Tìm kiếm bài viết

Rừng ngập mặn Việt Nam

I. Tác dụng của rừng ngập mặn


Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm hứng từ 5 – 8 cơn bão và áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn. Bão thường kết hợp với triều cường gây ra lũ lụt. Trước kia một số địa phương ven biển chưa được bê tông hóa đê, nhưng mái đê có lớp phủ cỏ và dây leo kín, lại có thêm RNM vững chắc bảo vệ nên đê ít bị xói lở hoặc vỡ khi mưa bão. Đầu thế kỉ XX, nhân dân các vùng ven biển phía Bắc đã biết trồng các loài cây ngập mặn như trang, bần chua để bảo vệ đê biển và vùng cửa sông. Thân đê được đắp bằng đất thịt nén chặt, có các vành đai rộng RNM chắn sóng, thảm cỏ và dây leo dày đặc bảo vệ mái đê, cho nên dù không được kè đá và bê tông hóa nhưng đê vẫn vững chắc trong mưa bão.

Hệ thống rễ dày đặc của các loài cây RNM có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đất ven biển và vùng cửa sông. Chúng vừa ngăn chặn hiệu quả sự công phá bờ biển của sóng, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng, giữ hoa lá, cành rụng trên mặt bùn và phan hủy tại chỗ nên bảo vệ được đất. Một số loài cây tiên phong như mắm biển, mắm trắng, bần trắng sinh trưởng trên đất bồi non có khả năng giữ đất phù sa, mở rộng đất liền ra phía biển (ở vùng Tây Nam mũi Cà Mau, dọc sông Đồng Tranh – Cần Giờ, tp. Hồ Chí Minh, các bãi bồi ở cửa sông Hồng. Một số đảo nhỏ ven bờ cũng được nâng cao nhanh nhờ thảm thực vậtk ngập mặn như Cồn Ngạn, Cồn Lu ở Giao Thủy, Nam Định, Cồn Trong, Cồn Ngoài ở cửa Ông Trang, Cà Mau...


II. Diện tích RNM ngày càng bị thu hẹp.


Cuối thế kỷ XX, sự bùng nổ dân số và yêu cầu xuất khẩu nên phần lớn RNM ở miền Bắc đã bị phá để lấy đất trồng cói, chế biến hàng xuất khẩu. Ở miền Nam, rừng bị khai thác kiệt quệ để lấy gỗ tròn, hầm than xuất khẩu và đầm nuôi tôm.

Bên cạnh đó, việc phá RNM phòng hộ để sản xuất nông nghiệp, xây dựng cảng, khu dân cư, khu du lịch...cũng góp phần đáng kể trong việc phá hoại RNM. Và hậu quả là thiên tai hoành hành, cuộc sống của cộng đồng ven biển luôn bị đe dọa. Khi RNM chưa bị phá thì quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm, phạm vi hẹp, vì khi thủy triều cao nước đã lan tỏa vào trong những khu RNM có hệ thống rễ cây dày đặc đã làm giảm tốc độ dòng chảy, tán cây hạn chế tốc độ gió. Nhưng hiện nay, hầu hết RNM ven biển đã bị phá để làm ruộng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đứp những dãy bờ lớn để làm đầm nuôi tôm quảng canh làm thu hẹp phạm vi phân bố của nước triều ở ven biển, cưả sông. Do đó, nước mặn theo dòng triều lên được gió mùa hỗ trợ đã vào sâu trong các dòng sông trong đất liền với tốc độ lớn, kèm theo sóng, gây ra xói lở bờ sông và các chân đê. Nước mặn còn thẩm thấu qua chân đê vào đồng ruộng, làm năng suất bị giảm, thiếu nước ngọt, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt. Nhằm cứu RNM, từ cuối thế kỷ XX, nhà nước ta đã có những quan tâm đến việc trồng rừng phòng hộ ven biển (chương trình 327 và 661), đặc biệt, nhờ sự hỗ trợ của một số tổ chức quốc tế (WB) và các tổ chức phi chính phủ (NGO) nên diện tích rừng phòng hộ đã tăng đáng kể. Hơn 100.100 ha rừng trồng đã phát triển tốt ở 16 tỉnh ven biển, làm giảm đáng kể những thiệt hại do thiên tai. Các dải RNM có tác dụng làm tăng nguồn lợi thủy sản ven bờ, cung cấp và nuôi dưỡng cua giống và một số loài hải sản khác cho các đầm. Đồng thời, cuộc sống của cộng đồng vùng ven biển cũng được cải thiện đáng kể.


