Tìm kiếm bài viết

Việt Nam khởi động Chương trình UN - REDD giai đoạn II

Sáng 11/10/2013, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam và các tổ chức của Liên Hợp Quốc tổ chức Hội  thảo Chương khởi động trình UN - REDD giai đoạn II.  Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ông Cao Đức Phát;  bà Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam; ông Stale Torstein Risa, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Na Uy tại Việt Nam đồng chủ trì Hội thảo.

Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong 47 nước đối tác UN-REDD chuyển sang giai đoạn II với khoản tài trợ không hoàn lại khoảng 30 triệu USD để giảm phát thải khí nhà kính thông qua cải thiện quản lý rừng và sử dụng đất.

Trong ba năm (2013 – 2015) Chương trình UN – REDD sẽ được thực hiện thí điểm tại Bắc Cạn, Bình Thuận, Cà Mau, Hà Tĩnh, Lâm Đồng và Lào Cai.

Song song với mục đích giảm thiểu khí thải nhà kính, giai đoạn II này cũng hứa hẹn sẽ mang lại những lợi ích môi trường và xã hội khác. Để đạt mục tiêu này, dự án đã bắt đầu tiến hành các bước chuẩn bị cho việc lập kế hoạch REDD+ ở cấp địa phương có sự tham gia của người dân tại Lâm Đồng.

Phát biểu tại Hội thảo, Bộ trưởng Cao Đức Phát đã nhấn mạnh: với việc thực hiện Chương trình UN - REDD giai đoạn II, Việt Nam đã thực hiện một bước tiến quan trọng trong nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Cũng tại Hội thảo, bà Pratibha Mehta đã chia sẻ về sự cần thiết phải tăng cường sự tham gia, phối hợp chặt chẽ của các bên liên quan. Mặc dù Liên hợp quốc và Chính phủ cùng có trách nhiệm thực hiện giai đoạn II, nhưng thành công của Chương trình phụ thuộc vào nhiều bên khác bao gồm cả các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và khu vực tư nhân./.

 

Đọc tiếp...

Khẩn cấp bảo tồn voi

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa quyết định phê duyệt dự án "Khẩn cấp bảo tồn voi và nâng cao năng lực kiểm soát buôn bán ngà voi ở Việt Nam đến năm 2020" với mức kinh phí trên 50 tỷ đồng.

Dự án đặt mục tiêu bảo tồn được các tiểu quần thể voi có số lượng đàn ít, sinh cảnh sống bị cô lập và bảo tồn các loài động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm trong cùng vùng sinh cảnh. Đồng thời, phòng ngừa và ngăn chặn hành vi săn bắn, xâm hại voi, buôn bán, vận chuyển, lưu giữ trái phép ngà voi và các bộ phận của voi, giảm thiểu các tác động tiêu cực của con người lên sự sinh tồn tự nhiên của voi hoang dã.

Dự án được thực hiện tại các khu rừng, sinh cảnh nơi voi rừng cư trú, hành lang di chuyển của các quần thể voi hoang dã hiện có ở Việt Nam; tập trung ở các khu rừng đặc dụng và các khu rừng khác trên địa bàn các tỉnh trong cả nước có voi hoang dã phân bố (không bao gồm các tỉnh: Nghệ An, Đắk Lắk và Đồng Nai); các địa phương có các hoạt động mua bán trái phép ngà và mẫu vật voi.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nêu rõ, sẽ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các thông tin bảo tồn voi trong cả nước thông qua các hoạt động như điều tra đánh giá quần thể, phạm vi phân bố, sinh cảnh tự nhiên, tình hình sinh sản của các đàn voi nhỏ lẻ ngoài 3 tỉnh đã lập dự án là Nghệ An, Đắk Lắk và Đồng Nai.

Cùng với đó, thực hiện kế hoạch bảo tồn tại chỗ các tiểu quần thể voi gắn với các quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững với các khu rừng đặc dụng có voi phân bố thông qua các hoạt động như quy hoạch vùng sinh cảnh sống và hành lang di chuyển cho voi; liên kết công tác bảo tồn voi với bảo tồn các loài động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm khác, thực hiện các biện pháp nhằm cải tạo môi trường sống của voi và hạn chế xung đột giữa voi với con người.

