Tổng cục lâm nghiệp - Hoạt động KH CN và MT

Hoạt động KH CN và MT

Điểm báo ngày 01/12/2016

BẢN TIN LÂM NGHIỆP

(Thứ Năm, ngày 01 tháng 12 năm 2016)

 

QUẢN LÝ RỪNG

Quảng Nam: Góp ý dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi

Sáng 30/11, tại TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung Việt Nam, tổ chức Hội nghị tham vấn “Góp ý dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi”.

Ông Lê Văn Lân, Điều phối viên mạng lưới đất rừng FORLAND chủ trì Hội nghị.

Tại Hội nghị này, các đại biểu lãnh đạo hạt kiểm lâm huyện, tỉnh Quảng Nam và nhiều tổ chức được nghe trình bày như: Góp ý dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng về những nội dung liên quan đến quyền sở hữu rừng; Góp ý nội dung quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng để đảm bảo quyền truyền thống của người dân trên đất canh tác nương rẫy lâu năm; Một số góp ý Dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng nhằm tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển rừng sản xuất là tự nhiên. (Đại Đoàn Kết 1/12) đầu trang—

PHÁT TRIỂN RỪNG

Gia Lai: Hô hào trồng mắc-ca - những lời hứa khó thành thật

"Chắc chắn tỉnh chưa có quy hoạch diện tích trồng cây mắc-ca mà cũng chưa có chủ trương nào hết".

ĐBQH Đinh Duy Vượt – Tỉnh ủy viên, Ủy viên Đảng đoàn, Ủy viên Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai quả quyết.

ĐBQH Đinh Duy Vượt cho biết, Gia Lai là vùng đất có chất đất đặc biệt, không những phù hợp với cây cafe, cao su mà còn rất phù hợp với cây mắc-ca.

Đó là lý do người dân đua nhau mở rộng diện tích trồng cafe, cao su, phá vỡ quy hoạch và cuối cùng đã phải nhận lấy không ít những đắng cay, tủi cực.

Mặc dù bài học đã nhiều nhưng do thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức, người nông dân chỉ tư duy theo hướng cái gì lợi thì làm. Sự hồ hởi của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) cùng một số doanh nghiệp bán cây giống có thể sẽ khiến nhiều hộ gia đình chạy theo. Trên thực tế cũng đã có nhiều hộ dân chạy theo lời mời gọi của doanh nghiệp mà tự phá cao su, cafe lấy rừng trồng mắc-ca.

“Dân họ thấy doanh nghiệp quảng cáo, quảng bá về chất lượng, hiệu quả kinh tế… nên họ cứ trồng thôi”, vị ĐBQH nói.

Tuy nhiên, về phía địa phương, ông Vượt quả quyết, Gia Lai không hồ hởi, vội vàng chạy theo phong trào trồng mắc-ca mở rộng.

“Theo nghị quyết của tỉnh tôi chưa thấy đề cập tới chủ trương trồng cây mắc-ca. Trong quy hoạch của tỉnh cũng chưa đề cập tới loại cây trồng này”, vị lãnh đạo tỉnh cho biết.

Theo ông Vượt, sau rất nhiều bài học đau xót từ cây cao su, kinh nghiệm xương máu hiện vẫn đang còn đó. Tỉnh không thể tiếp tục mạo hiểm đẩy người nông dân vào thế khó.

Trong khi đó, các thông tin màu hồng về cây mắc-ca như: giá trị kinh tế cao, sản lượng tốt, thu lợi lớn… cũng chỉ được nghe từ phía doanh nghiệp, các đơn vị bán cây giống chứ thực tế chưa được chứng minh, thị trường tiêu thụ chưa rõ ràng, chắc chắn.

“Chưa ai đảm bảo chắc chắn được đầu ra. Chúng ta chưa có nhà máy chế biến mà trồng ồ ạt, trồng đại trà thì lúc đó giá có còn cao nữa không? Sản phẩm liệu có bị phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, để rồi lại bị ép giá, khiến nông dân tiền mất, tật mang?”, vị lãnh đạo địa phương trăn trở.

Một lần nữa nhắc lại, ông Vượt khẳng định: “Chắc chắn tỉnh chưa có quy hoạch diện tích trồng cây mắc-ca mà cũng chưa có chủ trương nào hết”.

Cũng theo vị lãnh đạo địa phương, thời gian vừa qua tỉnh liên tục đưa ra những lời khuyến cáo, cảnh báo người dân phải thận trọng, cân nhắc, không nên chạy theo phong trào phá rừng trồng mắc-ca ồ ạt.

Trong tất cả các nghị quyết chung của  địa phương cũng luôn đề cập tới vấn đề này.

Một vấn đề khác được ông Vượt lưu ý, Chính phủ đã tuyên bố đóng cửa rừng tự nhiên, không chuyển 2,25 triệu ha từng tự nhiên còn lại sang mục đích khác kể cả các dự án được phê duyệt, trừ các dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh. Không có chủ trương chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng cây công nghiệp.

Điều này đồng nghĩa với việc Gia Lai cũng không còn đất để trồng mắc-ca.

“Bài học phá rừng trồng cao su đã quá đủ đau xót rồi. Gia Lai không thể phá rừng tự nhiên lấy đất trồng mắc-ca nữa. Muốn trồng mắc-ca chỉ còn cách phải phá bỏ cây cao su”.

Tuy nhiên, đây là bài toán không khả thi, bản thân ông Vượt cũng thừa nhận, khi theo đuổi giấc mơ cao su người dân đã phải đầu tư, bỏ vốn không ít vào đó. Nếu bây giờ, lại chạy theo những lời mời gọi của doanh nghiệp mà vận động người dân chặt bỏ cao su để đổ tiền nuôi một giấc mộng khác, chưa biết rõ tương lai, hiệu quả ra sao là quá mạo hiểm.

“Địa phương không đủ can đảm làm việc đó, không thể bảo người dân đổ tiền vào một loại cây mà tới 6-7 năm sau vẫn chưa khẳng định được hiệu quả. Chúng tôi không dám chịu trách nhiệm”, vị lãnh đạo địa phương cho biết.

Cũng bàn về vấn đề này, GS Nguyễn Ngọc Lung – Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ cũng đưa ra lời khuyến cáo, cây mắc-ca vẫn đang trong hoàn cảnh trồng khảo thí, chưa được phát triển, nhân rộng, trồng đại trà.

Không phủ nhận, hạt mắc-ca ăn rất ngon, giá sản phẩm cao, thị trường tiêu thụ tiềm năng. Tuy nhiên, vị chuyên gia nhấn mạnh, vì mới là loại cây đang được trồng khảo thí, do đó, ngay cả chất lượng cây giống hiện cũng vẫn còn rất nhiều loại khác nhau, chưa được kiểm chứng hiệu quả từ thực tế.

Song song với đó là yêu cầu tiêu thụ sản phẩm cũng đòi hỏi những tiêu chuẩn, đặc tính riêng. Do là loại cây nhiều dầu, nên khi thu hoạch hạt mắc-ca phải được đưa vào chế biến ngay mới đảm bảo được chất lượng và giá thành.

Đây là điều kiện khó khăn với Việt Nam, vì cho tới thời điểm hiện tại chúng ta chưa có một nhà máy chế biến nào. Vì vậy, GS Nguyễn Ngọc Lung nói thẳng, nếu trồng mắc-ca để ăn chơi thì có thể trồng được, nếu trồng để bán thì phải thận trọng, nghiên cứu cho kỹ. (Đất Việt 30/11) đầu trang—

Quảng Nam: Mạnh dạn đổi giống trồng rừng

Tháng 11 là thời điểm vào vụ mùa trồng rừng chính của nông dân các huyện trung du, miền núi. Nhờ chủ động từ sớm nên năm nay nguồn cây giống đảm bảo số lượng lẫn chất lượng.

Trước đây đánh vào tâm lý “ham rẻ” của nông dân, nhiều cơ sở vườn ươm giống cây lâm nghiệp truyền thống ồ ạt ra đời, nhưng lại thiếu đầu tư công nghệ, kỹ thuật. Hậu quả là cây chậm phát triển, năng suất  thấp, hay xảy ra dịch bệnh.

Nhìn thấy các dự án thiết kế trồng rừng bài bản như WB3, KFW6 hoặc các mô hình điểm trồng cây keo cấy mô cho giá trị kinh tế vượt trội, nhiều nông dân đã bắt đầu thay đổi tư duy sản xuất theo hướng có lợi về sau. Hộ ông Lê Phước Trường (xã Đại Thạnh, Đại Lộc) đại diện cho nhóm hộ trồng gần 10ha keo cấy mô, nhận xét: “Sau hơn một năm trồng keo cấy mô, tôi thấy cây sống tuyệt đối.

Trồng cùng thời điểm trên thổ nhưỡng giống nhau nhưng keo cấy mô sinh trưởng tốt hơn, cao gấp 1,5 lần và to hơn so với keo giâm hom, tai tượng truyền thống”. Theo tính toán của ngành nông nghiệp, mỗi héc ta keo giâm hom truyền thống thu về khoảng 70 triệu đồng nhưng keo lai nuôi cấy mô có thể cho đến 150 triệu đồng/ha.

Tại huyện Hiệp Đức từng mọc lên như nấm các vườn ươm cây giống hộ gia đình, phục vụ cho địa phương cũng như các huyện lân cận. Tuy vậy, 2 năm gần đây một số vườn ươm đã “chết yểu” do giống cây kém chất lượng, hoặc ở mức trung bình. Người trồng rừng chấp nhận đầu tư mua nguồn cây giống đắt gấp nhiều lần ở các vườn ươm có thương hiệu ngoài tỉnh, chứ không mua trôi nổi trên thị trường. Ông Huỳnh Đức Viên - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Hiệp Đức khẳng định, bình quân mỗi năm trên địa bàn trồng mới và tái sinh 1.500ha; khai thác 2.000ha với năng suất bình quân 66 triệu đồng/ha.

Đến nay xã Hiệp Thuận (Hiệp Đức) có 422ha được công nhận đạt chứng chỉ rừng quốc tế (FSC). Năm 2016 địa phương chuyển ít nhất 150ha rừng keo giâm hom sang giống keo nhập khẩu của Úc. “Rút kinh nghiệm, giống là một yếu tố quyết định năng suất rừng trồng nên nông dân mạnh dạn liên kết, liên doanh với các vườn ươm có uy tín, đảm bảo chất lượng.

Hiện giống truyền thống còn sử dụng phổ biến nhưng đã can thiệp đáng kể về mặt công nghệ và kỹ thuật” - ông Viên cho biết.  Còn ở huyện Tiên Phước, trong 10 năm (2005 - 2015), Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ giống, tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận được kiến thức kỹ thuật trồng rừng đạt tiêu chuẩn quốc tế (FSC).

Dự án WB3 cho bà con nông dân huyện vay 15 - 20 triệu đồng/ha để trồng keo, với tổng kinh phí vốn vay hơn 70 tỷ đồng. Cạnh đó, ngành nông nghiệp huyện hỗ trợ 140 nghìn cây keo giống tai tượng nhập khẩu từ Úc. Đến nay, nhân dân tham gia trồng được hơn 6.700ha rừng, giải quyết việc làm cho gần 3.000 hộ.

