na Hang với diện tích 67.893ha, Khu bảo tồn loài sinh cảnh Cham Chu với diện tích 15.262ha, Khu bảo vệ cảnh quan Tân Trào với diện tích 3.892ha. Các khu rừng ở đây có nhiều loài thực vật được ghi trong sách đỏ Việt Nam như trai, nghiến, lát hoa, đinh, thông tre, hoàng đàn, trầm gió, nhiều loài lan hài và nhiều cây thuốc quý; nhiều loài chim, thú quý được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam, Sách Đỏ thế giới như cu li, voọc mũi hếch, voọc đen má trắng…

Do thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ nên hệ sinh thái rất đa dạng. Đồng thời chú trọng phát triển kinh tế lâm nghiệp, hằng năm trồng trên 10.000ha rừng; năm 2011, tổng diện rừng 390.147ha, tỷ lệ che phủ rừng 61,8%, đến nay, tổng diện tích đất có rừng đã lên 417.040ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 64,9%. Giữ được tính đa dạng của hệ sinh thái, nâng cao tỷ lệ che phủ rừng nên trên địa bàn tỉnh ít xảy ra lũ ống, lũ quét, đồng thời bảo đảm sinh thủy cho các nhà máy thủy điện và góp phần điều tiết nguồn nước, phòng chống lũ lụt cho vùng hạ du.

Hằng năm, tỉnh hoàn thành vượt kế hoạch trồng rừng, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng khoảng 4,5%/năm. Tuyên Quang cũng là địa phương được Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN-PTNT đánh giá đi đầu cả nước về trồng rừng theo mùa vụ hiệu quả. Hơn 100.000 lượt lao động có thu nhập từ kinh tế lâm nghiệp, trên 8.000 hộ nghèo được tham gia các chương trình dự án lâm nghiệp, hàng trăm hộ có thu nhập vài trăm triệu đồng mỗi năm từ rừng.

Thành tựu của ngành lâm nghiệp Tuyên Quang hôm nay là sự phát huy truyền thống đoàn kết, là sự tiếp nối thành quả của các thế hệ đi trước, là sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân Tuyên Quang. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đang chung sức phấn đấu để Tuyên Quang trở thành “hình mẫu về phát triển lâm nghiệp của cả nước” như kỳ vọng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.Nói về hiệu cjua chinh sach chỉ tra DVMTR mang lại, ông Nguyễn Ngọc Thất - Phó Chủ tịch UBND xã Đắk Ang cho biết: “Chính sách chỉ trả DVMTR được triển khai trên địa bàn đã giúp hàng trăm hộ dân là người đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương có nhận thức đầy đủ về bảo vệ tài nguyên rừng. Nhiều hộ nghèo đả thoát nghèo nhờ các mô hình phát triển sinh kế mả Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng giới thiệu. Thời gian tới, xã Đăk Ang sẽ tiếp tục phối hợp cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tổ chức tuyên truyền đến người dân để chính sách này ngày càng phát huy hiệu quả cao hơn nữa”. (Nông Nghiệp Việt Nam số 176 + 177 + 178, tr10; Nông Nghiệp Việt Nam Online 3/9) Về đầu trang

https://nongnghiep.vn/tuyen-quang-top-dau-ca-nuoc-ve-ty-le-che-phu-rung-post225552.html

Nam Định: Làm giàu nhờ Vườn Quốc gia Xuân Thủy

Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Thuỷ (huyện Xuân Thủy) không chỉ là vùng lõi có tầm quan trọng đặc biệt của Khu Dự trữ sinh quyển ven biển liên tỉnh đồng bằng châu thổ Sông Hồng mà còn là nơi tạo công ăn việc làm, phát triển kinh tế cho hàng nghìn người dân ở 3 xã vùng đệm của Vườn với các nghề khai thác thủy sản thủ công dưới tán rừng ngập mặn, dịch vụ du lịch và nuôi ngao quảng canh.

Với sự hỗ trợ của Dự án sáng kiến rừng ngập mặn cho tương lai (MFF), mật ong, nấm của người dân địa phương được gắn logo, mang thương hiệu VQG Xuân Thủy.

Trải qua lịch sử gần 200 năm, vùng đất ngập nước ở cửa sông ven biển thuộc VQG Xuân Thuỷ hiện nay chứng kiến nhiều thay đổi cả theo chiều hướng tích cực cùng với những biến cố tiêu cực khác. Những năm 70 của thế kỷ XX, khi hệ thống rừng ngập mặn bị phá bỏ, vùng bãi bồi thuộc địa phận hai xã Giao Long và Giao Hải bị biển xâm lấn mạnh mẽ, làm mất đi phần  lớn diện tích đất bãi bồi tương ứng với địa phận quản lý hành chính của hai xã này. Nghề nuôi hải sản ở huyện Xuân Thủy hình thành từ thập niên 80 của thế kỷ trước.

Năm 1986, UBND huyện Xuân Thuỷ triển khai đắp Đập Vọp ngăn Sông Vọp để lấy đường tiến công ra Cồn Ngạn, quai đắp bờ đầm nuôi trồng quảng canh các loài hải sản bản địa như: tôm rảo, cua bể và rong câu chỉ vàng. Phong trào làm đầm tôm cũng phát triển mạnh mẽ vào đầu những năm 90 khi có chủ trương xuất khẩu thuỷ sản sang các nước châu Âu và Đông Bắc Á.

Hàng ngàn ha rừng ngập mặn trên các bãi bồi ở Cồn Ngạn và Cồn Lu đã được chuyển đổi mục đích từ phòng hộ ven biển sang nuôi trồng thuỷ sản. Cùng lúc với việc nuôi tôm là phong trào ồ ạt nuôi ngao thương phẩm. Các hộ dân đã lấn chiếm đất vùng bãi bồi còn hoang hoá ở khu vực cuối cồn Lu và cồn Ngạn chuyển sang nuôi ngao quảng canh.

Đập Vọp lúc đầu đã giúp dân địa phương mở mang bờ cõi, tiến dần ra biển để nuôi trồng và khai thác nguồn lợi thuỷ sản. Tuy nhiên, do Đập Vọp tạo sự ngăn cách của hai nguồn nước: nước ngọt từ sông Hồng và nước mặn từ biển Giao Hải nên đã làm mất đi cân bằng sinh thái ở khu vực.

Phía đầu sông Hồng (đông Đập Vọp) vì quá ngọt nên lau sậy phát triển mạnh chỉ có các loài tôm, cá tạp ở hệ sinh thái ngọt lợ (có giá trị kinh tế thấp) thích ứng được. Phía tây Đập Vọp bị mặn hoá nên chỉ có loài hà thích ứng, phát triển mạnh, rừng ngập mặn bị lụi đi nhiều vì hà bám nên hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản ở khu vực không cao.

Năm 2002, Đập Vọp được thông bằng Cầu Vọp, đồng thời với việc mở hàng loạt kênh cấp thoát nước chạy dọc Cồn Ngạn, hệ thống nước được điều hoà hợp lý hơn. 2004 là năm được mùa ngao giống tự nhiên giúp cho cộng đồng địa phương có được nguồn thu nhập khá lớn (hàng trăm tỷ đồng từ sản phẩm ngao các loại).

Tuy nhiên, mấy năm trở lại đây do việc canh tác bất hợp lý cộng với các yếu tố khách quan khác như: ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu, nghề nuôi trồng thuỷ sản nói chung ở khu vực bị suy giảm mạnh. Nhiều đầm tôm và vây vạng làm ăn kém hiệu quả, thất thu, bỏ đầm trống hoặc làm cầm chừng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nghề nuôi trồng thuỷ sản và an sinh xã hội ở khu vực.

Hiện nay, sau khi phục hồi lại rừng sú vẹt, nghề nuôi ngao quảng canh tại khu vực vùng đệm VQG Xuân Thủy phát triển mạnh. VQG Xuân Thủy có diện tích rừng là 15.100ha, trong đó có 7.100ha vùng lõi, 8.000ha vùng đệm, dân số vùng đệm dưới 50.000 người. Khoảng 500 hộ dân đã nhận khoán mặt nước để nuôi ngao trắng. Hiện diện tích mặt nước nuôi ngao là 1.500ha.

Là nơi cuối nguồn sông Hồng, hàng ngày phải hứng chịu các nguồn thải từ hệ thống các con sông đổ về như dư lượng thuốc trừ sâu từ nông nghiệp, các chất thải, hóa chất các khu công nghiệp, nước thải sinh hoạt… Tuy nhiên, do khả năng thanh lọc của rừng ngập mặn đáng ghi nhận nên dù nhiều nơi khác, người dân lao đao vì ngao chết hàng loạt do ô nhiễm môi trường thì vùng nuôi ngao ở Xuân Thủy vẫn đảm bảo.

Hai năm qua, việc nuôi trồng ổn định, sản lượng cao, thu nhập người dân ổn định. Việc nuôi ngao phát triển đã tạo sinh kế cho nhiều gia đình như lao động làm thuê, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ nuôi trồng thủy sản như vây lưới, cọc tre, người buôn bán thủy hải sản, dịch vụ đi biển, dịch vụ du lịch.

Anh Vũ Quốc Đạt - Trưởng phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế, VQG Xuân Thủy cho biết: “Rừng ngập mặn (RNM) có lịch sử hình thành khá phức tạp. Ban đầu chỉ là phong trào trồng vẹt (trang) tự phát để phòng hộ đê biển, sau đó địa phương đã nhận được các tài trợ nhỏ của Chính phủ và các tổ chức quốc tế. Hiện khu vực Cồn Lu và Cồn Ngạn có lịch sử hình thành khoảng trên 100 năm.

Hai cồn bãi này được người dân địa phương khai thác nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên với mục đích tự cấp tự túc là chính. Cồn Mờ (Cồn Xanh ngày nay) có lịch sử hình thành khoảng trên 20 năm. Rừng bảo tồn tốt nên tài nguyên thủy sản dưới tán rừng phát triển tốt.

Rừng đất ngập nước là hệ sinh thái rừng cố định phù sa, ngăn ngừa tác động của sóng biển và thiên tai. RNM còn là nơi ươm giống của nhiều loài thủy hải sản, nơi trú ngụ của các loài chim di cư, cung cấp thức ăn cho các loại chim đặc biệt là chim di cư”.

Khai thác thủy sản thủ công dưới tán rừng ngập mặn là lực lượng phụ nữ, cao điểm khoảng 500 người, thời tiết thuận lợi cho việc khai thác từ tháng 5-tháng 8. Các sản vật của rừng sú, vẹt VQG Xuân Thủy là ốc hương, cáy mật, hến, ngao đỏ, cua rèm, cá bống bớp. Người dân chủ yếu bắt ốc hương, cáy và hến.