Tổng vốn đầu tư dự án khoảng hơn 50 tỷ đồng, được thực hiện qua 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, từ năm 2014 đến 2015 và giai đoạn 2 từ 2016 đến 2020.

Nguồn: chinhphu.vn

Đọc tiếp...

Bức tranh cô đọng về PFES sau 5 năm thực hiện

Bức tranh được phác họa cơ bản thông qua Bản tóm lược chính sách dài 8 trang mang tiêu đề “Chi trả các dịch vụ môi trường ở Việt Nam: Từ chính sách tới thực tiễn” do Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) vừa biên soạn và xuất bản.

Dựa trên những nghiên cứu cụ thể kết hợp với thông tin thu thập được tại các dự án thí điểm Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES), nhóm tác giả ấn phẩm đã đưa ra những đánh giá, phân tích về tính hiệu quả, hiệu ích và công bằng của PFES trong quá trình triển khai tại Việt Nam từ năm 2008, tương ứng với ba khía cạnh của PFES bao gồm: xây dựng các cơ sở pháp lý, cơ chế chia sẻ lợi ích, giám sát và đánh giá.

Nhận định về các thành tựu chính của PFES tại Việt Nam từ năm 2008 – 2012, nhóm tác giả khẳng định: PFES nhận được nhiều sự quan tâm và hỗ trợ từ Chính phủ và các bộ, ngành. Tổng cộng có 20 văn bản pháp lý đã được ban hành dưới dạng Nghị định, Quyết định của Thủ tướng và Thông tư, Quyết định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tạo nên một cơ sở pháp lý quan trọng cho việc triển khai PFES.

Việc triển khai PFES đã tạo điều kiện cho việc nâng cao năng lực cho các cơ quan quản lý, nâng cao nhận thức xã hội và thu được 1.782 tỉ đồng, trong đó tiền chi trả từ các cơ sở sản xuất thủy điện chiếm khoảng 98%, từ các công ty cung cấp nước 2% và từ các công ty kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành 0,1%. Tổng nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng ước tính chiếm 0,8% ngân sách đầu tư lâm nghiệp.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện PFES cũng tồn tại một số hạn chế. Cụ thể, do thiếu các cơ sở pháp lý và các hướng dẫn chi tiết nên trong số các loại dịch vụ môi trường rừng quy định tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP hiện mới có 2 dịch vụ được thực hiện là dịch vụ phòng hộ đầu nguồn và dịch vụ du lịch sinh thái.

Việc giải ngân từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tới những người cung cấp dịch vụ môi trường cũng đạt tỷ lệ khá khiêm tốn (46%) trong tổng số tiền thu được tới nay. Nguyên nhân là do công tác kiểm kê rừng chưa hoàn thiện, cộng thêm sự chậm chạp trong việc giao đất, giao rừng; số lượng lớn người cung cấp dịch vụ lại sống rải rác tại các khu vực hẻo lánh; năng lực kỹ thuật và tài chính ở cả cấp trung ương và địa phương còn hạn chế…

Điểm thứ ba cũng đáng lưu ý là nhóm đối tượng cộng đồng vẫn chưa có sự rõ ràng về tư cách pháp nhân để tham gia vào những thỏa thuận về PFES, điều này làm giảm sự quan tâm của các cộng đồng địa phương tới việc bảo vệ và phát triển rừng.

Ngoài những bất cập trên, việc thực hiện PFES cũng còn thiếu các hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng tiền chi trả cũng như các quy định liên quan tới hệ thống giám sát và đánh giá. Việc chưa có các hướng dẫn cụ thể dẫn tới tình trạng hiểu và thực thi khác nhau tại các địa phương cũng như sự e dè trong công tác triển khai PFES do e ngại làm sai định hướng.

Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện PFES, nghiên cứu đề xuất cần minh bạch hóa việc phân bổ nguồn tiền từ cấp trung ương tới địa phương thông qua việc phát triển một hệ thống giám sát và đánh giá với một cơ chế ghi nhận và phản hồi ý kiến rõ ràng. Bên cạnh đó, PFES cũng cần được hỗ trợ và kết hợp với các chương trình bảo tồn đất, nguồn nước ở lưu vực và phát triển kinh tế xã hội khác để mang đến một chương trình toàn diện hơn.

Nguồn: Diễn đàn đầu tư

Đọc tiếp...

