Tìm kiếm bài viết

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát động tết trồng cây Xuân Nhâm Thìn 2012


Anh_Tet_trong_cay.jpg

đó là lời kêu gọi của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong buổi lễ phát động Tết trồng cây "Đời đời nhớ ơn Bác Hồ" Xuân Nhâm Thìn 2012, ngày 29/1 (tức ngày mùng 7 Tết) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình tổ chức tại xóm 5 xã Kim Động, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Tham dự lễ phát động có lãnh đạo Văn phòng Chủ tịch nước, các Bộ Kế hoạch và đầu tư, Công an, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; lãnh đạo các cơ quan, ban/ngành, đoàn thể ở Trung ương; đại diện Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình; lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp và đông đảo người dân địa phương.
Tại lễ phát động, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: ngày nay, nhiệt độ trái đất đang nóng lên, biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng đang đe dọa cuộc sống của con người trên trái đất; do đó để phát triển kinh tế bền vững phải đi đôi với bảo vệ môi trường và điều đó đã trở thành yêu cầu sống còn với mọi quốc gia. Vì vậy, việc trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng ngày càng có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, mỗi gia đình, mỗi người dân từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng hãy tham gia Tết trồng cây - một việc “tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”, để Tết trồng cây trở thành một tập quán tốt đẹp của nhân dân ta trong những ngày vui Tết, đón Xuân. Chủ tịch nước nhấn mạnh mọi người trồng cây, mọi nhà trồng cây; trồng cây ăn quả, trồng cây lấy gỗ, trồng cây chắn gió bảo vệ đê biển, chống xói mòn đất, chống cát bay; trồng cây trong thôn xóm, dọc đường giao thông nông thôn, vùng ven biển, biên giới, trên các hải đảo, vùng đất trống, đồi trọc… phù hợp với điều kiện của từng nơi; đồng thời cần nâng cao ý thức và có nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực để bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái pháp luật. Làm tốt điều này là làm theo lời dạy của Bác, vừa góp phần phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân, vừa giữ gìn môi trường sống cho muôn đời con cháu.
Tại lễ phát động, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám cho biết hiện tại Việt Nam đã hoàn thành về cơ bản các mục tiêu của Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng. Riêng năm 2011 cả nước đã trồng thêm được trên 212 nghìn hecta rừng, từng bước ngăn chặn được tình trạng suy giảm rừng, đưa độ che phủ của rừng từ 32% năm 1998 lên trên 40% năm 2011, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững quốc phòng, an ninh.
Cũng trong dịp này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến thăm và trồng cây lưu niệm tại Đồn Biên phòng 104, dâng hương và trồng cây lưu niệm tại đền thờ Dinh Bình Hầu Nguyễn Công Trứ Tướng công tại huyện Kim Sơn; đền thờ Danh nhân chính trị, quân sự, văn hóa Trương Hán Siêu tại thành phố Ninh Bình và khu văn hóa tâm linh núi chùa Bái Đính tại xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn.
Sau lễ phát động của Chủ tịch nước nhiều tỉnh như Phú Thọ, Yên Bái, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hà Nội, … đã đồng loạt tổ chức lễ phát động “Tết trồng cây đời đời ơn Bác” năm Nhâm Thìn 2012./.
                                                                           Văn phòng Tổng cục Lâm nghiệp
 

Đọc tiếp...

Chuẩn bị kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2012

Đây là một trong những nhiệm vụ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị UBNDcác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương chỉ đạo triển khai, nhằm chủ động thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2012 ngay từ đầu năm.
Về cân đối vốn thực hiện kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng năm 2012, do khả năng nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ không đủ đảm bảo cho các nhiệm vụ kế hoạch được giao, vì vậy các địa phương chủ động bố trí theo phương thức: Nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ cho địa phương ưu tiên bố trí cho các nhiệm vụ theo thứ tự: chăm sóc diện tích rừng đã trồng và khoanh nuôi sắp thành rừng; hỗ trợ khoán bảo vệ rừng đối với các huyện thuộc chương trình 30a; trồng mới rừng phòng hộ ven biển, các vùng đầu nguồn các lưu vực sông lớn, khu vực xung yếu có nguy cơ cao về sạt lở đất, lũ quét.
Các địa phương cân đối từ nguồn thu chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ để chi trả cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng. Trước mắt, những diện tích khoán bảo vệ rừng đã được chi trả tiền thu từ dịch vụ môi trường rừng sẽ không thanh toán tiền khoán bảo vệ rừng từ ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, tạo điều kiện cho các hộ, các doanh nghiệp trồng rừng tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng để đầu tư trồng rừng với lãi suất ưu đãi.
Ngoài ra, các địa phương cần tổ chức thực hiện công tác khuyến lâm, chuyển giao và cung ứng giống tiến bộ kỹ thuật được công nhận cho sản xuất nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng, thực hiện tốt công tác quản lý giống cây trồng lâm nghiệp.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn yêu cầu các địa phương có nguồn thu về chi trả dịch vụ môi trường rừng khẩn trương thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh, sớm đưa quỹ này vào hoạt động ngay từ đầu năm 2012./.
(Theo chinhphu.vn)

Đọc tiếp...