III. Tác dụng của RNM trong phòng hộ, giảm nhẹ thiên tai.


Kết quả khảo sát của Phân viện điều tra quy hoạch rừng Nam bộ năm 2006 cho thấy, diện tích đất bồi ven biển ĐBSCL khá lớn. Nhiều nơi có RNM phòng hộ ven biển thì tốc độ bồi lắng nhanh hơn. Điển hình là việc hình thành hai hòn đảo nhỏ ở cửa sông Ông Trang. Đảo Cồn Trong hình thành năm 1960 có diện tích 122 ha. Ban đầu chỉ có mắm trắng là cây tiên phong, tạo điều kiện cho các loài khác phát tán trên đảo, có 22 laòi cây ngập mặn sinh sống, động vật ở đây cũng phong phú. Đảo Cồn Ngoài hình thành muộn hơn (năm 1980), có diện tích 149 ha. Đến nay, thảm thực vật gồm hai loài tien phong là mắm trắng và bần trắng đã phủ kín đảo..


Một số địa phương thực hiện nghiêm túc chương trình 327 thì đê điều và đồng ruộng được bảo vệ tốt. Ví dụ: tháng 7/1996, cơn bão số 2 (Frankie) với sức gió 103 – 117 km/hđổ bộ vào vùng biển Thái Thụy, Thái Bình, nhờ các dải RNM ven biển nên đê biển, bờ của nhiều đầm không bị hỏng; Tháng 9/2000, cơn bão số 4 (Wukong) với sức gió 89- 102 km/h đổ bộ vào vùng biển Thạch Hà, Hà Tĩnh, nhưng nhờ các dải RNM trồng ở 9 xã vùng nươc lợ nên hệ thống đê sông Nghèn không bị hư hỏng.


Qua khảo sát ở một số địa phương có RNM phòng hộ nguyên vẹn ở Đồ Sơn (Hải Phòng), Thái Đô(Thái Bình), Giao Thủy(Nam Định), Hậu Lộc(Thanh Hóa) thì đê biển ở những nơi này hầu như không bị sạt lở trong các cơn bão.


Sau một số cơn bão lớn năm 2005 và 2006, nhiều địa phương ven biển thấy rất rõ tác dụng của RNM đối với việc phòng chống thiên tai nên rất muốn phục hồi rừng phòng hộ. Nhưng khó khăn lớn nhất là hiện nay nhiều nơi không còn đất để trồng rừng. Do đó nhà nước cần có những biện pháp kiên quyết lấy lại đất và tạo điều kiện cho những hộ dân chuyển đổi nghề thì mới có khả năng phục hồi, phát triển rừng phòng hộ chắn sóng ven biển.
 

Đọc tiếp...

Đến 2010: Mười khu rừng ngập mặn cần ưu tiên quản lý

Nhằm bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn hiện nay, Viện Khoa học Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - NN&PTNT) đã đưa ra mười khu vực rừng ngập mặn trọng điểm cần ưu tiên quản lý tại các địa phương đến năm 2010: Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau (Cà Mau), Ram Sar (Nam Định); Khu Bảo tồn thiên nhiên Thanh Phú (Bến Tre), Tiên Yên (Quảng Ninh); Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh cửa sông Văn Úc (Hải Phòng), Thái Thuỵ (Thái Bình), Sóc Trăng (cửa sông Hậu), Khu rừng phòng hộ xung yếu và sản xuất Lâm ngư trường 184 (Cà Mau), Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ (TP.HCM) và Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu).

Các khu rừng ngập mặn này được Viện Khoa học Lâm nghiệp đề xuất quản lý bền vững dựa trên tám tiêu chí quốc gia (về điều kiện tự nhiên, đa dạng sinh học, tiềm năng kinh tế...). Trong đó, các rừng ngập mặn phải có diện tích tối thiểu từ 1.000ha trở lên, diện tích rừng ngập mặn chiếm trên 50% diện tích rừng tự nhiên của địa phương, diện tích rừng nhiên còn lại lớn hơn 30% diện tích rừng ngập mặn hiện có và có đa số các loại động, thực vật thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn. Ngoài ra, việc xác định các khu rừng ngập mặn còn dựa vào tiêu chí vùng (xuyên quốc gia), tức là có cùng điều kiện sinh cảnh tương quan với các nước trên thế giới về rừng ngập mặn...

Rừng ngập mặn Việt Nam có ý nghĩa quan trọng đối với quốc gia về kinh tế, xã hội, môi trường, với nhiều tác dụng: bảo vệ tính đa dạng sinh học của thảm thực vật ngập mặn; phòng hộ ven biển và mở nhanh diện tích các bãi bồi ra biển; giảm bớt sự xáo trộn đất đai và ô nhiễm nguồn nước ven biển: tạo sinh kế cho ngư dân nếu được quản lý bền vững.

(Theo Econet)

Đọc tiếp...

Rừng Việt Nam sẽ phát triển theo cơ chế sạch

Tại Hội thảo quốc gia về “Các dự án cơ chế phát triển sạch trong lâm nghiệp” do Bộ NN&PTNT và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN) tổ chức, dự thảo báo cáo “Các khía cạnh pháp lý đối với các dự án trồng rừng và tái trồng rừng ở Việt Nam theo cơ chế phát triển sạch – cơ hội và thách thức” đã được trình bày và thảo luận để lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các bộ, ngành liên quan và các tổ chức quốc tế.

