Tìm kiếm bài viết

Tài nguyên rừng và nguyên nhân suy thoái rừng trên thế giới

Rừng là yếu tố quan trọng nhất của sinh quyển và có ý nghĩa lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội, sinh thái và môi trường. Trên thực tế rừng đã có lịch sử phát triển lâu dài nhưng những hiểu biết về rừng chỉ mới thực sự có được từ thế kỷ thứ XIX. Theo quan điểm học thuyết sinh thái  học,  rừng  được  xem  là  hệ  sinh  thái  điển  hình  trong  sinh  quyển (Tansley, 1935; Vili, 1957; Odum, 1966). Rừng là sự thống nhất trong mối quan hệ biện chứng giữa sinh vật – trong đó thực vật với các loài cây gỗ giữ  vai  trò  chủ  đạo,  đất  và  môi  trường.  Rừng  là  dạng  đặc  trưng  và  tiêu biểu nhất của tất cả các hệ sinh thái trên cạn, đồng thời cũng là đối tượng tác động sớm nhất và mạnh nhất của con người.

Việc hình thành các kiểu rừng có liên quan chặt chẽ giữa sự hình thành  các  thảm  thực  vật  tự  nhiên  với  vùng  địa  lý  và  điều  kiện  khí  hậu. Trong mỗi kiểu rừng được hình thành thì khí hậu, đất đai và độ ẩm sẽ xác định thành phần cấu trúc và tiềm năng phát triển của thảm thực vật rừng.. Các kiểu thảm thực vật rừng quan trọng trên thế giới là:

Rừng  lá  kim  (rừng  Taiga)  vùng  ôn  đới  có  thành  phần  khá  đồng nhất, phân bố chủ yếu ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Bắc Trung Quốc và một số vùng núi cao nhiệt đới. Kiểu rừng này có năng suất thấp hơn vùng nhiệt đới.

Rừng rụng lá ôn đới phân bố ở vùng thấp hơn và gần vùng nhiệt đới hơn, chủ yếu ở Đông Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Âu, một phần Trung Quốc, Nhật Bản, Australia.

Rừng mưa nhiệt đới có độ Đa dạng sinh học cao nhất. Phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo thuộc lưu vực sông Amazone (Nam Mỹ), sông Congo (Châu Phi), Ấn Độ, Malaysia. Trong đó dãi rừng Ấn Độ - Malaysia có sự đa  dạng  sinh  học  trên  một  đơn  vị  diện  tích  là  cao  nhất,  có  tới  2.500  – 10.000 loài thực vật trong một khu vực hẹp và có tới 7 tầng cây với các loài cây quý như lim (Erythrophleum sp), gụ (Sindora sp), chò chỉ (Shorea chinensis), lát (Chukrasia sp). Do có sự biến đổi phức tạp về chế độ mưa, gió mùa và nhiệt độ, rừng nhiệt đới thường rất phức tạp cả về thành phần loài và cấu trúc của rừng.

Dựa vào chức năng cơ bản mà thực chất là dựa vào tính chất và mục đích sử dụng, rừng được chia thành 3 loại chính như sau:

+ Rừng phòng hộ được sử dụng cho mục đích bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường. Rừng phòng hộ lại được chia thành 3 loại là rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chống cát bay, rừng phòng hộ chắn sóng ven biển.

+ Rừng đặc dụng được sử dụng cho các mục đích đặc biệt như bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái, bảo tồn nguồn gen động thực vật rừng, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh cho nghỉ ngơi du lịch. Rừng đặc dụng bao gồm các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu văn hóa - lịch sử và môi trường.

+ Rừng sản xuất bao gồm các loại rừng sử dụng để sản xuất  kinh doanh gỗ, lâm đặc sản rừng, động vật rừng và kết hợp bảo vệ môi trường. 

Sự suy giảm diện tích rừng và suy thoái rừng. Theo tài liệu mới công bố của Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF, 1998), trong thời gian 30 năm (1960 – 1990) độ che phủ rừng trên toàn thế giới đã giảm đi gần 13%, tức diện tích rừng đã giảm đi từ 37 triệu km2  xuống 32 triệu km2, với tốc độ giảm trung bình 160.000km2/năm. Sự mất rừng lớn nhất xãy ra ở các vùng nhiệt đới, ở Amazone (Braxin) trung bình mỗi năm rừng bị thu hẹp 19.000km2  trong suốt hơn 20 năm qua. Bốn loại rừng bị hủy diệt khá lớn là rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rộng 60%, rừng lá kim khoảng 30%, rừng ẩm nhiệt đới khoảng 45% và rừng khô nhiệt đới lên đến khoảng 70%. Châu  Á  là  nơi  mất  rừng  nguyên  sinh  lớn  nhất,  khoảng  70%.  Có  nhiều nguyên nhân dẫn đến làm mất rừng trên thế giới, tập trung chủ yếu vào các nhóm nguyên nhân sau đây:

- Mở rộng diện tích đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu sản xuất lương thực,  trong  đó  những  người  sản  xuất  nhỏ  du  canh  là  nguyên  nhân  quan trọng nhất. Rowe (1992) cho rằng, có đến 60% rừng nhiệt đới bị chặt phá hàng năm là do nguyên nhân này. Hiện nay mở rộng diện tích nông nghiệp ở Châu Á và Châu Phi đang xãy ra với tốc độ mạnh hơn so với Châu Mỹ La Tinh.

- Nhu cầu lấy củi: Chặt phá rừng cho nhu cầu lấy củi đốt cũng là nguyên nhân quan trọng làm cạn kiệt tài nguyên rừng ở nhiều vùng. Lượng gỗ sử dụng làm chất đốt trên thế giới đã tăng từ 600 triệu m3  vào năm 1963 lên 1.300 triệu m3  vào năm 1983. Hiện nay vẫn còn khoảng 1,5 tỷ người chủ yếu dựa vào nguồn gỗ củi cho nấu ăn. Riêng ở Châu Phi đã có 180 triệu người thiếu củi đun.

- Chăn thả gia súc: Sự chăn thả trâu bò và các gia súc khác đòi hỏi phải mở  rộng  các  đồng  cỏ  cũng  là  nguyên  nhân  làm  giảm  diện  tích  rừng.  Ở Châu Mỹ La Tinh, có khoảng 35% rừng bị chặt phá do những người sản xuất nông nghiệp nhỏ. Phần còn lại do chăn thả súc vật. Riêng ở Nam Mỹ việc mở rộng diện tích đồng cỏ với tốc độ 20 nghìn km2/năm trong giai đoạn 1950 – 1980. Còn ở Braxin, khoảng 3/4 diện tích rừng bị phá hủy ở vùng Amazone đến 1980 có liên quan trực tiếp đến việc nuôi bò.

