Tìm kiếm bài viết

Đắc Lắc: Phát triển nghề nuôi động vật hoang dã

Một số gia đình phát triển trang trại nuôi số lượng lớn động vật hoang dã, đã tạo ra sản phẩm hàng hoá và cho thu nhập khá.

Theo Chi cục kiểm lâm Đắc Lắc cho biết, toàn tỉnh đã phát triển 272 trang trại nuôi động vật hoang dã được cấp giấy phép hoạt động. Thành phố Buôn Ma Thuột là địa phương phát triển chăn nuôi động vật hoang dã khá với 235 gia đình nuôi nai với quy mô từ hai đến gần chục con. Riêng thôn Châu Sơn, xã vùng ven Chư Buar là cơ sở có truyền thống nuôi động vật hoang dã từ lâu đã phát triển đàn nai nhà lên trên 520 con.

Nhờ nuôi dưỡng và chăm sóc tốt, đàn nai của thôn Châu Sơn phát triển nhanh, khỏe mạnh, cho nhiều lộc nhung; đồng thời cung cấp nhiều con giống cho các địa phương trong và ngoài tỉnh. Bằng việc nuôi nai lấy nhung, hoặc bán con giống, các hộ nông dân trong xã mỗi năm thu từ 10 đến trên 50 triệu đồng. Một số hộ nông dân đã khá lên nhờ nghề nuôi nai lấy nhung và bán nai giống.

Qua thực tế sản xuất bà con cho biết, nuôi nai dễ, vì loại thú này hiền lành, ăn tạp hơn cả trâu bò. Đối với nai cái nuôi sau 3 năm đã bắt đầu sinh sản. Mỗi năm, nai đẻ 1 lứa một con. Cũng có trường hợp nai đẻ một lứa 2 con. Đối với nai đực nuôi sau 3 năm bắt đầu cho cắt nhung. Trong năm đầu tiên, nai cho cắt nhung khoảng dăm bảy lạng,

Khi nai đực trưởng thành cho cắt nhung từ 3,5 đến trên 4 kg. Cũng có trường hợp cho lượng nhung trên 5 kg với giá trị thu được từ 15 đến 20 triệu đồng. Thấy được hiệu quả kinh tế cao của nghề nuôi nai, các xã Ea Tu, Hòa Thuận, phường Khánh Xuân, Tân Hòa (TP Buôn Ma Thuột), các xã Hòa Đông, Ea Phê (Krông Pách) đã phát triển nghề nuôi nai với số lượng từ từ 20 đến trên 50 con. Một số hộ nông dân ở huyện Cư M'gar và Krông Ana đã nuôi hươu sao với số lượng từ từ 3 đến 6 con, mỗi năm cho thu nhập 15-25 triệu đồng.

Hiện nay, ở TP Buôn Ma Thuột và huyện Cư M’gar đã có một gia đình nuôi cá sấu thành công và bắt đầu cung cấp giống và sản phẩm để làm hàng mỹ nghệ. Có một số hộ lập trang trại nuôi nhiều loại động vật hoang dã. Điển hình như gia đình anh Hoàng Mạnh Cường ở Khối 8, phường Tân Tiến mở trrang trại nuôi rắn, trăn, kỳ đà, nhím, ba ba, chồn với số lượng lớn.

Gần đây anh Cường đã nuôi chồn hương để lấy cà phê đặc sản. Mỗi năm gia đình anh thu được trên 500 kg “cà phê chồn” với gía trị 1 triệu đồng/kg cà phê đặc sản. Anh Nguyễn Quốc Khánh ở Thôn 8, xã Krông Buk (huyện Krông Pách) đã nuôi trên 90 con chồn hương, mỗi năm thu được 600-700 kg “cà phê chồn”, đã tạo ra nguồn thu nhập khá cho gia đình.

Tận dụng điều kiện tự nhiên và nguồn nước ao hồ, một số ít hộ nông dân ở huyện Krông Ana, Cư Kuin, Cư M’gar và Ea Kar đã bắt đầu nuôi trăn, ba ba và lươn. Bước đầu, những gia đình này đã thu được kết quả tốt về nhân giống và cung cấp sản phẩm hàng hóa.

 TTXVN

Đọc tiếp...

Bảo tồn giống quế quý Văn Yên (Yên Bái)

 Được thực hiện từ năm 2008, đề án sẽ đưa 12,5 ha quế cây có đường kính 30cm trở lên và có chiều cao 15m trở lên tại 4 xã Đại Sơn, Viễn Sơn, Mỏ Vàng, Nà Hẩu, để bảo tồn nguồn giống và làm tiền đề phục vụ du lịch.

Đến nay, huyện đã khảo sát được 90 cây quế đủ tiêu chuẩn giữ lại làm giống ở 3 xã Đại Sơn, Viễn Sơn, Xuân Tầm. Mặc dù đề án chỉ được bố trí nguồn kinh phí 7 triệu đồng/năm, nhưng đến nay, 10 gia đình tham gia đề án đang thực hiện hiệu quả việc bảo tồn giống quế.

Bên cạnh đó, để mở rộng diện tích trồng quế và bảo đảm nguồn giống tốt, huyện Văn Yên đang xây dựng thương hiệu quế Văn Yên, quy hoạch lại vùng trồng quế tập trung vào các xã vùng cao; thống nhất quản lý các hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh quế trên địa bàn.

Trước mắt, các xã đã kiên trì thuyết phục đồng bào không phá quế trồng sắn và các loại cây khác đang có giá trị trước mắt. Văn Yên hiện có 27 xã, thị trấn trồng hơn 15.000 ha quế. Quế trở thành cây công nghiệp cho thu nhập cao, vừa tăng độ che phủ rừng vừa giúp nhiều hộ làm giàu.

 TTXVN

Đọc tiếp...

