Tìm kiếm bài viết

Lâm trường quốc doanh: Đói vốn

Tổng số nợ của LT Văn Yên đến ngày 2/8/2010 theo báo cáo của Sở Tài chính Yên Bái là 11,4 tỷ. Trong đó dư nợ dự án chè mà lâm trường vay của Chi nhánh Ngân hàng ĐT- PT Yên Bái là 1,676 tỷ, dư nợ lãi 713 triệu. Theo bà Nguyễn Thị Kim Nga- Trưởng phòng Tín dụng: Đây là món vay chỉ định, không phải thế chấp. Lâm trường mang số tiền đó cho nông dân vay trồng chè, họ thế chấp với lâm trường bằng đồi chè. Đến nay toàn bộ số dư nợ vốn vay và lãi đều là món nợ khó đòi. NH đã phối hợp với lâm trường vận động người dân trả tiền cho NH. Khổ nỗi, đồi chè của họ đã trở thành đồi chè…vè rồi.

Sự khốn khó của LT Văn Yên chưa bao giờ lại bi đát như lúc này. Hơn 500 ha đất bị xâm lấn, lâm trường chỉ còn chủ động trồng, kinh doanh trên diện tích 200 ha, NMSX giấy đế còn nhúc nhắc làm ra tiền, nhưng vì ô nhiễm môi trường, dân kêu la, cơ quan chức năng yêu cầu xây dựng hệ thống nước thải đúng tiêu chuẩn mới cho SX.

Theo ông Nguyễn Văn Nguyên, GĐ: Nếu xây dựng hệ thống xử lý nước thải tốn trên 1 tỷ đồng. Lâm trường chẳng có tiền, nên đành phải đóng cửa NM. Hiện lâm trường đang đề nghị tỉnh cho phép lâm trường giải thể, khi đó sẽ thanh lý NM giấy…Ngày 2/6/2010 UBND tỉnh Yên Bái có QĐ số 790/QĐ-UBND thu hồi của LT Văn Yên 9.356.395,4m2 (935 ha) đất nông nghiệp giao cho Cty CP Cao su Yên Bái để trồng cao su đại điền. Ông Nguyên cho PV NNVN biết: Hiện cán bộ và công nhân lâm trường đang trồng cao su thuê cho Cty CP Cao su Yên Bái…

Ông Phạm Đăng Hân, PGĐ LT Yên Bình cho biết: Tôi mới được giao nhiệm vụ phụ trách lâm trường từ 1/8/2010 trong tình trạng két không còn một xu. Trong khi đó nợ ngập đầu, nợ Ngân hàng Phát triển 3,9 tỷ, Ngân hàng Chính sách 100 triệu, Cty Việt Nhật 57 ngàn USD (tương đương 1,1 tỷ), nợ cá nhân 439 triệu, Kho bạc nhà nước 157 triệu, nợ lương 500 triệu. Không còn một thứ gì đáng giá là không gá nợ với ngân hàng. Chiếc xe ô tô trị giá 300 triệu cũng đã thế chấp với Ngân hàng ĐT- PT để vay 200 triệu. Đến nay thì không ngân hàng nào dám cho vay, không nhìn vào đâu ra tiền, rừng thì chưa đến tuổi khai thác, khu rừng nào khai thác được thì mấy năm trước GĐ cũ cho khai thác hết rồi. Không có vốn thì chẳng làm gì được, ngay đến việc mua gỗ nguyên liệu làm dịch vụ cho một số đơn vị đã có hợp đồng cũng phải có tiền. Chẳng còn cách nào khác, chúng tôi phải lấy nhà của mình ra thế chấp với ngân hàng, giật gấu vá vai để tồn tại đã…

LT Yên Bình đã ký hợp đồng với Cty Việt -Nhật (ViJachip CL) mua gỗ nguyên liệu cho đơn vị này làm ván dăm. Tiền thì đã vay 26.000 USD để trồng 200 ha rừng, nợ trả bằng sản phẩm, Cty Việt-Nhật hứa tiếp tục cho vay vốn, nhưng phải có sản phẩm. Lâm trường hiện chẳng có một xu để mua gỗ giao cho họ, thành ra họ chưa sẵn sàng giải ngân nốt số tiền đã ký. Ông Hân cho biết: Tôi đành thế chấp nhà của mình trước, vận động mọi người ai có tiền thì cho lâm trường vay, không chỉ lấy tiền trồng rừng mà để mua gỗ. Làm dịch vụ cho Cty Việt-Nhật có lãi chút ít để có lương cho anh em, nếu không thì chẳng còn cách nào khác, chết đói cả nút…

So với LT Yên Bình, LT Thác Bà có khá hơn, nhưng cũng trong cảnh túng thiếu. Ông Vương Quốc Đạt, GĐ than thở: LT Thác Bà từ chỗ quản lý 13.000 ha rừng phòng hộ, cán bộ chỉ đạo được hưởng lương từ nguồn ngân sách 6%. Nay bàn giao sang Ban quản lý mới, số cán bộ đang làm công việc đó hiện chưa tìm ra việc làm. Trước đây, khi giá gỗ ổn định, bán cây đứng bình quân được 50 triệu/ha, từ quí III/ 2008 đến nay giá gỗ thấp, bán cây đứng bình quân chỉ được 35 triệu/ha. Đã 5 năm nay lâm trường không được vay vốn ưu đãi dài hạn để trồng rừng, phải vay vốn ngắn hạn, lãi suất cao. Chu kỳ rừng trồng từ 6-7 năm mới được khai thác, vay vốn ngắn hạn thì không chịu nổi. Nhưng chẳng còn cách nào khác, thành ra lâm trường cứ lỗ triền miên…

Ông Ngô Phạm Khái- GĐ Xí nghiệp bức xúc: Chúng tôi chưa gặp một khách hàng nào lại chây ỳ như LT Lục Yên. Xí nghiệp đã nhiều lần cử người xuống đòi nợ, họ hứa hẹn đủ kiểu cuối cùng thì chẳng trả đồng nào. Không còn sự lựa chọn nào khác, buộc chúng tôi phải đưa họ ra tòa thôi… Trong 7 lâm trường, thì LT Lục Yên rơi vào cảnh bi thảm nhất. Không chỉ nợ quá hạn Ngân hàng Phát triển 6,347 tỷ, mà lâm trường còn nợ Ngân hàng ĐT- PT 5,703 tỷ. Nợ nần tứ tung, tổng số nợ theo báo cáo của Sở Tài chính mà lâm trường phải trả là 25,5 tỷ, trong đó có 8 tỷ nợ quá hạn. “Túng phải tính”, lâm trường đã phải bán xưởng chế biến chè để có tiền trả nợ. Không những thế, lâm trường còn nợ Xí nghiệp Phân bón hóa chất Lào Cai hơn 500 triệu do mua 100 tấn phân bón cho dự án chè từ tháng 1/2008. Đến nay, số tiền đó vẫn chưa trả được.