- Khai thác gỗ và các sản phẩm rừng: Việc đẩy mạnh khai thác gỗ cũng như các tài nguyên rừng khác cho phát triển kinh tế và xuất khẩu cũng là nguyên nhân dẫn đến làm tăng tốc độ phá rừng ở nhiều nước. Hiện nay việc buôn bán gỗ xãy ra mạnh mẽ ở vùng Đông Nam Á, chiếm đến gần 50% lượng gỗ buôn bán trên thế giới. Ví dụ, ở Malaisia rừng nguyên sinh che phủ gần như toàn bộ đất nước vào năm 1990, đến năm 1960 đã có trên 1/2 diện tích rừng bị khai thác gỗ cho xuất khẩu. Còn ở Philippine, đến năm 1980 rừng đã bị phá hủy khoảng 2/3 diện tích, trong đó khai thác gỗ cho xuất khẩu chiếm một phần lớn.

- Phá rừng để trồng cây công nghiệp và cây đặc sản; nhiều diện tích rừng trên thế giới đã bị chặt phá lấy đất trồng cây công nghiệp và các cây đặc sản phục vụ cho kinh doanh. Mục đích là để thu được lợi nhuận cao mà không quan tâm đến lĩnh vực môi trường. Ở Thái Lan, một diện tích lớn rừng đã bị chặt phá để trồng sắn xuất khẩu, hoặc trồng côca để sản xuất sôcôla. Ở Pêru, nhân dân phá rừng để trồng côca; diện tích trồng côca ước tính chiếm 1/10 diện tích rừng của Pêru. Các cây công nghiệp như cao su, cọ dầu cũng đã thay thế nhiều vùng rừng nguyên sinh ở các vùng đồi thấp của Malaisia và nhiều nước khác.

- Cháy rừng: Cháy rừng là nguyên nhân khá phổ biến ở các nước trên thế giớI  và  có  khả  năng  làm  mất  rừng  một  cách  nhanh  chóng.  Ví  dụ,  năm 1977 đã xảy ra cháy rừng ở nhiều nước thuộc Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ. Chỉ tính riêng ở Indonesia trong một đợt cháy rừng (năm 1977) đã thiêu hủy gần 1 triệu ha rừng. Còn ở Mỹ, trong năm 2000 đã có 2,16 triệu ha rừng bị cháy.

Ngoài ra còn có nhiều nguyên nhân khác cũng trực tiếp hoặc gián tiếplàm tăng quá trình phá rừng trên thế giới. Đó là các chính sách quản lý rừng,  chính  sáh  đất  đai, chính  sách về  di  cư,  định  cư và  các  chính  sách kinh  tế  xã  hội  khác.  Các  dự  án  phát  triển  kinh  tế  xã  hội  như  xây  dựng đường giao thông, các công trình thủy điện, các khu dân cư hoặc khu công nghiệp cũng làm gia tăng đáng kể tốc độ  mất rừng ở nhiều nơi trên thế giới.

Hương Thảo

Đọc tiếp...

Các biện pháp bảo vệ rừng

Không chỉ riêng ở Việt Nam mà năm châu bốn bể, quốc gia nào cũng có chương trình "Gia tăng, bảo vệ và duy trì rừng" hay "Chương trình lá phổi xanh", nhất là khi tàn phá rừng bừa bãi đang diễn ra khắp nơi và trở thành vấn nạn. Để ngăn chặn điều này, tôi xin đưa ra một số giải pháp sau:

Về mặt pháp lý:

Tăng cường nhân lực, phương tiện, để phát hiện, ngăn chặn kịp thời và chống trả đích đáng trước mọi hành vi côn đồ, phản kháng của bọn lâm tặc, đầu nậu gỗ lậu. Ngay cả khi bọn chúng dùng súng, lựu đạn thì chúng ta cũng tự tin giành thế chủ động để trấn áp, chiến thắng.

- Xây dựng khung pháp lý bắt giam, khởi tố và truy tố với những ai dám phá hoại, đốt phá rừng bừa bãi vì tư lợi trước mắt. Mức giam có thể từ 5 năm đến chung thân tùy theo vị trí, cấp bậc trong xã hội, hoàn cảnh sống, tùy theo rừng bảo tồn quốc gia hay rừng tái sinh.

- Xây dựng khung pháp lý nghiêm cấm các nhân viên kiểm lâm nhận hối lộ của bọn đầu nậu gỗ để được khai thác rừng tự do bừa bãi.

- Trang bị cho các nhân viên kiểm lâm các thiết bị hiện đại để ngăn chặn kịp thời các vụ cháy rừng do thiên nhiên (hạn hán, sấm sét), con người gây ra...

- Tạm thời đưa những cánh rừng tái sinh vào danh sách bảo tồn rừng quốc gia trong một thời gian dài để có đủ thời gian phát triển đầy đủ, đa dạng các thảm thực vật, loài động vật.

Về mặt cộng đồng:

- Giáo dục cho cộng đồng địa phương.

- Dựa vào chương trình sư phạm từ cấp trung học trở lên cho đến hết bậc ĐH. Có thể gia tăng số tiết học đối với những nơi có đồng bào dân tộc ít người.

- Chấm dứt tình trạng tự do di cư - di canh bừa bãi đã tồn tại mấy chục năm nay bằng cách quản lý chặt chẽ các đồng bào dân tộc chuyên sống du canh du mục từ trước đến nay tại các địa phương.

- Phải cương quyết đưa trở về nguyên quán tất cả những người tự do di canh với kinh phí lấy từ ngân sách nhà nước.

- Tuyên dương (bằng khen, tiền thưởng...), phục hồi công việc và chức vụ với những ai đã can đảm đứng ra tố cáo những kẻ chặt phá rừng bừa bãi.

- Đối với những người du mục, du canh bị trả về chỗ cũ thì hỗ trợ một khoản tiền sinh sống qua ngày, tạo công ăn việc làm, cung cấp một mảnh đất canh tác theo quy hoạch của nhà nước, của địa phương.