Rừng “chết” còn gấp nhiều lần

Chị Lê Thị Tuyết Vân (trái) trong một vụ phát hiện gần 10m³ gỗ quý bị lâm tặc đốn hạ tại Tiểu khu 441

  • ĐOÀN XUÂN THIỆN, Phó ban Quản lý xây dựng cơ bản Vườn quốc gia Yok Đôn:
    Nhiều vụ phá rừng không được làm sáng tỏ

Tình trạng lâm tặc ngang nhiên vào rừng cấm của Vườn quốc gia Yok Đôn khai thác, cướp đi hàng ngàn mét khối gỗ quý đã xảy ra từ lâu. Thống kê từ năm 2005 đến nay đã có hàng chục bài báo phản ánh về thực trạng tàn sát rừng Vườn quốc gia Yok Đôn, song rừng không được bảo vệ nghiêm ngặt mà còn bị tàn sát với mức độ khốc liệt hơn, ngang nhiên hơn, bất chấp dư luận và cả công luận lên tiếng.

Trước tình hình trên, tôi và một số cán bộ, nhân viên kiểm lâm vườn đã nhiều lần viết đơn kiến nghị lên các cơ quan có thẩm quyền của tỉnh Đắc Lắc, Tổng cục Lâm nghiệp và Bộ Công an cần sớm có các biện pháp ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ lâm tặc, kể cả những cán bộ có chức quyền của huyện Buôn Đôn đã tiếp tay cho lâm tặc phá rừng.

Thế nhưng, những vụ việc mà chúng tôi đưa ra và cả báo chí phản ánh không được làm sáng tỏ. Thậm chí, nhiều cán bộ và người dân mạnh dạn tố cáo những việc làm sai trái này còn bị bọn lâm tặc đe dọa hành hung; và một số cán bộ có trách nhiệm của huyện Buôn Đôn và tỉnh Đắc Lắc còn có thái độ trù dập, quy chụp người tố cáo…

Chúng tôi dẫn chứng ra đây nhiều vụ phá rừng mà báo chí và người dân phát hiện, lên tiếng nhưng đã “chìm xuồng” một cách khó hiểu.

Vụ thứ nhất: Vào ngày 7-5-2008, kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn phát hiện 7 đối tượng thâm nhập vào Tiểu khu 456 thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, đốn hạ 22 cây giáng hương với khoảng 25m³. Vụ việc được lập biên bản chuyển giao Công an huyện Buôn Đôn điều tra khởi tố theo luật định, nhưng không hiểu sao đã “chìm xuồng” và hàng chục mét khối gỗ tang vật trở thành “gỗ vô chủ” (!?).

Vụ thứ hai xảy ra vào đêm 29-6-2009, gần chục tên lâm tặc bao vây, hành hung 2 cán bộ kiểm lâm khi bị phát hiện vận chuyển hàng chục mét khối gỗ quý ra khỏi vườn. Không những thế, chúng còn ngang nhiên phá hoại phương tiện của vườn và tổ chức cướp tang vật bị thu giữ. Đối tượng chủ mưu trong vụ này được xác định là Nguyễn Đức Chương, ngụ buôn Ea Mar, xã Krong Na (huyện Buôn Đôn). Thế nhưng, vụ việc sau đó cũng “chìm xuồng”, mặc dù Công an huyện Buôn Đôn đã thụ lý điều tra và báo chí đã vào cuộc phanh phui hành động phá rừng của đối tượng này.

Một số vụ việc nổi cộm khác xảy ra vào ngày 8-1-2010, 21-1-2010, 19-3-2010… với hàng trăm mét khối gỗ quý được kiểm lâm và người dân phát hiện, bắt giữ, chuyển giao cho Công an huyện Buôn Đôn xử lý, song từ đó đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Đó là những vụ phá rừng lớn bị phát hiện. Trên thực tế còn hàng trăm vụ phá rừng nhỏ lẻ diễn ra hàng ngày nhưng không xử lý triệt để, càng gây sự bức xúc trong nhân dân.

  • LÊ THỊ TUYẾT VÂN, cử tri xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắc Lắc:
    Chính quyền buông lỏng quản lý, rừng còn “cạn máu”

Với tư cách là đại diện của cử tri xã Krông Na, trong các cuộc tiếp xúc với đại biểu HĐND huyện, tỉnh và đại biểu Quốc hội, tôi đã nhiều lần phản ánh về thực trạng rừng Vườn quốc gia Yok Đôn đang bị xâm hại đến mức nghiêm trọng. Thế nhưng, vẫn không có một cơ quan có trách nhiệm nào của huyện Buôn Đôn và tỉnh Đắc Lắc xem xét, làm rõ. Trong đó có vụ vận chuyển trái phép 12m³ gỗ được cho là của Vườn quốc gia Yok Đôn. Tôi đã trực tiếp báo cáo với Bí thư Huyện ủy và Chủ tịch UBND huyện Buôn Đôn vụ việc này, song đã gần một năm qua vẫn không thấy xử lý.

Theo tôi, do chính quyền địa phương buông lỏng công tác quản lý và do không xử lý kiên quyết các vụ việc sai phạm, dẫn đến bọn lâm tặc bất chấp pháp luật. Hàng ngày tận mắt chứng kiến lâm tặc ngang nhiên tàn phá, khai thác gỗ quý hiếm trong vườn quốc gia, chúng tôi đành bất lực đứng nhìn và càng bức xúc hơn khi thấy chính quyền địa phương từ xã đến huyện, tỉnh đều không có một biện pháp kiên quyết nào để bảo vệ rừng, bảo vệ những cán bộ kiểm lâm và những người dân như chúng tôi dám đứng lên tố cáo các hành vi phá rừng của lâm tặc. Đây là nguyên nhân dẫn đến thực trạng rừng tại Vườn quốc gia Yok Đôn đang từng ngày, từng giờ “cạn máu”.

  • NGUYỄN VĂN QUẢNG, ngụ phường 13, quận 3 TPHCM:
    Cần nghiêm trị những kẻ phá rừng

Đọc loạt bài “Thực trạng các vườn quốc gia: Rừng… chết”, tôi thấy đúng với thực trạng nạn xâm hại rừng tại các vườn quốc gia hiện nay đang đến mức báo động đỏ. Trong một chuyến du lịch tham quan động Phong Nha, tôi tận mắt chứng kiến cảnh mua bán công khai thịt thú rừng tại chợ Xuân Sơn như báo phản ánh.