Chị Đinh Thị Tươi (33 tuổi, ở xóm 21, xã Giao Thuận, huyện Giao Thủy) cho biết: “Tôi đi bắt cáy mật từ năm 16 tuổi, đến nay đã có thâm niên 20 năm. Nghề bắt đòi hỏi phải có kỹ năng riêng, gọi là có nghệ riêng, không phải ai cũng làm được vì con cáy rất nhanh. Khi thấy động nó tụt ngay vào lỗ. Việc đi bắt theo con nước, nước rút thì đi, nước lên thì về. Một tháng đi khoảng 20-25 ngày. Đi đêm thì tập hợp nhóm 2-3 người đi gần nhau.

Ở đây an ninh tốt, có biên phòng, công an, kiểm lâm, cán bộ quản lý bảo vệ VQG. Loại cáy con, bỏ không bắt, chúng tôi chỉ bắt loại trưởng thành từ 20-30 con/ kg, 4 con cáy đã nấu được một nồi canh. Ngày nhiều, ngày ít, trung bình mỗi ngày bắt khoảng 3 kg, lúc nhiều bắt được 5-7 kg. Giá cáy 90-100 nghìn đồng/kg nên thu nhập khoảng 300 nghìn đồng. Ngày bắt được nhiều, thu nhập từ 500-700 nghìn đồng.

Ở 3 xã vùng đệm, có nhiều phụ nữ tần tảo đã nuôi hai con học đại học bằng nghề bắt ốc, bắt cáy như bà Đinh Thị Nữ (xóm 17, xã Giao Thiện), bà Phạm Thị Phượng (xóm 20, xã Giao Thiện). Nghề bắt cáy chủ động về thời gian, không phải đi làm ăn xa, đi làm thuê, có điều kiện gần gũi, chăm sóc con cái, gia đình, làm ruộng, thu nhập ổn định ở mức khá.

Anh Vũ Quốc Đạt cho biết thêm: “VQG Xuân Thủy có 220 loài chim, trong đó có hơn 150 loài chim nước, hơn 50 loài chim di cư. Hiện Vườn đón lượng khách du lịch lớn trong và ngoài nước. Chim di cư về Vườn từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nên người nước ngoài thường đến Vườn vào cuối năm khi chim di cư trở về để xem chim. Lượng khách du lịch nội địa đến vào mùa hè, đi xem hệ sinh thái đất ngập nước và thưởng thức những món ăn hải sản địa phương”.

Ông Nguyễn Viết Cách - Giám đốc VQG Xuân Thủy cho biết: “Tạo ra các sản phẩm bản địa như một cách để giảm tải áp lực khai thác đối với tài nguyên thiên nhiên VQG Xuân Thủy. Thời gian qua, với sự hỗ trợ của Dự án sáng kiến rừng ngập mặn cho tương lai (MFF), Dự án Quảng bá thương hiệu cho sản phẩm địa phương với logo “VQG Xuân Thủy” đã chọn mật ong và nấm làm hai sản phẩm được dán nhãn để quảng bá rộng rãi. 42 nhà sản xuất và hộ gia đình địa phương đã tham gia vào việc tạo ra các sản phẩm được lựa chọn cũng như phát triển hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm đã được Bộ NN&PTNT phê duyệt. Nhờ sự quảng bá của VQG Xuân Thủy, giá của mật ong và nấm được dán nhãn, có logo “VQG Xuân Thủy” đã tăng 25%”. (Pháp Luật Việt Nam từ 1 -   3/9, tr12; Pháp Luật Việt Nam Online 2/9) Về đầu trang

 http://baophapluat.vn/ban-can-biet-ve-tieu-dung/lam-giau-nho-vuon-quoc-gia-xuan-thuy-410387.html

Hà Nội: Chuyện những kiểm lâm làm 'thủ từ' tại Đền thờ Bác trên đỉnh núi Ba Vì

Đêm 3/9, mưa bao trùm các khu vực trong cả nước “Ba Vì được mệnh danh là núi Tổ của trời Nam đất Việt”, vì thế để thể hiện lòng tôn kính Bác, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và dòng họ Nguyễn Sinh đã quyết định đặt Đền thờ Bác Hồ trên đỉnh núi cao nhất của huyện Ba Vì (Hà Nội). Từ khi có Đền thờ Bác đến nay, nhiều thế hệ kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Vì đã trở thành những “thủ từ”- người gác Đền thờ Bác.

Từ cổng Vườn Quốc gia Ba Vì, theo con đường uốn lượn ôm lấy sườn núi, hai bên ngút ngàn màu xanh của cỏ cây, hoa lá như đưa du khách vào chốn bồng lai tiên cảnh. Rời điểm cao 400 mét, du khách đi tiếp 7km trên con đường ngoằn ngoèo, dốc đứng đến Trạm Kiểm lâm cốt 1100 - Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Vì và tiếp tục leo hơn 1.347 bậc đá tương đương 1,2km nữa mới lên đến Đền thờ Bác, đặt tại đỉnh núi cao nhất khu rừng.

Là người gắn bó với ngôi đền từ khi mới được xây dựng, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm cốt 1100 - Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Vì Trần Ngọc Chính chia sẻ: Ngoài nhiệm vụ quản lý hơn 1.000 ha rừng thuộc phân khu nghiêm ngặt Vườn Quốc gia Ba Vì, các anh, chị còn làm nhiệm vụ “thủ từ” - trông coi, hương khói, hướng dẫn du khách đến dâng hương, thăm quan ngôi đền thờ Bác.

Trạm Kiểm lâm cốt 1100 với 11 cán bộ, nhân viên phải luân phiên nhau theo ca, kíp, đảm bảo 24/24 giờ có mặt để bảo vệ, trông coi Đền thờ Bác. Riêng tại khu vực Đền, trong ngày ít nhất lúc nào cũng phải có hai người, dù đó là lúc thời tiết mưa to gió lớn hay sương giá.

"Cũng là kiểm lâm nhưng chúng tôi có một vinh dự đặc biệt hơn anh em khác trong ngành là hàng ngày được phục vụ Bác. Từ khi ở bên Bác, mỗi người chúng tôi tự nhủ với mình, cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, sống gương mẫu, noi theo tấm gương của Bác. Không những thế, mỗi cán bộ, chiến sỹ còn đóng vai hướng dẫn, giới thiệu cho khách thăm”, Trạm trưởng Trần Ngọc Chính chia sẻ.

Theo quy định, khi trực và làm việc tại Đền thờ Bác, cán bộ, nhân viên Trạm Kiểm lâm cốt 1100 phải thực hiện quét dọn, bảo vệ khu thờ tự và xung quanh; thực hiện các nghi thức tâm linh theo sự thống nhất của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Ba Vì, đảm bảo trang trọng, tôn nghiêm theo văn hóa truyền thống của dân tộc.

Dẫn khách tham quan khu Đền thờ Bác, anh Tô Văn Nam, Trạm phó Trạm Kiểm lâm cốt 1100, như một hướng dẫn viên chuyên nghiệp, tự tin và tường tận khi giới thiệu về thân thế, sự nghiệp và sự hình thành của ngôi đền thờ người Cha già kính yêu của dân tộc được đặt tại đỉnh Vua - Núi Ba Vì, ở độ cao 1296m.

Theo anh Nam, Đền thờ Bác được đặt hướng chính theo hướng Nam, chếch sang Đông khoảng 3-5 độ. Đền được khởi công xây dựng ngày 1/3/1999 (tức ngày 14 tháng Giêng năm Kỷ Mão), khánh thành ngày 31/8/1999 (tức ngày 21 tháng 7 năm Kỷ Mão), đúng dịp kỷ niệm 30 năm Ngày mất của Bác (theo ngày Âm lịch).

Đền thờ Bác có diện tích khoảng 150m2, được kết cấu bằng bê tông xi măng cốt thép, trên một quả núi có thế thoáng rộng, thiết kế theo kiểu kiến trúc xà cột, 2 tầng 8 mái dao cong, tạo thế rất vững chãi, xung quanh bố trí những băng ghế ngồi bằng gỗ để mọi người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Ngôi đền có kiến trúc khá đặc biệt, khác với kiến trúc mái đình, mái đền cổ của người Việt, nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với lời dặn của Bác trong Di chúc (là xây một cái nhà với những dãy ghế xung quanh để mọi người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi). Trong không gian Đền, tại vị trí trung tâm phía trong được bố trí đặt ban thờ và tượng Bác, phía trước treo bức phù điêu với dòng chữ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Giọng anh Nam xúc động và trầm hơn khi giới thiệu với đoàn du khách về sự ra đời bức tượng của Người, được đặt ở vị trí trang trọng tại ngôi đền. Tượng được đúc bằng đồng đỏ nguyên chất, lấy trong kho đồng của Bộ Tư lệnh Lăng. Số đồng này do nhân dân Liên Xô (Liên bang Nga ngày nay) trao tặng nhân dân ta để làm các công trình trong thời gian xây dựng Lăng Bác. Tượng Bác được đúc theo tỷ lệ 1:1, đúng tầm vóc thật của Bác lúc còn sống. Với tư thế Bác ngồi, một tay cầm tờ báo Nhân Dân, một tay cầm gọng kính.

Chính giữa cửa Đền đặt phiến đá xanh nguyên khối, phía trong khắc bút tích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía ngoài khắc trích đoạn Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đọc tại lễ truy điệu Bác năm 1969, đồng thời phiến đá cũng là tấm bình phong che chắn cho ngôi đền. Còn phía trước phiến đá đặt một chiếc trống đồng, phiên bản của trống đồng Hy Cương (Phú Thọ) có đường kính rộng 79cm (tượng trương cho 79 năm hưởng thọ của Bác), chiều cao 69cm (để ghi dấu năm 1969 Bác kính yêu của chúng ta từ trần).