Sửa đổi Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg, tăng mức hỗ trợ đầu tư trồng rừng và khuyến lâm


QD66TTG.PDF

Theo Quyết định 66/2011/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015, sẽ tăng mức hỗ trợ đầu tư trồng rừng và khuyến lâm; đầu tư trồng và quản lý rừng giống, vườn giống.
Theo quy định mới ban hành, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng ở các xã đặc biệt khó khăn trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc, quy hoạch là rừng sản xuất thì được hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước với mức hỗ trợ cao hơn.
Cụ thể, trồng các loài cây sản xuất gỗ lớn (khai thác sau 10 năm tuổi), cây bản địa thì được hỗ trợ 4,5 triệu đồng/ha thay vì 3 triệu đồng/ha như quy định cũ; trồng các loài cây sản xuất gỗ nhỏ (khai thác trước 10 năm tuổi), mức hỗ trợ 3 triệu đồng/ha (quy định cũ là 2 triệu đồng/ha).
Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trồng rừng không thuộc đối tượng nêu trên thì được hỗ trợ cây giống, khuyến lâm, mức hỗ trợ tối đa 2,25 triệu đồng/ha (quy định cũ 1,5 triệu đồng/ha); nếu trồng cây phân tán, mức hỗ trợ 2,25 triệu đồng/1.000 cây phân tán (tương đương một ha rừng trồng) (quy định cũ là 1,5 triệu đồng/1.500 cây phân tán, tương đương một ha rừng trồng). Mức hỗ trợ cụ thể được căn cứ vào giá cây giống do UBND cấp tỉnh công bố hàng năm.
Mức hỗ trợ chi phí cho công tác khuyến lâm cũng sẽ tăng từ 200.000 đồng/ha lên 300.000 đồng/ha trong 4 năm (1 năm trồng và 3 năm chăm sóc) nếu trồng rừng tại các xã đặc biệt khó khăn. Nếu trồng rừng tại các xã còn lại thì mức hỗ trợ tăng từ 100.000 đồng/ha lên 150.000 đồng/ ha.
Theo Quyết định 66/2011/QĐ-TTg, sẽ tăng mức hỗ trợ đầu tư trồng và quản lý rừng giống, vườn giống.
Cụ thể, rừng giống, vườn giống do các thành phần kinh tế quản lý phải nằm trong quy hoạch của cấp có thẩm quyền phê duyệt, được hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất ban đầu theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Định mức hỗ trợ tối đa từ ngân sách nhà nước cho phần lâm sinh, xây dựng hạ tầng và trang thiết bị được quy định cụ thể như sau:
- Không quá 52,5 triệu đồng/ha đối với vườn giống được trồng mới (quy định cũ là 35 triệu đồng/ha).
- Không quá 37,5 triệu đồng/ha đối với rừng giống được trồng mới (quy định cũ là 25 triệu đồng/ha).
- Không quá 15 triệu đồng/ha đối với rừng giống được chuyển hoá (quy định cũ là 10 triệu đồng/ha).
Ngoài mức hỗ trợ nêu trên còn được hỗ trợ 150.000 đồng/ha/năm (quy định cũ là 100.000 đồng/ha/năm) để chi phí quản lý bảo vệ rừng giống, vườn giống; thời hạn hỗ trợ không quá 5 năm./.

 

Đọc tiếp...

Cuộc chiến giữ rừng và những chuyện “ngoài báo cáo”

Liên tiếp trong hai ngày thứ Bảy và Chủ nhật tuần qua, Bộ trưởng Cao Đức Phát đã chủ trì hai cuộc họp về bảo vệ rừng. Mong được sự thông cảm vì họp vào ngày nghỉ (là đại biểu Quốc hội, ông chỉ được nghỉ họp hai ngày cuối tuần khi kỳ họp thứ hai đang diễn ra - PV) song ông đề nghị mọi người tham dự hết sức nghiêm túc và tranh thủ thời gian để nói thẳng, nói đúng, nói đầy đủ tình hình để cùng thống nhất giải pháp.

Bởi như ông nói, hiện ngành nông nghiệp đang khá căng thẳng khi phải đối phó với thiên tai, dịch bệnh… Đặc biệt, cuộc chiến giữ rừng đang ngày càng cam go, máu của người giữ rừng vẫn đổ, trong khi rừng vẫn đang bị đe dọa từng ngày.

Mất rừng, do ai?

Sự nóng lòng của Bộ trưởng tại Vườn quốc gia Yok Don có lẽ cũng do một phần tác động từ những thông tin từ Hội nghị bảo vệ rừng khu vực Tây nguyên và Đông nam bộ tại Thành phố Buôn Mê Thuột (Đắc Lắc) diễn ra trọn ngày hôm trước.