Người Mường giữ “rừng ông Giáp”

Tại xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La có một khu rừng nguyên sinh được người dân gọi với cái tên hết sức thân mật: “Rừng ông Giáp".

Khu rừng này từng là điểm dừng chân quan trọng của bộ đội và dân công trên đường hành quân từ chiến khu Việt Bắc lên Điện Biên Phủ và cũng là nơi mà ngày 5/1/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng bộ chỉ huy chiến dịch đã dừng lại đóng quân. Sau 60 năm, cánh rừng vẫn đang được người dân địa phương bảo vệ nguyên vẹn để bày tỏ lòng biết ơn đối với cách mạng và tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.         

Việc bảo vệ “rừng ông Giáp” được đồng bào người Mường ở đây coi là một nghĩa vụ linh thiêng và được quy định trong hương ước của cả hai bản Mường là Nhọt 1 và Nhọt 2.  

Là một người đã có thâm niên 18 năm trực tiếp canh giữ cánh rừng, mỗi lần đi thăm rừng ông Đinh Quyết Tiến - bản Nhọt 1, xã Gia Phù, đều mang theo một nắm nhang để thắp cho những dân công và bộ đội đã hi sinh ở đây. Và vừa qua, khi nghe tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp mất, ông cũng đã thắp thêm một nén nhang dành cho người vừa mới khuất tại khu rừng này.

“Tôi rất xúc động và cảm thấy hụt hẫng vì nghe tin bác Giáp đã qua đời. Anh em tôi hứa sẽ cố gắng khắc phục khó khăn, không quản ngại trèo đèo lội suối để bảo vệ cánh rừng mà bác đã từng đi qua để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ”, ông Tiến chia sẻ.

Khu “rừng ông Giáp” nay đã được tỉnh Sơn La công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh. Chính quyền địa phương nơi đây mong muốn di tích này có thể được nâng cấp thành di tích lịch sử cấp quốc gia để nhiều người có thể biết đến. Còn đối với ông Đinh Quyết Tiến, dù mức trợ cấp cho việc canh giữ 200ha rừng chỉ khoảng 3 triệu đồng một năm, song ông khẳng định ông và người dân trong bản vẫn sẽ tiếp tục làm công việc này để tỏ lòng biết ơn đối với Đại tướng.

Hơn nửa thế kỉ trôi qua, những người dân ở bản Nhọt xã Gia Phù, vẫn canh giữ cánh rừng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp như một cách để bày tỏ lòng biết ơn và cũng là một cách lưu giữ những kỉ niệm, đón đợi người xưa trở về...

Nguồn: Đài truyền hình Việt Nam

 

Đọc tiếp...

Tái cơ cấu Lâm nghiệp để tạo ra giá trị cao cho người trồng rừng

Lâm nghiệp là lĩnh vực đầu tiên và duy nhất trong ngành Nông nghiệp hoàn thiện Đề án tái cơ cấu đến thời điểm này. Theo đó, Lâm nghiệp đang được kỳ vọng sẽ phát triển theo hướng bền vững và đem lại giá trị vật chất cho người trồng và bảo vệ rừng.

Trong 10 năm qua, Lâm nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp ngày càng nhiều vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái. Độ che phủ của rừng năm 1998 từ 32% đã lên đến 39,5% vào năm 2010 và năm 2012 là 40,7%.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Lâm nghiệp đã bộc lộ nhiều hạn chế như tăng trưởng chậm, kém bền vững, hiệu quả và năng lực cạnh tranh yếu, diện tích rừng tăng nhưng năng suất lại thấp, thu nhập của người dân tham gia nghề rừng cũng vì thế chưa giúp dân sống được bằng nghề, nảy sinh nhiều tiêu cực… Chính vì vậy, Tổng cục Lâm nghiệp đã xây dựng và đang tiến hành triển khai đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp để tháo gỡ những hạn chế trên.

Loại rừng nào cũng mang lại giá trị kinh tế

Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết, hướng tái cơ cấu của lĩnh vực lâm nghiệp là thay vì chạy theo diện tích, độ che phủ thì sẽ tính toán để độ che phủ ấy tỷ lệ thuận với lượng tiền người dân trồng và bảo vệ rừng được hưởng.