Về phía sau Đền có bức phù điêu với biểu tượng trống đồng và bản đồ nước Việt Nam thu nhỏ có gắn chữ nổi bằng đồng, trích câu nói của Bác trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: “…Nước Việt Nam là một; Dân tộc Vệt Nam là một; Sông có thể cạn; Núi có thể mòn; Song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Sau khi dâng hương, tham quan Đền thờ Bác và được nghe kiểm lâm viên kiêm "thủ từ" giới thiệu về ngôi đền, anh Trần Văn Hiếu đến từ tỉnh Hưng Yên nhận xét: Biết đến ngôi đền thờ Bác từ lâu nhưng nay mới có dịp được đến thăm. Ngoài ấn tượng về cảnh quan kiến trúc du lịch tâm linh, anh khá hài lòng với các cán bộ, nhân viên kiểm lâm ở Vườn Quốc gia Ba Vì. Họ đã hướng dẫn tận tình từ khu vực đỗ xe, đón tiếp và giúp đỡ người dân rất chu đáo, chuyên nghiệp khi lên thăm Đền thờ Bác và núi rừng Ba Vì.

Song song với công việc là một "thủ từ" thì sau mỗi ca gác Đền, những kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Vì vẫn phải đảm nhiệm công việc chuyên môn đi tuần rừng, ngăn chặn việc khai thác vi phạm lâm luật; tuyên truyền cho bà con đồng bào Dao, Mường trồng rừng, giữ rừng và làm giàu từ rừng.

Các cán bộ kiểm lâm ở khu vực Đền thờ Bác cho biết, do công việc nên nhiều người dù nhà ở ngay chân núi nhưng có khi cả tuần cũng không ghé về thăm gia đình. Còn những người quê ở xa thì cả tháng mới về nhà, thăm vợ con một lần.

 “Người thân rất thiệt thòi khi những ngày lễ, Tết, không được quây quần bên gia đình, do chúng tôi phải trực làm nhiệm vụ. Dù vất vả nhưng với lòng tôn kính được phục vụ Bác nên anh, em kiểm lâm ai cũng cảm thấy vinh dự, tự hào khi được làm “thủ từ” ở Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh”, anh Đỗ Bằng Nghiêm, Trạm phó Trạm Kiểm lâm cốt 1100 - người đã có hơn 10 năm gắn bó với Đền thờ Bác tâm sự.

Mỗi năm, Đền thờ Bác Hồ tại đỉnh Vua - núi Ba Vì đón khoảng 100.000 lượt người, trong đó, có nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đồng bào, chiến sỹ, đoàn khách quốc tế đến thăm viếng Bác. Để công tác đón tiếp, hướng dẫn khách tham quan được chu đáo, an toàn, đã có sự đóng góp không nhỏ của Trạm Kiểm lâm cốt 1100 Vườn Quốc gia Ba Vì. (TTXVN/Tin Tức Online 2/9) Về đầu trang

https://baotintuc.vn/xa-hoi/chuyen-nhung-kiem-lam-lam-thu-tu-tai-den-tho-bac-tren-dinh-nui-ba-vi-20180902135312682.htm

Tuyên Quang: Kim Quan vận động người dân trồng và giữ rừng

Những năm gần đây, người dân ở xã Kim Quan (Yên Sơn) không chỉ giữ rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh, rừng tái sinh mà còn có nhiều cách vận động nhau phát triển rừng. Người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số này đã biến cây rừng thành “phên dậu” bảo vệ sinh thái phục vụ đời sống, tạo nguồn phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo.

Khuôn Hẻ là thôn nhiều rừng nhất xã Kim Quan với diện tích hơn 300 ha, trong đó có 200 ha rừng tự nhiên. Trực tiếp mục sở thị thấy ở đây không một tấc đất trống, nối tiếp rừng phòng hộ là rừng keo, rừng lát xuống đến tận các khe suối. Trưởng thôn Khuôn Hẻ Đàm Văn Phong chia sẻ, cũng có một thời người dân chặt cây rừng lấy gỗ, rừng bị tàn phá, người dân vướng vào lao lý, đất đai cũng bởi thế mà bị xói mòn, bạc màu. Lúc đó, cán bộ xã, cán bộ kiểm lâm huyện Yên Sơn đã tuyên truyền, vận động người dân phải giữ rừng, nếu phá rừng thì sẽ mất rừng, mất nguồn lợi từ rừng, đặc biệt đồi núi trọc sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống khi mưa lũ đến.

Khi hiểu ra, người dân vận động nhau, các trưởng thôn thống nhất làm cam kết liên kết bảo vệ rừng. Theo cam kết, các thôn sẽ vận động, giám sát lẫn nhau trong giữ rừng và bảo vệ rừng đầu nguồn. Ngay cả việc lấy măng nứa trong rừng cũng có quy ước cụ thể, từ tháng 6 đến tháng 8 người dân sẽ được lấy măng, nhưng từ tháng 9 trở đi sẽ không được vào rừng lấy măng nứa nữa để măng phát triển thành cây. Anh Vi Thanh Hoàn, người dân Khuôn Hẻ bảo: “Lâu rồi, người dân không phá rừng nữa mà trồng rừng thay cho cây sắn. Vài năm nữa được khai thác, nhiều nhà sẽ có cuộc sống khấm khá”.

Xã Kim Quan có diện tích tự nhiên 3.026 ha, trong đó đất nông nghiệp hơn 2.800 ha, đất phi nông nghiệp hơn 162 ha, đất chưa sử dụng hơn 57 ha. Ông Lưu Ngọc Nhiên, Bí thư Đảng ủy xã cho biết: Thế mạnh của xã là rừng. Rừng tái sinh có ở cả 8 thôn trong xã với gần 500 ha. Những diện tích này đã được giao cho hàng trăm hộ dân, cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ. Với người dân Kim Quan, rừng là tài sản chung, được toàn dân tham gia bảo vệ không để ai xâm lấn, chặt phá. Không chỉ tạo cảnh quan môi trường, những cánh rừng tự nhiên này còn điều hòa dòng chảy, cung cấp nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cho hàng nghìn hộ dân.

Bên cạnh giữ rừng thì Kim Quan còn đẩy mạnh phát triển kinh tế từ trồng rừng sản suất. Hiện xã có trên 800 ha rừng keo, mỡ. Với diện tích này, xã thuộc vùng trọng điểm cung cấp gỗ nguyên liệu giấy của tỉnh. Nguồn thu từ rừng đã thay đổi cuộc sống của nhiều gia đình, ví như gia đình anh Lù Seo Phòng, thôn Kim Thu Ngà là hộ nghèo của xã. Cách đây 2 năm, gia đình bán được 4 ha rừng keo, thu về 150 triệu đồng. Khai thác xong, anh trồng lại trên toàn bộ diện tích đất, cây sinh trưởng và phát triển tốt. Anh Phòng phấn khởi “Nhờ có rừng mà đời sống của gia đình anh đã khá hơn nhiều, không còn cảnh nhà xiêu, mái dột”.  Anh đã xây dựng được căn nhà khang trang và tự nguyện viết đơn xin ra khỏi danh sách hộ nghèo.

Hiệu quả kinh tế từ rừng sản xuất đã tạo ra phong trào phủ xanh đất trống, đồi trọc ở Kim Thu Ngà. Anh Thèn Văn Thi, Bí thư Chi bộ thôn cho biết, thôn có 80 hộ dân với hai dân tộc chính là người Mông, Nùng, nhà nào cũng có từ 1-2 ha đất rừng. Trước kia, người dân chỉ trồng sắn, ngô mất nhiều công, nhưng thu cũng không được nhiều nên khá khó khăn về kinh tế. Từ 2013 đến nay, tỉnh, huyện có chính sách phát triển trồng rừng, người dân đã bỏ hẳn cây sắn, hơn 80 ha đất đồi rừng đã phủ xanh cây keo. Sau thời gian trồng, chăm sóc, người dân đi làm ở các doanh nghiệp, chạy chợ kiếm thu nhập. Đến kỳ thu hoạch, người dân sẽ có khoản tiền để xây dựng nhà cửa…

Theo Bí thư Đảng ủy xã Lưu Ngọc Nhiên thì xã hiện có nhiều hộ có thu nhập khá nhờ rừng như gia đình anh Triệu Kim Tiến, thôn Khuôn Điển có 6 ha rừng; gia đình anh Vi Văn Thứ, thôn Khuôn Hẻ có 5 ha; anh Bàn Văn Hà, thôn Khuổi Phát có 4 ha..., bình quân trên 100 triệu đồng/năm. Để chủ động trong phát triển kinh tế rừng, cấp ủy, chính quyền xã phối hợp với Công ty TNHH Lâm nghiệp Yên Sơn, Trạm Khuyến nông, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT huyện giúp người dân tìm nguồn cung ứng giống, vốn; hướng dẫn áp dụng khoa học kỹ thuật trong ươm trồng, chăm sóc cây giống; tăng cường giám sát, theo dõi việc trồng và bảo vệ rừng của người dân.

Từ giữ và phát triển kinh tế rừng, mảnh đất ATK Kim Quan đã có nhiều đổi mới, đói nghèo từng bước đẩy lùi. Trong 2 năm (2016, 2017) xã đã giảm được 123 hộ nghèo. Nhận thức được lợi ích từ kinh tế rừng nên nhiều năm qua, người dân đã đầu tư trồng rừng, hàng năm đều hoàn thành sớm và vượt kế hoạch. Từ 2016 đến nay xã trồng mới trên 321 ha, vượt 120 ha kế hoạch đến năm 2020. Về đầu trang

 http://www.baotuyenquang.com.vn/kinh-te/nong-nghiep-nong-thon/kim-quan-van-dong-nguoi-dan-trong-va-giu-rung-105235.html

Yên Bái tăng cường hiệu quả các biện pháp bảo vệ rừng

Yên Bái hiện có 461.707 ha đất có rừng, trong đó diện tích rừng tính độ che phủ 433.088 ha, độ che phủ đạt 62,9%.

Với vai trò là lực lượng nòng cốt, ngay từ đầu năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo hạt kiểm lâm các huyện xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện khoán 208.523,6 ha rừng phòng hộ, đặc dụng và rừng tự nhiên sản xuất cho hộ và các nhóm hộ quản lý bảo vệ.

Xác định kiểm lâm địa bàn đóng vai trò đầu mối thúc đẩy hỗ trợ chính quyền và cộng đồng địa phương thực thi chính sách pháp luật quản lý, bảo vệ rừng (BVR), Chi cục đã tăng cường lực lượng kiểm lâm xuống cơ sở; đến nay, bảo đảm 100% xã, phường đều có kiểm lâm địa bàn phụ trách.

Cán bộ kiểm lâm địa bàn đã tham mưu với chính quyền các xã xây dựng  phương án, kế hoạch BVR; xây dựng các tổ đội quần chúng BVR; tuyên truyền hướng dẫn cộng đồng dân cư thôn, bản, xây dựng và thực hiện pháp luật, quy ước BVR.