Theo Phòng NN&PTNT huyện Tiên Phước, tại địa bàn có 20 nghìn héc ta đất rừng được người dân trồng keo lai, ước tính mỗi năm thu về hơn 200 tỷ đồng (chiếm 29% tổng giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp).

Năm 2015, thông qua cơ chế khuyến khích phát triển trồng rừng sản xuất bằng giống keo nuôi cấy mô giai đoạn 2015 - 2020 trên địa bàn tỉnh, các địa phương Tiên Phước, Bắc Trà My, Đại Lộc, Núi Thành, Tây Giang và Đông Giang đã trồng thí điểm 45ha cây keo nuôi cấy mô.

Năm nay, ngành nông nghiệp tiếp tục hỗ trợ mở rộng thêm 35ha cho 5 huyện  Phú Ninh, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn và Đông Giang (mỗi địa phương 7ha). Trung tâm Giống nông lâm nghiệp Quảng Nam đưa ra chỉ tiêu năm 2017 sẽ sản xuất 1 triệu cây giống keo nuôi cấy mô. Theo lộ trình tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020, cả tỉnh sẽ mở rộng lên 12.000ha rừng bằng giống keo cấy mô.

Theo Sở NN&PTNT, mùa trồng rừng đã bước vào cao điểm nhưng không xảy ra tình trạng thiếu cây giống sản xuất. Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, nông dân tập trung phát triển cánh rừng gỗ lớn đã giảm đáng kể nguồn cây giống đầu vào.

Thực tế diện tích trồng rừng không biến động nhiều, nhưng nếu đầu tư rừng gỗ lớn, mật độ cây trồng sẽ giảm đáng kể. Ước tính mỗi héc ta trồng bằng giống keo cấy mô, keo Úc sẽ giảm gần 1/3 số lượng cây keo giâm hom. (Báo Quảng Nam 29/11) đầu trang—

Cao Bằng: Toàn tỉnh trồng mới 1.578,7 ha rừng

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 11 tháng năm 2016, toàn tỉnh trồng mới 1.578,7 ha rừng, đạt 78% kế hoạch.

Trong đó, Dự án bảo vệ và phát triển rừng 13 huyện, Thành phố trồng mới 1.345 ha, đạt 117% kế hoạch (trong đó, 368 ha rừng phòng hộ, 977 ha rừng sản xuất); trồng rừng sản xuất của 3 dự án thuộc công ty, hợp tác xã 199,7 ha, đạt 117,4% kế hoạch; trồng rừng theo các chương trình khác 34 ha.

Tuy nhiên, trồng rừng thay thế khi chuyển sang mục đích kinh doanh là 707 ha nhưng đến nay chưa có đơn vị nào triển khai phương án trồng rừng thay thế hoặc nộp tiền về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh để trồng mới rừng theo quy định.

Ngoài ra, các huyện, Thành phố tuyên truyền vận động nhân dân trồng 167.389 cây phân tán các loại.  (Báo Cao Bằng 29/11) đầu trang—

Thừa Thiên Huế: Hồi sinh những "tấm bình phong" vùng ngập mặn

Dù là địa phương không có những bãi triều rộng như ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, nhưng bằng quyết tâm hồi sinh và mở rộng những khu rừng ngập mặn (RNM) dọc các cửa sông, ven biển, đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, từ khoảng năm 2010 đến nay, nhiều dự án trồng RNM đã biến kỳ vọng này thành hiện thực.

Những người “nặng lòng” với cây ngập mặn luôn đau đáu mong một ngày nào đó những khu RNM ven phá, ven biển ở Thừa Thiên Huế được hồi sinh. Cũng bắt nguồn từ mong mỏi ấy, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đã manh nha từ những năm 90 của thế kỷ XX và nhiều tổ chức, chương trình, dự án đã bắt tay vào trồng, phục hồi RNM ở nhiều khu vực đầm phá, ven biển của tỉnh.

Khởi thủy là vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, bằng nguồn vốn đầu tư của Dự án PAM 4304, ngành lâm nghiệp tỉnh đã trồng hàng chục ha trụ mầm cây đước đôi trên các bãi bồi ven phá Tam Giang - Cầu Hai. Năm 1999, PGS.TS. Nguyễn Khoa Lân (Trường đại học Sư phạm Huế) thử nghiệm trồng cây đước đôi ở phía Đông đầm Lập An (Lăng Cô - Phú Lộc).

Tuy nhiên, tất cả số cây được trồng của cả hai dự án trên đều bị nước lũ cuốn trôi. Năm 2002, một giáo viên sinh học, Trường PTTH Hai Bà Trưng và Chi hội Bảo tồn thiên nhiên Thừa Thiên Huế đã nghiên cứu trồng hơn 2.000 cây đước tại rú Chá (xã Hương Phong - Hương Trà). Do công tác quản lý, bảo vệ kém, nên phần lớn cây con bị trâu bò phá hoại, chết và hiện nay chỉ còn 14 cây sinh trưởng rất tốt tại rú Chá.

Sau thất bại đó, việc nghiên cứu trồng RNM ở Thừa Thiên Huế tạm lắng. Từ năm 2010 đến nay, việc trồng RNM được xúc tiến trở lại thông qua một số đề tài, dự án trồng RNM tại các vùng cửa sông, ven biển, ven phá. Trong đó phải kể đến đề tài nghiên cứu khoa học từ nguồn ngân sách tỉnh do Hội Khoa học kỹ thuật (KHKT) lâm nghiệp tỉnh chủ trì “Nghiên cứu hiện trạng và thử nghiệm trồng cây ngập mặn ở Tân Mỹ, thị trấn Thuận An (huyện Phú Vang) và phía Tây đầm Lập An”.

Thông qua đề tài, đã có 3.000 cây đước, bần, vẹt, trang được trồng, với tỷ lệ sống đạt khoảng 80%. Đến nay, số cây này đang sinh trưởng, phát triển rất tốt. Chủ nhiệm đề tài - ông Phạm Ngọc Dũng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Thừa Thiên Huế khẳng định, thành công này là cơ sở khoa học và thực tiễn, đã mở ra những hướng nghiên cứu mới cho việc gây trồng RNM trên toàn tỉnh.

Cũng sau thời gian này, một số dự án về trồng RNM được các đơn vị, tổ chức quốc tế hỗ trợ thực hiện, như dự án “Tăng cường RNM nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) và bảo tồn đa dạng sinh học vùng đầm phá ven biển Thừa Thiên Huế” do WWF tài trợ (2012-2014) đã gieo ươm và trồng được hơn 23.000 cây ngập mặn ở khu vực tam giác xung yếu cửa sông Hương - phá Tam Giang - cửa biển Thuận An và vùng rú Chá.

Dự án “Thích ứng với BĐKH và quản lý tài nguyên nước cấp cộng đồng ở Thừa Thiên Huế” do Tổng cục hợp tác phát triển Hà Lan (CSRD) tài trợ năm 2011, đã trồng hơn 1ha RNM ở cồn Tè, xã Hương Phong. Tất cả đều cho tỷ lệ cây sống trung bình đạt từ 75 - 80% và đang sinh trưởng, phát triển tốt.

Dự án về trồng RNM có quy mô lớn nhất từ trước đến nay phải kể đến dự án “Đầu tư phát triển rừng vùng đầm phá ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế” giai đoạn 2015 - 2020 do Chi cục Kiểm lâm tỉnh làm chủ đầu tư với tổng kinh phí hơn 110 tỷ đồng từ nguồn ngân sách Trung ương. Ngoài các hợp phần quản lý, bảo vệ, trồng mới rừng phòng hộ ven biển, đất cát ven biển, trồng rừng ngập ngọt (trên các trầm bàu), xây dựng các công trình lâm sinh, tập huấn nâng cao năng lực thích ứng BĐKH..., dự án sẽ trồng mới hơn 150ha RNM ở vùng cửa sông, ven biển, ven đầm phá của tỉnh.

Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phạm Ngọc Dũng trò chuyện, không như nhiều vùng đất ở miền Tây Nam bộ, Thừa Thiên Huế không có những bãi triều rộng nên việc trồng RNM chưa được “sướng”! Đất trồng manh mún, mỗi xã chỉ trồng được vài ha. Hơn nữa trồng RNM là hoạt động còn khá mới, nhiều đơn vị chưa có kinh nghiệm, nên chủ đầu tư là Chi cục Kiểm lâm xem như “ôm trọn” từ khâu sản xuất, chuẩn bị cây giống, thiết kế cho đến tổ chức thi công, kiểm tra, giám sát…

Do nước ngập thường xuyên, độ mặn thay đổi rất lớn, diện tích phân tán, nên quá trình thi công phải dùng nhiều giải pháp kỹ thuật. Đây không chỉ riêng Thừa Thiên Huế mà là tình trạng chung của khu vực miền Trung khi bắt tay trồng RNM.

Tuy nhiên, chính nhờ nỗ lực của chính quyền địa phương, các tổ chức, cơ quan đầu ngành và tâm huyết của những người trong ngành lâm nghiệp, đến nay, nhiều khu RNM tự nhiên được gìn giữ và phục hồi, hàng chục ha RNM được trồng mới, trở thành những thảm rừng xanh trải dọc vùng ven biển, ven đầm phá.

Diện tích RNM tự nhiên trên toàn tỉnh hiện có 26ha, trong đó rú Chá 4,5ha, Tân Mỹ 4,5ha, Lăng Cô 13ha và sông Bù Lu (Phú Lộc) 4ha. RNM tại Tân Mỹ và sông Bù Lu phát triển tốt; ở Lăng Cô đang trên đà suy thoái do điều kiện môi trường biến đổi và tác động của các hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản, sự phát triển các công trình dân sinh, khu định cư...

Đối với rừng trồng, ngoài số cây đã được các đề tài, dự án thực hiện, trong năm 2015, dự án “Đầu tư phát triển rừng vùng đầm phá ven biển Thừa Thiên Huế” đã trồng hơn 40ha RNM, gồm rú Chá 4,6ha và Quảng Lợi (Quảng Điền) 36ha. Dự án đã cấp và tổ chức trồng hơn 70.000 cây ngập mặn phân tán cho hơn 150 hộ dân các xã ven biển, đầm phá để trồng trên các ao nuôi thủy sản, cửa sông, bờ vùng, bờ thửa. Với mật độ trồng 1.650 cây/ha, nếu quy đổi ra diện tích rừng tập trung thì được khoảng 45ha RNM.

Ngoài hiệu ứng mở ra hướng phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, những cánh RNM được hồi sinh và phát triển còn là những “bức bình phong” vững chắc chắn gió, ngăn bão, giúp người dân chống chọi với thiên tai, BĐKH và giúp nghề nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững.

Gắn bó, cùng “ăn”, cùng “ngủ” với cây ngập mặn suốt nhiều năm nay, ông Phạm Ngọc Dũng tâm đắc, nhiều khu rừng bần, đước ở cửa sông Hương (cồn Tè), Lăng Cô... giờ đã lên cao 5 đến 6m, chế ngự những bộ rễ vững chắc và cho hoa quả tràn đầy nhựa sống. Người dân có thể cột được thuyền, nhiều tôm cua cá vào “trú ngụ”, sinh sôi nảy nở trong RNM.

