Điểm báo ngày 02/11/2018

Cập nhật ngày : 07/11/2018 09:01

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 02 tháng 11 năm 2018)

 

Thực thi VPA/FLEGT: Liên kết tạo sức mạnh

Để thực thi Hiệp định VPA/FLEGT, giúp doanh nghiệp (DN) thuận lợi trong sản xuất, chế biến xuất khẩu, các DN phải liên kết chặt chẽ với nhau để tạo thành một khối thống nhất.

Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam - EU được kỳ vọng giúp tăng cường quản trị rừng, giải quyết tình trạng khai thác gỗ bất hợp pháp, thúc đẩy thương mại gỗ và các sản phẩm gỗ hợp pháp của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU và các thị trường khác. Đây là cơ hội tốt cho ngành lâm nghiệp Việt Nam trong việc thúc đẩy phát triển rừng sản xuất trong nước, phục vụ chế biến, xuất khẩu.

Chia sẻ tại tọa đàm trực tuyến: "Thực thi Hiệp định VPA/FLEGT: Cơ hội và thách thức với xuất khẩu gỗ Việt Nam" do báo Nông Thôn Ngày Nay/Dân Việt phối hợp với Bộ NNPTNT tổ chức chiều 31.10, ông Phạm Văn Điển - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT) cho biết, phát triển và bảo vệ rừng là nhiệm vụ trọng tâm đã được ngành nông nghiệp triển khai trong suốt thời gian qua, đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng khốc liệt. Bên cạnh đó, kinh tế rừng cũng được xác định là một trong những chiến lược trọng điểm của nước ta, khi kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ năm 2018 ước đạt 9 tỷ USD.

Một trong những yếu tố tác động lớn đến sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp là công tác trồng rừng được chú trọng. Bình quân hàng năm cả nước trồng khoảng 230.000ha rừng tập trung, trong đó 90% là rừng sản xuất. Năng suất rừng trồng tiếp tục được cải thiện, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đã đạt trên 231.000ha.

Bên cạnh đó, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là 1 trong 10 thành tựu nổi bật của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2010 – 2015. Đến hết tháng 10.2018 đã thu 2.557 tỷ đồng, tăng 61% so với năm 2017.

Đồng tình với quan điểm trên, ông Hà Sỹ Đồng - Ủy viên Tài chính ngân sách Quốc hội, Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị chia sẻ, cần phải khẳng định trong những năm qua, chính sách hỗ trợ lâm nghiệp đã góp phần nâng cao độ che phủ rừng, giải quyết việc làm cho người dân, giá trị gia tăng của các sản phẩm lâm nghiệp ngày càng gia tăng. Thủ tướng Chính phủ cũng đã “đặt hàng” ngành lâm nghiệp phấn đấu giá trị xuất khẩu đạt 15-20 tỷ USD.

Ông Đồng khẳng định: “Để đạt được mục tiêu 15-20 tỷ USD chúng ta cần thấy rõ những thách thức, cơ hội khi tham gia hội nhập với ngành lâm nghiệp thế giới. Thời gian tới chúng tôi mong Bộ NNPTNT sẽ cụ thể hóa hơn nữa chính sách giao đất, khoán rừng với chủ hộ”.

Từ đòn bẩy của công tác trồng rừng, kinh tế rừng đang trở thành một trong những lĩnh vực mũi nhọn của ngành nông nghiệp. Thương mại gỗ, đồ gỗ trong nước và trên thế giới tăng trưởng mạnh Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đứng thứ 5 thế giới và số 1 châu Á trong  lĩnh vực xuất khẩu gỗ và lâm sản. 10 tháng năm 2018, xuất khẩu lâm sản tiếp tục tăng trưởng trên 16%, ước đạt 7,6 tỷ USD, xuất siêu lâm sản chính 5,72 tỷ USD, là một trong những ngành có giá trị xuất khẩu đứng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp.

Để ngành chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu Việt Nam trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, ông Phạm Văn Điển cho biết, hiện Bộ NNPTNT đang triển khai 4 nghị định, 7 thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Lâm nghiệp, trong đó chú trọng đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi trong khai thác, chế biến và thương mại lâm sản.