Nhờ đó, hàng năm, các địa phương đã kiện toàn và củng cố được trên 14.000 tổ đội BVR với trên 15.000 thành viên tham gia, tại các thôn, bản đã xây dựng được trên 300 tổ đội xung kích phòng cháy, chữa cháy rừng.

Đặc biệt, công tác thanh tra, pháp chế có nhiều chuyển biến tích cực. Chi cục đã thường xuyên chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với ngành chức năng, chính quyền địa phương tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ trái phép tại các khu rừng phòng hộ, rừng giáp ranh và tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp tại các địa phương.

Tính riêng 8 tháng của năm 2018, lực lượng kiểm lâm toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 154 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; trong đó, có 36 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, 41 vụ mua bán, chế biến, cất giữ lâm sản trái phép, 6 vụ khai thác rừng trái phép, 18 vụ phá rừng trái pháp luật, 29 vụ lấn chiếm rừng làm nương rẫy, 24 vụ vi phạm phòng cháy, chữa cháy rừng và các thủ tục hành chính khác; tịch thu 67,859 m3  gỗ xẻ, 64,28 m3 gỗ tròn; thu nộp ngân sách trên 444 triệu đồng.

Nhờ vậy, tình trạng khai thác, buôn bán, cất giữ, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép đã được kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả, không để xảy ra điểm nóng trên địa bàn toàn tỉnh.

Tuy nhiên, công tác BVR còn gặp không ít khó khăn. Do nhu cầu về sử dụng lâm sản và đất đai ngày càng nhiều nên áp lực vào rừng và tài nguyên rừng ngày càng lớn. Chính quyền địa phương ở một số nơi chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác quản lý, BVR; thiếu kiên quyết chỉ đạo các biện pháp BVR thường xuyên đồng bộ.

Cùng đó, lực lượng kiểm lâm còn mỏng, chưa đáp ứng yêu cầu về kiểm lâm địa bàn để thực hiện nhiệm vụ. Hiện nay, một số kiểm lâm địa bàn phụ trách từ 2-3 xã nên không thường xuyên bám sát địa bàn dẫn đến tình trạng chất lượng tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp còn thấp.

Để khắc phục những hạn chế trên, thời gian tới, Chi cục tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp như: tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm của xã hội về quản lý, BVR; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật; phối hợp với các ngành, các cấp kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý BVR.

Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiếp tục quan tâm đào tạo, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho lực lượng thực thi pháp luật BVR. Đặc biệt, phát huy vai trò của lực lượng kiểm lâm địa bàn trong việc tham mưu với chính quyền địa phương để điều phối, huy động các lực lượng khác cùng tham gia bảo vệ, phát triển rừng. (Yenbai.gov.vn 2/9) Về đầu trang

http://yenbai.gov.vn/noidung/tintuc/Pages/chi-tiet-tin-tuc.aspx?ItemID=18942&l=Tintrongtinh

Phát triển ngành gỗ theo hướng bền vững

Tuy ngành gỗ vẫn liên tục tăng trưởng mạnh trong nhiều năm qua nhưng mục tiêu hiện nay còn được các doanh nghiệp trong ngành đặt ra cao hơn, đó là phát triển ngành gỗ theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, tăng kim ngạch xuất khẩu bằng cách gia tăng giá trị sản phẩm chứ không chỉ chạy theo số lượng...

Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa), ngành chế biến gỗ Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong suốt nhiều năm qua. Từ kim ngạch 220 triệu đô la Mỹ năm 2000, sau 17 năm, đã lên mức 8 tỉ đô la Mỹ, nằm trong tốp 7 ngành đứng đầu cả nước về giá trị xuất khẩu. Riêng trong sáu tháng đầu năm 2018, theo số liệu của Bộ Công Thương, doanh thu xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ đã đạt 4,13 tỉ đô la, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hawa, cho biết các doanh nghiệp Việt Nam trong ngành này đang dần chiếm ưu thế so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong những năm đầu phát triển, khối doanh nghiệp có vốn nước ngoài luôn chiếm tỷ lệ hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ cả nước. Nhưng trong ba năm gần đây, khối doanh nghiệp trong nước đã vượt lên chiếm 53% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Công ty TNHH Scansia Pacific, khi kinh tế trong nước bắt đầu hội nhập, ngành gỗ Việt Nam đã có những bước chuyển mạnh mẽ với kỹ thuật, máy móc, tay nghề, quy trình quản lý đều thay đổi, hiện đại và bắt kịp nhịp phát triển của thế giới. “Ngành gỗ Việt Nam hiện không thua kém ngành gỗ bất cứ một nước nào khác”, ông Thắng nói. Nhiều thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc... đều tăng nhập khẩu mặt hàng này của Việt Nam.

“Thị trường quốc tế đang ngày càng đón nhận những công trình nội thất cao cấp của doanh nghiệp Việt Nam bởi sản phẩm không chỉ đẹp và chất lượng mà còn tinh tế và giá cả hợp lý”.

Không còn chỉ gia công, các doanh nghiệp gỗ hiện nay đã trực tiếp cung ứng cho những hãng kinh doanh đồ gỗ hàng đầu thế giới. Theo ông Thắng, các sản phẩm gỗ của Việt Nam đã xuất hiện từ trong căn hộ gia đình cho đến các công trình lớn như khách sạn Park Hyatt st Kitts and Nevis (đảo Caribbean), khách sạn 6 sao Rosewood Phnom Penh (Campuchia)... Một số tập đoàn điều hành khách sạn và nghỉ dưỡng hạng sang khác cũng muốn chọn doanh nghiệp Việt Nam thiết kế và thi công các công trình cho họ. “Thị trường quốc tế đang ngày càng đón nhận những công trình nội thất cao cấp của doanh nghiệp Việt Nam bởi sản phẩm không chỉ đẹp và chất lượng mà còn tinh tế và giá cả hợp lý”, ông Thắng nhận xét.

Theo Hawa, ngành gỗ hiện đã tạo được chuỗi sản xuất dài và khép kín, từ trồng rừng, khai thác, chế biến, thương mại, xây dựng, trang trí nội ngoại thất... Trong đó, chế biến gỗ là trung tâm, kéo theo sự lan tỏa phát triển của nhiều ngành khác như vận chuyển, vải vóc, thuộc da, kim loại, bao bì, ốc vít, cơ khí, tiếp thị, du lịch...

Trên thực tế, đến bây giờ, không ít người vẫn còn quan niệm đồ gỗ trong nhà như tài sản, sử dụng cả đời, nên thường dùng gỗ quý như giáng hương, cẩm lai, lim, trắc... Vì vậy, không ít ý kiến cho rằng ngành chế biến gỗ là ngành góp phần vào việc phá rừng; giá trị xuất khẩu ngành này tăng sẽ càng kích thích tình trạng phá rừng, tác động xấu đến môi trường thiên nhiên.

Nhưng theo ông Nguyễn Quốc Khanh, ngành chế biến gỗ xuất khẩu hoàn toàn đứng ngoài câu chuyện này. Hàng chục năm nay, trước khi Chính phủ có quyết định đóng cửa rừng (cuối năm 2014), nguyên liệu sản xuất được khai thác từ nguồn rừng trồng và nhập khẩu. Cụ thể, ngành gỗ hưởng lợi từ chương trình 327-CT năm 1992 phủ xanh đồi trọc, trong đó có việc trồng cây keo (tràm bông vàng) là loại gỗ mà doanh nghiệp ngành chế biến gỗ xuất khẩu sử dụng rất nhiều. Cùng với đó là sử dụng cây cao su sau khi đã được khai thác mủ. Đây đều là nguồn nguyên liệu hợp pháp.

Mặt khác, theo ông Huỳnh Văn Hạnh, sản phẩm gỗ xuất khẩu phần lớn được tiêu thụ tại các nước phát triển, nơi có quy định nghiêm ngặt việc truy xuất nguồn gốc hợp pháp đồ gỗ nhập khẩu. Về phía người tiêu dùng các nước này, họ ý thức cao về việc sử dụng đồ gỗ có nguồn gốc rõ ràng để bảo vệ môi trường. Vì vậy, không có chuyện doanh nghiệp dùng gỗ rừng tự nhiên, khai thác trái phép để sản xuất.

Tính đến cuối năm 2017, cả nước có hơn 730 doanh nghiệp đã có chứng nhận chuỗi hành trình (CoC/FSC), đứng đầu khu vực Đông Nam Á, trong đó có 49 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ quản trị rừng bền vững (FSC/FM) với tổng diện tích 226.500 héc ta. Theo Hawa, nhu cầu nguyên liệu của ngành chế biến gỗ đã kích thích việc trồng rừng để đáp ứng nguồn gỗ hợp pháp cho sản xuất. Từ chương trình trồng rừng, tỷ lệ che phủ rừng từ 39,7% năm 2011 đã tăng lên 41,45% năm 2017. Con số này tương ứng với tỷ lệ sử dụng gỗ trồng trong nước, tính theo khối lượng, từ 36% năm 2005 tăng lên 52% năm 2017 và kỳ vọng đạt 55% vào năm 2020. Tỷ lệ nhập khẩu gỗ nguyên liệu vì thế đã giảm đi tương ứng, lần lượt từ 64% xuống 48% và 45%.

Nhờ có nguồn nguyên liệu trong nước, doanh nghiệp trong ngành có lợi thế hơn hẳn vì có được nguồn nguyên liệu rẻ hơn so với nhập khẩu. Lợi thế nguyên liệu bản địa đang được các doanh nghiệp ngành gỗ khai thác và phát huy bằng mô hình liên kết với người trồng rừng. Mô hình này đang được nhân rộng ở nhiều địa phương để đảm bảo từ nay đến 20 năm nữa vẫn đủ nguyên liệu hợp pháp cung cấp cho ngành.

Gỗ trong nước chủ yếu khai thác từ cây tràm bông vàng, cây cao su. Do đó, theo giới phân tích, ngành gỗ cần xây dựng thương hiệu đồ gỗ làm từ cây tràm và cao su là loại gỗ rừng trồng để tạo sức cạnh tranh, đồng thời tạo được nguồn tiêu thụ nguyên liệu ổn định cho người trồng.

Cũng theo giới phân tích, cần xây dựng thương hiệu quốc gia cho đồ gỗ Việt Nam để dễ tiếp cận thị trường quốc tế. Khi có thương hiệu, giá trị của đồ gỗ Việt Nam sẽ gia tăng hơn nữa. Theo ông Khanh, Việt Nam hoàn toàn có khả năng xây dựng được thương hiệu cho ngành gỗ vì có nguồn nguyên liệu rừng trồng, có gần 500.000 lao động trong nhà máy. Ngành gỗ đang có mức tăng trưởng hai con số mỗi năm... Ngoài ra, ông Khanh cho rằng một trong những nội lực quý báu là tay nghề của người thợ Việt Nam được đánh giá cao.