Cơ chế phát triển sạch (CDM) là một trong 3 cơ chế của Nghị định thư Kyoto, đặc biệt liên quan đế các nước đang phát triển và có mục tiêu chính: Giảm nhẹ biến đổi khí hậu; giúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển bền vững và góp phần thực hiện mục tiêu của công ước và giúp các nước phát triển thực hiện cam kết về hạn chế và giảm phát thải định lượng khí nhà kính.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, những vấn đề về cơ chế chính sách phục vụ cho trồng rừng và tái trồng rừng theo CDM vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, một nghiên cứu phân tích khung chính sách thể chế hiện tại của Việt Nam đã được tiến hành, trên cơ sở đó đề xuất tăng cường năng lực, kỹ năng chuyên môn và cơ sở dữ liệu nhằm xây dựng và thực hiện một danh mục các dự án CDM lâm nghiệp ở Việt Nam.

 

Nghiên cứu này được thực hiên trong khuôn khổ Chương trình toàn cầu “Xây dựng năng lực cho các dự án lâm nghiệp hoạt động theo cơ chế sạch” do Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) tài trợ và được IUCN tại Việt Nam phối hợp với các đối tác: Bộ NN&PTNT, Bộ Tài nguyên Môi trường và Bộ Công nghiệp thực hiện.

Dự thảo báo cáo của nghiên cứu này đã tổng kết và đưa ra những khuyến nghị quan trọng liên quan đến các vấn đề về thể chế, chính sách, năng lực hướng tới một môi trường thuận lợi hơn cho việc xây dựng và thực hiện các dự án CDM lâm nghiệp tại Việt Nam.

Ông Phạm Đức Tuấn- Phó cục trưởng Cục lâm nghiệp- cho biết” “Kết quả của nghiên cứu này giúp đánh giá chính xác thực trạng Việt Nam trong việc tham gia các dự án trồng rừng và tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch, những khó khăn thuận lợi cũng như những thử thách trong thời gian tới”.Tại Hội thảo quốc gia về “Các dự án cơ chế phát triển sạch trong lâm nghiệp” do Bộ NN&PTNT và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN) tổ chức, dự thảo báo cáo “Các khía cạnh pháp lý đối với các dự án trồng rừng và tái trồng rừng ở Việt Nam theo cơ chế phát triển sạch – cơ hội và thách thức” đã được trình bày và thảo luận để lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các bộ, ngành liên quan và các tổ chức quốc tế.

Cơ chế phát triển sạch (CDM) là một trong 3 cơ chế của Nghị định thư Kyoto, đặc biệt liên quan đế các nước đang phát triển và có mục tiêu chính: Giảm nhẹ biến đổi khí hậu; giúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển bền vững và góp phần thực hiện mục tiêu của công ước và giúp các nước phát triển thực hiện cam kết về hạn chế và giảm phát thải định lượng khí nhà kính.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, những vấn đề về cơ chế chính sách phục vụ cho trồng rừng và tái trồng rừng theo CDM vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, một nghiên cứu phân tích khung chính sách thể chế hiện tại của Việt Nam đã được tiến hành, trên cơ sở đó đề xuất tăng cường năng lực, kỹ năng chuyên môn và cơ sở dữ liệu nhằm xây dựng và thực hiện một danh mục các dự án CDM lâm nghiệp ở Việt Nam.

 

Nghiên cứu này được thực hiên trong khuôn khổ Chương trình toàn cầu “Xây dựng năng lực cho các dự án lâm nghiệp hoạt động theo cơ chế sạch” do Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) tài trợ và được IUCN tại Việt Nam phối hợp với các đối tác: Bộ NN&PTNT, Bộ Tài nguyên Môi trường và Bộ Công nghiệp thực hiện.

Dự thảo báo cáo của nghiên cứu này đã tổng kết và đưa ra những khuyến nghị quan trọng liên quan đến các vấn đề về thể chế, chính sách, năng lực hướng tới một môi trường thuận lợi hơn cho việc xây dựng và thực hiện các dự án CDM lâm nghiệp tại Việt Nam.

Ông Phạm Đức Tuấn- Phó cục trưởng Cục lâm nghiệp- cho biết” “Kết quả của nghiên cứu này giúp đánh giá chính xác thực trạng Việt Nam trong việc tham gia các dự án trồng rừng và tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch, những khó khăn thuận lợi cũng như những thử thách trong thời gian tới”.Tại Hội thảo quốc gia về “Các dự án cơ chế phát triển sạch trong lâm nghiệp” do Bộ NN&PTNT và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN) tổ chức, dự thảo báo cáo “Các khía cạnh pháp lý đối với các dự án trồng rừng và tái trồng rừng ở Việt Nam theo cơ chế phát triển sạch – cơ hội và thách thức” đã được trình bày và thảo luận để lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các bộ, ngành liên quan và các tổ chức quốc tế.