Theo chia sẻ của bà Nguyễn Tường Vân- Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế (Tổng cục Lâm nghiệp), việc tham gia Hiệp định VPA/FLEGT là cơ hội tốt cho ngành lâm nghiệp Việt Nam trong thúc đẩy phát triển rừng sản xuất trong nước, phục vụ chế biến, xuất khẩu. Hiệp định VPA/FLEGT sẽ giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, cải thiện thể chế về quản lý rừng, giải quyết tình trạng khai thác và thương mại gỗ trái phép.

Khi tham gia Hiệp định này, chúng ta phải chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp của các sản phẩm gỗ. Điều này sẽ tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm lâm nghiệp, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ môi trường rừng.

“Khi Hiệp định này đi vào thực thi, nó sẽ ảnh hưởng đến tất cả các DN, kể cả những DN không tham gia thị trường xuất khẩu, bởi Hiệp định yêu cầu và đề cao rất rõ tính minh bạch của nguyên liệu gỗ - điều mà từ trước đến nay chỉ những DN tham gia xuất khẩu mới cần quan tâm tới” – bà Vân cho biết thêm.

Cũng theo ông Huỳnh Văn Hạnh - Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), để DN thuận lợi trong sản xuất, chế biến xuất khẩu, các DN phải liên kết chặt chẽ với nhau để tạo thành một khối thống nhất. Liên kết sẽ giúp DN giảm chi phí, gia tăng giá trị và gia tăng tính cạnh tranh.

Về vấn đề này, ông Hà Sỹ Đồng cho rằng, cần tạo điều kiện để ngành lâm nghiệp liên kết “4 nhà” từ khâu trồng rừng đến tiêu thụ chế biến, trong đó đặc biệt quan tâm đến trồng rừng gỗ lớn, bởi lâu nay chúng ta khai thác rừng non nhiều, xuất khẩu gỗ dăm nhiều nên ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nguyên liệu.  (Danviet.vn 01/11) Về đầu trang

http://danviet.vn/tin-nong-nghiep/thuc-thi-vpa-flegt-lien-ket-tao-suc-manh-926581.html

Hiệp định VPA/FLEGT: Rộng cửa cho gỗ Việt vào EU

Sau sáu năm bền bỉ đàm phán, Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã được ký kết vào ngày 19-10-2018. Theo nhận định của các chuyên gia, Hiệp định này sẽ mở ra nhiều cơ hội cho gỗ Việt.

Ông Nguyễn Tôn Quyền – Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam - nhận định: EU được coi là một thị trường vô cùng quan trọng với gỗ Việt. Vì vậy, việc ký VPA/FLEGT sẽ giúp các sản phẩm gỗ xuất khẩu (XK) trực tiếp vào 28 nước châu Âu, mà không cần phải qua một nước trung gian nào. Thị trường sẽ rộng mở hơn. Dự kiến trong vài năm nữa, kim ngạch XK gỗ sang EU sẽ tăng gấp đôi, từ 700 triệu USD hiện nay lên hơn một tỷ USD.

Nhưng điều quan trọng hơn, theo ông Quyền, với những quy định rõ ràng về nguồn gốc gỗ hợp pháp, Hiệp định VPA/FLEGT sẽ giúp Việt Nam cải thiện thể chế về quản lý rừng, giải quyết tình trạng khai thác và thương mại gỗ trái phép, góp phần thúc đẩy thị trường XK mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam, nâng cao uy tín và hình ảnh ngành chế biến gỗ XK của Việt Nam trên toàn cầu.

Cùng quan điểm này, ông Nguyễn Quốc Trị - Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) nhận định: Với việc thực thi Hiệp định VPA/FLEGT, các DN Việt Nam sẽ có quyền tiếp cận trực tiếp vào thị trường EU, mà không phải trải qua một quá trình kiểm tra tính hợp pháp rườm rà. Đây sẽ được xem là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với các nước không có một hiệp định VPA đầy đủ. Không những vậy, thực thi hiệp định này còn giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trong lĩnh vực XK lâm sản trên thị trường quốc tế. “Thực hiện VPA/FLEGT cũng là thực hiện một trong những mục tiêu của Thủ tướng Chính phủ đặt ra cho ngành lâm nghiệp đến năm 2025 phải đạt kim ngạch XK 17 tỷ USD, đến 2020 phải đạt được 11 - 12 tỷ USD”, ông Trị nói.

Với VPA/FLEGT, 100% gỗ XK vào EU phải là gỗ hợp pháp. Điều này sẽ khiến chi phí tăng, doanh nghiệp (DN) phải thực hiện nhiều công đoạn để bảo đảm truy xuất nguồn gốc gỗ rõ ràng.