Riêng địa bàn rú Chá được mở rộng gấp đôi so với nguyên thủy, tạo ra một khu rừng cảnh quan sinh thái tuyệt đẹp ở khu vực ngã ba sông Hương- phá Tam Giang- cửa biển Thuận An. Thú vị nhất là vào khoảng tháng 9 vừa qua, màu xanh tự nhiên của RNM rú Chá đổi sắc thu vàng rất ấn tượng.

Có thể, hiện tượng này đã có từ những năm trước, nhưng năm nay, sự xuất hiện rừng mùa thu đổi màu ở rú Chá đã gây sự chú ý và thu hút nhiều nhiếp ảnh gia, học sinh, sinh viên cũng như khách du lịch đến tham quan, ghi hình. (Tài Nguyên Và Môi Trường 29/11)  đầu trang—

Thái Bình: Phấn đấu trồng mới và trồng bổ sung trên 1.323 ha rừng ven biển

Trong giai đoạn 2016 - 2020, tỉnh Thái Bình phấn đấu sẽ trồng mới, trồng bổ sung trên 1.323 ha rừng ven biển; bảo vệ 4.000 ha rừng (gồm 3.700 ha rừng hiện có, 291 ha rừng trồng thêm).

Dự kiến nhu cầu vốn triển khai kế hoạch này hơn 392 tỷ đồng, trong đó kinh phí phục vụ việc trồng rừng và các hạng mục hỗ trợ gần 386 tỷ đồng.

Kế hoạch được triển khai nhằm giữ ổn định diện tích rừng hiện có, phục hồi diện tích rừng bị suy thoái hàng năm, đồng thời trồng mới rừng ven biển trên diện tích đất đã được quy hoạch để trồng rừng, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân ven biển và đảm bảo an ninh, quốc phòng. (Báo Ảnh Dân Tộc Và Miền Núi 30/11) đầu trang—

Lào Cai: Trồng rừng vượt kế hoạch

Bảo Thắng là địa phương về đích sớm nhất tỉnh trong kế hoạch trồng rừng của tỉnh Lào Cai. Đến giữa tháng 10, huyện này đã trồng được 1.496ha, vượt 149% kế hoạch năm. 

Theo kế hoạch, năm 2016, Lào Cai sẽ trồng mới 7.150ha rừng. Trong đó, rừng phòng hộ 900ha, còn lại là rừng SX. Để công tác trồng rừng đạt kết quả cao, ngành nông nghiệp đã làm tốt công tác theo dõi, nắm chắc diễn biến tài nguyên rừng để việc giao kế hoạch trồng rừng sát với thực tế. Đến nay, toàn tỉnh Lào Cai đã trồng được hơn 7.500ha rừng, vượt kế hoạch đề ra hơn 450ha.

Bảo Thắng là địa phương về đích sớm nhất tỉnh trong kế hoạch trồng rừng của tỉnh Lào Cai. Đến giữa tháng 10, huyện này đã trồng được 1.496ha, vượt 149% kế hoạch năm. Với lợi thế về vị trí địa lý và giao thông thuận tiện, những năm qua, huyện Bảo Thắng đã đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng, giao đất, giao rừng cho người dân, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng, gắn trồng rừng với chế biến. Nhờ đó, phong trào trồng rừng trên địa bàn huyện phát triển mạnh.

Điểm mới trong công tác trồng rừng những năm gần đây tại Lào Cai là việc chuyển đổi thời vụ trồng rừng. Những năm trước, thời điểm trồng rừng tập trung vào vụ thu, nên có hiệu quả thấp. Một số diện tích bị sâu bệnh, cây sinh trưởng và phát triển kém, diện tích rừng phải trồng dặm lại khá lớn.

Từ năm 2014 trở lại đây, ngành nông - lâm nghiệp đã khuyến khích các địa phương tập trung chủ yếu trồng rừng vào vụ xuân và kết quả đã có nhiều chuyển biến tích cực. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/11) đầu trang—

Quảng Bình: Hỗ trợ giống cây cho xã Trường Sơn và Trường Xuân trồng rừng

Thời gian qua, huyện Quảng Ninh thực hiện tốt công tác chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng; thường xuyên kiểm tra, giám sát các chủ rừng chấp hành các quy định của pháp luật về trồng rừng, khai thác gỗ rừng trồng.

Đồng thời, chuẩn bị các điều kiện để trồng rừng theo kế hoạch và chuyển đổi diện tích rừng trồng kém hiệu quả sang trồng rừng kinh tế có hiệu quả cao. Đến nay, tỷ lệ che phủ rừng trên toàn huyện đạt 71%, diện tích rừng trồng đạt 700 ha, diện tích chăm sóc rừng 2.100 ha. 

Thời gian tới, huyện tiếp tục đẩy mạnh công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ; đề nghị bóc tách một số diện tích của lâm trường, BQL rừng phòng hộ và làm thủ tục chuyển một số diện tích hợp lý để giao đất, giao rừng cho tổ chức, cá nhân và hộ gia đình ở 2 xã Trường Sơn, Trường Xuân trồng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng theo kế hoạch. Đặc biệt, huyện có kế hoạch cung cấp, hỗ trợ giống cây cho đồng bào dân tộc xã Trường Sơn và Trường Xuân trồng rừng, với số lượng 501.000 cây.

Bên cạnh đó, các lực lượng chức năng trên địa bàn tập trung làm tốt công tác PCCCR; tăng cường tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm lâm luật; quản lý tốt diện tích đất trồng rừng, đặc biệt là các xã: Trường Xuân, Trường Sơn; có kế hoạch giao đất giao rừng cho nhân dân quản lý có hiệu quả. (Báo Quảng Bình 30/11) đầu trang—

Hà Giang: Nâng cao ý thức trồng rừng bền vững

Trong khi không ít hợp tác xã (HTX) lúng túng chọn hướng đi phù hợp thì HTX Ngàn Hoa, Vị Xuyên, Hà Giang đã biết tận dụng, phát huy thế mạnh trồng rừng, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Theo đề án phát triển HTX theo mô hình mới đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, HTX Ngàn Hoa chú trọng đẩy mạnh phát triển chiều sâu và phát triển đúng hướng, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Huyện Vị Xuyên có gần 150 nghìn ha rừng tự nhiên, trong đó diện tích đất có rừng khoảng 79 nghìn ha, rừng sản xuất trên 50 nghìn ha, rừng phòng hộ trên 28 nghìn ha. Nắm bắt được chủ trương của huyện và nhận được sự tư vấn, hỗ trợ khuyến khích của các phòng ban chức năng, thấy đây là mô hình nhiều người dân có thể tham gia, các sáng lập viên - những người có tâm huyết với nghề phát triển rừng - đã nghiên cứu và quyết định thành lập HTX lấy tên là HTX Ngàn Hoa.

HTX được tỉnh giao quản lý và bảo vệ gần 2.000ha rừng phòng hộ, trồng mới được 800ha rừng chủ yếu là các loại cây như: Bồ đề, xà cừ, lát, xoan đào, keo...; chăm sóc xen trồng cây dược liệu, khoanh nuôi và tái sinh rừng trong quỹ đất được giao. Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX tập trung phát triển cây lâm nghiệp, vừa phục vụ đời sống kinh tế, xã hội vừa góp phần ngăn ngừa tác hại của thiên tai, bão lũ trong quá trình xây dựng nền kinh tế lâm nghiệp hướng tới phát triển bền vững.

Bằng việc làm cụ thể HTX đã tận dụng triệt để diện tích đất được giao, cải tạo môi trường sinh thái, giống cây trồng, thực hiện các biện pháp lâm sinh, trồng mới cây nguyên liệu, tìm đầu ra và ký kết các hợp đồng bán sản phẩm…

Từ năm 2012 đến nay, HTX đã huy động vốn từ mọi nguồn lực, đầu tư khoảng 20 tỷ đồng mua sắm máy móc, trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng chế biến gỗ, cải tạo cơ sở vật chất, trồng, chăm sóc và quản lý rừng, mua sắm các thiết bị phòng, chống cháy rừng, huy động tối đa lao động ở địa phương, gắn phát triển kinh tế hợp tác với kinh tế hộ.

Trong quá trình hoạt động hướng tới phát triển sản xuất với quy mô lớn thì việc chăm sóc, bảo vệ, chế biến, tiêu thụ cần có một lộ trình cụ thể. Anh Hoàng Đức Hải, Giám đốc HTX cho biết: “Là người gắn bó với nghề trồng rừng từ nhiều năm cho thấy, muốn thực hiện các việc trên thì ứng dụng khoa học - công nghệ cần được thực hiện vì trồng và bảo vệ cây lâm nghiệp là một ngành kinh tế mang tính đặc thù, giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường xanh và phát triển bền vững nên đòi hỏi phải có quá trình chăm sóc, không chỉ mất một vài năm mà phải nhiều năm thậm chí vài chục năm cộng với số tiền đầu tư lớn.

Vì vậy, để tăng cường vai trò của rừng, đóng góp cho nền kinh tế cần có những mục tiêu và các giải pháp cụ thể trong đó đặc biệt là các chính sách hỗ trợ nguồn vốn ưu đãi, tăng cường năng lực, hợp tác, liên doanh liên kết”. Dự kiến trong thời gian tới, HTX Ngàn Hoa sẽ liên kết với các HTX, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đầu tư nguồn lực để phát triển, tiếp tục nhân rộng các cơ sở ươm cây giống, tập trung vào các loại cây có giá trị kinh tế cao.

Theo đó tăng cường tuyên truyền cho xã viên và bà con nhân dân trên địa bàn các kiến thức về quy hoạch, quản lý và phát triển rừng hiệu quả, lâu dài nhằm khôi phục tái tạo và phát triển những giá trị tài nguyên thiên nhiên. Với quy mô hoạt động mang tính bền vững, HTX Ngàn Hoa được đánh giá là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực phát triển kinh tế rừng hiệu quả.

Khác với cách trồng rừng truyền thống thường lộn xộn, cây lớn bé chen chúc mọc trên diện tích hẹp, khu rừng của anh Hải thông thoáng, thẳng tắp và phát triển nhanh, đều. “Trồng rừng theo chuẩn PEFC có lợi vậy đó. Các cây đều cách nhau khoảng cách 1,8 - 2m. Mọi cây cong, sâu đều phải được loại bỏ.

Có diện tích thông thoáng nên chỉ mới 2 năm tuổi mà cây nào, cây nấy đều to, cao hơn hẳn so với những khu rừng trồng theo kiểu truyền thống trong vùng”- anh Hải tự hào nói. Cũng theo anh Hải việc tăng cường công tác tuyên truyền cho thành viên HTX và bà con nhân dân trên địa bàn các kiến thức về trồng rừng, quy hoạch rừng, phòng, chống cháy rừng… theo hướng đổi mới sẽ giúp quản lý và phát triển rừng hiệu quả, đồng thời phát triển những giá trị tài nguyên thiên nhiên, đem lại nhiều lợi ích về giá trị kinh tế cũng như về mặt xã hội.

Để thực hiện tốt và có hiệu quả, HTX đã kết hợp với cán bộ kiểm lâm, tuyên truyền, tập huấn, nâng cao nhận thức của xã viên và người dân trong bảo vệ rừng, phòng, chống cháy rừng. Nếu xảy ra cháy rừng sẽ gây thiệt hại lớn về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, vì vậy, công tác kiểm tra, kiểm soát người ra vào rừng và kiểm soát lửa cũng được HTX quan tâm, nhất là vào mùa hanh khô. HTX cũng phối hợp với cán bộ địa phương, các cấp ngành thực hiện diễn tập phòng cháy, chữa cháy theo định kỳ, giúp giảm thiểu thiệt hại nếu cháy rừng xảy ra.