Cơ chế phát triển sạch (CDM) là một trong 3 cơ chế của Nghị định thư Kyoto, đặc biệt liên quan đế các nước đang phát triển và có mục tiêu chính: Giảm nhẹ biến đổi khí hậu; giúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển bền vững và góp phần thực hiện mục tiêu của công ước và giúp các nước phát triển thực hiện cam kết về hạn chế và giảm phát thải định lượng khí nhà kính.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, những vấn đề về cơ chế chính sách phục vụ cho trồng rừng và tái trồng rừng theo CDM vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, một nghiên cứu phân tích khung chính sách thể chế hiện tại của Việt Nam đã được tiến hành, trên cơ sở đó đề xuất tăng cường năng lực, kỹ năng chuyên môn và cơ sở dữ liệu nhằm xây dựng và thực hiện một danh mục các dự án CDM lâm nghiệp ở Việt Nam.

 

Nghiên cứu này được thực hiên trong khuôn khổ Chương trình toàn cầu “Xây dựng năng lực cho các dự án lâm nghiệp hoạt động theo cơ chế sạch” do Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) tài trợ và được IUCN tại Việt Nam phối hợp với các đối tác: Bộ NN&PTNT, Bộ Tài nguyên Môi trường và Bộ Công nghiệp thực hiện.

Dự thảo báo cáo của nghiên cứu này đã tổng kết và đưa ra những khuyến nghị quan trọng liên quan đến các vấn đề về thể chế, chính sách, năng lực hướng tới một môi trường thuận lợi hơn cho việc xây dựng và thực hiện các dự án CDM lâm nghiệp tại Việt Nam.

Ông Phạm Đức Tuấn- Phó cục trưởng Cục lâm nghiệp- cho biết” “Kết quả của nghiên cứu này giúp đánh giá chính xác thực trạng Việt Nam trong việc tham gia các dự án trồng rừng và tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch, những khó khăn thuận lợi cũng như những thử thách trong thời gian tới".

 

Theo Baothuongmai

Đọc tiếp...

Tài nguyên rừng Việt Nam

Do đất nước ta trải dài từ bắc xuống nam và điạ hình với nhiều cao độ khác nhau so với mực nước biển nên rừng phân bố trên khắp các dạng địa hình, với nét độc đáo của vùng nhiệt đới và rất đa dạng: có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thủy, rừng cây lá rộng, rừng cây lá kim, rừng thứ cấp, truông cây bụi và đặc biệt là rừng ngập mặn...

Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng. Có thể nói nước ta là trung tâm thu nhập các luồng thực vật và động vật từ phía bắc xuống, phía tây qua, phía nam lên và từ đây phân bố đến các nơi khác trong vùng. Ðồng thời, nước ta có độ cao ngang từ mực nước biển đến trên 3.000 m nên có nhiều loại rừng với nhiều loại thực vật và động vật quý hiếm và độc đáo mà các nước ôn đới khó có thể tìm thấy được:

- Về thực vật, theo số liệu thống kê gần đây thì có khoảng 12.000 loài thực vật, nhưng chỉ có khoảng 10.500 loài đã được mô tả (Hộ, 1991- 1993), trong đó có khoảng 10% là loài đặc hữu; 800 loài rêu; 600 loài nấm... Khoảng 2.300 loài cây có mạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc. Về cây lấy gỗ gồm có 41 loài cho gỗ quí (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài cho gỗ đồ mộc và xây dựng (nhóm 3)..., loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha. Ngoài ra rừng VN còn có loại rừng tre, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng 25 loài đã được gây trồng có giá trị kinh tế cao.

Ngoài những cây làm lương thực, thực phẩm và những cây lấy gỗ ra, rừng Việt Nam còn có những cây được sử dụng làm dược liệu gồm khoảng 1500 loài trong đó có khoảng 75% là cây hoang dại. Những cây có chứa hóa chất quý hiếm như cây Tô hạp (Altingia sp.) có nhựa thơm có ở vùng núi Tây Bắc và Trung bộ; cây Gió bầu (Aquilaria agalocha) sinh ra trầm hương, phân bố từ Nghệ tỉnh đến Thuận Hải; cây Dầu rái (Dipterocarpus) cho gỗ và cho dầu nhựa...

- Về động vật cũng rất đa dạng, ngoài các loài động vật đặc hữu Việt Nam còn có những loài mang tính chất tổng hợp của khu hệ động vật miền nam Trung Hoa, Ấn Ðộ, Mã Lai, Miến Ðiện. Hiện tại đã thống kê được khoảng 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài cá nước ngọt và 1.650 loài cá ở rừng ngập mặn và cá biển; chúng phân bố trên những sinh cảnh khác nhau, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩa khoa học. Nhiều loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ của thế giới.