Về mặt vi mô và vĩ mô:


- Có những chính sách ưu tiên cho những khu vực khó khăn về kinh tế, giáo dục, y tế...

- Rút ngắn khoảng cách giàu nghèo; thành thị và nông thôn; đồng bằng và miền núi...

- Thường xuyên phát động chương trình trồng cây gây rừng vào các dịp lễ hội quốc gia: 30/4, 2/9, 19/5...

Việt Báo (Theo_VnExpress.net)

Đọc tiếp...

Vì sao phải trồng cây gây rừng? Phải bảo vệ rừng?

Rừng có tác dụng làm trong sạch không khí. Tán lá cản và giữ bụi. Lá cây tiết ra nhiều loại chất kháng khuẩn có tác dụng tiêu diệt vi trùng gây bệnh trong không khí.

Rừng là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài quý hiếm. Trong rừng có nhiều loại cây khác nhau. Đây là nguồn thực phẩm, nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp và dược phẩm, là nguồn gen hoang dại có giá trị trong lai tạo giống mới cho nông nghiệp và chăn nuôi.

Rừng bảo vệ và cải tạo đất. Nhờ có tán lá xoè rộng như chiếc ô, nước mưa không xối thẳng xuống mặt đất, nắng không đốt cháy mặt đất, nên lớp đất trên mặt khó bị rửa trôi theo nước mưa. Rừng nuôi đất, bồi bổ cho đất.

Đất rừng hầu như tự bón phân, vì cành lá rơi rụng từ cây sẽ bị phân huỷ, tạo thành các chất dinh dưỡng, làm tăng độ màu mỡ của đất. Đất phì nhiêu, tơi xốp sẽ thấm tốt, giữ nước tốt và hạn chế xói mòn. Vùng bãi triều ven biển có các rừng sú, vẹt, đước, vừa chắn sóng, vừa giữ phù sa, làm cho bờ biển không những không bị xói, mà còn được bồi đắp và tiến ra phía trước.

Rừng có tác dụng điều hoà dòng chảy trong sông ngòi và dưới đất. Nước mưa rơi xuống vùng có rừng bị giữ lại nhiều hơn trong tán cây và trong đất, do đó lượng dòng chảy do mưa trong mùa lũ giảm đi. Rừng cản không cho dòng chảy mặt chảy quá nhanh, làm cho lũ xuất hiện chậm hơn, giảm mức độ đột ngột và ác liệt của từng trận lũ. Nước thấm xuống đất rừng vừa là nguồn dự trữ nuôi cây và các sinh vật sống trong đất, vừa chảy rất chậm về nuôi các sông trong thời gian không mưa. Do đó những vùng có nhiều rừng che phủ sẽ giảm bớt được thiên tai hạn hán và lũ lụt. Rừng càng nằm gần đầu nguồn sông, tác dụng điều hoà dòng chảy càng lớn hơn.

Rừng có giá trị lớn về du lịch. Vì rừng có nhiều phong cảnh đẹp, với nhiều loại động thực vật hoang dã, lôi cuốn sự ham hiểu biết, trí tò mò của mọi người. Khí hậu trong rừng mát mẻ, điều hoà, không khí sạch sẽ còn có tác dụng chữa bệnh rất tốt.

Nói tóm lại, rừng có giá trị nhiều mặt cho con người. Vì các nhu cầu ngày càng tăng của mình, con người không thể không khai thác rừng. Tuy nhiên, nếu biết khai thác một cách hợp lý và có kế hoạch trồng rừng thích hợp, chúng ta sẽ vẫn vừa thoả mãn được các nhu cầu của mình, vừa không làm tổn hại đến rừng.

Đọc tiếp...

Trồng cây, gây rừng vì sự phát triển bền vững

Nhiều diện tích rừng trồng đã khép tán, một số diện tích rừng đã được trồng nâng cấp, cải tạo (bước 2). ở nhiều vùng quê, phong trào trồng cây phân tán, trồng cây ăn quả, cải tạo vườn tạp hay trồng tre chắn sóng cũng phát triển mạnh. Do đó, cảnh quan môi trường không những được cải thiện rõ rệt mà nhiều lợi ích kinh tế đem lại từ việc trồng cây, gây rừng còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. 100% các thôn, xã có rừng trên địa bàn đã xây dựng được quy ước bảo vệ, có nhân viên chuyên trách bảo vệ cơ sở và đã thành lập được ban chỉ huy, đội xung kích phòng cháy chữa cháy rừng của thôn, làng đi vào hoạt động. Sau 9 năm (1997-2005), toàn tỉnh đã trồng rừng 886,24 ha, trong đó trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc 418,0 ha, trồng rừng văn hoá 276,9 ha, trồng  bổ sung 190,5 ha. Hoạt động khuyến lâm được đẩy mạnh với nhiều mô hình trồng rừng tập trung, trồng cây phân tán hiệu quả và cải tạo được gần 40% diện tích vườn tạp mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các địa phương trong tỉnh đẩy mạnh phong trào trồng cây nhân dân được gần 10 triệu cây lấy gỗ và cây ăn quả. Nhất là “Tết trồng cây” đã trở thành hoạt động thường niên, nền nếp và mang nhiều ý nghĩa sâu sắc cứ mỗi dịp Tết đến, xuân về...
 
Kết quả trồng cây, trồng rừng đã làm chuyển biến nhận thức tư tưởng và khuyến khích, động viên mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phong trào trồng và bảo vệ rừng. Tuy nhiên do điều kiện đất đồi núi bị thoái hoá nghèo kiệt nghiêm trọng, một phần không nhỏ diện tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh được chuyển đổi sang sử dụng cho mục đích khác, đáp ứng yêu cầu của tiến trình CNH, đô thị hoá, trong khi vốn đầu tư hỗ trợ của Nhà nước còn hạn hẹp so với yêu cầu xây dựng rừng văn hoá cảnh quan... nên phong trào trồng cây, gây rừng còn có hạn chế nhất định.
 