Tại đây, những khó khăn của cuộc chiến giữ rừng khu vực Tây nguyên và Đông nam bộ, nơi có tới 3,72 triệu ha rừng, chiếm 27,8% diện tích rừng của cả nước đã bộc lộ sự gay gắt, không chỉ ở con số suy giảm với tổng diện tích lên đến 158.000 ha trong 5 năm 2006 -2011. Và 9 tháng qua diện tích rừng bị thiệt hại cũng lên đến 1.047ha, chiếm 68,6% so với toàn quốc, với 1.710 vụ phá rừng trái pháp luật được phát hiện. Tình trạng chống người thi hành công vụ diễn ra ngày càng thường xuyên, gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Tuy nhiên, những ý kiến tại hội nghị cho thấy sự cam go của cuộc chiến giữ rừng không hoàn toàn nằm ở bất cập của chính sách, đội ngũ, hay tài chính eo hẹp… vẫn thường được nêu tại các báo cáo.

Chiếm diễn đàn gần một giờ đồng hồ, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc Đinh Văn Thiết đặt ra sự nan giải trong bài toán làm sao để dân sống được từ rừng và vấn đề chống di cư tự do. Bởi đồng bào dân tộc tại chỗ, người dân di cư tự do vẫn là đối tượng trực tiếp phá rừng.

Ba câu chuyện “không có trong báo cáo” nhưng rất nóng được Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắc Nông Nguyễn Đức Luyện kể là nhà nhà trồng cao su, mọi doanh nghiệp trồng cao su nên tạo ra lộn xộn trong tìm kiếm đất đai.

Nóng thứ hai là chống người thi hành công vụ nhưng chẳng dễ gì thống nhất trong xử lý giữa các cơ quan chức năng.

Ba là khai thác khoáng sản quá phức tạp, tạo nên áp lực và ảnh hưởng đến an ninh trật tự.

Mà, một trong các nguyên nhân khiến việc bảo vệ rừng còn đang rất nóng, là “chuyện quản lý nhà nước của chúng ta không chuẩn”. Trên bản đồ có rừng, kiểm tra thực tế có thể không có. Rồi rất nhiều diện tích rừng dân canh tác ít nhất 7 năm, cà phê, điều đã có có thu hoạch, hồ sơ phá rừng không có nên rất khó xử lý. Hàng năm trong quá trình thống kê rừng để báo cáo thường phát hiện những diện tích như vậy.

Các ý kiến sau đó đều ít nhiều băn khoăn với sự thiếu đồng bộ cả về chính sách, tài chính trong bảo vệ rừng. Rõ ràng không thể chỉ nghĩ đến bài toán kinh tế trong việc giữ rừng. Song, lợi ích kinh tế trước mắt chính là nguyên nhân khiến ở nhiều nơi đồng bào tiếp tay cho lâm tặc, một số cán bộ bị vô hiệu hóa.

Phải kiên quyết đấu tranh với lâm tặc như đấu tranh với ma túy, đồng thời điều chỉnh chính sách để người dân hưởng lợi nhiều hơn từ kinh tế rừng, Bộ trưởng Cao Đức Phát nói.

“Dập lửa” Yok Don

Trở lại buổi làm việc ở vườn quốc gia Yok Don, trong suốt buổi sáng, gần như không có câu trả lời nào của “chủ nhà” đáp ứng được yêu cầu của vị “tư lệnh” ngành nông nghiệp.

Nhấn mạnh vai trò của Vườn quốc gia lớn nhất nước (115.545ha), song thời gian qua vẫn là điểm nóng về vi phạm lâm luật và nội bộ chưa thật sự đoàn kết thống nhất, nhiều vụ việc gây bức xúc dư luận, Bộ trưởng cũng “nóng”: nghe báo cáo tôi thấy chưa trúng, thực hư thế nào, giải quyết ra sao, đồng chí thay mặt cho Bộ ngồi ở đây phải báo cáo trung thực mới xử lý được, tôi không muốn nghe những lời đẹp mà muốn nghe sự thật.

Giám đốc Trương Văn Trrưởng trả lời, điểm nóng nhất là trên tuyến đường sông…

Bộ trưởng yêu cầu, anh phải có bản đồ tác chiến hàng ngày để theo dõi tình hình và có phương án xử lý ngay chứ.

Bản đồ được đưa ra, vị Hạt phó kiểm lâm của vườn được mời lên trình bày, đề cập rất nhiều khó khăn, trong đó có sự tiến thoái lưỡng nan trước hoàn cảnh của dân.

Phó chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thiết hỏi vị phó chủ tịch UBND huyện Buôn Đôn có mặt ở đó: dân ông phá rừng thì trách nhiệm của huyện thế nào?

Vị lãnh đạo huyện trả lời: Chúng tôi phát hiện nhưng khi đến hỏi thì dân bảo không biết gỗ của ai, lập biên bản thì không lập được vì gỗ vẫn vô chủ.

Gỗ không rõ nguồn gốc thì có lập được để tịch thu chứ,? Bộ trưởng hỏi.

Vâng, tịch thu được. Nhưng cũng có tình huống rất khó. Tháng trước chúng tôi cũng phát hiện vi phạm, nhưng khi lúc lực lượng hỗ trợ đến thì có một nhóm người chạy 10 xe honda để cản trở, trong khi anh em thì ít người.

Thế đám người đó ở đâu, có thể chụp ảnh, quay phim lại rồi đề nghị công an phối hợp điều tra không” Bộ trưởng truy tiếp.

Biết là họ ở Buôn Ma Thuột, nhưng lúc đó gần 10 giờ đêm nên không chụp được ảnh, lãnh đạo huyện trả lời.