Để đáp ứng những yêu cầu quy định tại Hiệp định, ông Nguyễn Quốc Trị cho biết, trước tiên, các DN trồng rừng cần có chứng chỉ thể hiện nguồn gỗ đó minh bạch, hợp pháp. Việc trồng gỗ rừng có chứng chỉ sẽ mang lại lợi ích cho DN bởi giá sẽ tăng thêm 10 - 25%. Bên cạnh đó, các DN cần chuẩn bị các hồ sơ để giải trình nguồn gỗ nhập là hợp pháp. Cùng với đó, DN phải tự đánh giá năng lực của DN có phù hợp với các tiêu chí để được xếp vào danh mục loại một, lúc đó DN sẽ tự chủ trong việc XK gỗ và có khả năng mở rộng thị trường.

Dù vậy, ông Nguyễn Tôn Quyền cho biết thêm, 10 năm trở lại đây, các DN chế biến, XK gỗ đã làm rất tốt điều này, gỗ nguyên liệu đều có chứng chỉ rừng bền vững (FSC). Năm 2015, các DN trong Hiệp hội cũng đã ký cam kết nói không với gỗ bất hợp pháp.

Cụ thể, Công ty CP Lâm sản Nam Định (NAFOCO) đã thực hiện mô hình chứng chỉ nhóm hộ tại Yên Bình (Yên Bái) với quy mô khoảng 1.000 - 3.000ha, 494 hộ tại 5 xã của huyện tham gia. Tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC là 1.737ha. Từ năm 2016, Công ty Woodsland đã ký thỏa thuận liên kết trồng keo có chứng chỉ FSC với 197 hộ dân tại 3 xã Công Đa, Phú Thịnh và Tiến Bộ của huyện Yên Sơn (Tuyên Quang) với diện tích 848,09ha. Hiện toàn bộ diện tích này đã được cấp chứng chỉ FSC.

Ông Nguyễn Quốc Trị nhận định, các cam kết của VPA/FLEGT đã được quy định trong Luật Lâm nghiệp Việt Nam, sẽ có hiệu lực từ ngày 1-1-2019. Đến đầu năm 2021, khi Hiệp định chính thức đưa vào thực thi, cơ quan quản lý, người trồng rừng và DN gỗ Việt Nam sẽ sẵn sàng với các điều kiện cam kết.

Về phía các cơ quan chức năng, theo Tổng cục Lâm nghiệp, sau khi ký kết hiệp định VPA/FLEGT, Việt Nam sẽ thiết lập một hệ thống để xác minh bảo đảm gỗ hợp pháp và cấp phép cho các chuyến hàng gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu vào EU. Cơ quan Nhà nước sẽ phân loại mức độ rủi ro của doanh nghiệp để làm căn cứ cấp giấy phép FLEGT.

Nhóm 1 là các DN tuân thủ pháp luật. Nhóm này được chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh và sẽ được cấp ngay giấy phép FLEGT nếu đủ điều kiện.

Nhóm 2 là nhóm DN không tuân thủ pháp luật. Nhóm này sẽ phải thực hiện việc kiểm tra thực tế 20% các lô hàng trước khi XK và cấp giấy phép FLEGT.

EU hiện là thị trường tiêu thụ gỗ lớn thứ tư, chiếm đến hơn 10% thị phần XK gỗ của Việt Nam, và có hơn 400 DN Việt Nam đang XK sang thị trường này. Tổng cục Lâm nghiệp đang hoàn thiện văn bản pháp luật và cơ sở vật chất để có thể bắt đầu cấp giấy phép FLEGT cho DN vào cuối năm tới.

Hiệp định VPA/FLEGT bắt đầu đàm phán từ tháng 11/2010, đến nay đã chính thức ký kết. Mục tiêu khi đàm phán hiệp định là mở rộng thị trường XK gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vào EU thông qua việc Việt Nam cam kết xây dựng Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp (VNTLAS) phục vụ việc cấp phép FLEGT cho các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ XK sang EU... (Nhân Dân Online 2/11; Đại Biểu Nhân Dân 2/11, tr5) Về đầu trang

 http://www.nhandan.com.vn/kinhte/nhan-dinh/item/38117702-hiep-dinh-vpa-flegt-rong-cua-cho-go-viet-vao-eu.html

Thời cơ lớn của gỗ cao su

Với trên 80% sản lượng cao su được xuất khẩu (XK), Việt Nam đang đứng thứ 3 thế giới về XK cao su thiên nhiên. Tuy nhiên, đang có sự lãng phí lớn bởi tổng lượng cao su thô xuất đi nhiều, nhưng giá trị mang về thấp. Chính vì vậy, việc đẩy mạnh chế biến sâu, trong đó có các sản phẩm gỗ từ cây cao su cần phải được tính đến.

Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam, ngành cao su Việt Nam hiện có 3 nhóm sản phẩm chính: Nguyên liệu cao su thiên nhiên, sản phẩm cao su, gỗ nguyên liệu và sản phẩm gỗ cao su.

“Với đặc tính đàn hồi, chống thấm, chống cháy và chống nhiệt, mủ cao su thiên nhiên là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp, trong đó sản xuất lốp xe tiêu thụ khoảng 70% tổng sản lượng cao su thiên nhiên” - TS Tô Xuân Phúc – chuyên gia của Tổ chức Forest Trends, nhấn mạnh.

Cùng với cao su thiên nhiên, gỗ từ cây cao su đang trở thành nguyên liệu chính cho ngành gỗ, không chỉ cho chế biến XK mà cả thị trường nội địa. Trong năm 2017, kim ngạch XK của 3 nhóm hàng trên mang về cho nước ta gần 6,2 tỷ USD.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm 2017, XK cao su thiên nhiên mang về 2,25 tỷ USD, tăng trên 34% so với năm 2016; trong đó XK gỗ nguyên liệu và sản phẩm gỗ cao su đạt kim ngạch 1,74 tỷ USD, tăng khoảng 13% so với năm 2016.

Việc XK thô với nguyên liệu chủ yếu từ các vùng cao su tiểu điền không được kiểm soát đã khiến cao su Việt Nam bị ép giá.

“Một số báo cáo của Sở NNPTNT cho biết, tình trạng chất lượng cao su tiểu điền thấp một phần có sự pha trộn tạp chất vào  mủ, nhằm nâng lượng bán. Sự pha trộn tạp chất  đã khiến chất lượng thấp, ảnh hưởng đến uy tín của cao su Việt Nam. Vì vậy, cần định hướng XK sản phẩm cao su chế biến, giảm dần XK thô, từng bước nâng cao giá trị của ngành cao su” - TS Tô Xuân Phúc nhấn mạnh.

Chế biến các sản phẩm từ gỗ cao su đang được coi là một trong những hướng đi nhằm nâng cao giá trị gia tăng của ngành. Tuy nhiên, hiện nay dường như giữa các công ty chế biến gỗ và các doanh nghiệp trồng cao su chưa tìm được tiếng nói chung.

Ông Điền Quang Hiệp – Chủ tịch Hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (BIFA) cho biết, hiện tại giữa hai bên gần như chưa có sự liên thông, do vậy giá trị cộng hưởng giữa hai bên là không có, các bên đang hoàn toàn làm việc độc lập.

“Sự liên kết và phối hợp đang là mong muốn lớn nhất của BIFA. Chúng tôi cần ổn định nguồn nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh bởi hiện nay chúng tôi sử dụng nhiều nhất là gỗ cao su. Nếu có sự liên kết, các công ty cung cấp gỗ cao su thực sự biết chúng tôi cần gì và gặp khó khăn gì khi” – ông Hiệp nói.

Cũng theo ông Hiệp, ngành cao su rất đặc biệt và có lợi thế lớn, tận dụng không bỏ bất kỳ cái gì, từ cao su thiên nhiên, sản phẩm mủ cao su và gỗ. Ngành cao su đang có lợi thế vô cùng lớn, nhưng làm sao biến lợi thế này thành hiện thực thì ngành cao su phải biết người mua là ai và cần gì.

Điều đáng ghi nhận là, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang tạo ra nhiều cơ hội cho ngành gỗ. Ông Hiệp cho biết, các doanh nghiệp của Mỹ rất thích đồ gỗ của Việt Nam nhưng Mỹ là một thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn rõ ràng, họ muốn doanh nghiệp phải hiểu văn hóa của họ.

“Nếu chúng ta không có liên kết chuỗi về nguyên liệu thì sẽ không tận dụng hết các cơ hội, trong khi nguyên liệu hiện chiếm 45% giá thành sản phẩm. Rất nhiều doanh nghiệp gỗ tại Bình Dương sử dụng gỗ cao su và gỗ tràm để làm hàng xuất khẩu, việc sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước chính là giữ lại giá trị của ngành gỗ” – ông Hiệp nói.