Định hướng phát triển HTX trồng rừng bền vững giúp HTX Ngàn Hoa luôn duy trì mọi hoạt động và có các giải pháp đúng đắn, phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương và khả năng, tạo chỗ dựa vững chắc cho các thành viên trong HTX, giúp các hộ gia đình thành viên thực hiện tốt các hoạt động dịch vụ, không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm sức cạnh tranh trên thị trường, đem lại thu nhập ổn định cho thành viên, góp phần không nhỏ vào chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương. (Đại Biểu Nhân Dân 30/11) đầu trang—

Khánh Hòa: Chú trọng phát triển rừng sản xuất

Với diện tích đất lớn nên huyện Khánh Sơn (Khánh Hòa) khuyến khích người dân phát triển kinh tế lâm nghiệp, nhất là trồng keo.

Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng chủ động làm việc với doanh nghiệp (DN) để tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm, giúp người dân nâng cao thu nhập từ trồng rừng.

Theo ông Bo Bo Biên (thôn Liên Hòa, xã Sơn Bình), hiện nay, giá keo khá cao, hơn 1 triệu đồng/tấn, nếu chăm sóc tốt có thể đạt 70 – 80 tấn/ha. Sau khi trừ chi phí đầu tư, người dân thu trung bình 40 – 50 triệu đồng/ha. Vì lợi nhuận cao nên nhiều hộ trong thôn đã tập trung chăm sóc để keo đạt sản lượng cao nhất. Không chỉ vậy, những diện tích đất ở khu vực sườn đồi, độ dốc cao, người dân cũng chuyển từ trồng bắp, mì sang trồng keo. “Gia đình tôi có hơn 2,6ha keo đã 3 năm tuổi.

Trước đây, do khó khăn nên chúng tôi thường bán keo non cho đầu nậu. Tuy nhiên, giá keo thời gian gần đây khá ổn định, nhờ có DN đứng ra bao tiêu sản phẩm nên người dân phấn khởi, yên tâm chăm sóc, phát triển rừng sản xuất để phát triển kinh tế gia đình”, ông Biên nói.

Theo ông Lê Anh Quang, cán bộ phụ trách nông nghiệp xã Sơn Bình, những năm trước, nhiều hộ không muốn trồng cây keo, mặc dù địa phương đã tập trung tuyên truyền, vận động. Nguyên nhân chủ yếu là do thời gian trồng khá dài nhưng thu nhập không cao. Mặt khác, một số hộ có trồng nhưng khi gặp khó khăn lại đem bán keo non với giá rẻ, nhất là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số…

Thời gian gần đây, diện tích keo trên địa bàn xã đã tăng nhanh, năm 2010 khoảng 250ha, đến nay khoảng 500ha. Ngoài một phần diện tích keo trồng theo Chương trình 147 được Nhà nước hỗ trợ giống, người dân còn tự mua giống về trồng.

Tại xã Sơn Hiệp, việc phát triển cây keo trên đất lâm nghiệp cũng được người dân địa phương chú trọng. Ông Trần Tấn Chóng – Chủ tịch UBND xã Sơn Hiệp cho biết: “Năm 2010, diện tích keo trên địa bàn xã chưa đến 130ha, đến nay xã có khoảng 280ha. Chính quyền địa phương khuyến khích người dân trồng keo trên những diện tích không thể canh tác các loại cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao”.

Khánh Sơn hiện có diện tích rừng và đất lâm nghiệp chưa có rừng chiếm đến 77,6% trong số hơn 33.850ha diện tích tự nhiên của huyện. Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch để trồng rừng sản xuất hơn 8.825ha. Những năm qua, công tác phát triển rừng sản xuất để khai thác tiềm năng kinh tế lâm nghiệp đã được địa phương chú trọng.

Ông Nguyễn Ngọc Hiếu – Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cho biết: “Những năm gần đây, nhu cầu trồng rừng sản xuất (chủ yếu là trồng keo) của người dân rất cao. Năm 2010, toàn huyện chỉ có 440ha keo; giai đoạn 2011 – 2014, tăng thêm hơn 1.400ha; đến cuối năm 2015, lên đến 2.500ha keo. Năm 2016, ngoài 250ha keo trồng theo Chương trình 147, người dân còn tự mua keo giống về trồng thêm 323ha”.

Để đảm bảo đầu ra ổn định cho cây keo, qua đó khuyến khích người dân duy trì phát triển rừng sản xuất, UBND huyện Khánh Sơn đã mời các DN chế biến dăm gỗ đến Khánh Sơn hợp đồng ứng vốn đầu tư, bao tiêu sản phẩm rừng trồng cho người dân. Việc hợp tác này đã được thực hiện thí điểm tại xã Sơn Bình và Sơn Hiệp.

Theo ông Trần Tấn Chóng, năm 2016, UBND xã Sơn Hiệp đã làm việc với Công ty TNHH Chế biến dăm gỗ Đại Thắng (TP. Cam Ranh) để tiến hành ứng vốn và bao tiêu sản phẩm keo cho hơn 20 hộ ở địa phương. Việc làm này đã giúp các hộ giữ lại được rừng keo, không bán non cho đầu nậu.

Bà Lê Thị Nhung (thôn Liên Hòa, xã Sơn Bình) cho hay: “Gia đình tôi có hơn 5ha keo đã trồng được hơn 4 năm. Tôi đã ký kết hợp đồng với công ty để nhận vốn đầu tư và cam kết khi thu hoạch sẽ bán 100% keo cho công ty. Đồng thời, công ty cam kết sẽ mua theo giá thị trường vào thời điểm thu hoạch keo. Việc DN ký kết hợp đồng ứng vốn, bao tiêu sản phẩm cho người dân là cách làm hay, tạo đầu ra ổn định, người trồng keo yên tâm hơn”.

Theo ông Nguyễn Ngọc Hiếu, cây keo được địa phương xác định là cây lâm nghiệp mũi nhọn, vì phù hợp với đặc điểm địa hình đồi dốc. Thời gian gần đây, nhờ hiệu quả kinh tế cao, đầu ra ổn định nên rất hiếm hộ bán keo non. Hiện nay, trên địa bàn huyện vẫn còn một số diện tích có thể phát triển cây keo.

Địa phương đang khuyến khích người dân đầu tư trồng keo; chú trọng chất lượng cây giống, hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật để nâng cao sản lượng keo khi thu hoạch. Bên cạnh kêu gọi DN thu mua keo nguyên liệu, liên kết trực tiếp với người trồng theo hướng ứng vốn đầu tư những năm đầu, hướng dẫn kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm cho người dân, huyện còn kêu gọi DN đặt nhà máy chế biến tại địa bàn.

Hiện nay, diện tích rừng trồng ở Khánh Sơn khá lớn nhưng chủ yếu ở nơi có độ dốc cao, xa khu dân cư, đường đi không thuận tiện nên việc vận chuyển cây giống, khai thác gặp khó khăn. Thời gian qua, địa phương đã tăng cường tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu các mặt hàng nông – lâm sản của địa phương đến các DN.

Tuy nhiên, mới chỉ có Công ty TNHH Chế biến dăm gỗ Đại Thắng ký kết hợp đồng tiêu thụ keo cho người dân, nhưng số hộ tham gia ký kết hợp đồng cũng chưa nhiều. Đây chính là những hạn chế lớn trong phát triển rừng sản xuất của địa phương. (Báo Khánh Hòa 30/11) đầu trang—

BẢO VỆ RỪNG, PHÒNG CHỐNG CHÁY RỪNG & BẢO TỒN ĐDSH

Sơn La: Triển khai PCCCR mùa khô hanh 2016-2017

Để công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2017 trên địa bàn tỉnh Sơn La đạt hiệu quả cao, UBND tỉnh Sơn La đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện PCCCR, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị.

Trong công tác phòng cháy, do thời gian qua, nguyên nhân chủ yếu những vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn tỉnh Sơn La là do con người sử dụng lửa bất cẩn. Vì vậy, tỉnh Sơn La xác định đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quản lý, phát triển, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và PCCCR.

Nội dung tuyên truyền thiết thực, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp từng lứa tuổi, đối tượng; hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ của cộng đồng trong PCCCR. Tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng và PCCCR giữa hộ gia đình với trưởng bản, giữa trưởng bản với Chủ tịch UBND cấp xã, giữa Chủ tịch UBND cấp xã với Chủ tịch UBND cấp huyện; xây dựng, chỉnh sửa, bổ sung quy ước, hương ước có nội dung bảo vệ rừng và PCCCR đến từng thôn, bản...

Đồng thời, tiến hành củng cố, tăng cường hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng các cấp giai đoạn 2011-2020 (Ban chỉ đạo). UBND tỉnh giao Chi cục Kiểm lâm rà soát, bổ sung quy chế phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm với lực lượng công an, quân đội, bộ đội biên phòng, cảnh sát môi trường, cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, dân quân tự vệ; quy chế phối hợp bảo vệ, PCCCR trong vùng giáp ranh giữa Chi cục Kiểm lâm Sơn La với Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình, Phú Thọ, Điện Biên, Yên Bái, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ, PCCCR.

UBND tỉnh giao Ban Chỉ đạo các huyện, thành phố, từ nay tới tháng 12/2016, hoàn thành rà soát, bổ sung, điều chỉnh phân vùng trọng điểm cháy rừng ngoài thực địa vào bản đồ phân vùng trọng điểm cháy rừng đã được xác định như các khu rừng bị ảnh hưởng bởi băng giá đầu năm 2016, các khu rừng trồng đang trong giai đoạn chăm sóc, các khu vực đang khoanh nuôi tái sinh; các khu rừng gần nương rẫy, gần khu dân cư...

Khi thiết kế trồng rừng tập trung, chủ rừng phải xây dựng hệ thống các công trình PCCCR như đường băng cản lửa, chòi canh phát hiện lửa, bảng cấp dự báo cháy rừng... Cùng với việc thiết kế đường băng cản lửa, phải tận dụng các khe, đầm, hồ có sẵn để dự trữ nước cho việc chữa cháy rừng.

Trong mùa khô hanh dễ xảy ra cháy rừng, Ban chỉ đạo tổ chức hướng dẫn, chỉ đạo các chủ rừng, lực lượng chức năng thường xuyên tuần tra, theo dõi phát hiện lửa rừng để kịp thời triển khai các biện pháp PCCCR, không để lửa cháy lan diện rộng.

Tăng cường, bố trí lực lượng ở địa bàn xung yếu có nguy cơ cháy rừng cao, thường trực 24/24 giờ trong thời điểm nắng nóng kéo dài, thường xuyên kiểm soát nghiêm ngặt người, phương tiện ra vào rừng. Tổ chức kiểm tra công tác phòng cháy rừng, đảm bảo mọi hoạt động PCCCR ở địa phương thực hiện theo đúng phương án đã xây dựng và phê duyệt.