Tuy ngành gỗ liên tục tăng trưởng trong nhiều năm qua, nhưng theo các doanh nghiệp, tỷ lệ hàng sản xuất theo dạng OEM (sản xuất theo đúng đơn hàng của khách) còn chiếm đến 80%, điều đó có nghĩa, hiệu suất kinh tế còn thấp. Ngành chế biến gỗ trong nước cần gia tăng mô hình sản xuất ODM (khách hàng chỉ phác thảo ý tưởng, phần còn lại do nhà sản xuất chịu trách nhiệm); doanh nghiệp cần đẩy mạnh kinh doanh sản phẩm có thiết kế, xây dựng hệ thống phân phối, thương hiệu riêng... để gia tăng giá trị.

Vấn đề quan trọng là những nỗ lực của doanh nghiệp để gia tăng giá trị sản phẩm chứ không chỉ là phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu cao hơn con số 8 tỉ đô la của năm ngoái. “Mục tiêu doanh số 20 tỉ đô la Mỹ xuất khẩu vào năm 2025 là khá dễ dàng, bởi tiềm năng và cơ hội cho chúng ta còn rất lớn”, ông Thắng nói. (Thesaigontimes.vn 2/9) Về đầu trang

https://www.thesaigontimes.vn/277765/phat-trien-nganh-go-theo-huong-ben-vung-.html

Lo gỗ Trung Quốc giả xuất xứ Việt Nam

Bị áp mức thuế cao từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, gỗ Trung Quốc đang tìm cách “mượn” xuất xứ từ các thị trường xung quanh, trong đó có VN để né thuế khi xuất khẩu vào Mỹ.

Ông Trần Việt Tiến, Giám đốc Công ty cổ phần mỹ thuật Gia Long (Lavanto Home Décor) - Ủy viên Ban Chấp hành Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), cho biết: Cộng đồng doanh nghiệp (DN) Việt đang lo sản phẩm gỗ Trung Quốc giả xuất xứ VN để vào Mỹ. Điều này là có cơ sở vì hiện tại có một số công ty Trung Quốc đang đầu tư vào ngành gỗ VN. Tuy nhiên VN không phải là điểm đến duy nhất của các DN Trung Quốc, họ sẽ tỏa ra nhiều nước khác trong khu vực.

Xuất khẩu gỗ đặt mục tiêu 20 tỉ USD Trong khi đó, ông Nguyễn Chiến Thắng - Chủ tịch HĐQT Công ty Scansia Pacific ở Đồng Nai, lạc quan hơn khi cho rằng giả xuất xứ đối với ngành gỗ khó và phức tạp hơn các ngành khác vì sản phẩm cồng kềnh, chi phí vận chuyển cao. Nếu làm vậy, Trung Quốc cũng không có lợi về mặt kinh tế. Tuy nhiên, ông cũng đặt ra vấn đề: “Điều đáng lo là các DN nhỏ vào, núp bóng người Việt mở nhà xưởng sản xuất. Nếu việc này phát triển quá nhiều sẽ ảnh hưởng ngay đến ngành sản xuất gỗ nội địa”. Theo cộng đồng DN, nếu muốn giả xuất xứ khả năng lớn các DN Trung Quốc sẽ đầu tư mở nhà xưởng ở các tỉnh phía bắc do giá nhân công rẻ lại gần biên giới, giảm chi phí vận chuyển.

Mỹ đang là thị trường xuất khẩu gỗ lớn của VN. Vì vậy, nhiều DN lo ngại nếu các DN Trung Quốc mượn xuất xứ VN để né thuế thì sẽ ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu và thương hiệu của VN vào Mỹ. Các DN cũng lo lắng, Trung Quốc là nhà cung cấp lớn sản phẩm gỗ ở thị trường Mỹ. Việc Mỹ tăng thuế sẽ đẩy mặt bằng giá của nhóm sản phẩm này tăng làm cho sức mua giảm. Nếu tốc độ tăng trưởng quá cao của sản phẩm gỗ từ VN vào Mỹ có thể gây bất lợi về lâu dài vì họ có thể đặt ra các hàng rào kỹ thuật, thuế quan đến sản phẩm từ VN. Trong khi đó, Mỹ lại đang chiếm tới gần 40% thị phần sản phẩm gỗ xuất khẩu của VN, nếu có bất kỳ sự tác động nào từ thị trường này sẽ rất nguy hiểm.

Một DN cho biết mới đây có đối tác đến từ Đan Mạch muốn thuê nhà xưởng diện tích tối thiểu đến 200.000 m2. Với tiềm lực tài chính lớn, các DN nước ngoài sẽ đầu tư máy móc thiết bị hiện đại. Do vậy, DN Việt cần chuẩn bị nâng cấp máy móc thiết bị, cải tiến công nghệ để tránh thất thế.

Theo Bộ Công thương, việc gỗ Trung Quốc bị áp mức thuế cao ở Mỹ đã mở ra cơ hội lớn cho hàng VN.

“Chưa phải là hiện tượng đột biến nhưng trên thực tế thời gian gần đây số lượng khách hàng từ Mỹ quan tâm đến sản phẩm gỗ của VN nhiều hơn bình thường. Đây cũng là điều dễ hiểu vì họ muốn chuẩn bị nguồn cung thay thế. Tuy nhiên, tiềm năng lấp chỗ trống ở thị trường Mỹ không quá lớn vì hiện tại các DN của Mỹ đầu tư vào ngành gỗ ở VN cũng khá nhiều”, ông Nguyễn Chiến Thắng nói.

Những người trong ngành cho biết, DN gỗ muốn đẩy mạnh hàng xuất khẩu vào Mỹ để thế chân Trung Quốc cần tính đến nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Hiện tại và cả trong những năm tiếp theo VN phải nhập khẩu khoảng 20 - 30% nguyên liệu. Nguồn cung gỗ nguyên liệu lớn cho VN thời gian qua là Trung Quốc. Năm 2017, VN nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Trung Quốc đạt tới 363 triệu USD, tăng đến 27% so với năm trước đó. Việc sử dụng gỗ nguyên liệu từ Trung Quốc đồng nghĩa với nguy cơ hàng VN sẽ bị đánh thuế. Trong khi đó, các nước cung cấp gỗ nguyên liệu lớn cho VN lại đang có chính sách quản lý chặt chẽ hơn, hạn chế xuất khẩu gỗ nguyên liệu.

Theo báo cáo mới đây của Bộ NN-PTNT, các DN gỗ VN tăng nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ các thị trường có nguồn gốc xuất xứ, đảm bảo tính hợp pháp cao như: Brazil, Chile hay Mỹ. Năm 2017, VN cũng hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác tự nguyện về tăng cường thực thi lâm luật (VPA-FLEGT) với EU. Đây đều là những lợi thế cạnh tranh của ngành gỗ VN hiện tại.

Để tận dụng cơ hội và giảm thiểu các rủi ro từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, cách tốt nhất là các DN phải minh bạch được chất lượng và nguồn gốc sản phẩm. So với các nước trong khu vực, VN đã xây dựng được nền tảng này rất tốt. Tính đến cuối năm 2017, VN có đến 732 DN có chứng nhận chuỗi hành trình (CoC/FSC), đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Trong đó có 49 DN được cấp chứng chỉ quản trị rừng bền vững với tổng diện tích 226.500 ha. Hiện nay nhiều DN đã đi theo hướng phát triển bền vững bằng cách liên kết với người dân trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC, nhập khẩu nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng… Những DN này sẽ là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất trong cuộc chiến trên vì đó là xu hướng tiêu dùng hiện nay của thị trường thế giới.

Giảm xuất dăm, tăng sản phẩm gỗ

Theo Bộ NN-PTNT, năm 2017 tổng lượng gỗ khai thác từ rừng trồng của VN là 25 triệu m3. Trong khi đó, lượng dăm gỗ xuất khẩu đến 11 triệu m3, sản phẩm gỗ bóc và sản phẩm khác chỉ có 2,6 triệu m3, ván công nghiệp các loại chỉ có 1,7 triệu m3. Có thể thấy gần một nửa sản phẩm rừng trồng được khai thác chỉ để bán dăm gỗ cho Trung Quốc làm bột giấy. “Làm giảm giá trị gia tăng, chất lượng sản phẩm và kém cạnh tranh cho gỗ rừng trồng trong nước”, báo cáo của Bộ NN-PTNT nhận xét

 (Thanh Niên Online 3/9; Thanh Niên 3/9, tr6) Về đầu trang

https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/lo-go-trung-quoc-gia-xuat-xu-viet-nam-999237.html

Giá trị xuất siêu lâm sản trong 8 tháng ước đạt 4,3 tỉ USD

Ngành chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu đang hướng đến để trở thành ngành mũi nhọn trong sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam trong những năm tới.

Cả nước hiện trồng được 130.858 ha rừng sản xuất, đạt 67% kế hoạch năm 2018 và bằng 104,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Từ nay đến cuối năm, các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung bộ, Tây Nguyên và Nam bộ tiếp tục trồng rừng theo thời vụ và kế hoạch năm 2018; riêng các tỉnh Nam Trung bộ đang bắt đầu vào mùa vụ trồng rừng.

Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) trồng rừng sản xuất, trồng rừng gỗ lớn được coi là nhiệm vụ trọng tâm để phát triển và hỗ trợ cho ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu lâm sản hiện chiếm 23% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp, trong đó, giá trị xuất siêu lâm sản chính 8 tháng qua ước đạt 4,3 tỉ USD, riêng giá trị xuất siêu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 4 tỉ USD…

"So sánh xuất khẩu của ngành thì lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất về giá trị xuất siêu. Điều này thể hiện việc đã chủ động mở cửa thị trường và thực hiện tốt các cam kết hội nhập nhất là Hiệp định về quản trị thương mại gỗ hợp pháp" - ông Phạm Hồng Lượng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch và Tài chính, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết.

Mục tiêu ngành chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu đến năm 2025 phấn đấu năm 2018 đạt 9 tỉ USD và đến năm 2025 phấn đấu đạt 18 - 20 tỉ USD. (VOVNews 3/9) Về đầu trang

 https://vov.vn/kinh-te/gia-tri-xuat-sieu-lam-san-trong-8-thang-uoc-dat-43-ti-usd-808212.vov

Bắc Giang: Xử phạt 102 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng

Theo Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang, hiện diện tích rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp của tỉnh là 153.739 ha, chiếm 39,5% diện tích đất tự nhiên của tỉnh.