Nơi đây là một “khu chợ đầu mối” thịt thú rừng đúng nghĩa. Tôi thấy nhiều xe du lịch mang biển số các tỉnh miền Trung, miền Bắc thản nhiên vào “ăn hàng” tại các quán cơm dọc hai bên đường. Nhiều loài thú quý hiếm như voọc, vượn, sơn dương… được xẻ thịt mời công khai các bác tài và du khách mua về làm quà.

Điều đáng nói, “khu chợ đầu mối” này chỉ cách Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, UBND xã Xuân Sơn chỉ vài trăm mét. Và khu chợ này tồn tại nhiều năm qua nhưng vẫn không ai xử lý.

Tôi thiết nghĩ, chính quyền các cấp và nhất là các cơ quan có trách nhiệm cần có biện pháp mạnh hơn nữa đối với bọn phá rừng, làm hủy hoại nguồn tài nguyên vô giá của đất nước. Trên hết, đó là pháp luật cần nghiêm trị với các hành vi xâm hại động thực vật rừng quý hiếm. Cần tiến hành điều tra và đưa ra xét xử công khai với mức án thật nặng đối với những đường dây phá rừng có tổ chức, có sự cấu kết với một số cán bộ mất phẩm chất đang được giao nhiệm vụ quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng quý giá của đất nước. 

HOÀI NAM (tổng hợp)

Đọc tiếp...

Việt Nam tiên phong chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Đông - Nam Á

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho biết, hiện rừng ở Việt Nam có tác động trực tiếp đến đời sống của khoảng 25 triệu người trong đó phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số. Do vậy, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) là một trong những hướng đi quan trọng thực hiện mục tiêu quy hoạch khoảng 44% diện tích của quốc gia cho phát triển lâm nghiệp. Bên cạnh đó, phần lớn những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng là người nghèo vì thế PES sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho người có thu nhập thấp nâng cao mức thu nhập của mình.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng và ban hành chính sách để thực hiện các cấn đề này trong nhiều năm qua. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng. Chính sách này đến nay sau hơn hai năm thực hiện thí điểm ở Lâm Đồng và Sơn La đã đạt được thành công, và được sự đồng thuận của đồng bào các dân tộc, là căn cứ để Chính phủ chuẩn bị ban hành chính sách thực hiện trong cả nước. Thủ tướng đã giao cho Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì cùng các bộ có liên quan xây dựng một Nghị định của Chính phủ về PES để thực hiện trong cả nước. Đây sẽ là văn bản có hiệu lực phát luật cao hơn, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và xóa đói giảm nghèo.

Ngài Stale Torstein Risa, Đại sứ Nauy phụ trách Việt Nam và Lào cho biết, năm 2008, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã khởi xướng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES). Ngay trong năm đó, Việt Nam đã tiên phong trong việc thí điểm mô hình này tại hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La bằng quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10-4-2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Kết quả là năm 2009, ở Lâm Đồng, tổng số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng ước thu hơn 55 tỷ đồng từ hai nhà máy thủy điện Đa Nhim và Đại Ninh. Với số tiền này, tỉnh Lâm Đồng thực hiện chi trả 203.335 ha và hơn 8.000 hộ bảo vệ rừng được thụ hưởng với mức bình quân 8,1-8,7 triệu đồng/năm, gần gấp ba lần so với thu nhập nhận khoán trước đây.

Đại sứ Nauy cho biết, ông đã đến Lâm Đồng, nói chuyện với người dân và tận mắt chứng kiến mô hình này hoạt động như thế nào. Và ông kết luận, Việt Nam có bối cảnh tuyệt vời để tiên phong thực hiện REDD. Và đây là thời điểm phù hợp để tổ chức Hội nghị Katoomba lần thứ XVII tại Việt Nam nhằm để các nước học hỏi kinh nghiệm của Việt Nam, đưa ra một mô hình để triển khai trên toàn thế giới.

Ông Frank Donovan, Trưởng đại diện USAID Việt Nam cho rằng, PES không chỉ mới với Việt Nam mà khắp cả toàn cầu. Trong thời gian ngắn, Việt Nam đã trở thành quốc gia tiên phong thực hiện PES. Ông hy vọng các nước trong khu vực sông Mê Công sẽ học hỏi được phần nào kinh nghiệm của Việt Nam khi triển khai PES.

Hội nghị Katoomba XVII diễn ra trong hai ngày 23 và 24-6, thu hút sự tham gia của hơn 400 đại biểu từ 30 quốc gia trên toàn thế giới. Các đại biểu thảo luận về tình hình hiện tại và tiềm năng cho thị trường PES trong khu vực, bao gồm các sáng kiến tiên phong trong bảo vệ nguồn nước, hấp thụ carbon từ rừng, biển và thị trường đa dạng sinh học.

 Theo Báo Nhân dân                                                       HỒNG VÂN
Đọc tiếp...

Báo động tình trạng phá rừng tại Việt Nam

Đến nay, tình trạng phá rừng ở Việt Nam ra sao khi mà nhu cầu về các loại gỗ rừng tiếp tục gia tăng để phục vụ nhiều mặt cuộc sống?


Tan hoang rừng

Dư luận tại Việt Nam, nhất là cư dân ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam trong những ngày tháng sáu này lại được đánh động nhờ vào những bài viết đăng trên báo Tuổi Trẻ về tình hình phá rừng tại địa phương để trồng cây cao su.

Tin cho hay khi mà vụ phá rừng tại huyện Nam Giang chưa được giải quyết xong, thì một vụ phá rừng nguyên sinh để trồng cao su khác lại nổi lên. Vụ việc diễn ra tại huyện Đông Giang, và theo báo Tuổi Trẻ thì mức độ của vụ mới này ở Đông Giang còn nghiêm trọng hơn tại Nam Giang.