Còn ông Nguyễn Bá Ngãi, Tổng Cục phó Tổng cục Lâm nghiệp thì cho biết: Diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2020 khoảng 16,2-15,6 triệu ha. Mũi nhọn để đem lại lợi ích kinh tế là rừng sản xuất sẽ được tập trung phát triển và nâng cao chất lượng thông qua nuôi dưỡng làm giàu rừng, cải tạo rừng nghèo kiệt. Cùng với đó ngành Lâm nghiệp sẽ đưa giống mới vào sản xuất, phát triển trồng rừng gỗ lớn nhằm nâng cao sản lượng gỗ thương phẩm, phục vụ chế biến, xuất khẩu gỗ.

Đặc biệt, nếu như trước khi có Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, trong 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất) chỉ có rừng sản xuất mới có mục đích đem lại hiệu quả kinh tế. Khi thực hiện tái cơ cấu thì cả ba loại rừng trên sẽ đem lại giá trị vật chất cho người trồng và bảo vệ rừng.

Trong đó, hình thức gia tăng kinh tế từ độ che phủ của rừng hiệu quả nhất đang được kỳ vọng hiện nay là chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đây là công cụ kinh tế yêu cầu những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó.

Nguyên tắc cơ bản của Dịch vụ môi trường rừng là các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ những dịch vụ môi trường phải chi trả cho những người sử dụng tài nguyên để cung cấp dịch vụ đó. Trên thực tế, đến tháng 9/2013 tổng nguồn thu từ dịch vụ này ở Việt Nam đã đạt khoảng 2.300 tỷ đồng, nguồn lực này sẽ góp phần lớn để tái tạo và phát triển rừng.

Nhà nước quản lý không quá 50% tổng diện tích rừng

Ông Nguyễn Bá Ngãi cho biết thêm, sắp tới lĩnh vực Lâm nghiệp sẽ có sự điều chỉnh cơ cấu các loại hình tổ chức quản lý rừng theo hướng các tổ chức của Nhà nước trực tiếp quản lý không quá 50% tổng diện tích rừng. 50% còn lại sẽ do các thành phần kinh tế ngoài nhà nước quản lý trực tiếp.

Bên cạnh đó, hạt nhân quản lý rừng là các công ty lâm nghiệp cũng sẽ chuyển đổi trên cơ sở cơ cấu lại rừng, các tổ chức quản lý rừng theo các hình thức: Cổ phần hóa Nhà nước giữ cổ phần chi phối; chuyển  sang ban quản lý rừng; giải thể hoặc chuyển đổi hình thức khác…

Trên cơ sở của sự chuyển đổi hình thức quản lý như trên, tỷ trọng đầu tư của Nhà nước vào lâm nghiệp cũng sẽ giảm dần. Đầu tư phát triển cho lâm nghiệp sẽ được huy động các nguồn lực tài chính ngoài ngân sách. Cùng với thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng như đã nói ở trên, ngành cũng sẽ tranh thủ tiềm năng từ các nguồn hỗ trợ tài chính khác.

Ông Ngãi giải thích: “Sẽ phân định rõ các nguồn lực và đầu tư theo hướng vốn ngoài ngân sách Nhà nước tập trung cho đầu tư phát triển rừng sản xuất, lâm sản ngoài gỗ, chế biến và tiêu thụ lâm sản, khai thác nguồn lợi, dịch vụ từ rừng”.

Vốn ngoài ngân sách cũng sẽ được dùng để xúc tiến thương mại và phát triển thị trường, đầu tư vào một số lĩnh vực trước đây chỉ dùng vốn ngân sách như phát triến giống cây, đào tạo nghề lâm nghiệp, cung cấp các dịch vụ khuyến lâm…

Đề án đã hoàn thành nhưng để thực thi được chiến lược cho ngành Lâm nghiệp thì còn nhiều vấn đề phải hoàn thiện. Điển hình như việc quy hoạch rừng gắn với quy hoạch sử dụng đất. Việc gắn kết 2 quy hoạch theo 2 luật khác nhau sẽ là khó khăn không nhỏ cho ngành Lâm nghiệp. Tương tự như vậy là sự quy hoạch gắn kết giữa quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu gắn với quy hoạch chế biến gỗ…

Bộ trưởng Cao Đức Phát đã nhìn nhận: “Việt Nam đã được coi là công xưởng gỗ của thế giới. Chúng ta cần công nghệ chế biến để đem lại giá trị cao hơn. Nhưng trước hết ta phải xác định được trồng những cây gì là đặc biệt của Việt Nam. Muốn làm được điều đó, mỗi địa phương phải tìm ra thế mạnh của mình và tập trung vào cây trồng thế mạnh”.