Rừng Bắc Giang được đánh giá có tính đa dạng sinh học cao, động vật có 25 bộ, 61 họ, 154 loài ; trong đó 24 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam, 27 loài trong Công ước CITES. Thực vật có 1.165 loài ; trong đó có 57 loài trong sách đỏ Việt Nam.

Để quản lý tốt tài nguyên rừng hiện có, địa phương tập trung bảo vệ rừng, đặc biệt là diện tích rừng trên địa bàn các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam. Đồng thời, kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm tình trạng phả rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép.

Tỉnh đã thực hiện nghiêm việc đóng cửa rừng tự nhiên ; tập trung cao cho công tác bảo vệ 26.500 ha rừng tự nhiên, kể cả rừng tự nhiên nghèo, nghèo kiệt, rừng phục hồi để phát huy chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái.

Được biết, từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến nay, lực lượng Kiểm lâm Bắc Giang phát hiện, lập hồ sơ xử lý trên 10.200 vụ vi phạm pháp luật bảo vệ rừng và quản lý lâm sản ; tịch thu trên 3.500 m3 gỗ các loại, trên 2.400 kg động vật hoang dã, 32 xe ô tô, 555 xe máy, 142 cưa xăng, 38 súng kíp và hàng trăm công cụ thủ công khác. Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính và bán tang vật tịch thu trên 56 tỷ đồng ; khởi tố về hình sự 43 vụ với 22 bị can, đưa ra truy tố trước pháp luật 14 vụ với 16 bị cáo, mức án cao nhất 84 tháng tù giam.

Riêng trong tháng 8/2018, lực lượng Kiểm lâm Bắc Giang kiểm tra, phát hiện lập biên bản 7 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, khối lượng gỗ vi phạm 7,933 m3 ; đã xử lý hành chính 14 vụ (bao gồm cả các vụ tồn kỳ trước chuyển sang) ; số tiền sau xử lý là trên 171,5 triệu đồng.

Tính từ đầu năm đến nay, Kiểm lâm Bắc Giang phát hiện lập biên bản 81 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, khối lượng gỗ vi phạm 76,143 m3 ; xử phạt vi phạm hành chính 102 vụ (bao gồm cả các vụ tồn năm trước chuyển sang), tịch

thu trên 90m3 gỗ ; thu nộp ngân sách gần 1,6 tỷ đồng. (Bảo Vệ Pháp Luật 4/9, tr6) Về đầu trang

Đăk Lăk: Những 'bảo mẫu' của voi rừng ở Buôn Đôn

Suốt 3 năm qua, những nhân viên của Trung tâm bảo tồn voi Đăk Lăk thay phiên nhau bảo vệ và chăm sóc hai voi con rừng.

Giữa rừng khộp của Vườn quốc gia Yok Đôn (huyện Buôn Đôn), những nhân viên của Trung tâm bảo tồn voi Đăk Lăk ngày đêm chăm sóc sức khỏe cho voi.

Trung tâm bảo tồn voi hiện có 19 cán bộ nhân viên, trong đó có 5 người chuyên trách chăm sóc y tế, nuôi dưỡng voi. Đây được xem là bệnh viện voi lớn nhất Tây Nguyên cũng như cả nước.

Ngoài việc theo dõi, chăm sóc sức khỏe cho 45 con voi nhà trên địa bàn tỉnh, trong khuôn viên 200 ha của trung tâm còn đang nuôi dưỡng hai cá thể voi rừng được giải cứu từ năm 2015. Đó là voi Jun (7 tuổi) và Gold (3 tuổi).

Ngày làm việc ở trung tâm bắt đầu từ 7h. Các nhân viên sẽ kiểm tra hệ thống hàng rào điện, vệ sinh chuồng trại, kiểm tra phân của hai con voi.

Theo các nhân viên, việc kiểm tra phân sẽ giúp phát hiện được những dấu hiệu bất thường sức khoẻ của voi, đặc biệt là các bệnh liên quan đến đường tiêu hoá.

Anh Cao Xuân Ninh tắm cho voi Gold trước khi cho nó ăn sáng. "Con Gold này nghịch lắm, như đứa trẻ. Hai năm trước nó được chúng tôi kéo lên khỏi một cái giếng giữa rừng, khi nó mới khoảng 2 tháng tuổi, còn đang bú sữa mẹ. Chúng tôi phải pha sữa bột, nước dừa và nước cơm trong bình để nó bú", anh kể.

Mỗi ngày, để đảm bảo khẩu phần ăn cho hai con voi, các "bảo mẫu" phải cắt trên 50 kg cỏ và mua thêm chuối, khoai lang, dưa leo.

Anh Cao Đăng Quang cho hay, do voi không được sống hoàn toàn trong môi trường hoang dã nên các anh phải tìm mọi cách để bổ sung các chất dinh dưỡng còn thiếu cho chúng.

Chăm sóc vết thương cho voi Jun là công việc quan trọng của các bác sĩ voi tại đây. Jun bị thương nặng ở chân và vòi do dính phải bẫy thú và được các nhân viên cứu hộ đưa về chăm sóc vào năm 2015. Sau khi trải qua hai cuộc phẫu thuật, con voi này hàng ngày được ngâm thuốc, làm móng, vệ sinh vết thương để tránh hoại tử.

"Lúc mới đầu tiếp xúc với Jun, tôi còn sợ lắm vì nó to lớn và hung dữ. Sau này, tiếp xúc hàng ngày, nó ngoan ngoãn chịu đứng yên để mình cho ăn và chữa trị vết thương", anh Quang kể.

Anh Phan Phú, đội trưởng chăm sóc voi rừng dùng chiếc kèn để điều khiển voi. "Voi là loài rất thông minh, chúng có thể hiểu và phản xạ có điều kiện với những khẩu lệnh đơn giản", người gắn bó với công việc chăm sóc voi rừng từ những ngày đầu giải thích.

Theo anh Phú, việc giũa móng cho voi Jun hàng ngày để chân của nó không bị hư vì toàn bộ trọng lượng cơ thể của voi đều dồn hết vào chân.

Cùng với việc chăm sóc sức khỏe, các nhân viên còn kiêm việc huấn luyện cho voi rừng. Voi sẽ được tập các động tác đơn giản như nâng chân, nằm, quỳ gối... Toàn bộ quy trình huấn luyện sẽ được ghi hình để nhân viên xem lại và phân tích dữ liệu khi voi có biểu hiện bất thường.

Để voi rừng có môi trường hoang dã và tập cho voi tư duy, hàng ngày, các nhân viên còn dành thời gian "làm giàu cho voi" bằng các trò chơi giấu đồ ăn, treo đồ ăn trên cao để voi tìm kiếm.

Sau mỗi ca trực, các nhân viên sẽ ghi lại kết quả và báo cáo tình hình sức khỏe, biểu hiện của voi về ban giám đốc của trung tâm.

Các nhân viên của trung tâm cùng ngồi nghỉ ngơi và trao đổi nghiệp vụ sau một ngày làm việc.

Ông Nguyễn Công Chung, Phó giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đăk Lăk cho biết, đều đặn hàng tháng, các nhân viên trung tâm còn được các chuyên gia và các tổ chức bảo vệ động vật quốc tế tập huấn, trau dồi những kỹ năng chăm sóc, huấn luyện voi. (Dân Việt 3/9) Về đầu trang

http://danviet.vn/xa-hoi/nhung-bao-mau-cua-voi-rung-o-buon-don-909639.html

Vị tướng già trả nghĩa cho rừng

Sau nhiều năm sống, gắn bó với mảnh đất Miền Đông gian lao mà anh dũng, 18 năm nay, một người lính Bộ đội cụ Hồ đã tự bỏ tiền túi đầu tư trồng rừng.

Có lẽ ít ai biết được, tại mảnh đất gần căn cứ Tà Thiết của tỉnh Bình Phước lại có 20ha đất được đầu tư trồng các loại cây rừng cho trái.

Đến với khu rừng này, mọi người như được quay trở lại kỷ niệm của một thời xưa cũ, khi gặp lại nhiều loại cây rừng quen thuộc như: Vú bò, cây trường, cây gùi, cây cơm nguội, cây ươi…

Những loài cây đã từng một thời gắn bó với tuổi thơ của nhiều người dân miền Đông Nam Bộ, mà nay đang dần biến mất tại những cánh rừng nguyên sinh.

Diện tích rừng này được ông Nguyễn Ngọc Ẩn, hay còn được gọi là ông "Tư biên giới", vốn là 1 vị tướng tình báo quốc phòng về hưu trồng gần 18 năm nay.

Theo chia sẻ của ông, sinh ra trên mảnh đất Miền Đông, sống, chiến đấu tại căn cứ Tà Thiết, vốn là căn cứ của Bộ Tư lệnh Miền nên ông đã quen với thiên nhiên, rừng xanh, cây lá.

Khi về hưu, cảm thấy không thích hợp với cuộc sống náo nhiệt, gấp gáp tại TP HCM, ông quyết định trở lại vùng đất cũ, bắt đầu một “cuộc chiến mới” –cuộc chiến trồng rừng trên mảnh đất gần căn cứ Tà Thiết.

Là người lính, đã từng ăn lộc của rừng, đi qua cuộc chiến cũng nhờ những cánh rừng che chở nên ông quyết tâm đeo đuổi đam mê của mình.

“Hồi đó là năm 1972, tôi nhập ngũ ở rừng này, cùng ăn, cùng ở với rừng. Vào tháng 3, trong rừng có trái cây, nhưng không phải trái cây nào cũng ăn được. Có trái cây chua, ăn vô xót ruột. Chỉ có cây chùm đuông mà quân giải phóng gọi là cây cơm nguội. Năm 2000 lên đây lại, thương nhớ về rừng. Ngày xưa sống nhờ rừng nên nhớ về thời đó đi vô rừng kiếm giống về ươm rồi trồng cho tới ngày nay”, ông Ngọc Ấn tâm sự.

Để có được cơ ngơi là những rừng trồng với đủ các loại trái rừng như hiện nay, ông Ngọc Ấn đã lặn lội khắp những cánh rừng dọc căn cứ Tà Thiết, tìm từng cây về chăm chút cho thích hợp với thổ nhưỡng, chăm sóc rồi tìm cách nhân giống.