Trong công tác chữa cháy, thực hiện theo đúng phương châm bốn tại chỗ “chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ”. Khi phát hiện có cháy, Ban chỉ đạo phải xem xét tình hình cụ thể, tính chất, quy mô đám cháy, địa hình, tốc độ gió, tốc độ lan tràn để chỉ huy, huy động lực lượng và phương tiện, dụng cụ chữa cháy thích hợp. (Tài Nguyên Và Môi Trường 29/11) đầu trang—

Sử dụng tượng Phật làm từ ngà voi là trái với giáo lý của đạo Phật

Thời gian qua, cơ quan Hải quan và các lực lượng chức năng đã phát hiện bắt giữ nhiều vụ buôn bán, vận chuyển ngà voi trái phép.

Một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng buôn lậu mặt hàng cấm này là nhu cầu sử dụng của một bộ phận dân cư trong khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam, vì cho rằng có ngà voi trong nhà là may mắn, đuổi tà ma...

Thứ nhất, theo tín ngưỡng tâm linh thì Phật giáo là tôn giáo lớn trên thế giới và là một tôn giáo từ bi, trí tuệ được rất nhiều người mến mộ nghiên cứu. Bởi lý thuyết Phật giáo phù hợp với lý thuyết nhân loại khuyên con người làm điều tốt đẹp, từ bi, hỉ xả, chủ trương bất bạo động, thực hiện tư tưởng bình đẳng giữa các chúng sinh nên hợp với sự tiến bộ của nhân loại...

Ngoài ra, giáo lý Phật giáo gần với tư tưởng bảo vệ môi trường, trong quá trình phát triển phật giáo đã đóng góp rất nhiều cho việc bảo vệ hòa bình.

 Xét về khía cạnh tâm linh, một số người muốn sử dụng tượng Phật làm bằng ngà voi là xuất phát từ việc mến mộ đức Phật, tư tưởng của đức Phật. Bởi voi vốn là một con vật quý và là biểu tượng của sức mạnh, hơn nữa, trong Phật giáo hình tượng con voi cũng có ý nghĩa góp phần sinh ra đức Phật. Bên cạnh đó, con voi là một vật vừa thể hiện sức mạnh nhưng cũng biểu tượng trí tuệ nên Phật giáo rất coi trọng.

Đối với qua niệm dân gian, voi là biểu tượng thiêng liêng và may mắn. Những đồ trang sức được sản xuất ra từ xương, ngà voi đều được quý trọng. Nên bản thân những người tín ngưỡng tôn giáo muốn có tượng phật bằng ngà voi để làm thần hộ mệnh. Nên hiện có thực tế là tượng Phật làm từ ngà voi được rao bán trên các trang mạng xã hội. Nhưng liên quan đến vấn đề pháp luật, con voi là động vật quý hiếm cần được duy trì và bảo vệ nên ngay cả các tổ chức quốc tế cũng có quy định cấm săn bắt động vật hoang dã quý, hiếm. Do đó, một số người sở hữu tượng Phật làm từ ngà voi là tiếp tay cho những đối tượng buôn bán động vật hoang dã.

Nếu nói về giáo lý đạo Phật, tất cả chúng sinh bình đẳng như nhau nên cần phải tôn trọng sự sống của muôn loài. Như vậy, con voi cũng như con người, nếu giết voi là vi phạm giáo lý của đạo Phật. Tuy nhiên, có những người tôn trọng giáo lý của Phật giáo nhưng lại muốn có sở hữu tượng Phật bằng ngà voi. Những người có nhu cầu sử hữu tượng Phật bằng ngà voi là trái với giáo lý của đạo Phật.

Ngoài ra, nhiều người quan niệm sở hữu tượng Phật bằng ngà voi là may mắn, tuy nhiên, theo lời dạy của đạo Phật thì con người không tin vào bất kỳ vị tiên, vị thánh nào mà phải tin vào chính bản thân mình. Đức Phật có dạy rằng “con người hãy tự thắp ngọn đuốc cho mình đi, không nên tin vào người khác”, con người muốn tốt đẹp hãy làm việc thiện. Bên cạnh đó, trong lý thuyết đạo Phật còn có khía cạnh không sát sinh nên việc giết voi để lấy ngà làm tượng Phật là trái với giáo lý của đạo Phật.

Mọi người phải sở hữu một tượng Phật bằng ngà voi chỉ  để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của bản thân. Mỗi người có thể thể hiện tín ngưỡng với đức Phật bằng việc sở hữu những tượng Phật được làm từ nhiều nguyên vật liệu như: Vàng, bạc, đồng... không nên bằng ngà voi.

Đối với việc tượng Phật bằng ngà voi có thực sự linh thiêng và đem lại may mắn cho gia chủ hay không phải xét về góc độ khoa học. Nhiều người tin rằng tượng Phật bằng ngà voi sẽ đem lại may mắn là không có căn cứ và cơ sở khoa học. (Báo Hải Quan 27/11) đầu trang—

Bình Thuận: Hải Cẩu xuất hiện

Mấy ngày qua, người dân thị trấn Phan Rí Cửa (huyện Tuy Phong, Bình Thuận) bất ngờ phát hiện một cá thể ​hải cẩu xuất hiện ở vùng biển khu bãi dương, nơi người dân thường xuyên tắm biển.

Theo người dân địa phương, con ​hải cẩu nhỏ xuất hiện vào buổi trưa, vài thanh niên sống gần đó đã phát hiện và xuống nước vui đùa cùng loài vật vốn chỉ sống nơi có luồng không khí lạnh. Trước đây, loài vật đã xuất hiện và tạm trú khá lâu tại khu vực Gành (thôn Hà Thủy – xã Chí Công).

Gần đây, loài động vật hoang dã quý hiếm này thỉnh thoảng lại có mặt ở vùng biển nhiệt đới đã khiến nhiều người ngạc nhiên. Và đây là lần thứ 2, hải cẩu xuất hiện tại Bình Thuận. Mong rằng chính quyền địa phương vận động người dân bảo vệ hải cẩu, tránh xâm hại, đánh bắt loài vật này. (Người Lao Động 30/11) đầu trang—

Vũng Tàu: Cứu động vật hoang dã bằng tai mắt nhân dân

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Câu nói này luôn có giá trị trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và mới đây đã một lần nữa chứng minh tính đúng đắn qua câu chuyện giải cứu 6 cá thể sống và tịch thu 7 tiêu bản động vật hoang dã (ĐVHD) quý hiếm vào cuối tuần trước. 

Theo đó, ngày 3/11, một tình nguyện viên khi đi ngang qua một siêu thị mỹ nghệ trên địa bàn thành phố Vũng Tàu có phát hiện nhiều tiêu bản rùa biển được bày bán tại cơ sở này và báo về đường dây nóng 1800-1522 của ENV. Sau khi nhận được tin báo, vào ngày 14/11, Đội Quản lý thị trường số 1 thuộc Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tiến hành kiểm tra và phát hiện tổng cộng 7 tiêu bản, bao gồm 2 vích (tiêu bản lớn) và 5 đồi mồi tại đây.

Số tiêu bản này đã bị tịch thu và sẽ được chuyển về một trung tâm bảo tồn rùa nhằm mục đích giáo dục theo đề nghị của trung tâm này. Cơ sở mỹ nghệ cũng đang bị cơ quan chức năng quyết định mức xử phạt hành chính.

Cũng tại Vũng Tàu, vào ngày 15/11, khi đang đi cắm trại tại Resort Paradise, một  tình nguyện viên ENV khác đã gọi đến đường dây nóng khi phát hiện 3 cá thể khỉ đuôi dài bị nuôi nhốt nhằm thu hút khách du lịch. Vậy nhưng, khi cơ quan chức năng tới xác minh thông tin, nhân viên resort này lại tỏ ý không hợp tác và phủ nhận thông tin trên.

Các chiến sĩ Đội Kiểm lâm cơ động Vũng Tàu đã phải rất vất vả để lùng sục khắp khuôn viên khu resort suốt một buổi chiều ngày 25/11 vừa qua để đưa được 3 chú khỉ về. Được biết, các cá thể khỉ này hiện đang được giữ tại Hạt Kiểm lâm thành phố Vũng Tàu và sẽ được thả về tự nhiên trong thời gian sớm nhất. Tiếp đó, vào ngày 23/11, đường dây nóng 1800-1522 lại nhận được tin báo khác về 2 cá thể mèo rừng tại Bình Thuận.

Theo tin báo, 2 cá thể mèo này được một người dân nhặt được bên bờ suối từ 2 tháng trước. Thông tin sau đó đã được chuyển cho Phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Bình Thuận, và cơ quan này đã phối hợp cùng Hạt Kiểm Lâm thị xã La Gi tiến hành kiểm tra và tịch thu 2 cá thể mèo nói trên. Dự kiến 2 cá thể này sẽ được thả về Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Cú. Trường hợp giải cứu gần đây nhất là một cá thể đồi mồi tại Nha Trang.

Ngày 24/11, một tình nguyện viên Hà Nội đã chuyển giao cho ENV đường link rao bán cá thể sống này trên Internet. Lần theo đường link, các cán bộ ENV phát hiện người đăng là chủ một cửa hàng thú cảnh và thường xuyên rao bán ĐVHD quý hiếm. Bằng các biện pháp nghiệp vụ và sự vào cuộc kịp thời của Phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Khánh Hòa, ngày 25/11 vừa qua, cá thể này đã bị thu giữ và sẽ sớm được thả về Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang. 

“ENV rất vui mừng khi thấy các vi phạm về ĐVHD đang ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Đường dây nóng 1800-1522 của ENV liên tiếp nhận được tin báo vi phạm, các cơ quan chức năng cũng đã có những phản ứng rất nhanh chóng và kịp thời khi thông tin được chuyển giao, cho thấy sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cả cộng đồng về các vấn đề liên quan đến ĐVHD. Đặc biệt, sự nỗ lực của cơ quan chức năng trong những vụ việc như trên là vô cùng cần thiết để tạo dựng niềm tin trong cộng đồng.” – bà Nguyễn Thị Phương Dung, Phó Giám đốc ENV cho biết. 

Thế mới biết bên cạnh nỗ lực của các cơ quan, tổ chức bảo tồn thì nhận thức và sự tham gia của người dân là rất quan trọng để ĐVHD không còn bị đe dọa khỏi nguy cơ xóa sổ khỏi hành tinh xanh này. (Pháp Luật Plus 1/12) đầu trang—

Yên Bái: Bảo vệ rừng gắn với nâng cao đời sống nhân dân

Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, thành lập các tổ quản lý, bảo vệ rừng (BVR), tăng cường tuần tra, kiểm soát và tích cực phát triển rừng sản xuất bằng các cây lâm nghiệp có giá trị… đó là những việc làm cụ thể mà chính quyền, nhân dân xã Tân Phượng (Lục Yên) đã và đang triển khai để bảo vệ, phát triển rừng, nâng cao đời sống của nhân dân.

Nếu ai đã từng đến Tân Phượng thì chắc hẳn đều ấn tượng bởi mảnh đất, con người nơi đây. Ngoài nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Dao thì Tân Phượng còn có những dãy núi trùng điệp với thảm thực vật phong phú, đa dạng cùng những cây gỗ lớn hàng trăm năm tuổi.