Trưởng phòng Nông nghiệp của huyện thông tin thêm: Tiếp tay cho lâm tặc trong nhiều vụ là thanh niên người Kinh chứ không phải đồng bào dân tộc thiểu số.

Bộ trưởng nói với lãnh đạo vườn: Anh nói là dân tại chỗ có tham gia phá rừng thì phải có bằng chứng, phải có ông nào ở chỗ nào chứ nói chung chung đổ thừa thế không được.

Mục đích mình phát hiện là ngăn chặn chứ không phải để bắt dân đi tù, nhưng cần biết là ở đâu để vận động, thuyết phục, Bộ trưởng nói.

Cũng làm nhiều rồi, răn đe rất nhiều nhưng dân rất nghèo, tham gia phá rừng còn có cả đàn bà trẻ con nữa, nhiều lúc cũng thương nhưng buộc phải bắt, bắt xong vẫn rớt nước mắt, vị hạt phó giãi bày.

Dân vẫn có nhiều người tâm huyết với rừng, có vị già làng nói với tôi rằng, “con ạ, dân đói nghèo, người ngoài cầm cục tiền vào thì dân làm thuê cho người ta”. Biết là cần vận động dân nhưng nếu chỉ dựa vào lương để vào dân vận động thì khó, vị hạt phó nói thêm.

Lương anh bao nhiêu, thu nhập bình quân của anh em bao nhiêu? Bộ trưởng hỏi.

Thu nhập của tôi 7 triệu, của anh em trung bình dưới 3 triệu, hạt phó đáp.

Được sự khích lệ nói thẳng của bộ trưởng, vị trưởng phòng LâmPhòng nông nghiệp huyện nói tiếp: tại sao vườn có đến hơn 10 trạm kiểm lâm mà không bắt được gỗ, gỗ vẫn đổ ra sông thì phải xem lại các anh kiểm lâm.

Phó giám đốc vườn giải thích: Có những lúc xe chở gỗ đi qua thì chỉ có chị nuôi ở trạm.

“Nói thế thì các ông làm việc chả có mưu mẹo gì cả, đấy là tôi nói nhẹ”, Bộ trưởng phiền lòng.

Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Hà Công Tuấn nêu thêm khó khăn trong xử các vụ vi phạm khu vực ráp gianh giữa vườn và địa phương. Nếu gỗ bên ngoài khu vực của vườn thì trạm kiểm soát của vườn lại không thể xử lý.

Việc của các anh là tham mưu tạo ra hành lang pháp lý cho việc này, các anh chưa làm là thiếu sót. Hơn nữa việc phối hợp có khó khăn gì đâu, 1 cú điện thoại chưa đầy 30 giây. Tôi yêu cầu việc này phải làm ngay, Bộ trưởng sốt ruột.

Và nói tiếp, tháng 6 họp ở tỉnh ông nói yên hết rồi, mà giờ vẫn đang trên đống lửa, đã tắt đâu mà bảo yên, phải dập tắt đống lửa chứ không chỉ là ngọn lửa. Nhưng tôi chưa nhìn thấy phương án dập lửa, vẫn thấy thiếu mưu lược, phải có phương án tổng thể bảo vệ rừng bền vững chứ không thể phát hiện vụ nào làm vụ đó.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển và Nông thôn Hứa Đức Nhị chỉ ra nguyên nhân khiến công tác bảo vệ rừng chuyển biến chậm ở Vườn và cả khu vực là không nhận thấy đầy đủ thiếu sót và có khi thấy rồi cũng kệ, không có biện pháp mạnh để khắc phục.

Thứ trưởng đề nghị, lãnh đạo của vườn phải tập trung lo bảo vệ rừng, quân số của một số phòng ban khác cũng phải huy động cho việc này.

Ông nói với Phó chủ tịch tỉnh, anh xem lại đường dây gỗ quý từ rừng đi thế nào mà nghe nói có một số địa chỉ rõ ràng mình biết mà không làm được gì?

Tôi rất chia sẻ với khó khăn của vườn, diện tích rất lớn, địa bàn giáp biên giới, nhiều anh em chịu thương vong song lương so với mức sống hiện nay là thấp, Bộ trưởng Cao Đức Phát bắt đầu kết luận.

Song tình hình vẫn còn có thể nói là nghiêm trọng, nếu không có giải pháp căn cơ đồng bộ thì sẽ vẫn tiếp diễn. Tới đây tôi sẽ yêu cầu kỷ luật 1 số đồng chí và sẽ khen thưởng những người dũng cảm, xả thân giữ rừng, ông nói.

Ông cũng chỉ đạo Tổng cục Lâm nghiệp cử cán bộ vào vườn trực tiếp chỉ đạo các công việc ở vườn để lập lại kỷ cương. Trước mắt cần có phương án bảo vệ rừng bền vững, lập bản đồ tác chiến.

Phải vừa chiến đấu vừa làm, bận nhưng không có nghĩa là “ngâm” cả năm mới ra được, ông yêu cầu.

Thay lời kết

Mang câu chuyện băn khoăn về sự phối hợp trong công tác bảo vệ, phát triển rừng nói chung và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng nói riêng vào câu chuyện trong ít phút với Bộ trưởng Cao Đức Phát trong phòng chờ chuyến bay trở lại Hà Nội, ông chẳng “than phiền” gì, mà vẫn nhấn mạnh rằng, ngành nông nghiệp phải chủ động.