Hai lâm trường được coi là còn “máu mặt” đó là LT Ngòi Lao và LT Việt Hưng. Ngòi Lao có nền tài chính khá vững chắc, hiện chỉ nợ Ngân hàng Phát triển 605 triệu chưa đến hạn trả, ngoài ra không nợ ngân hàng nào khác. Trả lời chúng tôi về món số nợ 6 tỷ mà báo cáo của Sở Tài chính Yên Bái đã nêu, ông Mai Văn Hoàng, GĐ LT Việt Hưng cho biết: Hiện chúng tôi chỉ còn nợ 2,904 tỷ. Trong đó nợ Ngân hàng Phát triển 1,699 tỷ, Ngân hàng Đ- PT 1,205 tỷ. Năm 2010 lâm trường trồng 70 ha, nhu cầu vay vốn để trồng rừng là 1,5 tỷ. Bây giờ thì không thể vay vốn ưu đãi dài hạn được, chúng tôi cũng khát vốn lắm, nhưng phải tìm nguồn vốn khác để mà trồng rừng thôi… (Còn tiếp)

Đọc tiếp...

Lâm trường quốc doanh: Bệnh đã di căn

Tìm một toa thuốc đặc trị cho các lâm trường không còn khả năng cân đối tài chính, nợ nần ngập đầu như LT Lục Yên, Văn Yên, Văn Chấn là điều không dễ dàng. Bởi các lâm trường này đã xuống tận đáy của sự suy tàn, giống như con bệnh ung thư di căn giai đoạn cuối chỉ chờ ngày đào huyệt. Vai trò lịch sử của các lâm trường này đã hết, cần phải chuyển qua giai đoạn mới là sự đòi hỏi tất yếu của cuộc sống.

Nếu tỉnh Yên Bái có hà hơi, tiếp sức thì các lâm trường này cũng không thể tồn tại được bao lâu. Thực tế, Yên Bái cũng đang lựa chọn phương án giải thể đối với hai LT Văn Chấn, Văn Yên, phá sản đối với lâm trường Lục Yên theo đề nghị của Sở Tài chính. Điều này là cần thiết, nếu cứ tiếp tục duy trì tình trạng “sống dở chết dở” của các lâm trường đó như hiện nay thì không những lãng phí nguồn tài nguyên đất đai các lâm trường đang quản lý mà còn khiến cho những cán bộ, công nhân của lâm trường sống “dặt dẹo” trong sự chờ đợi không biết mai ngày ra sao.

Ngày 2/6/2010 UBND tỉnh Yên Bái ban hành QĐ số 790/QĐ-UBND thu hồi 1.586,94 ha đất nông nghiệp của LT Văn Chấn, Văn Yên giao cho Cty CP Cao su Yên Bái thuê trồng cao su. Được biết, Cty Cao su Yên Bái đang thuê cán bộ, công nhân và nhân dân các xã trong khu vực trồng cao su. Theo Đề án phát triển cây cao su của tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010-2015 và 2020 sẽ chuyển đổi 15.000- 20.000 ha đất lâm nghiệp sang trồng cao su. Mục tiêu năm 2010 - 2015 trồng 5.000 ha cao su đại điền. Kế hoạch năm 2010 trồng 500 ha, từ năm 2011-2015 trung bình mỗi năm trồng từ 1.000- 1.200 ha.

Diện tích đất của các lâm lâm trường trong vùng qui hoạch trồng cao su: Văn Chấn, Văn Yên, Lục Yên, Yên Bình, Việt Hưng và Thác Bà sẽ là “xương sống” cho diện tích cao su đại điền, mỗi lâm trường sẽ chuyển đổi từ 1.000- 1.500 ha sang trồng cao su. Các lâm trường: Văn Chấn, Văn Yên mỗi năm tổ chức trồng 500-600 ha, đến năm 2015 tổng diện tích cao su trồng mới sẽ đạt 5.000-7.000 ha, đến năm 2020 sẽ đạt 10.000 ha. Sau khi phát triển diện tích cao su đại điền sẽ phát triển cao su tiểu điền, để đạt được mục tiêu 20.000 ha.

Ông Hà Đức Hưng- PGĐ Sở NN-PTNT Yên Bái khẳng định: Sai lầm lớn nhất của công tác tổ chức cán bộ đối với các lâm trường là đề bạt lãnh đạo không được một chu kỳ cây. Vì thế, người ta không lo trồng cây, mà chỉ nhăm nhăm khai thác bán lấy tiền. Hậu quả để lại cho thế hệ sau nợ nần, két rỗng không. Khiến cho các lâm trường rơi vào tình cảnh thê thảm như hiện nay… LT Lục Yên nằm trong qui hoạch trồng cao su, nhưng hiện nay Tập đoàn Cao su chưa triển khai việc trồng cao su ở đây. Một số công ty SX giấy, bột giấy cũng đã “nhòm ngó” khu vực “đất vàng” chạy dọc QL 70, ven sông Chảy và hồ Thác Bà của các lâm trường: Lục Yên, Yên Bình và Thác Bà với phương án thuê đất trồng rừng. Một số DN được hỏi không ngần ngại trả lời: Chúng tôi chỉ thuê đất, chứ không muốn tiếp nhận gia sản của các lâm trường đó…Đối với LT Lục Yên, không còn cách nào khác là thực hiện phá sản, diện tích đất lâm nghiệp 1.521 ha mà lâm trường đang quản lý sau khi đã xử lý cho Cty CP Cao su Yên Bái hoặc một DN nào đó thuê để phát huy được tiềm năng đất đai.

Ba lâm trường nằm trong vùng qui hoạch trồng cao su của Yên Bái là: Yên Bình, Thác Bà và Việt Hưng. LT Việt Hưng có nền tài chính tương đối vững, dư nợ ngân hàng gần 3 tỷ, nhưng theo ông Hà Đức Hưng- PGĐ Sở NN-PTNT Yên Bái: LT Việt Hưng khá hơn các lâm trường khác, bởi NMSX giấy đế còn bán được sản phẩm. Nếu Đài Loan không mua nữa thì LT Việt Hưng cũng lâm vào tình cảnh khó khăn như các lâm trường khác. Hai lâm trường còn lại muốn vượt qua được cơn bĩ cực hiện nay, ngoài sự nỗ lực của bản thân mỗi lâm trường tỉnh Yên Bái cần giúp họ trong việc vay vốn, ngân hàng giãn nợ, khoanh nợ…thì mới giúp lâm trường có thể đứng vững. Bằng không, thì hai lâm trường này chẳng sớm thì muộn buộc phải giải thể(Còn tiếp).

 

Theo Báo NNVN

Đọc tiếp...

Đại lễ ngàn năm: Bạn bè quốc tế hòa mình cùng Hà Nội

Alan nhiệt tình cho chúng tôi biết, hiện tại ông đang sống và làm việc ở Trung Quốc. Những thời gian rảnh rỗi ông thường dùng các khoản tài chính cá nhân, đi trao quà cho các trẻ em nghèo của nước này.

“Mấy hôm trước, tôi đi trao hơn 200 phần quà cho các em sống tại Hà Khẩu, Vân Nam, Trung Quốc thì biết Hà Nội của các bạn có Lễ hội chào mừng nghìn năm Thăng Long nên tôi đã quyết định xuống đây tham gia,” Alan kể.

Điểm du lịch đầu tiên mà ông Alan dừng chân là Hồ Hoàn Kiếm, đến đây Alan đã bị cuốn hút, hoà chung niềm vui cùng những người dân Việt Nam đang hân hoan, nhộn nhịp trên đường phố.