Tôi nhớ, có lần Chủ tịch UBND xã Triệu Tiến Tiên từng nói: “Người Dao ở đây tuy đời sống còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng họ luôn BVR như bảo vệ tính mạng của mình. Dân bảo vệ, phát triển rừng và rừng mang lại nguồn sống cho họ”.

Có lẽ chính vì vậy mà nhiều năm qua trên 2.600 ha rừng ở Tân Phượng đã được nhân dân tích cực trồng, chăm sóc và bảo vệ. Ông Triệu Tiến Tiên cho biết: “Đảng ủy, chính quyền địa phương xác định sản xuất nông - lâm nghiệp chính là chìa khóa giúp dân thoát nghèo, nâng cao đời sống. Do vậy, ngoài đẩy mạnh thâm canh trên diện tích đất lúa 2 vụ, xã tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân trồng, chăm sóc và bảo vệ trên diện tích rừng được giao khoán”.

Theo đó, Tân Phượng phối hợp với lực lượng chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân không chặt, phá rừng, không phát nương làm rẫy trái phép. Ngoài việc phổ biến, tuyên truyền các quy định trong bảo vệ, phát triển rừng tại các cuộc họp từ cấp xã đến thôn, bản hay đoàn thể thì hệ thống loa phát thanh xã cũng là kênh thường xuyên nhắc nhở, vận động người dân tích cực trồng, chăm sóc, BVR.

Để công tác BVR được triển khai hiệu quả, xã Tân Phượng thành lập 5 tổ quản lý và BVR tại các thôn, bản với thành viên gồm: bí thư chi bộ, trưởng thôn, chi hội trưởng đoàn thể và đông đảo bà con nhân dân.

Các tổ này thường xuyên tổ chức họp, xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và tổ chức các buổi tuần tra, kiểm tra trên khu vực rừng được giao khoán. Bên cạnh đó, Tân Phượng đã thành lập Ban Lâm nghiệp xã thường xuyên phối hợp với lực lượng kiểm lâm huyện trong công tác kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm về quản lý BVR trên địa bàn.

Đối với diện tích rừng tự nhiên phòng hộ, chính quyền địa phương đã tiến hành giao khoán cho từng hộ dân, nhóm hộ bảo vệ, trông coi... Nhờ thực hiện quyết liệt các giải pháp trên, nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của người dân từng bước được nâng cao, số vụ xâm phạm, phá hoại rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm dần theo từng năm...

Đặc biệt, nhờ làm tốt công tác bảo vệ, phát triển rừng mà người dân đã có thêm thu nhập, giảm nghèo và ổn định đời sống. Theo báo cáo của UBND xã, năm 2015, toàn xã đã thực hiện chi trả tiền giao khoán BVR cho các hộ dân với tổng số tiền trên 500 triệu đồng. Ngoài ra, đối với diện tích rừng sản xuất, hàng năm, Tân Phượng phối hợp với các cơ quan nông nghiệp tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ…

Năm 2016, xã trồng mới gần 40 ha rừng, trong đó chủ yếu là cây quế với trên 21 ha, cây bồ đề gần 5 ha, cây xoan, mỡ trên 5 ha và cây tre, mai 6,7 ha. Nhờ làm tốt công tác trồng, chăm sóc và BVR tỷ lệ che phủ của rừng ở đây ngày một nâng lên, đặc biệt từ đây người dân có thêm nguồn thu nhập, nâng cao đời sống.

Ngoài ra, tình trạng vi phạm luật quản lý BVR trên địa bàn đã giảm đáng kể so với thời gian trước. Việc phối hợp với lực lượng kiểm lâm cũng thường xuyên, liên tục hơn. Những vụ vi phạm trên địa bàn đều bị xử lý nghiêm minh, rõ ràng, do vậy ý thức của người dân nâng lên rõ rệt. (Báo Yên Bái 30/11) đầu trang—

Sơn La: Giữ xanh mãi những cánh rừng biên giới

Giữa cái giá lạnh của miền biên giới, cùng cán bộ kiểm lâm Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sốp Cộp đi tuần rừng, chúng tôi hiểu thêm phần nào những vất vả, gian nan của các anh để giữ màu xanh cho những cánh rừng.

Đưa mắt hướng về phía đại ngàn xanh sẫm, ông Vũ Văn Hải, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sốp Cộp, khái quát: Rừng đặc dụng Sốp Cộp rộng 17.405 ha. Ở đây còn nhiều loại động, thực vật quý hiếm, được ví như “lá phổi xanh” của khu vực Sông Mã, Sốp Cộp.

Diện tích rừng trải dài khắp các dãy núi cao tiếp giáp với địa bàn 6 xã: Nậm Mằn, Huổi Một, Mường Cai (Sông Mã) Dồm Cang, Sốp Cộp, Púng Bánh (Sốp Cộp). Nơi đây, địa hình hiểm trở, lại bị chia cắt mạnh, dân cư sống phân tán, nếu lực lượng kiểm lâm chúng tôi không có sự đồng tình ủng hộ của người dân thì làm sao giữ được rừng.

Cũng theo ông Hải, để bảo vệ rừng, Hạt thường xuyên tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng; cử cán bộ xuống cơ sở tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao nhận thức PCCCR; phối hợp với cơ sở kiểm tra, giám sát và hướng dẫn nhân dân thực hiện tốt các phương án, kế hoạch BVR và PCCCR; tổ chức ký cam kết thực hiện tốt công tác PCCCR, tuân thủ các quy định về thời điểm và quá trình phát, đốt nương rẫy giữa Hạt với các xã, giữa xã với bản, giữa bản với người dân.

Chỉ tính từ đầu năm đến nay, Hạt đã tổ chức 15 hội nghị tuyên truyền tại các bản cho trên 1.000 lượt người. Đồng thời, củng cố và phát huy vai trò của 66 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng và PCCCR tại các bản; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi khai thác rừng, phá rừng, lấn chiếm rừng và đất rừng để làm nương rẫy, vi phạm quy định PCCCR, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép...

Cùng với đó, Hạt đã sử dụng máy GPS để xác định vị trí, diện tích các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, khu phục hồi sinh thái, những điểm có nguy cơ cháy cao, những khu vực sản xuất nương rẫy gần rừng, từ đó, số hóa lên bản đồ phục vụ  nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng tốt hơn.

 Đặc biệt, năm 2014, ông Lò Văn Thành, Phó Hạt trưởng và ông Lường Văn Cường, cán bộ của Hạt đã có sáng kiến rất hữu ích góp phần tạo sinh kế cho người dân.

Đó là, vận động nhân dân sống ven rừng đặc dụng đóng thùng đặt ven rừng để ong làm tổ lấy mật, góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân và giảm áp lực phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của rừng.

Chia sẻ về sáng kiến này, ông Thành kể: Trong những chuyến tuần tra rừng, tôi nhận thấy vào mùa xuân, rừng đặc dụng có rất nhiều ong, chúng thường làm tổ ở trong những cây gỗ mục. Tôi nghĩ, nên tận dụng gỗ mục đóng thành thùng để bẫy ong. Thấy lợi là làm, tôi cùng anh em trong Hạt lấy gỗ mục về làm thử nghiệm, đóng thử vài thùng đặt vào ven rừng, chỉ sau vài ngày ong đã đến làm tổ, khi được thu, chỉ vài tổ mà có tới cả chục lít mật ong. Vậy là, chúng tôi đã hướng dẫn bà con làm theo.

Bây giờ, cứ mỗi khi vào mùa xuân, có rất nhiêu hộ dân ở 56 bản thuộc 6 xã trong địa bàn rừng đặc dụng tham gia nuôi ong. Nhà ít thì 6-7 thùng, nhà nhiều vài chục thùng, trung bình một thùng sẽ cho 3-5 lít mật ong, với giá trị của mật ong rừng từ 250-300 nghìn/lít, mang lại thu nhập đáng kể cho người dân. 

Với sự nỗ lực cố gắng, cán bộ Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sốp Cộp, thông qua những cách làm hiệu quả, thiết thực, đã tác động đến ý thức, trách nhiệm của người dân trong việc giữ rừng, nhận thức của người dân ngày càng nâng lên, bảo nhau thực hiện tốt các quy định quản lý, bảo vệ rừng, tuân thủ các quy định khi phát dọn nương rẫy; góp phần giảm số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.

Chia tay các anh, hình ảnh đọng mãi trong tôi là màu áo xanh của những “người lính giữ rừng” giữa đại ngàn bao la, hùng vĩ, họ đang nỗ lực hết mình vì màu xanh của núi rừng. (Báo Sơn La 1/11) đầu trang—

Việt Nam cam kết mạnh mẽ chống buôn bán trái phép ĐVHD

Tại Hội nghị buôn bán trái phép động vật hoang dã lần thứ 3 do Việt Nam đăng cai tổ chức mới đây tại Hà Nội, các quốc gia liên quan đã đưa ra tuyên bố Hà Nội nhằm thực thi các cam kết mạnh mẽ trong việc bảo vệ các loài động vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng.

TS Philip Muruthi, Phó Chủ tịch chuyên trách Quỹ động vật hoang dã Châu Phi (AWF) đã có cuộc trao đổi với báo chí xung quanh sự kiện này.

Cùng với những nỗ lực của các quốc gia, trong đó có cả các cam kết chính trị của các cấp chính quyền trung ương và địa phương trong việc bảo tồn các loài động vật hoang dã, ngăn chặn nguy cơ săn bắn trái phép, kêu gọi sự tham gia của các bên liên quan trong việc giảm mức cầu về các sản phẩm động vật này thì có thể nói, trước thời điểm năm 2007, đối với 2 loài voi và tê giác, số lượng cá thể của chúng đang phục hồi mạnh mẽ.

Thì đột ngột giai đoạn gần đây đã có sự đảo chiều do nhu cầu tiêu thụ vô cùng lớn ở khu vực Châu Á gia tăng mạnh mẽ. Ở nhiều quốc gia do có việc lơi lỏng quản lý nên mức độ khá trầm trọng, nạn săn bắn trái phép các loài động hoang dã ở cả Châu Á và Châu Phi trở nên vô cùng tàn khốc, dẫn đến các loài như voi, tê giác lại đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

Theo thống kê của chúng tôi, tình trạng săn bắn trộm tê giác đã trở nên trầm trọng như thời kỳ những năm 90 của thế kỷ trước. Hiện châu Phi còn lại một số loài tê giác đen và tê giác trắng, trong những năm gần đây, mỗi ngày mất 3 con, trong năm ngoái (2015) cả châu lục này mất tới 1.300 con do nạn săn bắn trái phép. Và nếu cứ để tình trạng này tiếp diễn thì loài tê giác Châu Phi chỉ sau 15 năm nữa sẽ tuyệt chủng hoàn toàn.

Ở VN, tê giác Java đã tuyệt chủng rồi, con cuối cùng đã ra đi vào năm 2015 và chúng ta đang chứng kiến mối đe dọa như vậy đối với loài tê giác Châu Phi. Hiện nay, lượng tê giác châu Phi còn lại khoảng 25.000 con, trong đó 5.000 con là tê giác đen và 20.000 con tê giác trắng. Nếu với tốc độ mất đi 400 con/năm thôi, thì khoảng 10 năm nữa sẽ là không còn con nào cả.