Sự việc cụ thể được trình bày là hơn 30 héc ta rừng tự nhiên với trữ lượng gỗ lớn đã bị chặt ngang lấy đất cho dự án trồng cao su của công ty cổ phần đầu tư và sản xuất Việt-Hàn. Việc phát quang rừng được phóng viên báo Tuổi Trẻ cho biết đã diễn ra hơn hai tháng nay, và còn tường thuật phát biểu của một nhân viên kiểm lâm nói, nếu khu rừng tự nhiên đã bị chặt trụi vẫn được duy trì thì trong chục năm nữa, thì sẽ phát triển thành một khu rừng giàu, do rừng này có đủ các nhóm gỗ từ tám cho đến một.

Chủ tịch xã Ba, huyện Đông Giang cũng thừa nhận cùng phóng viên báo Tuổi Trẻ là trong số 800 hécta đất của xã được giao cho Công ty Việt-Hàn, có không ít diện tích rừng tự nhiên thuộc hệ rừng phòng hộ đầu nguồn sông Vàng.

Tình trạng vừa nêu không chỉ xảy ra ở tỉnh Quảng Nam, mà tin cho biết còn đang diễn ra ở nhiều địa phương khác, khi mà giá trị trước mắt do cây công nghiệp cao su mang lại khiến các nơi đua nhau chuyển đổi đất rừng cho loại cây này.

Tỉnh Bình Phước đã giao cho các doanh nghiệp một số khu vực rừng thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Tiên để doanh nghiệp trồng cao su. Khu vực rừng này còn là rừng đầu nguồn của Sông Đồng Nai. Khi đã có phép, các doanh nghiệp tiến hành chặt hết những cây rừng tại khu vực được hạt Kiểm Lâm Vườn Quốc gia Cát Tiên cho là còn giàu gấp chục lần những khu vực thuộc diện tích dự án trồng rừng của chính phủ hiện nay.


Song song với tình trạng phá rừng tự nhiên chuyển sang trồng cây cao su. Vô số vụ việc phá rừng riêng lẻ từng xảy ra ở khắp các địa phương trên cả nước đã diễn ra lâu nay và được truyền thông lên tiếng báo động. Xin được phép nêu lại một số vụ việc.

Hồi tháng hai năm nay, tờ Sài Gòn Tiếp Thị loan tin Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai cho biết có hàng chục ngàn héc ta rừng ở đó bị người dân địa phương phá trắng. Cụ thể số cây bị chặt nằm ở diện tích 70 héc ta trồng gỗ tech, mỗi cây đường kính từ 15 đến 30 centimét, và chiều cao từ 12 đến 15 mét. Đây là những cây có tuổi chừng 20 năm. Cơ quan này còn nói rõ số cây bị chặt phá trong khoảng thời gian hai tháng cuối năm 2009 và đầu năm nay là chừng 1200 cây.

Ngược lên mạn Tây Nguyên, nơi được xem là vùng đất rừng của Việt Nam, thì tình trạng phá rừng được cho là nghiêm trọng hơn cả.


Vườn quốc gia cũng phá


Có những công ty mượn danh xây dựng đường xá đã ngang nhiên xâm phạm vào diện tích đất rừng, ngay cả những nơi được nhà nước khoanh vào diện rừng quốc gia.

Báo chí trong nước đề cập đến Công ty Quản lý và Xây dựng Đường bộ tỉnh Daklak đã mang máy móc vào phá Rừng Quốc gia Yok Don ở tỉnh này. Giám đốc công ty này là nhân vật được dư luận biết đến, do ông cũng là chủ nhân của rẫy cà phê từng xua chó ra cắn chết một người dân đi mót cà phê, và đựơc toà án miễn tội.



Tờ ‘Người Lao Động’ nêu rõ, chưa đầy một năm qua, ‘Công ty Quản lý và Xây dựng Đường bộ’ và ‘Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Nông thôn số 6’ tỉnh Dak Lak đã làm hư hại hằng trăm héc ta rừng đặc dụng thuộc Vườn Quốc gia Yok Don. Trong khi đang còn chờ đợi quyết định của các cấp cao hơn và của chính thủ tướng trong việc mở đường qua khu vườn quốc gia này, thì hai công ty vừa nên đã cho thực hiện việc san ủi trong rừng.

Không chỉ rừng quốc gia Yok Don ở Dak Lak mà rừng quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh nơi phát hiện ra loài sao la nổi tiếng cũng bị ‘làm thịt’ một cách không thương tiếc. Nhóm phóng viên Báo Lao Động trong bài viết đăng hồi tháng 11 năm ngoái nhận xét, khi càng đi sâu vào Vườn Quốc gia Vũ Quang thì thấy nạn chặt phá rừng càng trầm trọng. Nhiều héc ta trong những khu rừng nguyên sinh bị chặt phá một cách nham nhở. Trong rừng, phóng viên nhận thấy chi chít rãnh vết chân trâu; đó là đường mòn kéo gỗ đã chặt hạ ra khỏi rừng. Những kẻ phá rừng sử dụng thiết bị hiện đại để khai thác gỗ; sau khi được một lượng đủ lớn mới tổ chức vận chuyển ra đến bìa rừng rồi tìm mối chuyển về xuôi.

Những loài cây gỗ quí bị chặt để đem bán làm nguyên liệu sản xuất ra các mặt hàng đồ mộc cao cấp hay sử dụng trong xây dựng. Bên cạnh đó nhiều loài khác cũng được khai thác phục vụ sở thích, thị hiếu của con người. Lâu nay có những lực lượng vào rừng kiếm các loài lan về bán cho các vườn cây cảnh hay những nhà sưu tầm. Hoạt động tìm kiếm đó cũng tương tự như người đi tìm trầm, họ sẵn sàng chặt bỏ những thứ ngáng đường đạt đến đích của họ.