“Mọi người ở đây thân thiện quá! Mặc dù đông đúc, nóng bức nhưng tôi thấy gương mặt ai cũng rạng rỡ. Chưa xem được chương trình nghệ thuật nào, nhưng từ sáng tới giờ tôi cứ đi theo dòng người, đi được một vòng quanh hồ rồi,” Alan vui vẻ nói.

Chia tay chúng tôi, Alan khẳng định sẽ phải tiếp tục đến đây và quan tâm hơn tới các trẻ em nghèo Việt Nam.

Đối với Alex Raffle và Nicola Warwick, hai công dân Anh đang sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh thì kế hoạch ra Hà Nội khai mạc Đại lễ đã có trước cả vài tuần nay. Chỉ có hai ngày tại Hà Nội nên hai người tranh thủ tham dự các chương trình nghệ thuật lớn.

Giữa dòng người nườm nượp, mồ hôi nhễ nhại, Alex cười thân thiện nói, “Tôi thích nghiên cứu về văn hoá và con người Việt Nam. Lễ hội nghìn năm Thăng Long là cơ hội giúp tôi tiếp cận gần hơn với lịch sử của các bạn. Và hôm nay, đối với tôi thật là thú vị và tuyệt vời.”

Cùng tâm trạng với bạn mình, Nicola say sưa nói về con đường gốm sứ ven Sông Hồng, “Những mảnh ghép rực rỡ kết nên một tác phẩm nghệ thuật sống động, nó đặc biệt không chỉ ở Việt Nam mà còn vang xa ra ngoài thế giới. Chiêm ngưỡng bức tường gốm sứ của các bạn, tôi cảm nhận được cuộc sống, tình cảm của con người Việt Nam”.

Nhóm các cô gái trẻ đến từ Quảng Tây, Trung Quốc thì có cảm xúc hết sức mới mẻ, với họ mùa thu Hà Nội thật đẹp, không khí thật mát mẻ và dễ chịu.

Đỗ Hải Thanh thay mặt cả nhóm cho biết, họ là những lưu học sinh mới đến Hà Nội được hai tháng. Vì nội thành cấm đường nên các bạn chỉ có thể đi xe buýt từ Đại học Quốc Gia tới Văn Miếu, sau đó phải đi bộ tới trung tâm Hồ Gươm.

“Chúng em mệt lắm nhưng mà rất vui, chỉ tiếc vì đi bộ nên tới đây hơi muộn, không được thấy cụ rùa nổi lên,” Hải Thanh tần ngần nói.

Cũng là những lưu học sinh, nhưng những người bạn Lào lại thể hiện tình cảm của mình bằng cách, suốt hai tuần liền luyện tập hai tiết mục văn nghệ góp vui vào các chương trình nghệ thuật chào mừng lễ hội.

Bạn Nhotkhammani Souphanouvong (Kim Nga), nghiên cứu sinh tại Học viện Quan hệ quốc tế cho biết, cả đoàn rất vinh dự khi được tham gia biểu diễn. Họ đã chuẩn bị hai tiết mục Tiếng kèn Lào và Điệu múa chúc mừng bằng các nhạc cụ truyền thống, đây là những tiết mục từ dân gian và được biểu diễn trong các lễ hội lớn của Lào.

“Tôi được biết thành phố của các bạn được ra đời từ năm 1010, một thành phố lâu đời và cổ kính. Trong dịp kỷ niệm 999 năm Thăng Long – Hà Nội, năm 1999, Hà Nội cũng đã được Unesco công nhận thành phố vì hoà bình. Nhân dịp Hà Nội kỷ niệm nghìn năm Thăng Long, tôi xin gửi lời chúc đến nhân dân Việt Nam sức khoẻ, hạnh phúc. Chúc cho tình đoàn kết Việt Lào luôn bền vững,” Souphanouvong vui vẻ nói.

(Theo Vietnam+)

Đọc tiếp...

Nghị định của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng


Nghị_định_99NĐ-CP_24092010_chi_trả_DVMTR_[V].pdf

Nghị định quy định 5 loại dịch vụ môi trường rừng được chi trả, bao gồm:

1. Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối;

2. Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội;

3. Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính;

4. Bảo vệ cảnh qua thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng cho các hoạt động du lịch;

5. Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuối trồng thuỷ sản.

Theo đó tất cả các tổ chức, cá nhân kinh doanh có sử dụng các dịch vụ môi trường rừng phải thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền dịch vụ môi trường cho các chủ rừng của các khu rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng.

Đọc tiếp...

Phát triển rừng bền vững trong biến đổi khí hậu

Tại đây, các đại biểu đã thảo luận về các thách thức cũng như các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng phát triển rừng bền vững, đặc biệt tập trung vào các vấn đề liên quan đến sự biến đổi khí hậu.

Căn cứ vào kết quả của các nhóm thảo luận, hội nghị sẽ đưa ra các khuyến nghị về chính sách và các kế hoạch hành động thiết thực cho Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cũng như các vấn đề môi trường hiện nay mà Việt Nam và các nước khác đang phải đối mặt.

Theo ông Hứa Đức Nhị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, rừng luôn luôn phát triển nhưng cũng luôn phải chịu những tác động của xã hội. Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề phải giải quyết như làm thế nào để phát triển rừng bền vững, cơ chế tài chính cho phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo.

Việt Nam hiện có khoảng 19,2 triệu ha đất rừng, trong đó chỉ có khoảng 13,1 triệu ha được phủ xanh, phần còn lại là đất trống đồi trọc. Độ che phủ của rừng đã từng giảm xuống mức thấp nhất là 27% vào những năm 1990, tuy nhiên các chương trình tài trồng rừng liên tục đã làm tăng độ che phủ rừng lên 38,8%.

Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, đặc biệt là mực nước biển dâng, do Việt Nam có bờ biển dài nơi tập trung các hoạt động kinh tế quan trọng và các cộng đồng đông dân.

Chính vì vậy Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực và hiện đang hợp tác chặt chẽ với cộng đồng thế giới để chủ động phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra, ông Nhị nói.

Từ năm 1994, Bộ Hợp tác kinh tế và phát triển Cộng hòa Liên bang Đức (BMZ) đã hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực lâm nghiệp. Tính đến nay, Đức đã cam kết với tổng kinh phí là 145 triệu USD, trong đó 90 triệu USD là hợp tác tài chính và 55 triệu USD là hợp tác kỹ thuật như quản lý khai thác rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng, bảo vệ hệ thống rừng ven biển để thích ứng với biến đổi khí hậu.

Bà Gudrun Kopp, Thứ trưởng BMZ cho biết hiện tại, Đức đang triển khai 13 dự án trong các lĩnh vực trên với tổng kinh phí 92 triệu USD. Hợp tác lâm nghiệp với Việt Nam là hợp tác quan trọng nhất trong lĩnh vực lâm nghiệp tại châu Á của Đức.

Việt Nam có nhiều đóng góp trong việc tăng độ che phủ rừng trong thời gian qua. Không chỉ trông chờ và nguồn tài chính của Chính phủ mà Việt Nam cần huy động nguồn tài chính từ nhiều nguồn khác, trong đó có tư nhân trong việc tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Bảo vệ rừng là việc làm ít tốn kém nhất trong việc giảm thiểu những tác hại do biến đổi khí hậu gây ra, bà Gudrun Kopp nói.