Tương tự là loài voi. Nhu cầu tiêu thụ ngà voi có tác động từ phía người tiêu dùng Châu Á. Theo số liệu từ tổ chức Traffic, nhu cầu tiêu thụ sừng tê nhiều nhất là người VN, còn tiêu thụ ngà voi lớn nhất là người Trung Quốc. Tuy không có thống kê nào khẳng định 2 quốc gia này tiêu thụ hầu hết các sản phẩm ngà voi và sừng tê, song đây là các quốc gia tiêu thụ các sản phẩm này nhiều nhất.

Đúng vậy, ở đây có sự liên kết rất mật thiết giữa nguồn cầu, nạn buôn bán trái phép và săn bắt trộm, cả 3 yếu tố này tác động tạo nên cầu tiêu thụ ngày càng tăng cao. Thứ nhất là nhóm các quốc gia nguồn như Kenya, Tanzania, nơi sinh sống của các loài động vật bị săn bắn.

Nhóm thứ 2 là các nước quá cảnh, nơi bọn tội phạm trung chuyển các sản phẩm đánh bắt bất hợp pháp; các quốc gia trung chuyển có tội phạm đi qua phải có nghĩa vụ chặn bắt, không cho quá cảnh các loại động vật hoang dã vào nước mình. Và thứ 3 là các nước có nhu cầu tiêu thụ, chính là nơi khởi phát nhu cầu các sản phẩm này, trong đó có VN thì cũng phải có những hoạt động tuyên bố đặt ra ngoài vòng pháp luật và xử lý thật nặng các đối tượng buôn bán, cung cấp động vật hang dã trái phép

Động thái vừa rồi của phía VN là một bước tiến rất quả cảm, rất là mạnh mẽ truyền đi thông điệp tuyên chiến với những kẻ buôn bán và tiêu thụ bất hợp pháp động vật hoang dã, yêu cầu phải tiêu hủy ngay lập tức các sản phẩm này. Với động thái này, Chính phủ VN đang tỏ rõ quan điểm có thái độ dứt khoát, không khoan nhượng với việc mua bán trái phép động vật hoang dã, thay đổi hình ảnh là một quốc gia đi đầu trong việc chống nạn buôn bán, tiêu thụ trái phép đông vật hoang dã, thay vì hình ảnh là quốc gia tiêu thụ sừng tê lớn nhất.

Để giảm thiểu và tiến tới chấm dứt nạn buôn bán trái phép động vật hoang dã, các quốc gia đang có những biện pháp quyết liệt trong việc ngăn chặn nguồn cung sản phẩm và tuyên truyền để giảm nhu cầu tiêu thụ đối với các sản phẩm này. Điều này đòi hỏi cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các quốc gia nơi cung cấp sản phẩm, quốc gia trung chuyển và tiêu thụ, cần có cam kết mạnh mẽ trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật và luật pháp sở tại, cần đưa ra truy tố, xét xử nghiêm minh các đối tượng săn bắt, buôn bán trái phép sản phẩm động vật hoang dã.

Hiện nay đã có 180 quốc gia ký Công ước về thương mại quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp. Đồng thời, tại hội nghị lần thứ 3 về Buôn bán đồng vật hoang dã trái phép vừa tổ chức tại Hà nội, các quốc gia tham dự đã ký Tuyên bố Hà Nội nêu cam kết mạnh mẽ có biện pháp cứng rắn đối với các đối tượng buôn bán, trung chuyển, tiêu thụ động vật hoang dã bất hợp pháp.

Đây chính là điểm nhấn rất quan trọng để việc thực thi bảo vệ các loài động vật hoang dã có hiệu quả và hy vọng cứu vãn sự tuyệt chủng của các loài động thực vật quý hiếm, trong sách đỏ. VN cùng các quốc gia khác cần cam kết mạnh mẽ đóng cửa thị trường tiêu thụ động vật hoang dã trong nước và làm tốt việc kiểm soát cửa khẩu, không cho các sản phẩm này xâm nhập vào, phải xử lý nghiêm, bóc gỡ tận gốc các đường dây buôn bán trái phép mới có tác dụng răn đe. (Lao Động 29/11) đầu trang—

Phú Yên: Tăng cường bảo vệ môi trường vùng biển ven bờ

Hiện môi trường biển ven bờ và các sông, đầm, vịnh trên địa bàn tỉnh bị ô nhiễm và việc khai thác hủy diệt đã làm nhiều loài thủy sinh suy giảm, cạn kiệt.

Để bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường biển, UBND tỉnh đã có chỉ thị tăng cường công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng biển ven bờ trên địa bàn tỉnh.

Phú Yên có bờ biển dài khoảng 189km, rất thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp, thương mại, du lịch, đặc biệt là đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, việc khai thác bất hợp lý tài nguyên ven biển đã và đang gây ra nhiều vấn đề lớn. Đó là tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn lợi thủy sản ven bờ, nhiều hệ sinh thái biển như san hô, cỏ biển… bị khai thác hoặc phá hủy do các hoạt động neo đậu tàu thuyền, nuôi trồng và khai thác thủy sản.

Tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng tại nhiều vùng nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là tại các đầm, vịnh đang ở mức báo động. Chất thải từ các hoạt động sản xuất, dân sinh và du lịch không được thu gom, xử lý kịp thời đã gây ảnh hưởng lớn đến môi trường ven biển. Theo kết quả điều tra của Sở TN-MT, từ năm 2013-2014, vùng biển ven bờ Phú Yên có hơn 1.310 loài thủy sản, trong đó cá là loài có số lượng nhiều nhất.

Riêng diện tích cỏ biển khoảng 555ha, tập trung ở đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài, đầm Ô Loan và vùng ven biển thuộc các thôn Vịnh Hòa (xã Xuân Thịnh, TX Sông Cầu), Mỹ Quang Bắc (xã An Chấn, huyện Tuy An). Hiện một số loài thủy sản bị suy giảm, diện tích các thảm cỏ biển đang bị thu hẹp dần do sự xâm lấn của các ao nuôi thủy sản và môi trường ô nhiễm cục bộ ở một số khu vực.

Ông Trần Trung Trực, Chi Cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường (Sở TN-MT), cho biết: Tại các thôn Hòa Mỹ, Hòa Thạnh, Hòa Lợi (xã Xuân Cảnh, TX Sông Cầu) thuộc đầm Cù Mông và các khu vực từ xã An Hiệp đến An Hòa (huyện Tuy An) thuộc đầm Ô Loan, cỏ biển chỉ còn phía bên ngoài khu vực ao nuôi thủy sản. Trong khi đó, phần lớn rừng ngập mặn cũng mất đi do phát triển nuôi trồng thủy sản khu vực biển ven đầm, vịnh. Đây là một mất mát lớn vì khó khôi phục lại những rừng ngập mặn, cỏ biển đã mất và sẽ ảnh hưởng đến một số loài thủy sinh quý hiếm.

Khảo sát của Sở TN-MT cho thấy ô nhiễm nguồn nước do nhiều nguyên nhân, hiện vùng biển ven bờ dần xấu đi do ô nhiễm nhiều loại nguồn thải. Sự ô nhiễm môi trường nước từ nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, sự mất cân bằng sinh thái trong phát triển nông nghiệp, hay các hoạt động khai thác khoáng sản, khai thác rừng trái phép đã làm cho môi trường nước trên các sông, đầm, vịnh mất cân bằng sinh thái, giảm đa dạng sinh học, giảm số lượng loài trong tự nhiên.

Các loài thủy sinh hấp thụ chất độc trong nước, lâu ngày gây biến đổi trong cơ thể, gây đột biến gen, tạo nhiều loài mới hoặc làm cho nhiều loài thủy sinh chết. Chất lượng nước biển ven bờ, hiện có dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng, hàm lượng này tại hầu hết các điểm quan trắc đều vượt quy chuẩn cho phép.

Hoạt động nuôi trồng thủy sản mang tính tự phát, không theo quy hoạch tại các đầm, vịnh ven biển, cửa sông, nguồn nước thải sau vụ nuôi thải trực tiếp ra môi trường chưa qua xử lý cũng góp phần làm ô nhiễm môi trường nước, bùng phát dịch bệnh gây thiệt hại về kinh tế và môi trường.

Theo Sở TN-MT, các hệ sinh thái rừng ven biển trong 5 năm trở lại đây bị tác động mạnh, đa dạng loài và nguồn gen có khả năng suy giảm. Nguyên nhân do chuyển đổi mục đích sử dụng thiếu quy hoạch, khai thác và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh học, ô nhiễm môi trường và quản lý còn nhiều bất cập.

Hiện trạng môi trường trên địa bàn tỉnh còn nằm trong tầm kiểm soát, chưa đến mức báo động, công tác quan trắc, dự báo môi trường được quan tâm, tần suất quan trắc được duy trì, đảm bảo khả năng kiểm soát. Tuy nhiên, tại một số điểm ở hạ lưu các con sông nơi tiếp nhận nước thải tổng hợp từ đô thị, sinh hoạt, hoạt động nông nghiệp… có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ về hữu cơ, vi sinh vào mùa khô và mùa mưa.

Ông Trần Sáu, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Tuy An, cho rằng: Các ngành chức năng và địa phương cần bảo vệ diện tích rừng ngập mặn còn sót lại ở ven đầm Ô Loan nhằm giữ vùng đệm tự nhiên giữa hai môi trường nước lợ và nước ngọt đồng thời bảo vệ một số nguồn lợi sinh vật quan trọng như cua xanh, cua huỳnh đế, sò huyết… và các loài chim nước về cư trú. Ngành chức năng cũng cần bảo vệ các thảm cỏ biển ở đầm Ô Loan, nơi tái tạo tài nguyên thủy sinh và mang lại nguồn lợi thủy sản….

Ông Nguyễn Như Thức, Giám đốc Sở TN-MT thông tin, sở đã kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương liên quan rà soát, điều chỉnh các quy hoạch của ngành, địa phương mình quản lý phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.

Tỉnh cũng cần xây dựng chính sách hỗ trợ các đơn vị thu gom rác thải trên địa bàn (đơn vị tư nhân), khuyến khích sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, các chương trình nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới về bảo vệ môi trường, ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp và xử lý chất thải.

Phú Yên cần đưa nội dung bảo vệ môi trường vào cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa vào tiêu chuẩn thi đua; đồng thời nhân rộng các mô hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi trường.

Các ngành chức năng và địa phương tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra liên ngành, giám sát chặt chẽ và thường xuyên các hoạt động bảo vệ môi trường.  (Báo Phú Yên 01/12) đầu trang—

Bình Thuận: Ngăn chặn nạn phá rừng ở các vùng giáp ranh trọng điểm

Đa số diện tích rừng của huyện Hàm Thuận Bắc nằm giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng và các huyện Bắc Bình, Tánh Linh, nên tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép xảy ra rất phức tạp. Nhất là đồng bào dân tộc các xã vùng cao đã lén lút phá rừng làm rẫy, lấn chiếm đất lâm nghiệp ở khu vực ven hồ thủy điện Đa Mi…

Trước thực trạng đó, UBND huyện Hàm Thuận Bắc đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật rộng rãi trong nhân dân.