Thực tế trên đòi hỏi tỉnh phải bảo toàn và quản lý, sử dụng hiệu quả diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện có, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phong trào trồng cây, gây rừng, tạo cảnh quan môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Muốn vậy, các cấp, ngành cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chính sách, pháp luật về lâm nghiệp, trọng tâm là Luật bảo vệ và phát triển rừng, nhằm nâng cao nhận thức cho mọi người về vai trò, tác dụng của rừng, cây xanh đối với môi trường và đời sống kinh tế -xã hội. Từ đó, tạo sự đồng thuận của các cấp, các ngành, nâng cao tinh thần trách nhiệm, phối hợp đồng bộ triển khai thực hiện tốt công tác lâm nghiệp của tỉnh. Tỉnh cần sớm hoàn thành việc giao, khoán đất lâm nghiệp và diện tích rừng để chủ quản lý, bảo vệ và sử dụng ổn định lâu dài, đúng mục đích, có hiệu quả. Đồng thời kiểm tra, đánh giá kết quả trồng rừng bước 2 để có những điều chỉnh, bổ sung cần thiết, hợp lý hơn, cũng như tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật những trường hợp khai thác đất đồi núi và những hoạt động xâm hại đến rừng và đất lâm nghiệp. Các địa phương trong tỉnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào trồng cây, bảo đảm diện tích và số lượng cây phân tán theo kế hoạch trồng hàng năm, chú trọng cải tạo vườn tạp theo hướng sản xuất hàng hoá, đưa nhiều giống cây có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao vào trồng nhằm vừa tạo cảnh quan, bảo vệ môi trường, vừa đem lại nguồn lợi cho người dân...
 
Một mùa xuân mới đã về, thực hiện lời dậy của Bác Hồ, các cấp, các ngành cần chuẩn bị đầy đủ điều kiện để phát động toàn dân hưởng ứng tích cực Tết trồng cây đạt kết quả cao, tạo tiền đề thúc đẩy phong trào trồng cây, gây rừng năm 2007 và những năm tiếp theo, góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh trong CNH, HĐH.

BBN

Đọc tiếp...

Các mô hình trồng rừng kinh tế trong Tổng công ty lâm nghiệp Việt Nam

Hiện nay Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam  đang áp dụng ba mô hình trồng rừng chủ yếu:

- Mô hình quốc doanh: chủ đầu tư tự tổ chức trồng rừng.

- Mô hình hộ dân:
chủ đầu tư hợp đồng với các hộ dân có đất để trồng rừng.

- Mô hình hợp tác với các lâm trường
: chủ đầu tư hợp đồng với các tổ chức thuộc tỉnh (Bên B) để trồng rừng.

Qua thực tế, rừng trồng của Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam theo các mô hình nêu trên đã được khai thác, thu hồi vốn và bước đầu các mô hình được đánh giá kết quả như sau:

1. Mô hình quốc doanh:

Quỹ đất do các chủ dự án trực tiếp quản lý đã có quyết định giao quyền sử dụng đất. Các chủ dự án trực tiếp trồng và quản lý đến khi thu hồi sản phẩm, hoặc chủ dự án khoán cho các hộ dân, đến cuối chu kỳ các hộ sẽ trả vốn vay bằng sản phẩm thông qua hợp đồng kinh tế. Mô hình này được tổ chức ở: Công ty LNN Đông Bắc, Công ty MDF Gia Lai, Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ, Công ty Ván dăm Thái Nguyên.

Thuận lợi:


- Chủ đầu tư hoàn toàn chủ động trong sản xuất kinh doanh.

- Tổ chức thi công thuận lợi; chất lượng thi công, chất lượng rừng về cơ bản là khá hơn các mô hình khác.

- Chủ đầu tư được hưởng toàn bộ lợi nhuận hoặc phải hoàn toàn chịu trách nhiệm từ kết quả kinh doanh.

- Đánh giá chung mô hình này có hiệu quả cao nhất nếu chủ đầu tư làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và thu hồi vốn.

Khó khăn:


- Những nơi rừng gần dân, rừng phân tán rất khó bảo vệ, tình trạng chặt phá rừng, lấn chiếm đất dễ xảy ra.

- Chỉ áp dụng đối với phần đất thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp, không áp dụng được đối với diện tích đất đã giao khoán cho các hộ gia đình nên đơn vị trồng rừng không thể mở rộng được quy mô sản xuất nếu chỉ áp dụng mô hình này.

- Tinh thần trách nhiệm của các cấp đối với rừng rất kém, rừng bị mất, bị cháy, không quy kết trách nhiệm và đền bù cho ai được vì không thực hiện theo hợp đồng khoán mà theo hình thức giao kế hoạch cấp trên cấp dưới.

2. Mô hình hộ dân
:

Quỹ đất thuộc quyền quản lý của các hộ dân được cấp quyền sử dụng, ở mô hình này chủ dự án cho hộ dân vay vốn để trồng rừng và trả nợ bằng sản phẩm cuối chu kỳ thông qua hợp đồng kinh tế. Mô hình này áp dụng chủ yếu tại Công ty Lâm nghiệp Hoà Bình, Công ty Ván dăm Thái Nguyên, Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ và Công ty Lâm nghiệp Hà Tĩnh.

+ Có thể cho dân vay toàn bộ vốn theo dự toán ban đầu

+ Có thể chỉ cho ứng vốn bằng giống và dịch vụ hướng dẫn kỹ thuật.

Thuận lợi:


- Khai thác được quỹ đất đã giao khoán cho các hộ gia đình để trồng rừng, huy động được ngày công lao động giảm được vốn đầu tư ban đầu. Chủ đầu tư không có đất và chỉ có một phần vốn cũng có thể áp dụng được mô hình này.

- Quy mô trồng rừng có thể được mở rộng, không bị giới hạn về quỹ đất.

- Vì là rừng do các hộ gia đình trực tiếp quản lý nên Công tác bảo vệ khi rừng chưa đến tuổi khai thác rất tốt, không có tình trạng hộ gia đình này sang chặt phá rừng của hộ gia đình khác. Nếu có xảy ra mất rừng thì người nhận khoán phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước bên giao khoán theo quy định của pháp luật.

Khó khăn:

- Việc triển khai thực hiện phụ thuộc nhiều vào các hộ gia đình. Công tác chỉ đạo kỹ thuật gặp nhiều khó khăn; chất lượng thi công, chất lượng rừng về cơ bản là thấp hơn mô hình khác.

- Khi rừng đến tuổi khai thác thì công tác bảo vệ và thu hồi vốn gặp khó khăn bởi nhiều hộ tự khai thác bán cho tư thương, chốn tránh trách nhiệm trả nợ cho doanh nghiệp.

- Việc thu hồi vốn sau khai thác chỉ thực hiện được với các hộ trồng rừng có lãi, những hộ trồng rừng bị lỗ thì chỉ thu hồi được một phần.