Ông Hoàng Ích Tuân – Giám đốc thu mua của Công ty TP TEKCOM, cho biết, mỗi năm công ty sử dụng khoảng 140.000 -150.000m3 gỗ nguyên liệu, trong đó trên 65% là gỗ cao su dạng xẻ và ván bóc. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu không ổn định, do vậy các doanh nghiệp không dám ký hợp đồng dài hạn với các đối tác.

Trước những cơ hội lớn của ngành chế biến gỗ cao su, theo ông Trần Minh  - Trưởng ban Công nghiệp, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, để đón nhận cơ hội từ chiến tranh thương mại thì gỗ cao su nhất thiết phải có chứng chỉ rừng bền vững. Tập đoàn đang hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, với các công ty tư vấn quốc tế để trong năm nay rừng cao su sẽ có chứng chỉ. Cuối năm 2018 hoặc đầu năm 2019 sẽ có chứng chỉ rừng bền vững (FSC) đối với gỗ cao su để cung cấp cho các nhà máy ở Việt Nam.

Trong thời gian tới lượng gỗ cao su thanh lý ra thị trường sẽ giảm, khi nào gỗ cao su tiểu điền và đại điền đến chu kỳ thanh lý thì sản lượng cung cấp ra thị trường mới ổn định và phục hồi. (Danviet.vn 01/11) Về đầu trang

 http://danviet.vn/thi-truong-nong-san/thoi-co-lon-cua-go-cao-su-917642.html

Kịp thời dập tắt hai vụ cháy rừng

Vào lúc 5 giờ 30 phút ngày 1-11, tại thôn Hà Tê, xã Trung Hà (huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng) xảy ra vụ cháy rừng keo, bạch đàn. Ngay lúc vụ cháy mới phát sinh, lực lượng thuộc Bộ tư lệnh Vùng 1, Quân chủng Hải quân đã phát hiện và huy động 115 cán bộ, chiến sĩ phối hợp với nhân dân địa phương tổ chức dập lửa. Do cơ động nhanh, lại có sự chuẩn bị kỹ nên chỉ sau 30 phút, đám cháy đã bị dập tắt, thiệt hại do đám cháy gây ra không lớn.

Cùng ngày, vào lúc 9 giờ 10 phút, tại khu vực mốc Quốc giới 1305, thuộc xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh xảy ra vụ cháy rừng tạp, nguyên nhân do cháy rừng từ nước bạn lan sang. Ngay sau khi phát hiện đám cháy, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ninh đã khẩn trương điều động 20 cán bộ, chiến sĩ, phối hợp với nhân dân địa phương tổ chức dập tắt đám cháy lúc 10 giờ 45 phút cùng ngày. (Quân Đội Nhân Dân Online 1/11) Về đầu trang

 http://www.qdnd.vn/xa-hoi/tin-tuc/kip-thoi-dap-tat-hai-vu-chay-rung-553442

Đăk Pơ, Gia Lai: Diễn tập chữa cháy rừng

Huyện Đak Pơ vừa tổ chức diễn tập chữa cháy rừng tại khu vực rừng trồng của Trung đoàn 38 (Sư đoàn 2), giáp ranh với thị trấn Đak Pơ.

Tình huống giả định là 1 hộ sản xuất không may để lửa cháy lan ra bìa rừng. Khi nhận được tin báo, Ban Chỉ huy chữa cháy rừng thị trấn Đak Pơ đã huy động lực lượng tại chỗ chữa cháy rừng khẩn cấp. Để kịp thời ứng phó, xã đề nghị huyện hỗ trợ. Trên cơ sở đó, Ban Chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng huyện đã nhanh chóng điều động lực lượng gồm 100 người chia làm 3 mũi tiếp cận, khẩn trương khống chế, không cho đám cháy lây lan trên diện rộng, đảm bảo an toàn về người và tài nguyên rừng. Đợt diễn tập diễn ra theo đúng kế hoạch, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và tài sản. Các tình huống cháy rừng giả định trong diễn tập sát với thực tế của địa phương. (Gialai.gov.vn 1/11) Về đầu trang

http://www.gialai.gov.vn/tin-tuc/dak-po-dien-tap-chua-chay-rung.61364.aspx

 

Quảng Nam: HTX thành công từ trồng rừng gỗ lớn

Khai thác thế mạnh địa phương, HTX Nông nghiệp Hiệp Thuận (xã Hiệp Thuận, Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam) đã nắm bắt được những yêu cầu của thị trường gỗ trong nước và xuất khẩu, khi xây dựng mô hình lâm nghiệp bền vững.