Một thú chơi, nhất là của những người mới giàu lên cũng gây hại cho rừng. Đó là việc đưa những cây rừng về trồng trong vườn nhà, cơ quan. Hồi năm ngoái, báo Tuổi Trẻ cũng có bài nói về tình hình ấy ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, nơi mà việc bứng cây rừng về làm đẹp đã trở thành “mốt.” Báo này trích dẫn phát biểu của một người dân địa phương từng có thời vào rừng săn lùng các loài cây cảnh về kinh doanh, nói rằng loài cây được săn lùng ở Đồng Hới là cây mưng với niềm tin trồng cây này mang lại ‘lộc’ cho họ. Cây mưng là loài cây mọc bên bờ suối, ven sông có bộ rễ chùm dày bám vào đất có thể giúp giữ khỏi xói lở. Ngoài cây mưng dân địa phương còn chơi những loại cây rừng cổ thụ khác như sanh, si, đa, đùng đinh, cây lội…

Ra miền bắc, Cục Lâm Nghiệp cho biết trong 11 tháng của năm ngoái có hơn chục ngàn vụ vi phạm quản lý và bảo vệ rừng tại các tỉnh phía bắc đã bị phát hiện. Nơi nào càng có nhiều rừng càng có nhiều vụ vi phạm. Ngoài ra, kiểm lâm các tỉnh phía Bắc cũng phát hiện hơn một ngàn vụ phá rừng, gây hại cho hơn 350 héc ta rừng.

Đánh giá của ngành lâm nghiệp cho rằng hoạt động phá rừng, vận chuyển gỗ lậu.. đang ngày càng tinh vi hơn.

Ngoài việc phá rừng nhân danh công tác làm đường hay phát triển nông thôn như hai công ty tại Dak Lak vừa nêu trên, cũng như việc những đối tượng gọi là lâm tặc sống ký sinh vào rừng, rừng còn bị phá biến hóa thành đất riêng của những cán bộ địa phương nơi có rừng.



Thanh tra chính phủ Việt Nam kết luận từ năm 1985 tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, ủy ban nhân dân huyện ra quyết định giao cho đơn vị có tên gọi là Trạm Trồng rừng Thống Nhất, nay là Xí nghiệp nguyên liệu giấy miền Đông Nam Bộ hơn 2400 héc ta đất để trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Sau hơn một chục năm, đến năm 1999, xí nghiệp này khai chỉ còn quản lý hơn 890 héc ta, tức hơn 1/3 diện tích ban đầu. Diện tích ấy đi đâu?

Thanh tra cho thấy từ năm 1985 đến năm 1999, hơn 1500 héc ta đất để trồng rừng do Xí nghiệp nguyên liệu giấy Đông Nam Bộ đã bị biến mất. Thanh Tra chính phủ kết luận Ủy ban Nhân dân huyện Thống Nhất và các cá nhân liên quan không thực hiện những qui định trong việc giao đất đưa đến tình trạng hơn 2400 héc ta đất đã giao hồi năm 1985 nay trở thành đất của cán bộ lâm trường, cán bộ chính quyền địa phương…


Mua gỗ của kiểm lâm?

Do tình trạng phá rừng như đã nêu trên, diện tích rừng của Việt Nam bị thu hẹp đáng kể. Các cây gỗ tự nhiên đủ qui cách khai thác không còn bao nhiêu, số trồng mới ít ỏi thì chưa đủ lớn để  khai thác lấy gỗ. Trong khi đó nhu cầu ngày càng gia tăng nhất là nền kinh tế phát triển, cuộc sống khá lên nhiều sản phẩm gỗ tốt được ưa chuộng trong nội địa cũng như ở nước ngoài.

Một người ở Châu Đốc chuyên làm nghề đóng bè cá hơn chục năm qua thừa nhận khó khăn về nguồn nguyên liệu gỗ từ rừng Việt Nam:

Như gỗ cà chít của Việt Nam cũng chỉ còn những cây nhỏ thôi.

Để đáp ứng nhu cầu, các cơ sở sản xuất đồ mộc gia dụng, mỹ nghệ, cũng như mộc xây dựng tìm đến với một nguồn hiện còn dồi dào chưa bị khai thác cạn kiệt như tại Việt Nam, đó là gỗ từ rừng hai nước Lào và Kampuchia.

Điều này được chính các người trong ngành thừa nhận khi chúng tôi đến tại cơ sở của họ hay qua điện thoại. Một người ở miền Trung chuyên phục dựng nhà rường Huế cho biết:

Gỗ không thiếu, có thể mua của Kiểm lâm, và nhập từ Lào và Kampuchia về.

Điều này cũng được một chủ một cơ sở sản xuất hàng mộc mỹ nghệ ở Bắc Ninh xác nhận:

Hàng của chúng tôi làm từ gỗ nhóm một và cả gỗ sưa cũng có. Các loại gỗ này là nguồn thanh lý của Kiểm lâm, gỗ mua từ rừng Lào và Kampuchia.

Tất cả những nhà sản xuất đồ mộc, sử dụng nguyên liệu gỗ đều biết tình trạng khai thác cạn kiệt rừng Việt Nam. Tình hình khai thác bừa bãi ở Lào và Kampuchia cũng đều đã bị những cơ quan quốc tế như Liên Hiệp Quốc lưu ý đến và đề nghị không được vi phạm vào các khu vực rừng cấm, bởi có thể đưa đến tình trạng suy thoái trầm trọng như nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam. Dẫu vậy, do nguồn lợi kinh tế trứơc mắt, người khai thác vẫn bằng mọi cách vào rừng chặt phá và tìm cách tuồn đến tay người mua; cụ thể là các cơ quan quản lý vẫn lên tiếng về những khó khăn trong công tác bảo vệ rừng, ngăn chặn nạn chặt phá bừa bãi.

Gia Minh

Đọc tiếp...