Hội nghị này là một hoạt động nhân kỷ niệm 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Đức và Việt Nam.

Cũng tại hội nghị, ông Jurgen Hess, đại diện tổ chức Hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ) đã khẳng định sẽ tiếp tục hợp tác và hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực chính như quản lý rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và bảo vệ hệ sinh thái ven biển, cải cách thuế môi trường và hiệu quả năng lượng, năng lượng tái tạo và phát triển đô thị bền vững.../.

 

 

TTXVN/Vietnam+

Đọc tiếp...

Luồn rừng săn mi chọi

. Ngồi bên bậu cửa nhà sàn đưa ánh mắt sắc lẹm như dao về phía rừng già, lão Khon không khỏi chạnh lòng. Với lão, rừng là bạn và cũng là ân nhân của bà con bản Cọi (xã Thượng Lâm, huyện Na Hang, Tuyên Quang). Ngày ấy khu rừng trước bản có nhiều thú hoang và chim chóc. Trong số hàng trăm loại chim sinh sống ở rừng, lão Khon thích nhất là những chú hoạ mi. Mỗi sáng thức giấc, những chú hoạ mi hót vang trời. Thứ âm thanh trong trẻo, vang lanh lảnh luồn qua muôn ngàn lá rừng vọng về tận bản sao mà mượt mà và êm dịu như một bản nhạc rừng. “Nghe hoạ mi hót khiến tâm hồn mình thật thanh thản”, chưa kịp nói hết câu giọng lão Khon bỗng trùng xuống: “Ấy vậy mà “đặc sản” đó ở đây giờ ngày càng thưa vắng”.

Lão Khon bảo, muốn đi xem săn mi rừng, cứ theo thằng Sang ở bản Nà Tồng. Nghe lời lão, tôi mon men sang làm quen, ngõ hầu được cùng hắn đi một phen. Sau một hồi tỷ tê, Sang đồng ý. Lênh đênh trên lòng hồ thuỷ điện Na Hang khoảng nửa buổi sáng, chúng tôi dừng chân bên một dãy núi đá cao sừng sững. Đây là nơi còn nhiều rừng già. Chúng tôi giúp Sang dựng lều, Sang tìm nơi đặt bẫy. Chiếc bẫy này của Sang rất đơn giản. Một chú chim hoạ mi làm mồi nhử nhốt trong lồng. Phía trên Sang cài một mảnh lưới ôm gọn lấy chiếc lồng. Phía dưới mảnh lưới, hắn gắn 1 cái chốt giống như cái bẫy sập.

Sang treo bẫy lên cây và đẩy tấm lưới lên trên. Đến lúc này Sang mới mở mảnh vải chùm lồng chim ra. Chú chim trong lồng nhìn thấy rừng xanh như bừng tỉnh bản năng. Chúng nhảy nhót, hót vang lừng. “Cứ hót đi. Tý nữa cố mà rủ vài đồng loại của mi cho ta”, hắn láu lỉnh nhìn mấy chú chim và mắng. Đặt bẫy xong đâu vào đấy, Sang bảo tôi lấp vào lán. Mấy chú chim họa mi bị “cầm tù” giờ nhìn thấy rừng xanh, con nào con nấy căng lồng ngực mà hót. Tiếng hót của chúng nghe thật ai oán, luồn qua muôn vạn mắt lá. Đến chiều thì cơn mưa rừng xối xả đổ xuống. Cả khu rừng bị bao phủ trong làn sương khói. Chiều chạng vạng mưa đã ngớt. Nhìn bầu trời quang đãng, trong lành Sang có vẻ đắc trí: “Đây mới là lúc lũ chim rừng đi tìm bạn”.

Quả nhiên chỉ lát sau lũ chim hoạ mi rừng đã kéo đến bên mấy chiếc lồng. Lạ thay, không con nào chịu đậu vào trên chiếc lồng mà chúng chỉ bay quanh quẩn vòng ngoài. Ngồi trong lán theo dõi tình hình trên Sang vẫn bình thản. Theo Sang, chúng đang thăm dò xem kẻ lạ mặt kia là ai. Với đà này chỉ sáng mai có con dính bẫy.

Đêm nơi miền sơn cước xuống nhanh. Mặt trời vừa khuất sau đỉnh núi bóng tối đã đổ sập xuống. Lần đầu được ngủ giữa rừng cảm giác thật lạ. Những câu chuyện về chim hoạ mi của Sang đã khiến thời gian trôi nhanh hơn. Sáng hôm sau Sang dậy sớm. Hắn lặng lẽ lấp sau một gốc cây và ngồi án binh bất động. Phía mấy lồng chim hàng loạt tiếng hót được cất lên. Không còn ngần ngại như chiều qua, mấy chú chim hoạ mi rừng đã mạnh dạn tiến lại chiếc lồng. Cái bẫy sập đã được Sang nguỵ trang thêm vài chiếc lá nên lũ chim bị đánh lừa.

Một con, 2 con rồi 3 con thi nhau nhảy nhót cùng con chim đang bị nhốt trong lồng. Hai đối thủ bám bên cửa lồng, thi nhau mổ và đưa cặp chân có móng vuốt để túm đầu, khoá chân nhau. Chim trong lồng bị đòn đau kêu choe choé, miệng, chân chảy đầy máu, lông rụng tơi tả trên sàn lồng. Một đấu sĩ bị nhốt trong lồng, 1 võ sĩ bên ngoài đánh nhau liên hồi mà chưa phân thắng bại. Khi trận đấu đang diễn ra hết sức căng thẳng thì bỗng nghe tiếng xoạch. Chú chim ngoài lồng định bỏ chạy nhưng đã bị sập bẫy. Đồng bọn của chúng hoảng quá bay táo tác về phía xa...

2. Ở vùng núi rừng này, có lẽ ít ai hiểu và chịu khó tìm hiểu về mi chọi như Sang. Nằm 1 đêm với hắn, chả có chuyện gì về họa mi là hắn không tường. Đặc tính của loài hoạ mi là nhất khoảnh rừng, thấy có đối thủ là cất tiếng hót khiêu chiến xung trận. Tiếng hót đanh, ngắt quãng là lúc chim đang hưng phấn. Khi hai chim chọi gặp nhau ở trong lồng, hai đối thủ xuống cầu bên cửa lồng búng cánh, chiếc mỏ vàng liên tục mổ nan lồng phát ra tiếng kêu bộp bộp. Khi chim hoạ mi cất giọng hót, những giai điệu rõ ràng và trong vắt khiến người ta say mê. Khi chim hoạ mi chọi thì quyết liệt sống - chết, xứng danh bậc quân tử.

Tính cách của hoạ mi vừa cao sang, cầu kỳ lại ương ngạnh, khó tính, khác hẳn nhiều loại chim rừng khác. Bởi thế, việc thuần hoá hoạ mi không hề đơn giản. Chơi chim hoạ mi chọi lý thú nhưng rất cầu kỳ. Để có được một con chim “máu chiến”, người chơi phải tuyển lựa từ khi chim còn non, phải trông tướng chim, từ đầu, mặt, đôi mắt, móng chân, màu lông, đến tìm hiểu nguồn gốc sinh trưởng, tập quán của chim.