Đến bây giờ, ông không nhớ nổi bản thân mình đã có bao nhiêu ngày ăn rừng, ngủ rẫy để tìm cây giống, rồi đưa về chăm sóc tại vườn cây của mình, bởi những loài cây rừng này rất khó trồng. Với quyết tâm, niềm đam mê và cả tấm lòng đối với rừng, đến hôm nay, ông đã thành công.

“Cây rừng đưa về trồng mấy năm đầu chết hết. Ai cũng tưởng dễ trồng nhưng khó lắm. Giống cây rừng khó kiếm lắm, nhờ anh em người dân tộc đi kiếm nữa. Sau này nghề dạy nghề, biết rồi thì dễ trồng, cây không bị bệnh tật gì hết, không bón phân hóa học, có phân trâu phân bò gì là bón cho cây thôi”, ông Tư biên giới chia sẻ.

Trò chuyện với ông Tư Biên giới, nhiều người sẽ cảm nhận được tình yêu của ông đối với từng cành cây, ngọn cỏ nơi đây. Ông gọi mấy cây rừng bằng "đứa".

Ông Nguyễn Ngọc Ẩn còn được biết đến là người có cá tính lập dị khi không cho ai ngắt cành, hái hoa của cây rừng. Ngay cả khi đến mùa trái chín, chỉ khi trái rụng xuống ông mới cho nhặt chứ không được hái trực tiếp vì ông sợ chúng bị đau.

Đó cũng là nguyên nhân mà ít người biết đến cánh rừng độc lạ này tại Bình Phước, bởi ông không muốn khu rừng này của ông được nhiều người đến thăm, rồi lỡ tay làm đau đến chúng.

“Đem được cái cây về trồng vui lắm. Nhiều bà già dọc đường tui ghé dọc quán phở ăn chơi nhìn thấy trái gùi quý lắm. Bả hỏi trái gùi đâu có. Tui trả lời con trồng bà ơi. Bà nói cho bả vô thăm rừng. Trái gùi ngày xưa nhiều lắm giờ hổng còn nữa. Hồi đó có bài hát Trái gùi Bến Cát do Minh Cảnh ca, trong đó có đoạn Mẹ đi chợ chớ ở lâu. Bận về mẹ nhớ mua xâu trái gùi. Con chờ xe lửa kéo còi. Ra ga đón mẹ lấy gùi ăn chơi”, ông Ngọc Ấn nói.

18 năm trồng rừng trên mảnh đất này, ông Tư biên giới đã thành công trong việc lưu giữ lại hàng chục loại trái rừng nay gần như đã biến mất trong những cánh rừng trên địa bàn tỉnh. Đó không chỉ để giữ lại ký ức cho những người sinh ra trước giải phóng, mà còn để cho những thế hệ con cháu đời sau cơ hội biết đến những loài cây, trái này.

Đây cũng chính là mong muốn lớn nhất của người lính Bộ đội cụ Hồ, cũng là cách vị tướng về hưu trả nợ, trả ân nghĩa cho rừng, về một thời “Rừng che bộ đội – Rừng vây quân thù”. (VOVNews 3/9) Về đầu trang

 https://vov.vn/xa-hoi/vi-tuong-gia-tra-nghia-cho-rung-806621.vov

Ninh Thuận: Từ lâm tặc trở thành người chữa “vết thương” cho rừng

Từng bị tuyên phạt 4 năm tù giam về tội Phá rừng nhưng sau khi mãn hạn tù, anh Katơr Kinh (dân tộc Raglai, ngụ thôn Hành Rạc 1, xã Phước Bình, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận) đã hoàn lương, quyết tâm chuộc lại lỗi lầm bằng cách tích cực tham gia công tác bảo vệ rừng.

Cách đây 3 năm, do không có đất sản xuất nên anh Katơr Kinh thường xuyên phá rừng làm rẫy. Trong một lần phá rừng, anh bị kiểm lâm phát hiện và phải trả giá bản án 4 năm tù giam cho hành động vi phạm pháp luật.

Trong thời gian thi hành án, Katơr Kinh đã được tham gia nhiều buổi sinh hoạt tập thể mà tại đó, các cán bộ trại giam thường xuyên lồng ghép nhiều chủ đề liên quan đến bảo vệ rừng để giữ môi trường sinh thái. Mưa dầm thấm lâu, Katơr Kinh dần nhận ra sai lầm của bản thân và quyết tâm thay đổi.

Năm 2013, nhờ cải tạo tốt, Katơr Kinh đã được ra tù trước thời hạn 2 năm. Với mong muốn chuộc lại lỗi lầm, khi trở về cộng đồng, anh đã dồn hết tâm huyết vào việc phủ xanh những mảng rừng từng bị tàn phá. Giờ đây, Katơr Kinh đã biết cách mưu sinh dựa vào rừng. Anh mạnh dạn thực hiện mô hình trồng xen canh cây ngô lai với bưởi, chuối... phù hợp với điều kiện khí hậu để tăng thu nhập. Nhờ đó, từ chỗ thiếu ăn thiếu mặc, đời sống gia đình anh ngày một sung túc.

Nghe Katơr Kinh tuyên truyền, vận động, nhiều đối tượng phá rừng đã từ bỏ việc phá rừng về lại cộng đồng tu tâm, dưỡng tính quyết tâm không tái phạm. Anh Katơr Bó (ngụ xã Phước Bình) chia sẻ: “Ngày trước do thiếu hiểu biết về pháp luật, tôi và một số người trong thôn đã lên rừng cưa gỗ bán để lấy tiền tiêu xài. Nhưng, khi được Katơr Kinh khuyên bảo, tôi cũng ăn năn hối lỗi. Tôi học theo Katơr Kinh vừa tham gia bảo vệ rừng vừa trồng cây ăn quả. Giờ được nhiều bà con trong thôn yêu quý, khen ngợi, tôi mừng lắm!”.

Nhiều người, đặc biệt là các thanh niên lầm lỗi sau khi được tiếp xúc với Katơr Kinh đã có thêm động lực vượt qua quá khứ “bất hảo”, tự nguyện tham gia vào tổ cộng đồng bảo vệ rừng. Dần dần, tổ bảo vệ của Katơr Kinh đã được “trẻ hóa”, việc quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng ngày càng được tổ chức chuyên nghiệp và nhanh nhẹn hơn. Từ đó, Katơr Kinh đã trở thành gương điển hình về công tác phòng, chống phá rừng ở xã vùng cao này. Đến năm 2015, anh được người dân tin tưởng bầu làm Trưởng thôn Hành Rạc 1.

"Sau khi Katơr Kinh tham gia vào tổ cộng đồng bảo vệ rừng, tôi thấy những cánh rừng ở đây đã dần trở lại màu xanh. Cuộc sống của gia đình anh đã khấm khá hơn trước, nên nhiều người lầm lỗi của địa phương đã học tập và noi theo tấm gương của Katơr Kinh. Mọi người trong thôn đều cảm phục và quý mến cậu ấy!”, ông Pi Năng Minh, nguyên Trưởng thôn Hạnh Rạc 1 chia sẻ.

Khi chúng tôi nhắc về những thành quả đã đạt được, anh Katơr Kinh chỉ cười xòa: “Muốn đồng bào không phá rừng làm rẫy, tôi và các thành viên trong tổ bảo vệ rừng cộng đồng phải gương mẫu, không được chặt phá hay đốt rừng. Khi mình làm được, bà con sẽ làm theo”. Theo tìm hiểu của chúng tôi, toàn bộ đồng bào các dân tộc thiểu số thôn Hành Rạc (nay chia thành 2 thôn: Hành Rạc 1, Hành Rạc 2) đã tự nguyện ký cam kết tích cực bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.

Nhờ đó, tình trạng đốt rừng lấy đất làm rẫy, khai thác tài nguyên rừng trái phép trên địa bàn không còn. Mô hình ngày càng được nhân rộng ra toàn xã. Tính đến nay, 470ha đất rừng trong Vườn Quốc gia Phước Bình được giao khoán lại cho bà con thôn Hạnh Rạc 1 quản lý đã được phủ xanh, tình trạng phá rừng đã được hạn chế đến mức thấp nhất.

Xuôi theo tuyến Tỉnh lộ ĐT 707 đoạn qua xã Phước Bình, những đồi núi trọc đã được phủ xanh, những “vết thương” nham nhở ven triền núi đã được chữa lành. Bằng những việc làm cụ thể của chính người dân địa phương, không gian của núi rừng đã được “khởi sắc”. “Đã có sức làm thì phải có sức chịu. Biết sai thì phải sửa, nếu đã sửa thì phải tốt hơn trước”, Katơr Kinh nói và nhìn về phía rừng xanh ngút ngàn. (Đời Sống & Pháp Luật Online 1/9) Về đầu trang

 http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/tu-lam-tac-tro-thanh-nguoi-chua-vet-thuong-cho-rung-a241819.html

Người Quảng Nam trồng sâm kết hợp bảo vệ rừng

Cây sâm cần tán rừng già để sinh trưởng, mang lại kinh tế cho người trồng, vì vậy, giữ rừng cũng là giữ sâm quý.

Theo ông Hồ Quang Bửu, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Nam Trà My, Quảng Nam, người dân nơi đây ổn định kinh tế nhờ cây sâm. Cây sâm nhờ rừng tồn tại. Vì vậy, giữ và phát triển sâm cũng là giữ rừng.

Hiện, với mỗi cây sâm trồng dưới tán rừng, cây sâm 5 năm thu hoạch đạt khoảng ba củ một cân, giá trị 46 - 52 triệu đồng một cân, loại hai củ một cân giá 70-72 triệu đồng một cân. Không chỉ thu hoạch củ, lá sâm tươi cũng có giá khoảng 5 triệu đồng một cân.

Trồng dược liệu trong đó có cây sâm dưới tán rừng đang là một trong những biện pháp bảo vệ rừng tại Quảng Nam.

Những cây sâm Ngọc Linh đầu tiên được tìm thấy ở độ cao 1.800m thuộc phía Tây Nam núi Ngọc Linh do đoàn công tác dẫn đầu với tiến sĩ Đào Kim Long phát hiện năm 1973.

Cùng năm đó, cây sâm được gửi ra Hà Nội kiểm tra và thấy đây là loài sâm thứ 20 được phát hiện trên thế giới. Công tác phân lập, xác định hoạt chất sinh học cùng lúc tại Việt Nam và Liên Xô đã kết luận hàm lượng chất Saponin trong sâm Ngọc Linh cao gấp 42 lần sâm Nhật Bản.