Đạt được kỳ vọng của đề án tái cơ cấu lĩnh vực lâm nghiệp, thì chắc chắn một lần nữa chúng ta sẽ có cơ sở để tự hào rằng “rừng vàng, biển bạc” là đây.

Nguồn: Chinhphu.vn

 

Đọc tiếp...

Hội thảo tham vấn ý kiến về nội dung Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững

Sáng 27/9/2013, tại Bắc Giang, Tổng cục Lâm nghiệp đã tổ chức Hội thảo tham vấn ý kiến của các chủ rừng và một số cơ quan/đơn vị liên quan về nội dung Bộ tiêu chuẩn quốc gia quản lý rừng bền vững. Thừa ủy quyền Tổng cục trưởng, Ông Cao Chí Công, Vụ trưởng Vụ Sử dụng rừng chủ trì Hội thảo.

Tại Hội thảo các đại biểu đã được nghe trình bày tóm tắt kết quả so sánh các Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững đã và đang được áp dụng ở Việt Nam. Đây là cơ sở để xây dựng Bộ tiêu chuẩn quốc gia mới.

Các đại biểu đã tập trung góp ý cho bố cục, nội dung của bản dự thảo lần thứ nhất về Bộ tiêu chuẩn quốc gia quản lý rừng bền vững.

Đây là Hội thảo tham vấn thứ 2 về dự thảo lần thứ nhất Bộ tiêu chuẩn quốc gia quản lý rừng bền vững. Trước đó, Tổng cục Lâm nghiệp đã tổ chức Hội thảo lấy ý kiến tham vấn tại Quảng Ninh vào ngày 20/9/2013./.

                                                                    Vụ Sử dụng rừng

Đọc tiếp...

1,2 tỷ đồng phát triển giống phục vụ trồng rừng

1,2 tỷ đồng là số kinh phí Trung tâm Khoa học lâm nghiệp Tây Bắc được cấp năm 2013, để tiếp tục triển khai dự án “Phát triển giống phục vụ trồng rừng tại các tỉnh vùng Tây Bắc”.

Dự án thực hiện từ năm 2012 đến năm 2015 với tổng kinh phí đầu tư 15,3 tỷ đồng. Đến nay, đã bình tuyển và chọn lọc 80 cây trội cho loài cây Sơn tra tại 2 tỉnh  Sơn La, Yên Bái; tổ chức 3 lớp tập huấn cho 60 học viên thuộc 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Yên Bái về kỹ thuật xây dựng nguồn giống, nhân giống một số loài cây bản địa tại vùng Tây Bắc. Khi hoàn thành dự án sẽ bình tuyển và chọn lọc 400 cây trội cho 4 loài (Sơn tra, Tống quán sủ, Vối thuốc, Sa mộc)./.

 Nguồn: Báo Sơn La 

Đọc tiếp...

Tọa đàm với các cơ quan truyền thông và các bên có liên quan về quản lý mẫu vật loài hoang dã thuộc các phụ lục CITES tại Việt Nam


Trong 2 ngày 10/9 và 12/9, tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan quản lý CITES Việt Nam phối hợp với Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) đã tổ chức tọa đàm với các cơ quan truyền thông và các bên có liên quan về quản lý mẫu vật loài hoang dã thuộc các phụ lục CITES tại Việt Nam.

Buổi tọa đàm diễn ra trong bối cảnh dư luận trong nước và quốc tế có nhiều thông tin trái chiều về một số vấn đề liên quan đến các hoạt động buôn bán, tiêu thụ và quản lý mẫu vật các loài hoang dã quý hiếm, đặc biệt là sừng Tê giác, gây bất lợi cho Việt Nam trong việc thực thi Công ước CITES, ảnh hưởng tới hình ảnh và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Các buổi tọa đàm đã dành được nhiều sự quan tâm của các nhà báo trong và ngoài nước, các cán bộ thực thi và các nhà quản lý, các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực bảo tồn động, thực vật hoang dã, đặc biệt buổi tọa đàm còn có sự tham gia của GS.TS Nguyễn Lân Dũng, Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam.