Hoạ mi có ánh mắt màu vàng nhạt, hơi tối hoặc mắt xanh, mí dày; chân hình cành đào, móng ngắn; mỏ “sẻ” hoặc búp đa, gốc mỏ to, thẳng, dầy và ngắn; đuôi cân đối; đầu to bự; lông ngắn là lý tưởng. Việc nuôi chim rất cẩn thận, như việc cho ăn, tưởng đơn giản song khá phức tạp. Nếu không cẩn trọng, khi cho chim ăn cào cào, châu chấu mà giữ nguyên chân thì vuốt sắc ở chân có thể làm xước cổ họng loài “Hùng Điểu”, “Vương Điểu” này. Muốn chim sung sức, ngoài nguồn thức ăn "tươi sống" trên, người nuôi phải cho chim ăn gạo rang trộn lòng đỏ trứng gà, nước uống phải là nước mưa. Hàng ngày còn cho chúng tắm nắng, tắm nước để không sinh rận và giúp chim khoẻ hơn…

3. Lão Khon lặng lẽ dẫn chúng tôi sang nhà lão Cược ở gần đó. Lão Cược có rất nhiều lồng chim treo trước hiên nhà. Chỉ có điều tất cả các lồng đều trống trơn. Lần đầu gặp chúng tôi lão Cược có vẻ hơi e dè: “Không có chim bán nữa đâu. Tôi thả chúng về rừng cả rồi...”. Qua tuần trà, lão Cược đã thân thiện hơn. Nhìn quanh ngôi nhà nhà lão Cược treo vô số bẫy và thú nhồi bông, tôi biết lão là một thợ săn có hạng ở nơi này. Từ xưa đến nay chưa ai vượt qua được lão về tài năng bẫy chim hoạ mi.

 

Sơn “trọc”, một đại gia chơi mi chọi ở Bạch Mai (Hà Nội) không biết bao lần ôm tiền lên Na Hang để săn chim. Lần này, Sơn giắt lưng theo khoảng hơn trăm triệu, vì họa mi ở đây ngày càng hiếm. Nếu có “hàng”, hắn sẽ dốc toàn bộ ngân khố để mang chim về, còn nếu không, thì lại phải chuyển địa điểm “ăn hàng” lên khu vực miền núi cao hơn, có thể là Hà Giang.

Lão sinh ra và lớn lên giữa chốn rừng già nên lão được các bậc tiền bối, truyền lại cho nhiều bí kíp của nghề săn. Ngay từ nhỏ lão đã rất thích chim hoạ mi hót sau vườn mỗi sáng. Tiếng hót trong như tiếng suối xa của lũ chim hoạ mi khiến lão nghe nhiều đâm nghiện. “Lũ chim yêu tự do, yêu bầu trời nên chúng hót hay lắm. Khổ nỗi mấy anh hoạ mi có máu là thích “choảng” nhau. Hễ cứ gặp nhau là anh chim đực phải “giao chiến”. Những cuộc “thư hùng” giữa chúng diễn ra rất gay go. Có cuộc chiến một mất, một còn. Nhiều hôm tôi mải xem hoạ mi chọi nhau quên cả đuổi trâu về nhà bị bố mẹ mắng như tát nước”.

Thế rồi phong trào chơi chim họa mi chọi ở dưới xuôi phát triển sẵn có máu nghề săn, lão lao vào bẫy chim mang bán. Những chú chim hoạ mi dù tinh quái đến mấy cũng bị lão “triệu tập” vào lồng rồi xuất về xuôi. Sau vài năm đi săn, lão tuyển được ngót nghét 100 con hoạ mi chiến. Cuộc sống của lão cũng thay đổi hẳn. Những tiện nghi sinh hoạt đắt tiền nhà lão ngày một nhiều hơn. Số lần lão luồn rừng nhiều hơn thường lệ. Chẳng mấy chốc những “ca sĩ” của núi rừng dần vắng bóng.

“Một lần tôi bị trận ốm thập tử nhất sinh. Nằm dài ở nhà mà tôi không nghe thấy tiếng chim hót khiến tâm hồn cô quạnh. Những đồng tiền kiếm được từ việc bắt chim cũng không làm tôi vui hơn. Sau trận ốm đó, tôi quyết định thả sạch hoạ mi về rừng và giải nghệ”, lão Cược nhớ lại. (Theo Báo NNVM)

Đọc tiếp...

Hỏi đáp vắn tắt Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ

Đạo Luật Lacey đã được bổ sung vào các năm 1969, 1981, 1988 và gần đây vào ngày 22/05/2008.

Bổ sung ngày 22/05/2008 nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật đối với thực vật và sản phẩm từ thực vật (Phần 8204. Ngăn chặn khai thác gỗ bất hợp pháp). Bổ sung ngày 22/05/2008 sẽ có hiệu lực từ ngày 15/12/2008.

1) Đạo Luật Lacey của Hoa Kỳ làm gi?
1. Cấm buôn bán thực vật hoặc sản phẩm từ thực vật – bao gồm cả gỗ và sản phẩm từ gỗ bất hợp pháp xuất xứ từ bất kỳ bang nào của Hoa Kỳ hoặc từ nước ngòai vào Hoa Kỳ.
2. Đòi hỏi người nhập khẩu phải khai báo xuất xứ gốc và tên lòai gỗ có trong sản phẩm của họ.
3. Thiết lập hình phạt cho sự vi phạm đạo luật này, bao gồm tịch thu hàng hóa, phạt tiền hoặc tống giam, hoặc tịch thu phương tiện, thiết bị vận chuyển trong các trường hợp nghiêm trọng như buôn lậu sản phẩm có nguồn gốc bất hợp pháp hay giả mạo giấy tờ.

2) Điều gì được coi là vi phạm Đạo Luật Lacey?
Có hai lọai vi phạm Đạo Luật Lacey:
- Thứ nhất, thực vật hoặc sản phẩm từ thực vật thu hái, khai thác, vận chuyển, xuất khẩu trái luật và các hiệp định ở bất kỳ quốc gia hay bang nào của Hoa Kỳ. Điều này cấu thành thực vật có nguồn gốc bất hơp pháp.
- Thứ hai, thực vật có nguồn gốc bất hợp pháp này được nhập khẩu, mua, bán, sở hữu, trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Điều này cấu thành hành vi vi phạm Đạo Luật Lacey.
Việc khởi tố dựa trên cơ sở nguyên liệu bất hợp pháp có trong sản phẩm được phát hiện ở bất kỳ công đọan nào của chuỗi cung cấp.

3) Điều gì là bất hợp pháp theo Đạo Luật Lacey?
“Bất hợp pháp” được định nghĩa bởi nội dung luật của chính các quốc gia có chủ quyền. Phạm vi các luật liên quan đến vi phạm Đạo luật Lacey do đó chỉ giới hạn trong các luật điều chỉnh các hành vi sau đây:
1. Trộm cắp thực vật.
2. Khai thác thực vật từ vùng được chính thức bảo vệ, như vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn.
3. Khai thác thực vật từ những “vùng được họach định chính thức” theo luật hoặc quy định của quốc gia.
4. Khai thác thực vật mà không có hoặc trái thẩm quyền.
5. Tiền trả cho chủ đất, thuế hoặc lệ phí liên quan tới việc khai thác, vận chuyển hoặc buôn bán thực vật.
6. Luật xuất khẩu, chuyển hàng, như luật cấm xuất khẩu gỗ tròn.
Điều rất quan trọng cần lưu ý là việc không hiểu biết về luật pháp và nghị định không thể bảo vệ người vi phạm khỏi bị khởi tố bởi Đạo Luật Lacey nếu vi phạm luật.