“Ngàn lẻ một” kiểu phá rừng

Tác dụng của rừng, chẳng ai còn phải nghi ngờ. Bởi thế, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “trồng cây gây rừng” sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân và Nhà nước đã ban hành nhiều điều luật bảo vệ, chống phá rừng. Tuy nhiên, vì vô ý thức, vì những lợi ích ích kỷ trước mắt, nhiều người vẫn cố tình vi phạm pháp luật, tàn phá rừng. Phổ biến và dai dẳng đến thành “bệnh kinh niên” là nạn khai thác, chặt phá rừng bừa bãi, khiến hàng ngàn ha rừng trở thành “đất trông, đồi trọc”. Cùng với đó là việc đốt phá rừng làm nương rẫy thường xảy ra ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Không hẳn chỉ vì kế sinh nhai, có khi, chỉ vì những mối lợi nhỏ, con người cũng vô tâm, phũ phàng phá rừng. Đã có thời, người ta đua nhau vào rừng, săn tìm những cây gỗ quý, chặt hạ nó để “sản xuất” thớt, bày bán la liệt với giá chỉ vài chục ngàn đồng/chiếc. “Tích tiểu thành đại”, lâu dần tạo nên tình trạng rừng bị “thớt hóa” đến đáng ngại.

Khai thác tài nguyên, khoáng sản tự do, bừa bãi, đã “góp phần” đáng kể vào “công cuộc” phá rừng. Đâu có khoáng sản là dân xô đến. Hàng ngàn, hàng vạn người từ khắp các ngả đổ về những vùng rừng có đồng, có vongram, có vàng, có đá quý... tạo nên những “đại công trường” ngay giữa đại ngàn. Cây rừng bị đốn hạ ngổn ngang lấy mặt bằng mở hầm khai thác và dựng lán trại để ở. Rừng bị nổ mìn, bị đào khoét, bị xẻ dọc ngang và biến dạng hoàn toàn. Khai thác kiểu này quả là một công cuộc phá rừng triệt để.

Vì kế sinh nhai, vì những lợi ích kinh tế, người ta đang tâm phá rừng đã là một tội lỗi không thể tha thứ, nhưng còn có thể hiểu được, nhưng gần đây lại xuất hiện một kiểu phá rừng kỳ quặc: phá rừng khi đi chơi, đi du lịch, khi đang đi tìm, đang được tận hưởng niềm vui thú từ chính rừng mang lại. Lời kêu cứu từ Phanxipăng – đỉnh cao nhất của Đông Dương đang khiến người ta phải kinh hoàng. Từ khi mở cửa đón du khách leo Phanxipăng, “du khách” không ngại ngần phá rừng. Họ chặt cây làm lán, chặt nứa dựng lều, chặt gỗ đun nấu, đốt lửa trại... và xả rác thải vô tội vạ ra “mái nhà Đông Dương”. Nếu tình trạng này còn tiếp diễn thì chẳng bao lâu nữa, Phanxipăng không còn là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước.

Dù bằng bất cứ cách gì, những kiểu phá rừng đều cần phải ngăn chặn kiên quyết và kịp thời để bảo vệ rừng tự nhiên, một trong những điều kiện đảm bảo môi trường sống của con người. Những người quản lý, bảo dưỡng rừng, đặc biệt mỗi người công dân cần có ý thức nghiêm túc thực hiện những điều luật bảo vệ rừng, cùng chung tay góp sức bảo dưỡng, phát triển rừng – bảo vệ môi trường sống của chính chúng ta.

B.Bông ( Theo Bộ Tài nguyên & Môi trường Việt Nam )

Đọc tiếp...

Bảo vệ và phát triển rừng phải gắn liền với xóa đói, giảm nghèo

Phát biểu ý kiến khai mạc Hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, Việt Nam  luôn xác định việc bảo vệ và phát triển rừng phải gắn liền với xóa đói, giảm nghèo và xã hội hóa nghề rừng. Ðây là lý do Chính phủ Việt Nam ban hành chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) nhằm tạo ra các giá trị sử dụng của môi trường rừng. Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, PFES tạo ra định hướng đổi mới quan trọng nhằm phát triển thị trường dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam, chuyển nền lâm nghiệp phát triển phù hợp quy luật của nền kinh tế sản xuất hàng hóa;  mọi cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức trong xã hội được sử dụng và hưởng thụ các dịch vụ này phải trả tiền cho những người trực tiếp cung ứng dịch vụ.

 Theo Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Ðức Phát, Việt Nam là nước đi tiên phong trong việc thực hiện chi trả cho các dịch vụ môi trường trong khu vực Ðông - Nam Á. Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ này đối với việc bảo tồn thiên nhiên hiện có, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống cho người dân, nhất là các hộ dân  nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số.

 Ðại diện Cơ quan Hỗ trợ phát triển quốc tế Hoa Kỳ P.Ðô-nô-van cho biết, sau 15 tháng thí điểm PFES tại tỉnh Lâm Ðồng, các nhà máy thủy điện, các công ty cấp nước, du lịch... đã thực hiện chi trả dịch vụ khoảng 3,5 triệu USD (khoảng 65 tỷ đồng) cho tám nghìn hộ dân với việc bảo vệ 250 nghìn ha rừng đầu nguồn. PFES nhận được sự đồng thuận cao từ các đơn vị trả phí dịch vụ, cũng như giúp các hộ dân cải thiện hơn ba lần thu nhập so với trước đây.

Đọc tiếp...

Bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng Tây Nguyên: Cần cơ chế hợp lý, hài hòa lợi ích...

Thực trạng.

Một thực tế hiện nay ở Tây Nguyên là Nhà nước trực tiếp quản lý quá nhiều rừng. Cụ thể, lâm trường quản lý 278.224ha, các Vườn Quốc gia, Ban Quản lý rừng 409.150ha; UBND cấp xã đang quản lý 71.720ha, các doanh nghiệp khác 9.310ha, (chiếm 1,2%), các hộ gia đình quản lý 15.523ha chiếm 2%. Tổng cộng Nhà nước quản lý 480.870ha (chiếm 61%), các thành phần khác chỉ quản lý hơn 3%. Hiện nay, các lâm trường quốc doanh hiệu quả kinh doanh thấp, chưa làm tốt chức năng “bà đỡ” cho nông dân. Đó là gánh nặng cho ngân sách và cũng là yếu tố cơ bản khiến người dân không có cơ hội để làm giàu từ rừng. Ngoài ra, cơ cấu rừng theo chức năng phòng hộ, rừng đặc dụng chưa hợp lý. Theo thống kê, diện tích đất rừng đặc dụng của khu vực hiện nay là 783.927ha, bằng 30% diện tích đất lâm nghiệp. Diện tích rừng phòng hộ là 175.158ha bằng 22,3%. Đất trồng được nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao thì đem trồng rừng theo dự án, đến khi dân cần đất thì không thể chuyển mục đích sử dụng do vốn Nhà nước đã đầu tư vào diện tích này. Cơ cấu rừng bất hợp lý là nguyên nhân khiến chất lượng rừng của Tây Nguyên kém so với các vùng khác cũng như các nước trong khu vực. 