Sự tàn phá rừng ở Việt Nam

Năm 1945 diện tích rừng ở Việt Nam là 14 triệu ha, đến hiện nay chỉ còn lại khoảng 6, 5 triệu ha. Như vậy trung bình mỗi năm rừng Việt Nam bị thu hẹp từ 160 - 200 ngàn ha. Nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút nghiêm trọng về diện tích là do khai hoang trong chiến tranh, do tập quán sống du canh của số dân tộc ở vùng cao, do cháy rừng, do sự khai phá rừng bừa bãi lấy gỗ lấy đất canh tác...

Nguồn tài nguyên động vật đa dạng của rừng Việt Nam cũng bị giảm sút nghiêm trọng là do sự săn bắt thú bừa bãi để lấy da, lông, thịt, sừng và các sản phẩm khác để làm thuốc, còn do việc buôn lậu thú quý hiếm ra nước ngoài. Trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong.
Trong những năm gần đây, do lợi ích trước mắt của nguồn lợi thủy hải sản, dẫn đến sự tàn phá các rừng ngập mặn để lấy chất đốt và làm vuông nuôi các loài thủy hải sản có giá trị kinh tế; điều này xảy ra nghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông Cửu long, sông Hồng và một số các tỉnh ven biển và hậu quả của nó là phá vỡ sự cân bằng hệ sinh thái rừng ngập mặn, làm mất đi nơi sinh sản của một số loài tôm cá nước ngọt và biển, đồng thời gây nên hiện tượng xói mòn bờ biển do sóng và do gió.

Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng

Tình hình hiện nay cho hấy việc bảo vệ và khôi phục nguồn tài nguyên rừng để đảm bảo sự cân bằng sinh thái, đồng thời bảo tồn tính đa dạng sinh học, ngăn chặn sự diệt vong của các loài, nhất là các loài quý hiếm là một việc làm hết sức cấp bách.
Chiến lược chung của thế giới về khôi phục và bảo vệ rừng hiện nay tập trung vào các vấn đề chính yếu là:

Sử dụng phương pháp Nông – Lâm kết hợp và Lâm – Nông kết hợp.

Đẩy mạnh công tác giao dục cho mọi người dân về vai trò của rừng cũng như hậu quả của việc khai thác rừng bừa bãi.

Ngăn chặn càng sớm càng tốt nạn phá rừng, nhất là rừng nhiệt đới.

Xây dựng và bảo vệ các khu rừng quốc gia.

Cùng thực hiện chiến lược đó, hiện nay ở nước ta có 10 vườn quốc gia (khoảng 254.807ha), 52 khu dự trữ (khoảng 1.401.658 ha), 18 khu bảo tồn loài/sinh cảnh, 22 khu bảo vệ cảnh quan và dự kiến có 16 khu bảo tồn biển Việt Nam. Các vườn quốc gia đã và đang được bảo vệ có hiệu quả như vườn Quốc gia Ba Vì (7.337 ha), Ba Bể (23.340 ha), Bạch Mã (22.030 ha), Bến En (16.634 ha), Cúc Phương (22.200 ha), Cát Bà (15.200 ha), Côn Đảo (15.043 ha), Nam Cát tiên (37.900 ha), Tam Đảo (36.883 ha), Yokdon (58.200 ha) (Bộ Khoa học- Công nghệ và môi trường, 1998).

(Diễn đàn sinh viên trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên)

Đọc tiếp...

Voi rừng Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng.

Voi Việt Nam thuộc loài voi châu Á, chỉ có voi đực có ngà và không cao to như voi châu Phi. Động vật quý hiếm này được ghi trong Sách đỏ thế giới và Sách đỏ Việt Nam năm 1992 ở cấp độ bảo vệ cao nhất. Chúng sinh sống chủ yếu ở cao nguyên Đăk Lăk, tại vùng rừng nguyên sinh dọc dãy núi lớn Chư Yang Sin (huyện Lăk và Krông Bông) và vùng rừng trải dài từ huyện Ea Súp đến Buôn Đôn giáp biên giới Campuchia, thuộc Vườn quốc gia Yôk Đôn.

Đăk Lăk cũng là nơi nổi tiếng từ lâu đời với địa danh Bản Đôn của đồng bào M'Nông - Lào chuyên săn bắt và thuần dưỡng voi. Nơi đây từng có nhiều người chuyên săn bắt voi rừng và 2 người được vinh danh là vua voi, như Ama Thu, Ama Kông đã săn bắt hàng trăm con voi từ rừng núi Yôk Đôn bên kia dòng sông lớn Sêrêpôk.