4) Điều gì cần khai báo theo yêu cầu Đạo Luật Lacey và tại sao?
Đạo Luật Lacey, đòi hỏi người nhập khẩu phải thực hiện khai báo về mọi lô hàng thực vật hoặc sản phẩm từ thực vật. Nội dung khai báo gồm:
1. Tên khoa học của mọi lòai thực vật sử dụng trong sản phẩm.
2. Nước khai thác.
3. Số lượng và cách đo.
4. Giá trị.
Nếu có nhiều lòai được dùng để làm ra sản phẩm thì phải khai báo tất cả mọi lòai đó. Mục đích của việc khai báo này là tăng sự minh bạch của thương mại gỗ nhằm giúp Chính phủ Hoa Kỳ trong tăng cường hiệu lực luật pháp.

5) Nộp tờ khai cho cơ quan nào?
Tờ khai nộp cho Cơ quan Dịch vụ Thanh tra Sức khỏe Động Thực vật (APHIS) thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA). Mẫu tờ khai điện tử sẽ sớm sẵn sàng trong thời gian tới.

6) Có trường hợp nào được miễn trừ kê khai?
Có.
- Thứ nhất, nhằm cho phép ngành chế biến gỗ có thời gian điều chỉnh, Đạo Luật có các chương đặc biệt cho những sản phẩm phức tạp thường sử dụng nguyên liệu từ nhiều nước hoặc nhiều lòai khác nhau. Nếu như nước xuất xứ hoặc lòai là không rõ với lô hàng, Đạo Luật cho phép tờ khai với tên lòai hoặc nước xuất xứ phù hợp nhất. Sự nới lỏng này phần nhiều sẽ được thu hẹp sau khi chính phủ rà sóat lại yêu cầu khai báo trong vòng hai năm.
- Thứ hai, tờ khai cho sản phẩm giấy từ bột giấy tái chế không cần kê khai tên lòai và xuất xứ của nguyên liệu tái chế. Nhưng tờ khai bắt buộc phải có phần trăm trung bình của lượng nguyên liệu tái chế, lòai và các thông tin gốc của nguyên liệu thực vật không thuộc nguồn tái chế cũng như phần trăm của chúng trong sản phẩm.
Cuối cùng, người nhập khẩu không phải khai báo nguyên liệu thực vật làm bao bì như thùng các tông hoặc pa-let, trừ phi những bao bì này chính là hàng nhập khẩu.

7) Những ví dụ thực tế vi phạm Đạo Luật Lacey?
Một Công ty ở bang California nhập một lô ván sàn từ Trung Quốc, được sản xuất từ gỗ được khai thác không phép tại một nước ở Châu Phi.
Một nhà xuất khẩu từ Mỹ La Tinh, cố tình dán nhãn sai lô hàng ván sàn làm bằng gỗ Tuyết Tùng Tây Ban Nha, xuất vào Hoa Kỳ, bằng lòai gỗ rẻ tiền hơn để trốn thuế và trốn tránh CITES.
Một Công ty sản xuất giấy sử dụng gỗ khai thác bất hợp pháp tại Indonesia và xuất bán sản phẩm giấy của họ vào Hoa Kỳ.

8) Khung hình phạt của Đạo Luật Lacey
Hành vi vi phạm có thể bị xử phạt như sau:
Phạt tiền,
Tịch thu hàng hóa và phương tiện.
Phạt tù đến 5 năm.

9) Đạo Luật Lacey khác gì với các luật và chính sách hiện hành?
Đạo Luật Lacey xuất phát trên quan điểm giảm nhu cầu về gỗ bất hợp pháp nhưng rõ ràng và dứt khóat hơn hẳn Quy định về Tăng cuờng luật pháp và thương mại Lâm nghiệp (FLEGT) và Thỏa thuận tham gia tự nguyện (VPA) của EU.
FLEGT lọai trừ sản phẩm có chứa thực vật khai thác trái phép. VPA là thỏa thuận song phương nhằm lọai bỏ một số lòai cụ thể.
Đạo Luật Lacey thiết lập nguyên tắc pháp lý cơ bản – đó là cấm hành vi buôn bán nguyên liệu bất hợp pháp trên đất Hoa Kỳ - và để cho các Công ty tự hành động theo cách mà họ cho là phù hợp. Nói cách khác Đạo Luật không đòi hỏi công ty phải tuân thủ bất kỳ nguyên tắc hợp pháp thành văn nào bởi không có quy định văn bản nào, tự nó, có thể đảm bảo 100% tính hợp pháp. Thay vào đó Chính phủ Hoa Kỳ sẽ đánh giá sự phù hợp theo từng trường hợp.

10) Đạo luật Lacey sẽ được Chính phủ Hoa Kỳ thực hiện thế nào?
Cơ quan Dịch vụ về Cá và Động vật Hoang dã (FWS), với kinh nghiệm lâu năm trong thanh tra các trường hợp nhập khẩu và buôn lậu động vật hoang dã, và Cơ quan Dịch vụ Thanh tra Sức khỏe Động Thực vật (APHIS), với trách nhiệm truyền thống trong nhập khẩu thực vật sẽ xử lý các kê khai và thanh tra các trường hợp nhập khẩu gỗ lậu. Bộ An ninh Nội địa, cơ quan kiểm sóat thuế quan và biên phòng sẽ hỗ trợ cho việc này.
Nếu các thanh tra liên bang phát hiện hoặc nhận được chứng cứ của hành vi vi phạm, việc điều tra tiếp theo sẽ được tiến hành. Nếu có bằng chứng rõ ràng, thì lô hàng có thể sẽ bị giữ và trường hợp này có thể sẽ được chuyển qua Bộ Tư pháp.
Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ có công văn hướng dẫn các cơ quan thực thi Đạo Luật, trên cơ sở đó các cơ quan này sẽ ban hành các hướng dẫn thi hành như quy định của Đạo Luật.

11) Khi nào Đạo Luật Lacey có hiệu lực?
Thực ra Đạo Luật Lacey đã có hiệu lực từ ngày 22/05/2008. Hiệu lực pháp quy cho các nhà nhập khẩu nộp tờ khai bắt đầu từ ngày 15/12/2008.
Khỏang thời gian từ 15/12/2008 đến 01/04/2009 được coi là giai đọan “tập dượt”. Trong thời gian này việc nộp tờ khai là chưa bắt buộc, tuy nhiên các công ty có thể tự nguyện nộp tờ khai.
Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, cơ quan quyết định khởi tố sẽ không xử phạt các công ty không nộp tờ khai trước 01/04/2009.

Từ ngày 01/04/2009 việc nộp tờ khai là bắt buộc.

Lê Khắc Côi, WWF Việt Nam

Đọc tiếp...

DN chế biến, XK gỗ: Nước đến chân - Nhảy đến đâu ?

Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Tôn Quyền - Phó Chủ tịch kiêm Tổng TK Hiệp hội Gỗ và Lâm sản VN xung quanh những vướng mắc mà các đạo luật này tác động tới DN VN.