Ngoài ra, việc cho vay vốn tín dụng để trồng rừng quá ít, chỉ có 02 Lâm trường được vay còn các hộ gia đình và các thành phần kinh tế khác chưa tiếp cận được nguồn vốn này. Đầu tư thông qua các thành phần kinh tế khác ngoài ngành và các hộ gia đình trồng rừng là rất hạn chế.

Giải pháp nào để nâng cao diện tích và chất lượng rừng.

Những yếu tố bất hợp lý nêu trên cho thấy yêu cầu xác định tính hợp lý 3 loại rừng hiện nay (rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng) là rất cần thiết và phải rõ ràng. Điều đó sẽ góp phần đảm bảo phát triển kinh tế rừng ổn định, bảo vệ được môi trường sinh thái, đảm bảo công ăn việc làm, thu nhập cho người dân làm nghề rừng. Đồng thời phải cơ cấu chủ sở hữu của rừng hợp lý theo hướng: giảm diện tích rừng do Nhà nước quản lý và tăng diện tích do cộng đồng quản lý. Điều này là phù hợp với tập tục, nguyện vọng của đồng bào, giảm chi phí bảo vệ rừng, giảm được mâu thuẫn về sử dụng, khai thác tài nguyên rừng. Đồng bào được sử dụng, khai thác rừng hợp pháp, phục vụ cho cho một số nhu cầu cần thiết như củi, gỗ làm nhà...

Ngoài ra, rừng của hộ gia đình (rừng tiểu điền), cần được định lại giá trị thực, ghi nợ và giao khoán (có thời hạn) cho hộ gia đình quản lý. Đối với đất để trồng rừng, cần triển khai việc cấp quyền sử dụng đất và hỗ trợ dân trồng rừng. Rừng của các doanh nghiệp tư nhân (rừng đại điền), là khu vực sản xuất lớn, dễ áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, thiết bị, thu hút việc làm, xây dựng các mô hình tiên tiến để phát triển. Có thể áp dụng phương thức đấu giá và giao cho doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty cổ phần để quản lý kinh doanh. Khuyến khích doanh nghiệp khai phá những vùng đất trống đồi núi trọc để trồng rừng ở nơi xa dân.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần tăng cường chính sách đầu tư và hưởng lợi. Ưu điểm của chính sách này là: tạo công bằng cho người dân khi được giao hoặc khoán rừng phòng hộ, khuyến khích được người dân tham gia bảo vệ rừng, đồng thời bảo đảm quyền kiểm soát của Nhà nước đối với rừng tự nhiên (đồng sở hữu rừng tự nhiên), giảm đầu tư trực tiếp cho rừng, chuyển sang đầu tư gián tiếp, để kích thích nghề rừng phát triển. Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó, Nhà nước, nhất là các ban, ngành liên quan cần xây dựng các chính sách cụ thể, phù hợp đối với rừng và người làm nghề rừng.

Trần Thường

Đọc tiếp...

Khai thác rừng ở Việt Nam

Phần lớn gỗ được sản xuất tiêu thụ trong nội địa, chiếm 98% gỗ tròn, 92% gỗ xẻ và 80% sản phẩm giấy. Nếu tính theo đầu người về gỗ xẻ và sản phẩm giấy của nước ta chỉ đạt 0,0094 m3  và 1,3kg/năm (1989); trong khi cùng thời gian này ở Indonesia là 0,038 m3  và 4,6kg/năm.

Một phần gỗ và các lâm đặc sản như quế, dầu hồi, hạt điều, cánh kiến được được xuất khẩu sang các nước như Liên Xô cũ, Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan. Nhìn chung giá trị xuất khẩu lâm sản ở nước ta chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế quốc doanh. Ví dụ như giá trị xuất khẩu lâm sản năm 1989 chiếm tỷ trọng 3,6% (65 triệu USD) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của kinh tế quốc dân, hoặc như năm có giá trị xuất  khẩu  cao  1986  cũng  chỉ  đạt  80,1  triệu  USD  chiếm  9,7%  tổng  kim ngạch xuất khẩu. các sản phẩm xuất khẩu đa số là sản phẩm thô không có sức cạnh tranh cao, do vậy thị trường thu hẹp dần như cánh kiến đỏ, quế làm cho giá cả xuống thấp. Chế biến nhựa thông chủ yếu dùng trong thị trường nội địa.

Việc  chế  biến  gỗ  của  nước  ta  gặp  nhiều  khó  khăn  do  máy  móc phương tiện cũ kỹ lạc hậu, hiệu suất trung bình sản phẩm ở các xưởng cưa chỉ đạt 35 – 45%. Hơn nữa do tính chất chức năng máy móc và nguyên liệu đầu vào hạn chế nên mặt hàng gỗ xẻ ít phong phú.

Rừng tự nhiên nước ta tuy có nhiều loại gỗ quý có giá trị nhưng phần  lớn  đều  đã  bị  khai  thác,  chỉ  còn  lại  những  cây  gỗ  có  đường  kính không  lớn,  cong  hoặc  có  những  khuyết  tật.  Thêm  vào  đó,  thành  phần chủng loại gỗ trong rừng rất phức tạp nên gặp nhiều khó khăn trong khai thác, nhất là khai thác ở quy mô công nghiệp. Một khó khăn khác trong khai thác gỗ là hệ thống đường giao thông chưa phát triển. Máy móc xe cộ cho khai thác vận chuyển còn yếu và thiếu dẫn đến lãng phí gỗ.