Để bảo tồn loài voi quý hiếm của núi rừng Tây Nguyên - Việt Nam, từ vài năm trước, Nhà nước đã không cho phép săn bắt voi rừng. Trong cuộc sống mới có sự giao lưu rộng hơn, chính đồng bào bản địa cũng giảm bớt nhu cầu thuần hóa và dùng voi vận chuyển hằng ngày, từ bỏ truyền thống săn bắt voi. Tuy nhiên, hiện tượng săn voi trộm vẫn diễn ra cùng việc thu hẹp nơi cư trú tự nhiên của chúng, khiến số lượng loài vật quý hiếm này giảm rõ rệt qua từng năm.

Năm 1997, cả tỉnh Đăk Lăk còn 115 voi nhà, voi rừng lại càng ít hơn, chỉ trên dưới 30 con. Vùng rừng núi lớn Chư Yang Sin hầu như không còn thấy dấu vết hiện diện của voi rừng nữa. Đến năm 2000, voi nhà giảm xuống còn 84 con và năm 2004, chỉ còn 62. Cùng thời gian này, voi rừng suy giảm chỉ còn khoảng 10-15 con, xê dịch qua lại không an toàn quanh khu vực rừng đã thưa thớt dần dọc biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc các huyện Ea Súp, Buôn Đôn và các huyện Chư Jút, Đắk Mil của tỉnh mới Đắk Nông.

Đến cuối năm 2005, đàn voi của tỉnh Đăk Lăk chỉ còn không quá 50 con voi nhà, đồng thời voi rừng còn ít ỏi quá, nhất là voi đực có ngà đang bị những họng súng đêm ngày rập rình săn bắn.

Nhiều biện pháp bảo vệ và bảo tồn voi nghiêm ngặt được đưa ra từ đầu năm 1992, trong đó có Chỉ thị cấp bách của Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ các loài động vật hoang dã quý hiếm, Chương trình hành động bảo tồn voi do Tổ chức quốc tế FFI và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn triển khai, Hội thảo bảo tồn voi châu Á tại Đông Dương, tạo sinh cảnh sống cho voi rừng tại Vườn quốc gia Yôk Đôn, ban hành nhiều văn bản cấm săn voi.

Song nguy cơ vắng bóng hoàn toàn loài voi trên cao nguyên này vào những năm tới đã hiện rõ. Các chuyên gia cho biết nếu không có những biện pháp bảo tồn và phát triển rừng tự nhiên, trả lại môi trường sống thích nghi yên lành và đầy đủ cho loài voi, thì chúng khó có cơ phục hồi, sinh sản.

Đọc tiếp...

Động vật rừng Việt Nam

Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế kỷ, hệ động thực vật rừng Việt Nam vẫn còn phong phú về chủng loại.

Với hệ động vật, hiện đã thống kê được 275 loài thú, 828 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái, 472 loài cá nước ngọt, khoảng 2.000 loài cá biển và thêm vào đó có hàng chục ngàn loài động vật không xương sống ở cạn, ở biển và nước ngọt.

Hệ động vật Việt Nam không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét độc đáo, đại diện cho vùng Đông Nam Á và có nhiều loài đặc hữu.

LĐĐT xin giới thiệu một số hình ảnh loài đại diện cho hệ động vật.

1. Bò rừng

Thức ăn chủ yếu lá cỏ, lá cây. Sinh sản vào tháng 6 - 7. Thời gian có chửa 270 - 280 ngày. Mỗi năm một lứa, mỗi lứa 1 con.

Chúng thích sống ở những sinh cảnh thưa thoáng mát, nhất là rừng khộp. Nơi ở thường là những khu rừng rậm rạp hoặc thung lũng. Bò rừng sống thành đàn từ 10 - 30 con, tập tính sống đàn, ban đêm nghỉ ngơi ngủ, quây thành vòng tròn, con non, con già ở giữa, con tơ khoẻ ở vòng ngoài bảo vệ đàn. Hoạt động kiếm ăn ban ngày vào sáng và chiều tối, buổi trưa nghỉ ngơi và nhai lại.

Phân bố:
Việt Nam: Trước đây có ở giữa Biên Hoà, Bà Rịa đến Phan Rí, Đắc Rinh, Phan Thiết, Lâm Đồng, sông La Ngà. Hiện nay có từ Kontum , Đắc Lắc (Đắc Min, Easúp) đến Đồng Nai (Nam Cát Tiên), Sông Bé (Bù Gia Mập).

Thế giới: Mianma, Thái Lan, Đông Dương, Malaysia; Borneo, Sumatra, Giava (Indonesia).


2. Bò tót


Thực ăn của bò tót là cỏ và lá cây, măng tre, nứa. Sinh sản vào tháng 6 - 7. Thời gian có chửa 270 - 280 ngày. Mỗi năm một lứa, mỗi lứa 1 con.

Nơi sống của bò tót là rừng giá thường xanh, rừng hỗn giao, rừng thứ sinh, rừng khộp, địa hình tương đối bằng phẳng ở độ cao 500 - 1.500m so với mặt biển. Hoạt động ban ngày ở rừng thưa, trảng cỏ cây bụi, sống thành từng đàn 5 - 10 con (có đàn 20 - 30con), đôi khi cũng gặp những cá thể sống đơn độc.