Ông Quyền cho biết, thực ra Luật Lacey có từ lâu và trước đây áp dụng cho nông nghiệp, nhưng năm nay bắt đầu áp dụng cho lâm nghiệp. Nội dung chính của Luật Lacey là: Gỗ, và tất cả các sản phẩm gỗ vào Mỹ phải chứng minh được nguồn gốc của gỗ, phải được trải qua chuỗi kiểm tra của một tổ chức quốc tế độc lập

Thứ hai là hoá chất sử dụng phải đảm bảo an toàn (lượng chì trong sơn không quá 1%); thứ ba là gỗ phải có keo để dán; thứ tư gỗ sử dụng kèm với vật liệu khác, ví dụ như vải có sử dụng hoá chất để nhuộm thì không được sử dụng kết hợp với gỗ để làm các sản phẩm. Đây là nhưng quy định bắt buộc chứ không có thương thảo.

Về Luật Flegt của EU, cơ bản cũng giống đạo Luật Lacey của Mỹ nhưng chỉ khác là DN XK có thể thương thảo được. Dự kiến năm 2011 bắt đầu thực thi, do vậy mà Hiệp hội cũng đang chuẩn bị công tác thoả thuận trước với thị trường EU. Hiện nay, Bộ NNPTNT đã thành lập nhóm công tác về Flegt có nhiệm vụ xây dựng hệ thống thông tin đầy đủ, đào tạo kỹ năng cho DN về thu mua lâm sản có nguồn gốc bền vững, không gây tác động xấu đến môi trường, tư vấn thủ tục xin cấp chứng chỉ FSC, hệ thống giám sát... Tôi xin nhấn mạnh rằng, không phải mình tự đứng ra cấp giấy chứng nhận xuất xứ được, mà mình thoả thuận với Mỹ và quốc tế để một tổ chức độc lập, tức là bên thứ ba đứng ra chứng nhận.

- Như vậy có thể thấy việc kinh doanh XK gỗ, đặc biệt là vào thị trường Mỹ và EU ngày một khó khăn và đòi hỏi DN XK phải chuyên nghiệp hơn. Các DN VN đã chuẩn bị đón nhận đạo luật này ra sao, thưa ông ?


Thực ra, thông tin này không phải là quá mới mẻ với DN, tuy nhiên do vẫn quen cách kinh doanh cũ nên nhiều DN còn khá lúng túng trong việc thực hiện luật này. Tôi nghĩ rằng, các cơ quan chức năng cần có sự hỗ trợ các DN gỗ thực hiện nghiêm túc luật nếu muốn XK sang thị trường Hoa Kỳ, EU. Chẳng hạn biên dịch các tài liệu, hướng dẫn các DN cụ thể phương hướng, cách thức... để DN có thể quen dần với những quy định mới.

Tuy nhiên, cũng có một điều may mắn nữa với các DN XK gỗ là cùng với các DN VN và các cơ quan hữu quan của VN, các nhà nhập khẩu gỗ của EU cũng có nhiều động thái nhằm hỗ trợ các DN VN chuẩn bị thực thi, hướng dẫn DN rất tỉ mỉ từng công đoạn trong việc thực hiện đạo luật mới.

- Thưa ông, một trong những điều khoản quan trọng nhất của hai đạo luật của Mỹ và EU đều là DN phải chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ của gỗ. Xin ông cho biết các DN VN sẽ gặp khó khăn gì trong việc thu mua gỗ nguyên liệu ?
 
Hiện nay phần lớn gỗ nguyên liệu các DN đều phải nhập khẩu, cái khó là DN phải tìm được nguồn gỗ hợp pháp. Chính vì là gỗ hợp pháp nên đôi khi giá thành bị "đội" lên, thời gian cũng phải lâu hơn. Một điều khó nữa cho DN là đôi khi chất lượng gỗ hợp pháp lại không phù hợp với thị trường yêu cầu. Tuy nhiên, cũng may là thị trường gỗ trong nước cũng có những tín hiệu khả quan. Khoảng 2 năm trở lại đây các DN sử dụng gỗ trong nước và khá thành công với các sản phẩm gỗ. Chúng tôi đã sử dụng hàng triệu m3 gỗ trong nước để sản xuất. Điều chúng tôi mong muốn hiện nay là có nguồn gỗ trong nước để sản xuất sẽ giảm được chi phí cho các DN.

- Trước tình trạng việc NK gỗ cũng như chứng minh nguồn gốc gỗ gặp khó khăn do hai đạo luật của Mỹ và EU, Hiệp hội đã có những giải pháp nào để hỗ trợ các DN ?


Hiện nay chúng tôi đang chuẩn bị công tác xúc tiến thành lập trung tâm giao dịch gỗ tại ba miền: Bắc, Trung, Nam. Tuy nhiên điều này nếu chỉ mình hiệp hội thì khó mà làm được, Nhà nước cần ra tay hỗ trợ chúng tôi làm việc này !

Nếu trung tâm này đi vào hoạt động sẽ có nhiều lợi ích cho DN, cụ thể giá thành giảm khoảng 10%, tiết kiệm được thời gian sản xuất và đặc biệt nguồn gốc, xuất xứ gỗ rất rõ ràng. Hiện nay chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, chỉ riêng về quỹ đất, mỗi trung tâm cũng phải khoảng 20 ha, vốn ban đầu hàng chục triệu USD, phải có chuyên gia giỏi... tất cả những điều này đều quá sức với hiệp hội. Hiện nay trong Nam đã có 10 DN đứng ra tự góp vốn để xây dựng trung tâm, hiện về đất cũng đã có 1 DN đứng ra lo. Tuy nhiên, sức của 10 DN này cũng chưa đủ để xây dựng nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước.

- Nhiều người e ngại về tính khả thi của trung tâm giao dịch, nghĩa là nếu có thành lập thì việc giao dịch sẽ không nhiều. Ông nghĩ sao về điều này ?


Theo tôi được biết thì các DN rất hoan nghênh việc thành lập trung tâm giao dịch gỗ, đặc biệt khi các đạo luật của Mỹ và EU đi vào thực thi. Nếu thành lập được, ít nhất DN sẽ có ba điều lợi: Thứ nhất giảm chi phí cho nhân viên đi nước ngoài giao dịch; Thứ hai giảm chi phí trong kho, thiết bị, vận chuyển bốc xếp; Thứ ba giảm hư hỏng vật liệu. Tóm lại là DN sẽ giảm được rất nhiều chi phi và thời gian mà lẽ ra họ có thể dùng chi phí đó để đầu tư vào nghiên cứu mẫu mã sản phẩm và thị trường. Sở dĩ trung tâm giao dịch gỗ đã manh nha từ 3 năm nay nhưng vẫn chưa đâu vào đâu còn có một nguyên nhân nữa là tính liên kết của các DN vẫn còn yếu. Nhiều DN không muốn qua trung tâm mà muốn tự đi tìm nguồn gỗ bởi hiện nay vẫn còn tình trạng nhiều DN mua gỗ về không dùng hết để sản xuất ra sản phẩm mà để bán lại gỗ kiếm lời, kinh doanh nguyên liệu.