HTX Hiệp Thuận có 15 thành viên, tổng diện tích rừng khoảng 200 ha, trong đó đã có hơn 100 ha được cấp chứng nhận FSC. Ngoài ra, HTX còn ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với 123 hộ dân ở trong và ngoài xã với tổng diện tích khoảng 750ha.

Áp dụng trồng rừng và bảo vệ rừng theo Chứng nhận tiêu chuẩn FSC của Hiệp hội Quản lý rừng quốc tế, HTX đã thay đổi từ cách đào hố, đặt cây, bón phân, bảo vệ, theo dõi, đo đếm quá trình phát triển của cây cho đến ngày khai thác, vận chuyển gỗ…

Trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC, thành viên không chỉ thấy được lợi ích to lớn về hiệu quả kinh tế mà còn có lợi ích về xã hội và môi trường. Vì vậy, diện tích rừng đạt chuẩn đã đạt một nửa trong tổng số 200 ha rừng do HTX quản lý.

Nhờ có Chứng chỉ rừng FSC, hiệu quả kinh doanh và thu nhập của thành viên HTX đã tăng lên. Giá bán gỗ xẻ có chứng chỉ cao hơn giá thị trường 15 - 20%.

Hàng năm, HTX khai thác khoảng 20 - 30 ha rừng, trữ lượng gỗ trung bình đạt 150 tấn/ha, thậm chí 250 tấn/ha, bán với giá gần 1,5 triệu đồng/tấn, cao hơn rừng bình thường rất nhiều.

Diện tích rừng vừa khai thác lập tức được các thành viên trồng lại rừng mới, nên diện tích rừng FSC của HTX bảo đảm phát triển bền vững liên tục...

Với doanh thu được bảo đảm từ rừng, nguồn vốn tự có của HTX cũng lớn dần lên. HTX đã có nguồn tiền mặt cung ứng kịp thời cho các thành viên vay để giải quyết các nhu cầu thiết yếu trong đời sống, cũng như đầu tư sản xuất.

Quá trình chăm sóc rừng, các thành viên đều được HTX chia lãi theo mức đóng góp và trả công chăm sóc, bảo vệ rừng hàng năm đầy đủ nên mọi người yên tâm sản xuất, không còn lo lắng về khoản tài chính do thời gian cho một chu trình khai thác gỗ kéo dài làm tăng chi phí đầu tư.

Với lợi ích không nhỏ từ trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC, HTX có kế hoạch đến năm 2020 sẽ hoàn thành chứng chỉ FSC cho thêm ít nhất 50 ha rừng để không ngừng tăng thu nhập cho thành viên.

Điều đặc biệt là chuyển đổi sang mô hình HTX kiểu mới đã giúp HTX phát huy được vai trò tự chủ trong quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh và dịch vụ, tạo nên những chuyển biến tích cực.

Hiện, HTX đã liên kết tốt với các doanh nghiệp tham gia vào các chương trình trồng rừng FSC sản xuất theo phương thức hiện đại, tạo ra các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng tốt, được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận. Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho thành viên và cũng tăng tích lũy cho HTX.

Đặc biệt, trồng rừng gỗ lớn theo tiêu chuẩn FSC không chỉ hiệu quả kinh tế cao mà còn mang lại những lợi ích về môi trường. Do rừng trồng theo tiêu chuẩn FSC, người dân và các thành viên phải ký cam kết không được phá rừng, không đốt rừng khi trồng mới… nên diện tích rừng không những không bị thu hẹp mà ngày càng mở rộng.

Diện tích rừng được bảo vệ và phát triển là điều kiện thuận lợi để giảm xói mòn, chống sạt lở, rửa trôi đất, góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái và chống biến đổi khí hậu.

Để nhân rộng mô hình trồng rừng gỗ lớn, công tác tuyên truyền về hiệu quả kinh tế trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng trồng được HTX tăng cường.