Lại nhớ, trên diễn đàn Quốc hội, khi một số sai sót trong việc cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất (không có rừng) để trồng rừng (trong khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không quản lý đất không có rừng và cũng không có trách nhiệm cấp phép) được đưa ra chất vấn, ông cũng kiên trì giải thích mà không nỡ “đổ” trách nhiệm cho cơ quan khác.

Nay, hơn 1 năm sau khi Thủ tướng có kết luận về vấn đề này, Bộ trưởng Phát cho biết, các bộ, ngành liên quan đang thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng và không phát hiện thêm sai sót. Vì Chính phủ đã có báo cáo riêng gửi đến Quốc hội nên báo cáo tổng kết dự án trồng mới 5 triệu ha rừng không thể hiện nội dung này.

Quay trở lại cuộc chiến giữ rừng, hỏi ông nghĩ thế nào khi bên hành lang hội nghị bảo vệ rừng, có ý kiến nói rằng, kiểm lâm không sợ lâm tặc mà sợ “bố lâm tặc”, thoáng băn khoăn, ông trả lời, có thể có người tiếp tay cho lâm tặc, song đó không phải là vấn đề chủ đạo trong câu chuyện mất rừng.

Mà, điều khiến ông “đau đầu” là phải tạo được bước đột phá trong công tác cán bộ để họ có thể yên tâm gắn bó với rừng.

Lâm Oanh, Thời báo Kinh tế VN

Đọc tiếp...

Cung cấp thông tin về việc điều tra, bắt giữ Ngà voi buôn lậu


Văn_bản_và_mẫu_đề_nghị_cung_cấp_thông_tin_Ngà_voi.Cites.doc

Cơ quan Quản lý Cites Việt Nam đề nghị Quý cơ quan có liên quan cung cấp thông tin về việc điều tra, bắt giữ Ngà Voi buôn lậu. Chi tiết tại văn bản và mẫu đính kèm./.

Đọc tiếp...

Hội thảo xây dựng kế hoạch 5 năm ngành Lâm nghiệp (2011 – 2015)

Tham dự hội thảo có hơn 100 đại biểu đến từ một số tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp; Lãnh đạo một số Bộ, ngành liên quan; các cơ quan đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghịêp và PTNT,Tổng cục Lâm nghiệp Lãnh đạo một số địa phương trọng điểm về lâm nghiệp trên cả nước.

 Đây là dịp để các bên liên quan đánh giá kết quả thực hiện phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2006 -2010 và thảo luận về kế hoạch phát triển lâm nghiệp giai đoạn 201-2015. Tại hội nghị, các đại biểu đã góp ý và làm rõ mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, các nội dung, chỉ tiêu, chỉ số phát triển ngành Lâm nghiệp 5 năm tới. Các đại biểu cũng thảo luận về dự thảo các chương trình thực hiện giai đoạn này để đạt mục tiêu, bao gồm hoạt động phát triển rừng, hoạt động bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, dịch vụ môi trường rừng và nhu cầu nguồn vốn đầu tư. Hội nghị cũng thảo luận về kế hoạch triển khai Nghị định 99/2010/NĐ-CP về Chi trả dịch vụ môi trường rừng và kế hoạch hành động nghiên cứu lâm nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn 2020.

Đánh giá thực hiện kế hoạch 5 năm 2006 – 2010, hầu hết các đại biểu đều thống nhất ghi nhận ngành lâm nghiệp đã được được nhiều thành tựu quan trọng. Giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt mức tăng trưởng cao, tăng từ 1,5% năm 2006 lên 4,6% năm 2010. Một thành tích đáng ghi nhận khác là tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu lâm sản rất cao, đạt mức bình quân gần 21,4%/năm trong 5 năm qua.

Trong 5 năm qua rừng được bảo vệ tốt hơn so với trước đây, độ che phủ rừng tăng từ 37,7% năm 2006 (12,87 triệu ha) lên 39,5% năm 2010 (13,452 triệu ha), bình quân 0,36% mỗi năm. Đây là cố gắng rất lớn trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của Việt Nam, trong khi độ che phủ rừng các nước trong khu vực đang suy giảm. Sản lượng khai thác gỗ từ 3,2 triệu m3 năm 2006 lên gần 4,1 triệu m3 năm 2010, tăng 50%, trong đó khai thác gỗ rừng trồng chiếm 93%. Cùng với tăng diện tích và độ che phủ của rừng, chất lượng rừng trong những năm qua cũng đã bước đầu được cải thiện.

            Các hoạt động bảo vệ rừng, trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng đều được đẩy  mạnh. Trồng rừng sản xuất hàng năm tăng từ 150 – 200 ngàn ha, tạo vùng nguyên liệu, phát triển chế biến, tăng xuất khẩu, giảm áp lực lên rừng tự nhiên. Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng về cơ bản đã đạt các mục tiêu lớn về xã hội và môi trường. Cũng trong giai đoạn này, hoạt động chi trả dịch vụ môi trường đã chuyển từ thí điểm sang chính thức triển khai thông qua việc ban hành và thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP. Chủ trương xã hội hóa nghề rừng đang được đẩy mạnh và đi vào cuộc sống.