Phân bố:

Việt Nam: Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam - Đà Nẵng, Gia Lai, Kom Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng (Bảo Lộc) Đồng Nai (La Ngà, Vĩnh An, Nam Cát Tiên) Sông Bé, Tây Ninh

Thế giới: Nepal, Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia.


3. Báo gấm


Thức ăn chủ yếu của báo gấm là các loài chim thú nhỏ như khỉ, voọc, cu ly, cheo cheo, nai non và hoẵn. Mùa sinh sản thường vào mùa hè. Thời gian có chửa 90 - 95 ngày, mỗi lứa đẻ 2 - 4 con.

Bào gấm sống ở rừng rậm nhiều tầng, trên núi đất, núi đá. Chúng sử dụng các hang hốc tự nhiên làm tổ đẻ. Hoạt động ban đem, leo trèo giỏi, bắt mồi từ trên cây. ban ngày thường ngủ trên cành cây.

Phân bố:

Việt Nam: Tuyên Quang (Chiêm Hoá), Lài Châu (Mường Tè), Lạng Sơn (Bắc Sơn, Hữu Liên), Sơn La (Thuận Châu, Bắc Yên, Quỳnh Nhai, Sông Mã), Vĩnh Phú (Thanh Sơn), Hòa Bình (Đà Bắc), Gia Lai, Kontum (Xa Thầy, Kom Hà Nừng)

Thế giới: Nepal, Ấn Độ (Assam, Sikkim), Mianma, nam Trung Quốc (Hải Nam), Đài Loan, Đông Dương, Thái Lan, Malaysia; Borneo, Sumatra (Indonesia).


4. Báo hoa mai


Thức ăn chủ yếu là các loài thú khác như nai hươu, hoẵng, lợn rừng, khỉ và động vật nuôi như trâu bò, dê, cừu... mùa sinh sản không rõ rệt. Thời gian có chửa 94 - 98 ngày, mỗi lứa đẻ 1 con. Mỗi năm hoặc 3 năm đẻ 1 lứa.

Chúng sống trong nhiều kiểu rừng, rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh và cây bụi kề rừng. Chỗ ở không cố định. Vùng hoạt động rộng ở nhiều độ cao khác nhau. Có thể leo trèo cây lớn cao 2 - 3m. Sống đơn độc, chỉ ghép đôi trong thời kỳ động dục và hợp đàn tạm thời lúc săn mồi.

Phân bố:

Việt Nam: Các tỉnh miền núi từ Bắc tới Nam.

Thế giới: Châu Á, Châu Phi (trừ xa mạc Sahara).


5. Báo lửa


Thức ăn gồm thú cỡ nhỏ: thỏ, khỉ, nai non, hoẵng, mễn, lợn rừng non, và các loài chim... không có mùa sinh sản rõ rệt. Thời gian có chửa là 95 ngày.

Báo lửa sống trong nhiều kiểu rừng như rừng già, rừng tái sinh, trảng cây bụi, cạnh rừng trên núi đất và núi đá. Cảnh quan ưa thích là rừng nhiều tầng, có tầng thấp phát triển, mặt đất có nhiều lá nổi. Báo lửa không có chỗ ở cố định lâu dài. Sống đơn độc làm tổ ở gốc cây, hốc đá.

Phân bố:

Việt Nam: Báo lửa phân bố rộng ở các tỉnh miền núi phía Bắc và phía Nam

Thế giới: Nepal, Ấn Độ (Assam, Sikkim), Mianma, nam Trung Quốc, Đông Dương, Thái Lan, Malaysia, Sumatra (Indonesia).


6. Bò xám


Bò xám kiếm thức ăn ở ven rừng, thức ăn là cỏ, lá cây rừng, măng tre, nứa. Người ta nhận thấy bò con thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1. Thời gian có chửa 9 tháng. Mỗi năm một lứa, mỗi lứa 1 con.

Bò xám sống ở rừng già, rừng thưa, rừng khộp. Sống thành từng nhóm 3 - 4 con lẫn với các đàn bò rừng, bò tót hoặc sống thành từng đàn từ 4 - 20 con.

Phân bố:

Việt Nam: Gia Lai, Kontum (Sa Thấy), Đắc Lắc (Yokđôn), Sống Bé (Bù gia Mập).

Thế giới: đông Nam Thái Lan, Nam Lào và đông bắc Campuchia.


7. Chà vá chân nâu


Thức ăn chủ yếu của voọc vá là quả cây rừng, lá nõn cây, ngô khoai, sắn và rau xanh trên nương rẫy. Mỗi năm đẻ 1 con, voọc con xuất hiện trong đàn vào mùa xuân đầu mùa hạ.