- Một trong những điểm yếu của các DN XK gỗ hiện nay như ông nói là tính liên kết còn kém, bên cạnh đó sức cạnh tranh của sản phẩm vẫn còn chưa cao. Vậy, theo ông các DN nên làm gì trong bối cảnh này ?


Theo tôi, các DN gỗ muốn cạnh tranh được cần hội đủ các yếu tố: Thứ nhất phải sử dụng gỗ hợp pháp; Thứ hai phải đàm phán để nhận được đơn hàng lớn, ví dụ chúng tôi vừa nhận được một đơn hàng 10 triệu chiếc ghế từ thị trường Mỹ trong 1 năm, nếu muốn làm thì bắt buộc các DN phải liên kết, để làm được 1 triệu chiếc ghế phải có 20 DN kết hợp thì mới hoàn thành được đúng thời hạn.

Thứ ba cần phải nghiên cứu tốt thị hiếu người tiêu dùng, ví dụ vài năm trước thị trường EU rất chuộng loại ghế ngoài trời, nhưng nay thì họ chỉ chuộng bàn ghế cao cấp trong nhà. Tôi đánh giá cao tinh thần kinh doanh của các DN VN, họ rất nhạy bén  và sáng tạo. Tôi biết có những DN chỉ trong 3 tháng đã xây dựng xong 2 xưởng làm bàn ghế nội thất. Phải thừa nhận rằng họ rất nhanh nhạy, dám đầu tư lớn. Nếu biết hóa giải điểm yếu liên kết thì các DN gỗ sẽ thành công trên thị trường quốc tế.

- Xin cảm ơn ông !

 

Nguồn: www.vcci.com.vn
Đọc tiếp...

Xuất khẩu gỗ lúng túng trước các luật lệ mới

Những luật này quy định và kiểm soát rất chặt chẽ về nguồn gốc và tính hợp pháp của gỗ, vi phạm có thể bị trừng phạt  Ngày 1-4 sắp tới đạo luật Lacey cấm buôn bán lâm sản bất hợp pháp, trong đó có gỗ và sản phẩm từ gỗ, vào Hoa Kỳ, bắt buộc doanh nghiệp phải nộp tờ khai, chứng từ rõ ràng về tên, loại gỗ, quốc gia khai thác gỗ, cách thức khai thác…, tức là phải có chứng nhận FSC (Forest Stewardship Council) của Hội đồng quản lý rừng bền vững thế giới.

Sản phẩm phải có lý lịch rõ ràng

Đạo luật Lacey cũng đòi hỏi chứng nhận quy trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm CoC (chain of custody) để nhà chức trách Mỹ có thể dễ dàng kiểm tra toàn bộ quy trình, từ khai thác gỗ ở một nước, vận chuyển qua các cửa khẩu, cảng biển nào trước khi đến nhà máy chế biến gỗ ở Việt Nam…

Theo ông Heiko Woener, Trưởng hợp phần 2, Chương trình lâm nghiệp Việt Đức GTZ, tại hội thảo phổ biến những yêu cầu pháp luật và môi trường của sản phẩm gỗ xuất sang Mỹ và EU trong khuôn khổ Hội chợ quốc tế VIFA 2010, thì ngoài đòi hỏi khắt khe về giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp lệ, nhà chức trách Mỹ còn tiến hành điều tra thực tế đối với tính hợp pháp của sản phẩm.

Cụ thể, nếu doanh nghiệp Việt Nam sử dụng một phần gỗ nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng nhưng có dùng thêm gỗ bất hợp pháp, không rõ nguồn gốc, từ Malaysia chẳng hạn, để chế biến đồ gỗ nội thất xuất sang Mỹ thì nếu bị phía Mỹ phát hiện sẽ bị tịch thu hàng hoá, phạt tiền; vi phạm nặng có thể bị phạt đến 5 năm tù giam.

Tuy nhiên, theo một số doanh nghiệp xuất khẩu gỗ thành viên Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa), mặc dù thời hạn nộp tờ khai bắt buộc ngày 1-4 đã đến gần, đến nay họ vẫn chưa nhận được văn bản yêu cầu hoặc hướng dẫn cụ thể từ chính quyền Mỹ. Năm ngoái đến nay một số khách hàng đã yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ có các chứng nhận xuất xứ, nguồn gốc gỗ; một số khách hàng khác thì chưa yêu cầu, do vậy nhiều doanh nghiệp cảm thấy lúng túng.

Sau đạo luật Lacey, tháng 1-2012, đạo luật FLEGT của EU cũng sẽ có hiệu lực. Đặc điểm chung của cả FLEGT và Lacey đều đòi hỏi nhà xuất khẩu phải trình bày chuỗi hành trình của sản phẩm lâm sản, tất cả các khâu từ khai thác cho đến thành phẩm, một cách minh bạch, rõ ràng để nhà chức trách Mỹ và EU có thể truy xét nguồn gốc nguyên liệu.

Bất cập trong khâu chuẩn bị

Ngày 3-3 vừa qua tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra mắt nhóm công tác về FLEGT có nhiệm vụ xây dựng hệ thống thông tin đầy đủ, đào tạo kỹ năng cho doanh nghiệp về thu mua lâm sản có nguồn gốc bền vững, không gây tác động xấu đến môi trường, tư vấn thủ tục xin cấp chứng chỉ FSC, hệ thống giám sát…

Nhưng các bộ ngành có liên quan vẫn chưa có ý kiến thống nhất rằng liệu cơ quan nhà nước hay một tổ chức phi chính phủ sẽ chịu trách nhiệm cấp chứng nhận FSC và CoC cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Ông Đặng Quốc Hùng, Phó chủ tịch Hawa nói với TBKTSG Online, ngoài các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ lớn sử dụng nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu có chứng nhận FSC từ những nhà cung cấp gỗ cứng như Hội đồng xuất khẩu gỗ cứng Mỹ (AHEC), thì nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng gỗ có nguồn gốc không rõ ràng từ nhiều nước.

Ngoài yêu cầu của các đạo luật trên, khách hàng trên thế giới hiện nay cũng có tâm lý muốn dùng sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp. Chính vì vậy, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ nói chung trong thời gian tới sang các thị trường chính chắc chắn sẽ gặp khó khăn. Nhưng theo ông Hùng, "dù thế nào doanh nghiệp cũng phải chủ động đáp ứng để sản phẩm gỗ Việt Nam có tính cạnh tranh cao hơn trên thị trường thế giới”, ông nói.

Hiện thời Hawa đã liên kết với nhóm công tác về FLEGT, chương trình lâm nghiệp Việt-Đức và một số đơn vị, tổ chức khác để nghiên cứu, đưa ra những phương án đào tạo, tư vấn cho doanh nghiệp, giúp ngành xuất khẩu đồ gỗ không bị động đứng trước những yêu cầu khắt khe của các thị trường nhập khẩu gỗ và đồ gỗ lớn như Mỹ và EU, ông Hùng cho biết.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 2 tháng đầu năm 2010, lâm sản và đồ gỗ có tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 360 triệu đô la Mỹ, trong đó, riêng gỗ và sản phẩm gỗ đạt 319 triệu đô la Mỹ. Mỹ và EU tiếp tục là hai thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam.

Nguồn: Thời báo kinh tế Sài Gòn

Đọc tiếp...
Tìm thấy 96 bài viết.