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, các đại biểu cũng nhận định trong giai đoạn này năng suất và chất lượng rừng thấp, rừng tự nhiên bị suy giảm, việc triển khai lập quy hoạch và kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng các cấp còn chậm.  Hoạt động đổi mới lâm trường quốc doanh còn nhiều việc phải làm, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế còn hạn chế và thiếu các nguồn vốn đầu tư và tín dụng ưu đãi cho cả 3 loại rừng.

Giai đoạn 2011 – 2015 được xác định là kế hoạch 5 năm lần thứ hai thực hiện Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020, là giai đoạn quan trọng để đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược và giải quyết một số vấn đề đã được phát hiện và bổ sung trong giai đoạn trước. Mục tiêu chung cho việc phát triển ngành giai đoạn này được đông đảo đại biểu tán thành là bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên môi trường rừng, nâng độ che phủ rừng lên 42-43%, góp phần nâng cao thu nhập và điều kiện sống của người dân miền núi. Từ mục tiêu chung này, 4 mục tiêu cụ thể cũng được xây dựng và thảo luận tại hội nghị: (i) Nâng giá trị sản xuất, hiệu quả kinh tế lâm nghiệp góp phần tăng trưởng chung ngành nông nghiệp, nông thôn; (ii) Tạo việc làm, tăng thu nhập từ lâm nghiệp để cải thiện mức sống, điều kiện sống người dân miền núi, đặc biệt là người làm nghề rừng; (iii) Bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực hiệu lực bảo vệ tài nguyên rừng; (iv) Tăng năng lực thể chế quản lý ngành năng động và hiệu quả, tăng cường năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.        

                                                                                                                                                                                                    Nguyễn Bích Hằng, FSSP

Đọc tiếp...

51 năm ngày lâm nghiệp Việt Nam 28/11/1959-28/11/2010: Kể từ dịp Bác trồng cây

Cũng nhân dịp đầu xuân năm 1960, chính Bác đã phát động Tết trồng cây và trồng cây đa đầu tiên tại Công viên Thống Nhất mở ra một phong trào đầy tính nhân văn ăn sâu, bám rễ vào đời sống dân Việt. Có thể điểm lại một loạt cột mốc quan trọng của phong trào trồng cây, gây rừng cùng những mốc quan trọng trong phát triển của ngành lâm nghiệp: Từ năm 1959 đến 1969, Bác Hồ đã trồng 7 cây đa lưu niệm, cây đầu tiên tại Công viên Thống Nhất (1960) và cây cuối cùng tại xã Vật Lại, huyện Ba Vì (Hà Nội) tháng 2 năm 1969.

 Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, dưới mưa bom, lửa đạn quân thù, Tết trồng cây ở miền Bắc vẫn được duy trì và phát triển rất mạnh. Nhiều Tết trồng cây với chủ đề đấu tranh thống nhất nước nhà, vì miền Nam ruột thịt đã được tổ chức khắp các địa phương. Nhiều khu rừng, vườn cây, hàng cây mang tên kết nghĩa với miền Nam được gây dựng, chăm lo.

Sau ngày giải phóng miền Nam, ngay xuân đầu thống nhất, Tết trồng cây mừng đất nước đã được mở đầu tại nhiều tỉnh ở miền Nam trong rộn ràng cờ hoa, trong niềm hân hoan náo nức của triệu con tim, khối óc. Từ năm 1977, Tết trồng cây đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của toàn thể dân tộc Việt Nam từ Nam chí Bắc. Cứ 10 năm, Bộ Lâm nghiệp khi đó lại tổ chức một lần tổng kết Tết trồng cây, mỗi lần tổng kết lại xuất hiện thêm những nhân tố mới, điển hình mới về tổ chức thực hiện và phương thức trồng cây .

Trong thập kỷ 60, trung bình mỗi năm nhân dân miền Bắc trồng được 150 triệu cây. Những năm 70, hàng năm cả nước đã trồng được 300 triệu cây. Thập kỷ 80, bình quân hàng năm đã trồng được 350 triệu cây. Thập kỷ 90 hàng năm đã trồng từ 280 đến 300 triệu cây. Tết trồng cây và trồng cây phân tán đã thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia. Từ các cụ phụ lão, đến các em thiếu niên, nhi đồng. Từ các trường học đến các đơn vị quân đội. Từ nông thôn đến thành thị.

Phong trào trồng cây phân tán đã xây dựng được trên đất nước ta hơn 2 tỷ cây xanh ổn định, phân tán trên khắp các làng mạc, thành phố tạo nên màu xanh, môi trường sống tốt lành và là nguồn cung cấp gỗ cho các nhu cầu của hàng chục triệu dân cư nông thôn. Đầu những năm 1990 để tăng cường hơn nữa hiệu quả của công tác trồng cây, gây rừng và bảo vệ rừng, Đảng và nhà nước đã quan tâm đến việc bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện còn, trồng rừng mới cung cấp nguyên liệu cho chế biến, đồng thời chuyển mạnh nền lâm nghiệp lấy quốc doanh là chính sang lâm nghiệp xã hội.