Bên cạnh đó, HTX kết hợp thực hiện tốt các chủ trương xã hội hóa các nguồn lực và sự hỗ trợ của Nhà nước cùng các chính sách hỗ trợ đi kèm như bảo hiểm rừng trồng, hỗ trợ tín dụng để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên và người dân tham gia phát triển rừng gỗ lớn, góp phần gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái. (Thoibaokinhdoanh.vn 1/11) Về đầu trang

https://thoibaokinhdoanh.vn/kinh-doanh-xanh/htx-thanh-cong-tu-trong-rung-go-lon-1052097.html

Chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Đăk Nông: Nguồn lực để bảo vệ, phát triển rừng bền vững

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã và đang khẳng định hiệu quả, tạo lập cơ sở kinh tế bền vững cho các chủ rừng yên tâm bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Nam Nung có hơn 21.865 ha đất lâm nghiệp trải dài trên địa bàn các xã: Nâm N’Jang (Đắk Song), Quảng Sơn (Đắk Glong), Đức Xuyên, Nâm Nung (Krông Nô), trong đó có 21.181 ha đất có rừng, 684 ha không có rừng. Với đặc thù diện tích đất lâm nghiệp trải dài trên 140 km, giáp ranh với nhiều công ty lâm nghiệp, đất canh tác của người dân, khu dân cư, thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn được Khu BTTN Nam Nung đặc biệt quan tâm. Ngoài cán bộ, nhân viên của Khu bảo tồn, đơn vị đã giao khoán cho gần 300 hộ gia đình tại bon Choih (xã Đức Xuyên), bon Păk P’rí (xã Nâm N’Đir), bon Rung (xã Nâm Nung) tham gia quản lý, bảo vệ rừng với diện tích 5.965 ha.

Qua thời gian triển khai cho thấy, chính sách chi trả DVMTR đã tác động tích cực đến ý thức, vai trò, trách nhiệm của chủ rừng và người dân trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Hiệu quả bảo vệ rừng được nâng lên và đời sống của người làm nghề rừng được cải thiện qua từng năm.

Đơn cử, bon Choih (xã Đức Xuyên) nhận giao khoán bảo vệ hơn 2.480 ha diện tích rừng thuộc Khu BTTN Nam Nung, với 6 tổ, 91 hộ gia đình tham gia giữ rừng từ nhiều năm nay. Trong đó, có 37 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, nhận giao khoán bảo vệ diện tích khoảng 975 ha. Trên diện tích đã nhận khoán, các tổ thay phiên nhau tổ chức tuần tra, bảo vệ định kỳ và phối hợp với các đơn vị chức năng tham gia các hoạt động liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng. Từ đầu năm 2018 đến nay, qua 2 đợt chi trả, người dân nhận khoán, bảo vệ rừng tại bon Choih nhận được tổng cộng hơn 400 triệu đồng tiền DVMTR.

Ông Y Thiên, tổ trưởng tổ bảo vệ rừng số 2, trú tại bon Choih, người tham gia quản lý, bảo vệ rừng từ năm 2013 cho biết, từ nguồn tiền chi trả DVMTR đã hỗ trợ gia đình rất nhiều trong việc trang trải cuộc sống và có thêm kinh phí đầu tư chăm sóc cho hơn 1.000 cây cà phê của gia đình. Ngoài việc bảo vệ rừng, các thành viên trong tổ còn là những tình nguyện viên đi tuyên truyền, vận động người dân thay đổi tập quán canh tác không phá rừng, lấn chiếm đất rừng để sản xuất; từng bước nâng cao nhận thức cho bà con trong việc bảo vệ rừng nơi mình sinh sống.

Tương tự, bon Rung (xã Nâm Nung) nhận giao khoán rừng với diện tích 1.382 ha với 48 hộ nhận tham gia. Trong đó, có 35 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nhận giao khoán hơn 1.000 ha rừng. Năm 2018, qua 2 đợt chi trả DVMTR, người dân trong bon Rung đã nhận được 223 triệu đồng.

Ông Y Toán tham gia giữ rừng từ năm 2009, hiện nay ông là trưởng nhóm bảo vệ rừng của bon tâm sự: Được hưởng chính sách chi trả DVMTR và được chi trả nhiều đợt trong năm đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân giữ rừng có nguồn thu nhập, góp phần cải thiện đời sống và tạo động lực cho các hộ nhận khoán tích cực tham gia quản lý, bảo vệ rừng. "Cứ 3 đến 5 ngày, chúng tôi thay phiên nhau đi kiểm tra khu vực rừng nhận khoán, kịp thời phát hiện những đối tượng vi phạm để báo ngay cho chủ rừng"-ông Y Toán cho biết.