- Đối với trồng rừng theo mô hình quốc doanh thì lô rừng có lãi nhiều có thể bù đắp cho lô rừng bị lỗ còn đối với trồng rừng theo mô hình hộ dân, lô rừng có lãi nhiều thì hộ dân được hưởng toàn bộ (sau khi đã nộp đủ sản phẩm), lô rừng bị lỗ thì doanh nghiệp lại phải gánh chịu vì không thu hồi được vốn đầu tư theo đúng thời hạn nêu trong hợp đồng trong khi doanh nghiệp vẫn phải trả vốn vay cho Nhà nước đúng kỳ hạn.

3. Mô hình hợp tác với các lâm trường:

Quỹ đất của các lâm trường địa phương quản lý, chủ dự án ký hợp đồng hợp tác trồng rừng cả chu kỳ, các lâm trường địa phương vay vốn thông qua chủ dự án theo hợp đồng kinh tế 2 bên đã ký kết. Mô hình này hiện nay đang áp dụng chủ yếu tại Công ty MDF Gia Lai, Công ty Lâm nghiệp Hà Tĩnh.

Thuận lợi:


- Khai thác được quỹ đất của các tổ chức và hộ gia đình thông qua hợp đồng trồng rừng với các đơn vị lâm nghiệp trực thuộc địa phương.

- Huy động được bộ máy quản lý của Bên B để tổ chức, quản lý trồng rừng.

- Nếu có xảy ra mất rừng thì bên nhận khoán phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước bên giao khoán theo quy định của pháp luật.

Khó khăn:

- Nếu như Bên B lại hợp đồng với các hộ gia đình để trồng rừng thì sẽ gặp phải những khó khăn như mô hình trồng rừng hộ dân.

- Nếu Bên B trồng rừng có lãi thì việc hoàn trả vốn cho chủ đầu tư đúng kỳ hạn, trường hợp Bên B trồng rừng bị lỗ thì chủ đầu tư lại phải thu hồi từ lợi nhuận của rừng trồng các năm sau hoặc thu hồi vào chu kỳ sau.

- Kết quả trồng rừng phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, tinh thần trách nhiệm và bộ máy quản lý của Bên B. Ví dụ tại Lâm trường Sông Đà - tỉnh Hoà Bình, do công tác quản lý của Lâm trường không tốt, thiếu tinh thần trách nhiệm nên đã không thu hồi được vốn từ các hộ dân, kết quả số vốn thu hồi được chỉ đạt dưới 10% so với số vốn đã đầu tư.

Tóm lại:
Cả 3 mô hình đầu tư trồng rừng trên đều thực hiện nghiêm túc Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính Phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng. Mỗi mô hình trồng rừng đều có những thuận lợi khó khăn riêng nhưng hiệu quả kinh tế mang lại cơ bản vẫn là do công tác quản lý, do con người là chính. Nếu quản lý tốt công tác trồng rừng thì các mô hình đều có hiệu quả cho nên tuỳ theo điều kiện cụ thể các đơn vị cần nghiên cứu để đa dang hoá các mô hình, mở rộng quy mô trồng rừng.

Để khắc phục những tồn tại của các mô hình trồng rừng nêu trên, từ năm 2007 trở đi việc ký kết hợp đồng trồng rừng đã được triển khai đúng Nghị định 135/2005/NĐ-CP ngày 8/11/2005 của Chính Phủ ở từng mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị để làm rõ trách nhiệm và quyền lợi của bên giao khoán và bên nhận khoán đối với công tác đầu tư trồng rừng. Có như vậy mới giải quyết dứt điểm tình trạng mất rừng không ai chịu trách nhiệm đã diễn ra từ lâu nay ở một số đơn vị, đặc biệt là đối với diện tích rừng trồng quốc doanh.

Đọc tiếp...

Chỉ tiêu trồng rừng phòng hộ và đặc dụng khó hoàn thành?

Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát cho biết, qua 4 năm thực hiện kế hoạch trồng mới 5 triệu ha rừng theo Nghị quyết 73/2006/NQ-QH11 của Quốc hội khóa XI, đến nay hầu hết các chỉ tiêu chính đều đạt và vượt: khoanh nuôi xúc tiến tái sinh đã đạt 94%, trồng rừng đạt 86,6%, trồng rừng sản xuất đã đạt 90,3%, riêng trồng rừng phòng hộ, đặc dụng mới đạt 74%.

Tập trung cao độ bảo vệ và phát triển mới rừng

Tuy nhiên, Bộ trưởng Cao Đức Phát bày tỏ lo ngại, tình trạng phá rừng ngày càng ngang nhiên, diễn ra trên quy mô lớn ở một số địa phương, đặc biệt ở các địa phương còn nhiều rừng tự nhiên; tình trạng khai thác, sử dụng đất lâm nghiệp trái phép vẫn diễn ra ở một số nơi.

Tình hình mua bán gỗ quý vẫn diễn ra rất phức tạp, đặc biệt là qua đường biên giới, đã tác động rất mạnh đến việc khai thác trái phép ở nhiều địa phương, nhất là vùng giáp ranh 3 tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên và Lạng Sơn.

Bên cạnh đó, thời tiết năm 2010 khô hạn kéo dài đã gây không ít khó khăn cho việc trồng rừng vụ xuân. Đặc biệt, năm nay nắng nóng gay gắt, nên cháy rừng xảy ra ở rất nhiều nơi như Lào Cai, Sơn La, Đồng Tháp, U Minh Hạ. Do đó phải tập trung vào việc phòng chống cháy rừng.

Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết, năm 2010 là năm quyết định việc thực hiện các chỉ tiêu theo NQ73 của Quốc hội về Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Vì vậy, cần tập trung cao độ vào nhiệm vụ bảo vệ và phát triển mới rừng. Bộ Công An và Bộ Công Thương sẽ phối hợp ngăn chặn những trường hợp khai thác rừng trái phép, có những biện pháp quyết liệt hơn để chấm dứt tình trạng phá rừng.

Tập trung trồng rừng phòng hộ và đặc dụng

Cho đến thời điểm này, các địa phương về cơ bản đã giao xong chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch năm 2010 cho các dự án cơ sở. Tuy nhiên, hiện có 30 tỉnh, đơn vị giao chỉ tiêu trồng rừng phòng hộ còn thiếu so với kế hoạch Nhà nước giao, như Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Quảng Nam, Hà Tĩnh…

Tại buổi giao ban, đa số các địa phương cho biết sẽ hoàn thành chỉ tiêu trồng rừng sản xuất, còn rừng phòng hộ và đặc dụng khó hoàn thành.

Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu, các bộ, ngành liên quan, các địa phương điều chỉnh kế hoạch, lực lượng để đầu năm 2011 phải hoàn thành các chỉ tiêu theo NQ73 của Quốc hội.

Phó Thủ tướng đề nghị các tỉnh hoàn thành nốt các chỉ tiêu trồng rừng, nhất là rừng phòng hộ và đặc dụng. 28 tỉnh, thành phố có rừng phòng hộ ven biển lên kế hoạch, phương án trồng rừng, cấp thiết gia cố hệ thống rừng này vì đây là rừng bảo vệ đê, chống xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu; các tỉnh khác cũng phải nghiên cứu thiết lập vành đai xanh dọc những con sông.

Trong thời gian tới, các địa phương rà soát lại từng nhiệm vụ được giao, nỗ lực hoàn thành các chỉ tiêu bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng, đặc biệt tỉnh nào vượt kế hoạch thì phấn đấu nhận thêm chỉ tiêu.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ phối hợp xây dựng kế hoạch cho từng tỉnh về phát triển rừng đặc dụng và phòng hộ ven biển để triển khai sớm.

Bên cạnh đó, phải gắn Dự án này với Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo, đặc biệt ưu tiên đối với những huyện này.

Ngay sau Hội nghị này, Ban chỉ đạo Dự án cần phân công các đoàn đi kiểm tra việc thực hiện tại các địa phương.

Nhiệm vụ còn lại của Dự án “Trồng mới 5 triệu ha rừng” so với chỉ tiêu theo NQ73 của Quốc hội khóa XI :

- Khoán quản lý bảo vệ rừng: 1.500.000 ha/năm.

- Khoanh nuôi tái sinh: 668.771 ha.

- Trồng rừng mới: 137.000 ha, trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng: 61.000 ha và rừng sản xuất là 76.000 ha.

Theo Cổng TTĐT Chính phủ, 28/04/2010

Đọc tiếp...

Trồng rừng phòng hộ, bước đi bền vững

Phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn, ven biển

Về nguyên tắc, trồng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng giống trồng rừng nói chung, tuy nhiên có một số điểm khác biệt: không phát dọn toàn diện mà chỉ xử lý cục bộ những khu vực đào hố trồng cây hay xử lý theo rạch; thực bì phát dọn không đốt mà tập trung thành đống nhỏ xếp ngang theo đường đồng mức; cây bụi, cây tái sinh có trên đất rừng phải giữ lại để nuôi dưỡng, tạo rừng hỗn loài, đa tầng; làm đất chỉ tiến hành cục bộ bằng phương pháp đào hố, những nơi áp dụng cơ giới phải làm đất theo đường đồng mức.

Những năm đầu chỉ làm cỏ và xới đất cục bộ quanh gốc cây, không phát cây bụi, kể cả những cây không có giá trị kinh tế. Làm vệ sinh rừng bằng cách loại bỏ những cây sâu bệnh, dây leo. Không áp dụng các biện pháp tỉa cành. Khi rừng trồng đã lớn, các loài cây tái sinh dần dần xuất hiện, cần chú ý tạo điều kiện để những cây này phát triển, dẫn dắt rừng theo hướng hỗn loài, nhiều tầng, độ che phủ cao.

Đối với rừng ven biển, phải nhanh chóng tạo lập được các dải rừng phòng hộ phân bố hợp lý để chặn đứng nạn cát bay và cố định các cồn cát di động. Các hoạt động lâm nghiệp, xây dựng rừng phòng hộ trên đất cát phải đi trước một bước để tạo tiền đề cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp trên vùng đất cát là mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ, yếu tố này quyết định sự tồn tại của yếu tố kia và ngược lại. Đồng thời, cải thiện được các điều kiện khắc nghiệt của môi trường vùng đất cát, như nhiệt độ ở lớp cát mặt trên quá cao trong mùa hè và sự thiếu hụt nước nghiêm trọng trong mùa khô.

Ngoài ra, rừng ven biển còn giúp nâng cao năng suất các loài cây trồng, vật nuôi và thủy sản. Đáp ứng được nhu cầu thiết yếu về củi đun và gỗ gia dụng cho nhân dân sống trên vùng đất cát. Sức sản xuất và độ phì của đất cát không ngừng được cải thiện và nâng cao, do chống được nạn cát bay, hạn chế được quá trình rửa trôi (bạc màu) ở lớp cát trên mặt và cung cấp khối lượng lớn các chất hữu cơ cho đất cát.

Để canh tác nông nghiệp trên đất cát, cần xây dựng các dải rừng phi lao kết hợp với bạch đàn và keo trên các bờ bao xung quanh ruộng canh tác. Do mực nước ngầm ở đất cát ven biển thường nằm sát mặt đất, thậm chí trong mùa mưa, có nơi còn bị ngập nước trong một thời gian, nên các cây trồng trong rừng phòng hộ chống cát bay ở đây chỉ sinh trưởng tốt trên các bờ cát bao xung quanh ruộng canh tác nông nghiệp theo dạng ô cờ, có bờ cao 80 - 120cm, mặt bờ rộng từ 80 - 100cm, hoặc rộng hơn nữa.

Nâng cao chất lượng

Theo PGS.TS Vũ Xuân Đề và TS. Lê Đức Tuấn, Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp TP. Hồ Chí Minh, muốn duy trì và phát triển diện tích rừng ngập mặn ven biển cần nâng cao ý thức cộng đồng về ý nghĩa và tác dụng phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sống của rừng ngập mặn. Đồng thời, mọi chương trình trồng rừng ngập mặn theo quy hoạch đều phải dựa trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng. Nhà nước phải nâng cao suất đầu tư và chính sách hưởng lợi từ việc trồng rừng ngập mặn đối với dân cư địa phương. Đẩy mạnh việc nghiên cứu về cấu trúc rừng ngập mặn có khả năng phòng chống thiên tai tốt nhất. Chú trọng đến nghiên cứu cơ sở kỹ thuật cho việc trồng hỗn giao để hình thành các khu rừng ngập mặn có đa dạng sinh học cao và khả năng chống chọi cao hơn so với khu rừng trồng thuần loại.