Hiện nay nước ta đã cho phép việc khai thác gỗ và tre nứa ở các rừng giàu và trung bình (Rừng gỗ có trữ lượng trên 80 m3, rừng tre, luồng có từ 3 – 3,5 nghìn cây/ha trở lên; rừng nứa, vầu có từ 6 – 7 nghìn cây/ ha trở lên). Chỉ được tiến hành khai thác chọn lọc, cường độ chặt chỉ giới hạn không quá 35% đối với gỗ và 50% đối với tre nứa theo tổng trữ lượng toàn vùng.

Hương Thảo

Đọc tiếp...

Tài nguyên rừng và nguyên nhân suy thoái rừng ở Việt Nam

Trong thời kỳ  1945 – 1975 cả nước mất khoảng 3 triệu ha rừng, bình quân 100.000 ha năm. Quá trình mất rừng diễn ra nhanh hơn ở giai đoạn 1975 – 1990: Mất 2,8 triệu ha, bình quân 140.000 ha/ năm. Nguyên nhân chính làm mất rừng trong giai đoạn này là do dân số tăng nhanh,  nạn đốt  nương  làm  rẫy  tràn  lan,  quá  trình  khai  hoang  lấy  đất  trồng  các  cây công nghiệp như cà phê, chè, cao su và khai thác gỗ xuất khẩu. Tuy nhiên từ  những  năm  1990  –  1995,  do  công  tác  trồng  rừng  được  đẩy  mạnh  đã phần nào làm cho diện tích rừng tăng lên. 

Về chất lượng, trước năm 1945 rừng nước ta có trữ lượng gỗ vào khoảng 200 – 300m3/ha, trong đó các loài gỗ quí như đinh, lim, sến, táu, nghiến, trai, gụ là rất phổ biến. Những cây gỗ có đường kính 40 – 50cm chiếm tới 40 – 50% trữ lượng của rừng. Rừng tre nứa với những cây tre có đường kính 18 – 20cm, nứa 4 – 6cm và vầu 8 – 12cm rất phổ biến (Hoàng Hòe, 1998). Hiện nay chất lượng rừng đã giảm sút đáng kể, chỉ còn chủ yếu là rừng nghèo có giá trị kinh tế không cao. Trữ lượng gỗ rừng năm 1993  ước  tính  khoảng  525  triệu  m3  (trung  bình  76  m3/ha).  Tốc  độ  tăng trưởng trung bình của rừng Việt Nam hiện nay là 1 – 3m3/ha/năm, đối với rừng trồng có thể đạt 5 – 10 m3/ha/năm (Castren, 1999).

Ngoài tài nguyên gỗ, rừng Việt Nam cũng rất giàu có về các loài tre  nứa  (khoảng  40  loài  có  ý  nghĩa  thương  mại  và  khoảng  4  tỷ  cây  tre nứa); Song mây có khoảng 400 loài ; hàng năm khai thác khoảng 50.000 tấn..

Trong rừng Việt Nam cũng phong phú về các loài dược liệu, hiện đã biết được 3800 loài (Viện Dược liệu, 2002), trong đó có nhiều loài đã được biết và khai thác phục vụ cho việc chế biến thuốc. Nhiều loài cây cho chất thơm, tanin, tinh dầu và dầu béo. Ngoài ra, rừng còn cung cấp nhiều loại sản phẩm quý khác như cánh kiến, nấm, mật ong, hoa lan, thịt thú rừng.

Hiện nay, có rất nhiều loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo vệ như: cẩm lai (Dalbergia bariaensis), trầm hương (Aquilaria   crassna)   sam   bông   (Amentotaya   argotenia),   thông   tre (Podocarpus   neriifolius),   gõ   đỏ   (Afzelia   xylocarpa),   trắc   (Dalbergia cochinchinensis),  giao  xẻ  tua  (Sterospermum  ferebriatum),  gạo  bông  len (Bombax insigne).

Các loài động vật quý hiếm như: báo gấm (Neophelis nebulosa), voọc quần đùi trắng (Trachipythecus francoisi delaconri), gà lôi hồng tía (Lophura  diardi),  trĩ  sao  (Rheinartia  ocellata),  chồn  bạc  má  (Megogale personata  geeoffrory),  cu  li  lớn  (Nycticebus  coucang  boddaert),  bò  tót (Bos gaurus), cà tong (Cervus eldi), hổ  (Panthera tigris).

Những nguyên nhân chính làm suy thoái rừng ở Việt Nam

Có thể nêu ra các nguyên nhân chính gây nên sự mất rừng và làm suy thoái rừng ở nước ta là:

- Đốt nương làm rẫy : sống du canh du cư; trong tổng số diện tích rừng bị mất hàng năm thì khoảng 40 – 50% là do đốt nương làm rẫy. Ở Đắc Lắc trong thời gian từ 1991 – 1996 mất trung bình 3.000 – 3.500 ha rừng/ năm, trong đó trên 1/2 diện tích rừng bị mất do làm nương rẫy. 

- Chuyển đất có rừng sang đất sản xuất các cây kinh doanh, đặc biệt là phá rừng để trồng các cây công nghiệp như cà phê ở Tây Nguyên chiếm 40 – 50% diện tích rừng bị mất trong khu vực.

- Khai thác quá mức vượt khả năng phục hồi tự nhiên của rừng.

- Do ảnh hưởng của bom đạn và các chất độc hóa học trong chiến tranh, riêng ở miền Nam đã phá hủy khoảng 2 triệu ha rừng tự nhiên.

- Do khai thác không có kế hoạch, kỹ thuật khai thác lạc hậu làm lãng phí tài nguyên rừng.

- Do cháy rừng, nhất là các rừng tràm, rừng thông, rừng khộp rụng lá.

Hương Thảo

Đọc tiếp...
Tìm thấy 96 bài viết.