Tại các buổi tọa đàm, GS. TS Nguyễn Lân Dũng đã cung cấp cho các đại biểu những thông tin và lời khuyên bổ ích liên quan tới thực trạng sử dụng các loài động vật hoang dã nói chung, sừng Tê giác nói riêng vào mục đích chữa bệnh, gây ảnh hưởng tới môi trường và hệ sinh thái trên toàn thế giới.

Bên cạnh đó, tất cả các đại biểu tham gia đã có cơ hội chia sẻ, trao đổi thông tin và thảo luận về các vấn đề có liên quan trong việc quản lý, sử dụng, bắt giữ mẫu vật các loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và mẫu vật sừng Tê giác tại Việt Nam.

Kết thúc buổi tọa đàm, tất cả các đại biểu nói chung và các nhà báo nói riêng đã có thêm nhiều thông tin và kỹ năng để việc đưa tin được chính xác, khách quan và toàn diện, qua đó giúp nâng cao nhận thức của toàn xã hội về bảo tồn loài hoang dã.

Phan Thị Nguyệt – Cơ quan quản lý CITES Việt Nam

 

 

 

Đọc tiếp...

Quảng Nam: Hỗ trợ kinh phí cho người kiêm nhiệm công tác lâm nghiệp xã

UBND tỉnh Quảng Nam vừa ban hành quyết định bố trí nhân sự và hỗ trợ kinh phí cho người kiêm nhiệm làm công tác lâm nghiệp đối với 151 xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp từ 300ha trở lên.

Theo nội dung Quyết định, tùy theo điều kiện thực tế của mỗi địa phương, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp từ 300ha trở lên, bố trí một trong hai đối tượng sau kiêm nhiệm làm công tác lâm nghiệp xã: người hoạt không chuyên trách cấp xã đang phụ trách công tác kế hoạch - giao thông - thủy lợi - nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, khuyến nông, khuyến lâm hoặc phó trưởng ban nông nghiệp xã. Những người kiêm nhiệm làm công tác lâm nghiệp tại các xã, thị trấn được hỗ trợ hằng tháng bằng hệ số 0,2 so với mức lương cơ sở theo quy định của Chính phủ./.

(Theo Báo Quảng Nam 23/8)

Đọc tiếp...

Đoàn công tác của Tổng cục Lâm nghiệp làm việc với Tổng cục Lâm nghiệp Trung Quốc

Từ ngày 29/7/2013 đến ngày 3/8/2013, Đoàn công tác của Tổng cục Lâm nghiệp do ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó tổng cục trưởng dẫn đầu đã sang thăm và làm việc với Tổng cục Lâm nghiệp Trung Quốc. Đây là hoạt động để tìm hiểu về hệ thống quản lý bảo vệ rừng của Trung Quốc và thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực  Lâm nghiệp giữa hai bên theo Biên bản ghi nhớ đã được ký kết giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Cục Lâm nghiệp quốc gia Trung Quốc.

          Đoàn đã làm việc với Tổng cục Lâm nghiệp Trung Quốc để tìm hiều về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống quản lý, bảo vệ rừng của Trung Quốc. Đồng thời, hai bên cũng thống nhất sẽ tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệp trong công tác bảo vệ rừng, nhất là phòng chống cháy rừng và kiểm soát việc vận chuyển buôn bán động vật hoang dã.

          Cũng trong khuôn khổ chuyến công tác, Đoàn đã có buổi làm việc với APFnet để thúc đẩy việc hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng và triển khai các dự án bảo vệ và phát triển rừng, nhất là các dự án ở biên giới giữa hai nước. Đồng thời, Đoàn cũng đến làm việc, tìm hiểu về hoạt động của Vườn quốc gia Bát Đạt Lĩnh – một trong sáu vườn quốc gia thuộc Cục Quy hoạch Lâm nghiệp Bắc Kinh.

          Kết thúc chuyến công tác, Đoàn đã có những kiến nghị cụ thể để hoàn thiện Đề án “Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động Kiểm lâm 2013 – 2020” sẽ trình Chính phủ trong thời gian tới; đồng thời Đoàn cũng đề xuất những kiến nghị để triển khai Biên bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực Lâm nghiệp trong thời gian tới./.

Văn phòng Tổng cục

Đọc tiếp...
Tìm thấy 96 bài viết.