Kỹ sư Lê Thanh Thịnh, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Đắk Lắk cho rằng, cần có quy chế quản lý chặt chẽ đối với rừng phòng hộ đặc dụng và xử lý nghiêm đối với những cá nhân, tổ chức gây tổn hại tới rừng. Bảo vệ rừng phải đi đôi với công tác xóa đói giảm nghèo, bởi nghèo đói là tác nhân chính gây nên tình trạng phá rừng.

Trong một cuộc hội thảo gần đây, kỹ sư Nguyễn Hữu Lễ, Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Thừa Thiên - Huế kiến nghị, Chính phủ cần rà soát lại quy hoạch xây dựng các nhà máy thủy điện ở các tỉnh miền Trung. Cần tính toán kỹ giữa lợi ích kinh tế và việc bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng.

Hiện nay, nhiều cơ sở sản xuất đã và đang tiến hành các dự án nâng cấp rừng phòng hộ. Song chưa có những tiêu chuẩn để làm căn cứ. Theo đó, nội dung nâng cấp cần được xác định cụ thể theo nhóm đối tượng lâm phần mà Chương trình 327, Dự án 661 đã tạo nên. Rừng hỗn giao nhưng các loài cây bản địa sinh trưởng kém, vấn đề nâng cấp là các giải pháp lâm sinh cần tác động để hình thành lâm phần hỗn giao 2-3 tầng. Nếu là rừng thuần loại thông, keo nâng cấp là trồng bổ sung thêm các loài để tạo nên lâm phần hỗn giao. Và điều quan trọng vẫn là nâng cao ý thức chăm sóc, bảo vệ rừng; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm để rừng mãi là “lá chắn” bảo vệ cuộc sống.

Duy Phong

Đọc tiếp...

Rừng phòng hộ chỉ được khai thác 20%


Nông dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang kiểm tra, chăm sóc rừng. Ảnh: Lãng Quân

Cụ thể, đối với rừng phòng hộ có độ dốc từ 15 độ trở xuống thì cường độ khai thác tối đa chỉ là 20% và sẽ phải giảm 1% nếu độ dốc tăng lên 1 độ; cường độ khai thác gỗ tối đa là 35% đối với rừng sản xuất có độ dốc từ 15 độ trở xuống và sẽ giảm 1% nếu độ dốc tăng lên 2 độ. Để tránh tình trạng lãng phí khi khai thác, Bộ NN&PTNT cũng quy định tỷ lệ lợi dụng gỗ thân tối thiểu là 55%; gỗ cành, ngọn và củi tối thiểu là 5%.
 
Đào Huyền 
Đọc tiếp...

Rừng phòng hộ trong "cuộc chiến" ứng phó với biến đổi khí hậu ( Kì I )

Kỳ 1: Thực trạng đáng báo động

Trong khi các loại rừng khác được quan tâm đầu tư phát triển thì nhiều diện tích rừng phòng hộ, đặc biệt là rừng phòng hộ ven biển, đang bị suy giảm nhanh chóng. Một số địa phương chạy theo phong trào nuôi tôm, cá mà quên mất hậu quả khôn lường khi thiên tai xảy ra.

Tăng diện tích rừng trồng

Nếu như từ năm 1943 - 1993, do nhiều nguyên nhân, diện tích rừng giảm từ 43% xuống còn 20% thì những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và ý thức người dân được nâng cao, nhiều diện tích rừng đã được phục hồi và nhân rộng. ông Đoàn Diễm, ủy viên thường vụ Ban chấp hành Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam cho biết, trong thập kỷ qua, rừng Việt Nam đã khôi phục nhanh chóng, độ che phủ tăng từ 33,2% (năm 1999) lên 37% (năm 2005) và 38,7% (năm 2008).

Trong đất rừng phòng hộ toàn quốc, diện tích đất có rừng chiếm 60,4%; diện tích đất không có rừng 29,6%; trong đất có rừng thì rừng tự nhiên chiếm 86,6%. Rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung chủ yếu ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ. Rừng phòng hộ chắn sóng, chống xói lở đê biển tập trung ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Rừng phòng hộ chống cát di động tập trung ở vùng ven biển Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ.

Tôm đến rừng đi

Cũng theo ông Đoàn Diễm, diện tích rừng tre nứa, rừng ngập mặn đang có xu hướng giảm do một số địa phương chuyển mục đích sử dụng đất cho canh tác nông nghiệp và nuôi tôm.

Lợi dụng chủ trương giao khoán rừng, nhiều người đã nhận bảo vệ nhưng thực chất để phá rừng. Huyện Kiên Lương (Kiên Giang) đang là điểm nóng của tình trạng phá rừng và vi phạm các quy định về bảo vệ rừng ven biển. Nhiều người sau khi nhận giao khoán rừng xong (5ha/hộ, sử dụng 50 năm) đã bán lại với giá 30- 50 triệu đồng, tùy từng vị trí. Đối tượng giao khoán đã sai, lại còn vi phạm các quy định về bảo vệ rừng. Tại ấp Ba Núi và ấp Hòn Chông (xã Bình An), nhiều diện tích rừng bị chặt trắng để nuôi trồng thủy sản và làm bãi chứa vỏ sò.

UBND tỉnh Quảng Nam đã tiến hành đóng cửa rừng phòng hộ Phú Ninh nhưng tình hình khai thác gỗ trái phép tại đây không hề thuyên giảm mà còn có chiều hướng gia tăng. Rừng phòng hộ tại Đập Chính, Đồng Vòng thôn 6, xã Tam Ngọc, thôn 1 và 2, xã Tam Lãnh và Dương Mốc, Dương Đế, xã Tam Đại (thuộc huyện Phú Ninh) đã bị lâm tặc khai thác cạn kiệt. Lực lượng kiểm lâm tuy đã tăng cường thanh tra kiểm soát và đã bắt giữ trên 50 vụ vi phạm, thu giữ hơn 100m3 gỗ và 90 phương tiện vận chuyển nhưng cũng chỉ như muối bỏ bể.

Theo điều tra, tại khu vực ven biển huyện Tiền Hải (Thái Bình), ngoài diện tích rừng phòng hộ tự nhiên, từ năm 1995, rừng được tiếp tục phủ dày theo các chương trình 327 và 661 của Chính phủ, đạt khoảng 10.000ha. Rất tiếc là, phần lớn diện tích rừng đã bị chuyển đổi sang nuôi tôm. Khi phong trào nuôi tôm thất bại, người ta mới nhìn lại thì hàng trăm hécta rừng đã không cánh mà bay.