Chà vá chân nâu sống trong rừng già, rừng nguyên sinh trên núi cao 500 - 1.000 m so với mặt biển. Vùng hoạt động kiếm ăn cả ở rừng thứ sinh, rừng thưa, rừng hỗn giao trong thung lũng trên núi thấp, nương rẫy.

Voọc vá sống thành đàn 5 - 10 con, có đàn đông tới 20 - 30 con. Mỗi đàn có vùng sống hoạt động riêng tách biệt tương đối với các đàn khác. Hoạt động ban ngày vào hai buổi sáng và chiều tối. Buổi trưa và đêm nghỉ ngơi, trú ẩn trên cây cao, trên mỏm đá, hoặc trong hốc đá khi trời lạnh.

Phân bố:

Việt Nam: Từ Thanh Hóa (19030 độ vĩ bắc) dọc dãy Trường Sơn tới Gia Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh.

Thế giới: Đảo Hải Nam, Lào, Campuchia.


8. Chó rừng


Chó sói vàng thường sống ở các khu rừng ven nương rẫy, có thể gần các trạng trại hay khu dân cư trong rừng. Sống đơn hay sống đôi, kiếm ăn đêm. Khác Chó sói lửa, Chó sói vàng khá bạo dạn, chúng có thể vào tận nơi ở trong rừng của con người khi họ đã đi ngủ để kiếm ăn.

Thức ăn của chúng là thú nhỏ, Chim, bò sát, ếch nhái. Ở Thái Lan theo B.lekagul, 1988 Chó rừng thường theo Hổ để ăn các mẩu thịt Hổ để lại.

Phân bố:

Loài này có ở các nước Châu Âu, Châu Á và Châu Phi

Ở nước ta mới gặp loài này ở Tây Nguyên (Gia Lai, Kontum). Lần đầu tiên đã tìm thấy loài này ở Đắc Lắc.


9. Chó sói đỏ


Thức ăn của sói đỏ là nai, hoẵng lợn rừng, động vật nuôi và các loài chim lớn. Sinh sản hầu như quanh năm, nhưng tập chung nhất là vào các tháng 11 - 2. Thời gian có chửa khoảng 9 tuần. Mỗi lứa đẻ 4 - 6 con, có thể 10 - 11 con.

Chúng sống ở rừng, thường cư trú và hoạt động ở rừng già, những lúc săn đuổi mồi có thể về gần bản làng. Sói đỏ là thú ăn đêm, nhưng hoạt động tích cực vào lúc sáng sớm và chiều tối (có khi cả ban ngày), vùng hoạt động lớn và luôn thay đổi. Sống từng đôi hoặc đàn 5 - 7 con, khi săn mồi có thể nhập đàn 10 - 15 con.

Phân bố:

Việt Nam: Lai Châu, Lào Cai (Sapa), Bắc Thái, Sơn La (Mộc Châu), Gia Lai, Kom Tum, Đắc Lắc. Sói đỏ có phân bố rộng ở các tỉnh miền núi.

Thế giới: Liên xô (cũ), Nepal, Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Triều Tiên, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Sumatra, Giava, Indonesia.


10. Cheo cheo nam dương


Thức ăn chủ yếu của chúng là quả lá cây, cỏ. Mùa sinh sản kéo dài từ tháng 1 - 5. Thời gian có chửa 130 - 150 ngày. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con.

Nơi sống và sinh thái:

Sống ở rừng già, rừng thưa cây lá rậm địa hình tương đối bằng phẳng. Nơi ở gốc cây to bụi cây móc. Chỉ ghép đôi trong thời kỳ động dục. Hoạt động ban đêm.

Phân bố:

Việt Nam: Lạng Sơn (Yên Bình, Hữu Lũng), Vĩnh Phú (Tam Đảo), Thanh Hóa (Thường Xuân, Hồi Xuân), Nghệ An (Quỳ Châu, Phủ Quỳ), Hà Tĩnh (Hương Khê), Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Gia Lai, Kom Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai (La Ngà, Vĩnh An).

Thế giới: Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia; Crimantan, Sumatra, Giava (Indonesia).


11. Cheo cheo napu


Thức ăn chủ yếu của chúng là qủa lá cây, cỏ. Mùa sinh sản chưa xác định. Thời gian có chửa 152 - 172 ngày. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con.

Cheo cheo napu sống ở rừng già, rừng thưa trên núi đất địa hình tương đối bằng phẳng. Có lẽ chúng không thích nghi với vùng núi cao. Sống đơn độc, lặng, lẽ. Chỉ ghép đôi trong thời kỳ động dục.

Phân bố:

Việt Nam: Khánh Hòa (Nha Trang). Theo tài liệu điều tra năm 1983 có khả năng còn ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Phú Yên, Quảng Ngãi

Thế giới: Thái Lan, Đông Dương, Malaysia; Borneo, Sumatra, Giava (Indonesia).

Đọc tiếp...
Tìm thấy 96 bài viết.