Từ một nền lâm nghiệp chủ yếu dựa vào khai thác lợi dụng tài nguyên rừng sang phát triển toàn diện gắn khai thác với tái sinh rừng. Chính vì vậy ngành lâm nghiệp đã có những chuyển biến mạnh mẽ, hạn chế được suy thoái về rừng và nâng độ che phủ của rừng rất báo động ở 28,2% vào năm 1995 lên 38,7% vào năm 2008. Có thể kể đến những chương trình, dự án lâm nghiệp nổi tiếng đã làm thay da đổi thịt đất nước, choàng thêm tấm áo thanh tân, tươi trẻ cho non sông như chương trình 327, như dự án 5 triệu ha rừng. 

Dự kiến, đến hết năm 2010 hầu hết các chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng có thể sẽ đạt và vượt so với Nghị quyết 73 của Quốc hội.

Từ năm 1993 nhà nước có chương trình đầu tư trồng rừng, bảo vệ rừng, khoanh nuôi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được thực hiện theo quyết định số 327-QĐ của Thủ tướng Chính phủ với tên gọi “Một số chủ trương, chính sách sử dụng rừng, đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước” hay một cái tên giản dị, dễ nhớ đã ăn sâu vào tâm thức hàng triệu người: “Chương trình 327”. Trong 4 năm thực hiện chương trình 327 (1993-1997) nhà nước đã đầu tư 2.287 tỷ đồng để trồng được diện tích rừng lên đến 1.242.000 ha.

 Kế tiếp 327 là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đã được Quốc hội khóa X thông qua ngày 5/2/1997. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chính của Dự án từ năm 1998 đến hết năm 2009 như sau: Khoán bảo vệ rừng đặc dụng, phòng hộ bình quân 2.454.480 ha/năm trong đó từ 2006 – 2009 bình quân khoảng 2,5 triệu ha/năm so với Nghị quyết 73 của Quốc hội là 1,5 triệu ha/năm. Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh được 1.250.575 ha. Trồng mới được 2.173.851 ha. Tổng vốn đầu tư ước thực hiện 14.444.350 triệu đồng.

(Báo Nông nghiệp Việt Nam)

Đọc tiếp...

Lâm trường quốc doanh: Toa thuốc nào cho những NLT bên bờ vực phá sản?

Nợ ngập đầu

Tỉnh Yên Bái hiện còn 7 lâm trường hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, đến nay  vẫn chưa hoàn tất việc chuyển đổi sang mô hình Công ty TNHH một thành viên. Có lâm trường đã xây dựng xong phương án, đang trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Điều đáng bàn là 3/7 lâm trường đứng trước bờ vực phá sản và giải thể, số lâm trường còn lại thì phần lớn “dặt dẹo” vì thiếu vốn…


Đất đai hoang phí

Tỉnh Yên Bái có 9 lâm trường quốc doanh, tháng 12/2006 hai lâm trường Trạm Tấu, Púng Luông chuyển thành Ban Quản lý rừng phòng hộ, nay chỉ còn 7 lâm trường, đóng ở các huyện: Văn Chấn, Trấn Yên, Văn Yên, Yên Bình và Lục Yên. Các lâm trường đều được giao quản lý cả chục ngàn ha rừng và đất rừng. Thời hoàng kim, nhiều lâm trường có hàng trăm cán bộ, công nhân khai thác cả ngàn khối gỗ rừng tự nhiên, hàng chục triệu cây tre, vầu, nứa các loại.

Sau mấy chục năm khai thác, rừng tự nhiên cũng cạn kiệt, từ khi nhà máy giấy Bãi Bằng được khởi công xây dựng tại tỉnh Phú Thọ, các lâm trường ở khu vực vùng thấp được giao nhiệm vụ trồng cây nguyên liệu giấy: Keo, bạch đàn, bồ đề. Một thời gian khá dài không chỉ các lâm trường, nông dân trồng rừng trong vùng qui hoạch trồng cây nguyên liệu giấy: Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hoà Bình khốn khó vì không tiêu thụ được sản phẩm. Khi đó khách hàng lớn nhất và cũng là duy nhất thu mua gỗ nguyên liệu là nhà máy giấy Bãi Bằng. Do đó, nhà máy độc quyền đặt giá, phân bổ chỉ tiêu cho các lâm trường và các địa phương, nông dân trồng rừng không thể bán gỗ trực tiếp cho nhà máy theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Các lâm trường đều phải chạy đôn chạy đáo khắp nơi để xin chỉ tiêu.