Nhiều nơi trước đây có rừng ngập mặn khá tốt như phía Tây bán đảo Cam Ranh, các huyện Ninh Hoà, Vạn Ninh (Khánh Hoà), nay hầu như đã bị “xoá sổ” do làm đầm nuôi tôm. Ở Đầm Nại (Ninh Thuận) hơn 200ha rừng ngập mặn tạo vành đai bảo vệ cho đầm không bị xói lở, nay đã thay thế bằng các đầm tôm bán thâm canh. Cồn Chim nằm giữa đầm Thị Nại (Bình Định) trước đây có rừng ngập mặn gần 200ha, là nơi cư trú của nhiều loài hải sản, và là “thủ đô” của các loài chim, gần đây đã bị gần 100 gia đình “khai tử” để làm đầm tôm. Rừng phòng hộ đang kêu cứu từng ngày.

Đọc tiếp...

Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ mang lại hiệu quả kinh tế cao

Điều này đã dẫn đến kết quả trồng rừng không đạt được như mong đợi, ở phần lớn diện tích đã trồng các cây phù trợ sinh trưởng tốt còn cây bản địa bị lấn át hoặc không có khả năng phát triển thành rừng. Từ những kinh nghiệm của thực tế sản xuất và tổng kết của một số đề tài khoa học thuộc Dự án 661, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề ra một số phương thức kỹ thuật mới trong việc trồng rừng phòng hộ, đặc dụng tại Dự án 661. Qua đó, các địa phương, đơn vị căn cứ vào điều kiện cụ thể về khí hậu, đất đai, địa hình, loài cây trồng… áp dụng cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hứa Đức Nhị, đối với trồng mới rừng phòng hộ, cần căn cứ vào điều kiện cụ thể về tự nhiên và kinh tế-xã hội của từng địa bàn trồng rừng có thể áp dụng một trong các phương thức kỹ thuật trồng rừng sau.

Trồng rừng với mật độ ban đầu bằng mật độ khi thành rừng (khoảng 400 – 600 cây/ha): phương thức kỹ thuật này được áp dụng ở những nơi đã xác định chắc chắn được loài cây trồng phù hợp với điều kiện lập địa nơi trồng, địa phương hoặc đơn vị có kinh nghiệm về kỹ thuật đảm bảo trồng rừng thành công, cây giống được tạo có chất lượng cao, chăm sóc rừng đúng kỹ thuật.

Khuyến khích trồng nông lâm kết hợp trong những năm đầu để tăng độ che phủ đất, cải tạo đất và tạo thêm thu nhập cho người trồng rừng. Trồng rừng ban đầu thuần loài bằng loài cây mọc nhanh, có tác dụng cải tạo đất sau một chu kỳ sẽ trồng thay thế bằng loài cây chính có tác dụng phòng hộ lâu dài. Phương thức kỹ thuật này được áp dụng chủ yếu ở những nơi đất đai đã bị thoái hóa, nghèo xấu nên cần được cải tạo bằng những loài cây mọc nhanh có tác dụng cải tạo đất (chủ yếu là các loài Keo) với mật độ trồng từ 1000 - 1600 cây/ha, sau một chu kỳ (từ 7-8 năm) có thể chặt theo băng rộng (50-60 m) để trồng các loài cây chính cho phòng hộ lâu dài, với mật độ từ 300 – 500 cây/ha (có thể là cây bản địa hoặc cây nhập nội nhưng phải đảm bảo chắc chắn thành rừng). Kinh phí trồng cây chính được lấy từ bán sản phẩm khai thác rừng trồng cây mọc nhanh, sau khi trừ chi phí hợp lý theo quy định hiện hành.

Về trồng rừng thuần loài, có thể được áp dụng trong 2 trường hợp sau: Trong những vùng phòng hộ có điều kiện lập địa đặc thù như vùng đất ngập mặn, đất ngập phèn, đất cát ven biển, vùng đất ngập nước ven sông và một số dạng lập địa đặc thù khác (như núi đá vôi) với loài cây trồng chỉ phù hợp với điều kiện lập địa này. Mật độ trồng rừng theo quy trình do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp tỉnh ban hành phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương nơi trồng rừng.

Trong những vùng phòng hộ có điều kiện lập địa bình thường đã trồng rừng thành công với những loài cây có nhiều kinh nghiệm lâu năm (như các loài Thông, các loài Keo...), nhưng với điều kiện tạo cây con cho trồng rừng phải là cây thực sinh, các giống của các loài cây trồng rừng đã được chọn lọc và lấy từ các nguồn giống được công nhận có phẩm chất tốt (như các giống Keo không bị rỗng ruột khi tuổi cao) để đảm bảo rừng phát triển lâu dài có khả năng phòng hộ và kỹ thuật nuôi dưỡng rừng (chủ yếu là chặt tỉa thưa đúng thời gian, đúng cường độ...) phải được thực hiện nghiêm ngặt để đảm bảo thành rừng gỗ lớn có tác dụng phòng hộ lâu dài.

Sau khi kết thúc thời kỳ chăm sóc rừng trồng theo quy trình kỹ thuật được áp dụng, cần tiến hành tỉa thưa rừng trồng theo quy trình nuôi dưỡng rừng trồng của từng loài cây, do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp tỉnh ban hành (có thể tham khảo các quy trình kỹ thuật do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành để cụ thể hóa quy trình kỹ thuật của địa phương cho sát với điều kiện thực tế).

Đối với những khu rừng trồng hỗn loài theo dự án trồng mới 5 triệu ha rừng từ những năm trước đây, cần thiết phải tiến hành đánh giá tình hình sinh trưởng của các loài cây bản địa và thiết kế tỉa thưa ngay ở những nơi cây bản địa có khả năng sinh trưởng, nhưng do bị các cây phù trợ đang chèn ép. Những khu rừng trồng thuần loài (như rừng Thông) hoặc rừng hỗn loài nhưng cây trồng chính không còn khả năng sinh trưởng hoặc đã chết, cũng cần tiến hành tỉa thưa để đảm bảo rừng đạt chất lượng, và người nhận khoán trồng rừng được hưởng lợi theo quy định.

Đọc tiếp...
Tìm thấy 96 bài viết.