Theo kết quả nghiên cứu, phần thân rễ của cây sâm Ngọc Linh Việt Nam chứa 26 hợp chất saponin có cấu trúc hóa học đã biết và 24 saponin có cấu trúc mới không có trong các loại sâm khác, trong khi sâm Triều Tiên chỉ có khoảng 25 saponin.

Ngoài các loại saponin, sâm Ngọc Linh còn chứa các polyacetilen, axit béo, axit amin, gluxit, tinh dầu và cả các yếu tố vi lượng.

Cây sâm chỉ sinh trưởng tốt dưới tán rừng già, vì vậy, chẳng ai nỡ phá rừng mà phá luôn cây sâm. Ông Hồ Văn Đoàn - người công tác tại trại sâm Tắc Ngo, Trung tâm Sâm Ngọc Linh Nam Trà My cho biết, Sâm Ngọc Linh chỉ trồng được ở độ cao quy định 1.000 - 2.400m so với mực nước biển, độ che phủ của rừng khoảng 70%, nhiệt độ trung bình 20 độ, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm trong khoảng 15 độ.

Sâm nhạy cảm với nguồn nước. Nước đọng, củ dễ hư, nên những vùng trồng sâm phải là vùng đất dốc cỡ 15 độ trở lên để thoát nước tốt. Thảm che có tác dụng giữ lại mùn đồng thời khi lá mục tạo thành mùn núi để làm chất dinh dưỡng cho cây.

Khi cây bị sâu ăn lá, chỉ bắt thủ công và đi diệt chứ không sử dụng thuốc hóa học. Ngoài thu hoạch củ có giá trị, lá và thân cũng có giá trị, hàm lượng saponin cao nên người trồng thu hoạch luôn thân và lá để bán. Hàng năm, mỗi củ chỉ lên một lá, đến cuối tháng 11 là rụng, qua tháng một, hai năm sau lại lên lá mới. Khi cuống lá rụng đi để lại dấu vết trên củ. Đây cũng là cách quan sát để nhận biết độ tuổi cây sâm.

Khi hoa lớn, tháng 7, tháng 8 có thể thu hoạch hạt để gieo thành cây con. Tuy nhiên, để cây giống có chất lượng, cần tuyển chọn hạt. Hiện, Quảng Nam đã gây dựng được vùng sâm giống gốc, tuyển chọn hạt từ những cây sâm gốc để cung cấp, hỗ trợ cho các xã trong vùng quy hoạch phát triển.

Từ hạt nhỏ lên đến hạt trưởng thành có thể thu hoạch được đem gieo mất khoảng 4, 5 tháng. Cây bốn tuổi mới bắt đầu ra hoa, cho hạt, nhưng cây từ 5 năm tuổi mới lấy giống được. Cây sâm 5 năm tuổi thì cho một củ khoảng 3, 4 lạng tùy theo độ tuổi, nơi nào đất tốt thì củ lớn hơn.

Tuy nhiên, cách dùng phổ thông của cây sâm hiện nay vẫn là cắt lát, ngâm rượu, ngâm mật ong, chiết xuất thành viên nang thực phẩm chức năng hoặc làm thành phần bổ sung cho nhiều vị thuốc.

Ông Hồ Quang Bửu chia sẻ, từ kinh nghiệm rút ra về cách phát triển vùng sâm của người Hàn Quốc, đó là làm sao đa dạng hóa sản phẩm, đưa sâm đến gần hơn với người dùng, mức giá đáp ứng nhu cầu của đại trà, ông Bửu đã đưa cây sâm quý của người Việt đến được với người Việt, biến cây sâm quý thành thương hiệu không chỉ riêng Quảng Nam hay Kon Tum, mà của người Việt.

Tháng 9/2015, Chính phủ phê duyệt đề án quốc gia về phát triển sâm Ngọc Linh. Theo đó, đến năm 2030 sẽ mở rộng vùng trồng ra 7 xã thuộc huyện Nam Trà My với diện tích lên đến 30.000 ha, đầu tư trên 9.000 tỷ đồng. Tháng 6/2017, sâm Việt Nam (sâm Ngọc Linh) trở thành sản phẩm quốc gia.

Hiện, Quảng Nam có dự án di thực cây sâm về các vùng có điều kiện tương tự để mở rộng diện tích vùng sâm nguyên liệu. Đồng thời, để quảng bá giới thiệu cây sâm Ngọc Linh đến đông đảo người dùng, tạo ra địa chỉ uy tín cho người mua sâm, từ tháng 8/2017, huyện Nam Trà My định kỳ tổ chức phiên chợ sâm hàng tháng từ ngày mùng một đến mùng ba. (Dân Việt 1/9) Về đầu trang

 http://danviet.vn/nong-thon-moi/nguoi-quang-nam-trong-sam-ket-hop-bao-ve-rung-909093.html

Nghệ An: Xử lý 2 đối tượng vận chuyển gỗ trái phép

Các đối tượng sử dụng 2 xe máy kéo theo xe thô sơ (xe bò) để vận chuyển 1,3 mét khối gỗ nhưng đã bị cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ngọc Lâm, BĐBP Nghệ An phát hiện, bắt giữ vào rạng sáng 1-9.

Vào lúc 4 giờ ngày 1-9, tổ tuần tra, kiểm soát của Đồn Biên phòng Ngọc Lâm làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã Ngọc Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã phát hiện 2 xe máy không biển số, kéo theo 2 xe thô sơ lắp bánh lốp, do Nguyễn Văn Quân và Lê Văn Nam, ở xã Thanh Thịnh, huyện Thanh Chương, chở 7 khúc gỗ (khoảng 1,3 mét khối).

Theo lời khai của 2 người điều khiển xe kéo, họ đang chở thuê số gỗ trên từ trong rừng ra, đến địa điểm xã Ngọc Lâm thì bị phát hiện bắt giữ. Hiện Đồn Biên phòng Ngọc Lâm đang hoàn chỉnh hồ sơ để xử lý theo quy định của pháp luật. (Biên Phòng Online 1/9) Về đầu trang

http://www.bienphong.com.vn/xu-ly-2-doi-tuong-van-chuyen-go-trai-phep/

Điều tra vụ phá rừng quy mô lớn ở Đắk Lắk

Ngày 31/8, Công an huyện Ea Kar (Đắk Lắk) cho biết, cơ quan điều tra đang làm rõ vụ phá rừng phòng hộ quy mô lớn xảy ra ở xã Cư Bông, thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Kar quản lý.

Nhiều cây rừng tại Tiểu khu 701 thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Kar quản lý bị lâm tặc đốn hạ.

Theo điều tra ban đầu, ngày 27/8, rừng tại Tiểu khu 701 thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Kar quản lý bị khai thác gỗ ồ ạt.

UBND xã Cư Bông (huyện Eakar) đã thành lập đoàn vào hiện trường kiểm tra và phát hiện khoảng 9 héc ta rừng phòng hộ bị tàn phá.

Tại hiện trường, số gỗ keo đã khai thác, vận chuyển gần hết. Các cây keo bị cắt có đường kính từ 15- 60 cm. Mở rộng kiểm tra, đoàn phát hiện trên đỉnh đồi còn một số cây keo nằm rải rác.

Ngoài ra, tại thời điểm kiểm tra đoàn phát hiện xe múc, xe ủi vào mở đường vành đai để phục vụ khai thác gỗ như một đại công trường ở chốn không người.

Được biết, khu vực xảy ra việc khai thác rừng trái phép chỉ cách lâm trường bảo vệ rừng số 1 của Công ty TNHT MTV lâm nghiệp Ea Kar chừng hơn 2km.

Trước đó, ngày 22/8, Công an huyện Ea Kar đã phát hiện bắt giữ 2 xe tải chở 52m3 gỗ keo không rõ nguồn gốc. Qua mở rộng điều tra, cơ quan chức năng xác định số gỗ này được vận chuyển ra từ khu vực rừng phòng hộ của 2 xã Cư Bông và Cư Yang của huyện Ea Kar. (VTCNews 31/8) Về đầu trang

 https://vtc.vn/dieu-tra-vu-pha-rung-quy-mo-lon-o-dak-lak-d423659.html

Đồng Nai sợ hàng rào điện “bất lực” vì voi rừng quá thông minh

Hàng rào điện bảo vệ voi có trị giá 25 tỉ đồng này mới đưa vào hoạt động hơn một năm, nhưng lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã lo mất tác dụng.

Sau hơn 1 năm vận hành thử nghiệm, giữa tháng 8.2018, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai, chủ đầu tư Dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đồng Nai, đã bàn giao hạng mục hàng rào điện (dài 50km) này cho các chủ rừng nơi mà hàng rào điện đi qua để quản lý, bảo vệ, vận hành. (Thanh Niên Online 31/8) Về đầu trang

 https://media.thanhnien.vn/thoi-su/dong-nai-so-hang-rao-dien-bat-luc-vi-voi-rung-qua-thong-minh-116308.html

Quảng Nam: "Xế hộp" chở gỗ lậu

Qua tuần tra kiểm soát trên tuyến QL14E (đoạn qua xã Bình Trị, H. Thăng Bình, Quảng Nam), lúc 20 giờ 30 ngày 30-8, tổ công tác của Phòng Cảnh sát kinh tế CA tỉnh Quảng Nam phát hiện ô-tô bán tải BKS 92C-097.95, do ông Lê Văn Sơn (40 tuổi, trú xã Phước Hiệp, H. Phước Sơn, Quảng Nam) điều khiển có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu dừng lại kiểm tra.

Lực lượng chức năng phát hiện trong thùng xe có 8 phách gỗ (hơn 1,076m3) và tài xế không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc. Lực lượng chức năng đã tạm giữ phương tiện và tang vật để tiếp tục điều tra làm rõ. (Công An Đà Nẵng Online 1/9; VOVNews 1/9; VTCNews 31/8; Thuonghieuvaphapluat.vn 31/8; Công An Nhân Dân Online 31/8)Về đầu trang

 http://cadn.com.vn/news/121_194676_-xe-hop-cho-go-lau.aspx

https://vov.vn/phap-luat/quang-nam-bat-vu-van-chuyen-go-lau-807136.vov

http://cand.com.vn/Ban-tin-113/Dung-xe-xin-van-chuyen-go-lau-508381/

https://vtc.vn/bat-giu-xe-o-to-van-chuyen-go-lau-trong-dem-o-quang-nam-d423709.html

http://thuonghieuvaphapluat.vn/bat-vu-van-chuyen-go-lau-tai-quang-nam-105934