Từ đầu năm 2018 đến nay, Khu BTTN Nam Nung đã tiến hành chi 2 đợt tiền DVMTR cho 3 bon nhận khoán bảo vệ rừng với tổng số tiền gần 1 tỷ đồng. Ông Nguyễn Văn Mạnh, Giám đốc Khu BTTN Nam Nung kiêm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Nam Nung đánh giá: Từ khi chính sách chi trả DVMTR được triển khai thực hiện, diện tích rừng giao khoán được bảo vệ hiệu quả, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phát rừng làm rẫy và các hành vi vi phạm lâm luật đã giảm rõ rệt so với những năm chưa triển khai chính sách này. Công tác phối hợp giữa cán bộ Khu bảo tồn và các tổ giao khoán được thực hiện thường xuyên giúp cho việc quản lý, bảo vệ rừng ngày một tốt hơn.

Qua thời gian chi trả DVMTR, không riêng Khu BTTN Nam Nung mà nhiều địa bàn có rừng nằm trong lưu vực hưởng lợi từ dịch vụ chi trả cũng có thêm nguồn lực để bảo vệ, phát triển rừng. Chính sách chi trả DVMTR không chỉ làm thay đổi nhận thức của người dân về công tác bảo vệ rừng, mà còn làm tăng khả năng phòng hộ, giảm thiểu tình trạng mất rừng, suy thoái rừng và nâng cao chất lượng rừng, chống biến đổi khí hậu… góp phần đáng kể vào việc làm tăng độ che phủ của rừng. Chính sách chi trả DVMTR từng bước nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp, tạo động lực vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Chính sách chi trả DVMTR giúp đầu tư phục hồi và duy trì các giá trị của hệ sinh thái rừng để cung cấp cho bên sử dụng. Đây là cơ chế để kết nối và bảo đảm sự công bằng giữa bên được hưởng lợi từ rừng và bên duy trì lợi ích đó. Cơ chế chi trả dịch vụ giữa những người sử dụng lợi ích của việc bảo vệ rừng với những người trực tiếp bảo vệ rừng đã được thiết lập, vận hành và phát huy hiệu quả về môi trường, xã hội và kinh tế, góp phần cụ thể hóa chủ trương xã hội hóa nghề rừng của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn nạn suy thoái về chất lượng rừng tự nhiên còn lại, ứng phó với những biến đổi khí hậu. (baodaknong.org.vn 1/11) Về đầu trang

http://baodaknong.org.vn/quan-ly-bao-ve-rung/chi-tra-dich-vu-moi-truong-rung-nguon-luc-de-bao-ve-phat-trien-rung-ben-vung-69467.html

Thanh Hóa: Phê duyệt dự án trồng, phục hồi rừng ven biển huyện Hậu Lộc, Quảng Xương

UBND tỉnh vừa có quyết định về việc phê duyệt dự án trồng, phục hồi rừng ven biển huyện Hậu Lộc, Quảng Xương. Dự án do ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Hóa làm chủ đầu tư, với giá trị dự toán phê duyệt là 93 tỷ đồng. 

Trong đó, nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu chường trình ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 – 2020 là hơn 84,5 tỷ đồng. Còn lại là nguồn ngân sách tỉnh và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác. Dự án sẽ thực hiện trồng rừng ngập mặt giảm sóng, ổn định bãi, bảo vệ tuyến đê biển, đê cửa sông với tổng diện tích 228ha; xây dựng công trình hạ tầng lâm sinh bảo vệ rừng ven biển, kè chống xâm thực ổn định bờ biển; xây dựng các chòi canh, nhà tránh trú bão cộng đồng…

Mục tiêu nhằm trồng rừng bảo vệ rừng ngập mặn gắn với bảo vệ, khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản, cải thiện sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven biển; giảm phát thải khí nhà kính, giảm nguy cơ sạt lở và xâm nhập mặn, đáp ứng yêu cầu phòng chống lụt bão, bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản nhân dân. (Truyenhinhthanhhoa.vn 1/11) Về đầu trang

https://truyenhinhthanhhoa.vn/tin-tuc/xa-hoi/201811/phe-duyet-du-an-trong-phuc-hoi-rung-ven-bien-huyen-hau-loc-quang-xuong-8157167/