Việc bán gỗ đã khó, việc vay vốn ngân hàng trồng rừng lại càng khó hơn. Thành ra hàng trăm ha đất do các lâm trường quản lý bỏ hoang vì thiếu vốn trồng rừng. Trong khi đó người dân không có đất SX, việc xâm lấn đất thường xuyên diễn ra ở khắp các địa phương. Đất lâm trường giống như “Miếng da lừa” mỗi năm co hẹp lại. Lâm trường Yên Bình được giao 1.392 ha đất rừng, nhưng đến nay chỉ giữ được 662 ha, trong đó có 462 ha đất do lâm trường bỏ vốn trồng rừng thì giữ được đất, 200 ha liên doanh với người dân, với hình thức: Lâm trường cung cấp cây giống, phân bón, kỹ thuật còn dân bỏ công trồng, chăm sóc khi đến tuổi khai thác thì sản phẩm ăn chia theo tỷ lệ hợp đồng liên doanh. Còn lại 743 ha dân xâm lấn không biết đến bao giờ mới đòi được. Lâm trường Văn Yên tổng diện tích được giao 1.463 ha, diện tích rừng trồng của lâm trường chỉ có hơn 200 ha, diện tích liên doanh gần 700 ha, diện tích còn lại hơn 500 ha thì dân xâm lấn. Các lâm trường Thác Bà, Việt Hưng cũng không đủ vốn để trồng rừng, nên đều phải liên doanh với người dân để trồng rừng, một số diện tích không nhỏ bị xâm lấn hiện đang phải rà soát lại để giao khoán cho dân.

Nợ như "Chúa Chổm"

Từ năm 2003 trở về trước các lâm trường còn được các ngân hàng cho vay để trồng rừng, xây dựng nhà máy SX giấy đế xuất khẩu, xây dựng cơ sở chế biến lâm sản. Từ năm 2004 đến nay thì không ngân hàng nào dám cho lâm trường vay vốn trồng rừng. Bởi nợ cũ chưa trả thì chẳng ngân hàng nào dám bỏ tiền ra để hàng tháng chống gậy đi đòi, mà nợ nần thì mỗi ngày một cao hơn, hy vọng đòi được tiền của các lâm trường lại mù mịt như mây ngàn, gió núi. Theo báo cáo của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Yên Bái đến ngày 30/9/2010, trong 7 lâm trường thì có 5 lâm trường nợ ngập đầu, đều là những con nợ khó đòi. Trong đó lâm trường Lục Yên được mệnh danh nợ “Chúa Chổm”, với số nợ 6,347 tỷ, lâm trường Văn Yên nợ 4,24 tỷ, lâm trường Yên Bình nợ 2,061 tỷ, lâm trường Thác Bà nợ 1,471 tỷ…Các lâm trường này đều là những “ông lớn” có số dư nợ quá hạn trong danh sách 8 DN mà Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Yên Bái phải “kiềng mặt”. Bởi, họ đã phát nhiều văn bản đòi nợ, nhưng đến nay các lâm trường đó đều khất lần xin được giãn nợ, khoanh nợ.

Theo báo cáo số 1055/STC-TCDN ngày 2/8/2010 của Sở Tài chính Yên Bái về tình hình SXKD của các lâm trường. Lâm trường Lục Yên đứng đầu danh sách nợ với 25,5 tỷ, trong đó nợ quá hạn là 8 tỷ, lâm trường Văn Yên tổng số nợ là 11,4 tỷ, trong đó nợ quá hạn là 6 tỷ, lâm trường Thác Bà nợ 8,8 tỷ, lâm trường Việt Hưng nợ 6 tỷ, lâm trường Yên Bình nợ 8,2 tỷ… Tại báo cáo này nêu rõ: Căn cứ số liệu báo cáo quyết toán năm 2009 của lâm trường Lục Yên nếu bán toàn bộ tài sản lưu động hiện tại chỉ thanh toán được 50% số nợ ngắn hạn phải trả.

Thảm cảnh của các lâm trường: Lục Yên, Văn Yên, Văn Chấn ngày càng trở nên bi đát. Lâm trường Lục Yên thua lỗ liên tục 9 năm liền từ năm 2001 đến năm 2009, số lỗ luỹ kế đến 31/12/2009 là 11,568 tỷ, nguy cơ mất vốn và kinh doanh thua lỗ đến 30/6/2010 là 14,216 tỷ. Căn cứ vào Luật Phá sản, thì lâm trường Lục Yên đang đứng bên bờ vực phá sản. Ngày phá sản sẽ diễn ra một sớm một chiều là điều không thể tránh khỏi. Lâm trường Văn Yên kinh doanh thua lỗ 4 năm, số lỗ luỹ kế đến 30/6/2010 là 1,923 tỷ, giá trị rừng bị cháy, bị sâu hại là 2,159 tỷ, công nợ khó thu là 2,022 tỷ, tổng giá trị mất vốn là 6,104 tỷ, nguy cơ giải thể khó tránh khỏi.

Lâm trường Yên Bình nợ quá hạn 2,061 tỷ, rừng không còn để mà chặt, nếu ngân hàng đòi ráo riết thì lâm trường phải chặt rừng non để trả, dù chặt hết rừng cũng không thể trả hết nợ. Còn lâm trường Văn Chấn từ năm 2008 đến nay việc SXKD thì hoàn toàn tê liệt. Mới đây chúng tôi đến tìm hiểu hoạt động kinh doanh của lâm trường thì chỉ thấy một người bảo vệ và một đàn chó gần chục con. Trụ sở lâm trường giống như ngôi nhà bỏ hoang, cửa đóng im ỉm, sắn khô phơi đầy sân, cỏ dại mọc trùm lên cả hiên nhà, việc giải thể cũng đã được tính đến.
(Báo NNVN)

Đọc tiếp...
Tìm thấy 96 bài viết.