Tăng cường tuần tra, truy quét bọn lâm tặc tại các địa bàn trọng điểm, vùng rừng giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng và huyện Bắc Bình, Tánh Linh. Các đơn vị chủ rừng thường xuyên kiểm tra, ngăn chặn, xử lý các đối tượng phá rừng làm rẫy, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại 4 xã vùng cao và tổ chức cho 62 đối tượng chuyên phá rừng ký cam kết không vi phạm lâm luật.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc khai thác tận thu lâm sản của các chủ dự án khai hoang cấp đất sản xuất cho đồng bào dân tộc tại xã Đông Giang, La Dạ. Các Ban quản lý rừng phòng hộ (RPH) tiếp tục thực hiện giao khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tại 8 xã cho 1.223 hộ dân, với tổng diện tích 41.011 ha rừng và bố trí 20 chốt trực bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng của các hộ nhận khoán bảo vệ rừng.

Thành lập 5 Ban chỉ huy chống phá rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, thuộc các đơn vị chủ rừng và 9 trạm, 6 chốt quản lý, bảo vệ các khu rừng trọng điểm trên địa bàn huyện. Hàng năm, Hạt Kiểm lâm huyện cùng với các đơn vị chủ rừng đã tổ chức giao ban, thực hiện phối hợp quản lý, bảo vệ rừng tại các khu vực giáp ranh với huyện Di Linh, Bảo Lộc (Lâm Đồng), huyện Bắc Bình, Tánh Linh theo quy chế đề ra.

Đồng thời chủ động theo dõi, thông báo cấp cháy rừng, bố trí lực lượng trực phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ” và tổ chức cho 386 hộ dân sống ven rừng làm bản cam kết thực hiện về phòng cháy chữa cháy rừng, không phá rừng làm rẫy.

Sau khi xảy ra tình trạng phá rừng Ông bà tại xã La Dạ, UBND huyện đã có văn bản đề nghị Sở Nông nghiệp - PTNT tham mưu UBND tỉnh thu hồi, giao diện tích rừng Ông bà cho Ban quản lý RPH Hàm Thuận- Đa Mi quản lý, bảo vệ và chỉ đạo xã La Dạ thành lập Tổ công tác tuần tra, bảo vệ rừng Ông bà, do Phó Chủ tịch UBND xã làm tổ trưởng.

 Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo vệ rừng, 11 tháng năm 2016, Hạt Kiểm lâm huyện Hàm Thuận Bắc và các đơn vị chủ rừng đã phát hiện, lập hồ sơ, xử lý 45 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 36 vụ so với năm trước.

Trong đó đã tịch thu trên 72,76 m3 gỗ các loại, 2 xe ô tô, 19 xe mô tô, thu nộp ngân sách nhà nước 624,8 triệu đồng và chuyển hồ sơ cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện điều tra, xử lý hình sự 2 vụ khai thác rừng trái phép trên địa bàn xã La Dạ. (Báo Bình Thuận 01/12) đầu trang—

Quảng Bình: Ban hành Quy chế cứu hộ ĐVHD trên địa bàn

Ngày 29/11/2016, UBND tỉnh đã phê duyệt Quyết định số 38/2016/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế cứu hộ động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

Theo đó, Quy chế quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc, điều kiện, thủ tục, địa điểm giao nhận động vật hoang dã và trách nhiệm của các bên liên quan trong giao, nhận động vật hoang dã. Bên cạnh đó, Quy chế cũng nêu rõ các điều kiện về xử lý động vật hoang dã bảo quản tạm thời; xử lý động vật hoang dã trong thời gian cứu hộ và xử lý động vật hoang dã sau cứu hộ.

Đặc biệt, Quy chế quy định rõ việc nuôi bảo tồn loài, đó là những cá thể động vật hoang dã sau khi cứu hộ nhưng không đủ điều kiện thả về môi trường tự nhiên, không đủ điều kiện chuyển giao cho cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học phù hợp thì được nuôi để bảo tồn loài tại Cơ sở cứu hộ động vật hoang dã bằng nguồn kinh phí ngân sách cấp cho hoạt động cứu hộ động vật hoang dã và các nguồn kinh phí hợp pháp khác.

Việc nuôi bảo tồn loài phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện về chuồng trại, chế độ chăm sóc, thú y, vệ sinh môi trường như đối với việc cứu hộ động vật nhưng phải được bố trí chuồng trại riêng, có sinh cảnh và điều kiện phù hợp. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Quảng Bình 30/12) đầu trang—

Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Nông tiếp xúc với cử tri huyện Tuy Đức

Đó là quan điểm chỉ đạo của Tỉnh ủy Đắk Nông tại Kết luận số 110-KL/TU ngày 17/11/2016 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU về ngăn chặn phá rừng, phát triển rừng bền vững giai đoạn 2016 - 2020.

Theo đánh giá, qua thực hiện Nghị quyết số 11 giai đoạn 2013 - 2015 cho thấy, mặc dù các cấp, các ngành đã có những nỗ lực không ngừng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, nhưng kết quả đạt được chưa đáp ứng yêu cầu, chuyển biến chưa căn bản, thiếu vững chắc. Vì vậy, trong 3 năm (2013 - 2015) không đạt được mục tiêu nghị quyết đề ra là phấn đấu giảm 50% số vụ và diện tích phá rừng, cả về tính chất, quy mô của từng vụ.

Kết luận cũng nêu hàng loạt những vấn đề còn bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ rừng dẫn đến thực trạng trên. Điển hình, công tác lập quy hoạch và quản lý quy hoạch rừng chưa chặt chẽ, còn chậm, kéo dài. Công tác giao đất, giao rừng còn nhiều bất cập.

Các dự án nông, lâm nghiệp của doanh nghiệp tư nhân và liên doanh, liên kết cũng như giao khoán rừng theo Nghị định 135 tại các công ty lâm nghiệp thực hiện không hiệu quả, có nhiều sai phạm, chưa được xử lý kiên quyết, dứt điểm. Công tác kiểm điểm, xử lý trách nhiệm của chính quyền từ cấp huyện đến xã, thôn, bon và các đơn vị chủ rừng, lực lượng kiểm lâm chưa sâu, chưa nghiêm túc.

Ngoài nguyên nhân khách quan, về chủ quan là do một số cấp ủy, chính qzXCVuyền địa phương chưa kiên quyết, trách nhiệm chưa cao. Các ngành, các cấp chưa chấp hành nghiêm túc các ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tổ chức bộ máy các công ty lâm nghiệp còn bất cập, hoạt động kém hiệu quả kéo dài nhiều năm không được xử lý.

Trách nhiệm của cán bộ quản lý trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng, quản lý đất đai (công ty lâm nghiệp, lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương) còn buông lỏng. Một số cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm, trình độ năng lực không đáp ứng yêu cầu, tiêu cực, thoái hóa biến chất, tiếp tay, bảo kê cho các đối tượng phá rừng, lấn chiếm, mua bán đất rừng trái phép... chưa được xử lý kiên quyết.

Trước tình hình trên, xét về quan điểm, mục tiêu, giải pháp của nghị quyết còn có giá trị, Tỉnh ủy thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 11 đến hết năm 2020. Theo đó, công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng phải được xác định là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách; là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể và của toàn dân. Hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cùng vào cuộc, với quyết tâm khôi phục, phát triển rừng bền vững, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu đề ra.

Cùng với việc nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật; lấy xây làm nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, cần lấy chống làm nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, đột phá, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng.

Quan điểm “lấy chống làm nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, đột phá” được xác định ở đây đó là tập trung rà soát, kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp được giao rừng và cho thuê rừng có sai phạm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Các cán bộ, công chức buông lỏng quản lý, tiếp tay, bao che cho việc phá rừng, lấn chiếm đất rừng cần bị đình chỉ ngay, với tinh thần công khai, minh bạch, công bằng; không né tránh trách nhiệm, không bao che cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào, không có vùng cấm.

Cơ quan chức năng tập trung đấu tranh, triệt phá các băng nhóm tội phạm, các đối tượng “bảo kê, đầu nậu” liên quan đến phá rừng, lấn chiếm đất rừng. Những vụ phá rừng phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Đặc biệt, Tỉnh ủy cũng chỉ đạo đẩy nhanh điều tra, xử lý các vụ phá rừng nổi cộm, nghiêm trọng với diện tích lớn xảy ra trong thời gian qua như: Rừng phòng hộ cảnh quan quốc lộ 14, bản Đắk Lép; Xí nghiệp lâm nghiệp Nghĩa Tín; các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk Ha, Quảng Đức, Đức Hòa, Thuận Tân, Gia Nghĩa, Đắk N’tao...; các sai phạm liên quan đến việc nhận giao khoán theo Nghị định số 135, các liên doanh liên kết tại các công ty lâm nghiệp, các doanh nghiệp thuê đất.

Quan điểm chỉ đạo của Tỉnh ủy đã rõ ràng, vấn đề còn lại ở đây đó là các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, chủ rừng và toàn xã hội cần phải thật sự vào cuộc quyết liệt thì công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mới đạt được mục tiêu như nghị quyết đề ra. (Báo Đắk Nông 30/11) đầu trang—

Bình Thuận: Sai phạm ở rừng còn nhiều khuất tất cần làm rõ

Không chỉ để rừng phòng hộ bị lâm tặc tàn phá nghiêm trọng, Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ (RPH) La Ngà (huyện Tánh Linh, Bình Thuận) còn có nhiều sai phạm trong quản lý tài chính. Thế nhưng những yếu kém tại đơn vị này lại không được xử lý nghiêm, gây thắc mắc trong dư luận.

Như Báo CATP đã thông tin, lúc 2 giờ 30 ngày 4-5-2016, tại khu vực nhà bảo vệ Nhà máy thủy điện Đa Mi, Hạt Kiểm lâm huyện Tánh Linh phát hiện chiếc ôtô 12 chỗ ngồi BS: 60K-4374 đang được bốc 25 khúc gỗ sao (hơn 4m3) lên xe, các đối tượng đã bỏ chạy. Lực lượng chức năng đã lập biên bản, tạm giữ xe và gỗ.

Thế nhưng sáng sớm cùng ngày, ông Hồ Quang Đạo (thời điểm đó là Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng Đa Mi, thuộc BQL RPH La Ngà) đưa ra hợp đồng vận chuyển ký giữa trạm và ông Nguyễn Văn Hưng, vì trước đó cán bộ trạm bắt được gỗ do lâm tặc phá rừng để lại, nên thuê xe đến chở về trạm (?). Tuy nhiên, xung quanh hợp đồng này có nhiều điều đáng ngờ.

Một cán bộ trạm Đa Mi cho biết: “Về việc 25 phách gỗ mà ông Đạo cho rằng đã phát hiện nằm trong lòng hồ thủy điện Đa Mi, để vào khu vực này khai thác gỗ, chỉ có một con đường duy nhất là đi qua đập phụ lòng hồ. Ở đập phụ này có tới hai chốt bảo vệ: bên này là chốt của trạm Đa Mi, bên kia là chốt của nhà máy thủy điện. Với hai chốt bảo vệ nghiêm ngặt như vậy, lâm tặc không thể đi qua để vào rừng khai thác, trừ trường hợp lâm tặc móc nối với kẻ tiếp tay”.

Hôm chuyển hơn 4m3 gỗ sao, ông Đạo nói rằng có gặp ông Công (bảo vệ của nhà máy thủy điện) để xin cho xe qua trạm. Tuy nhiên, làm việc với Hạt Kiểm lâm huyện Tánh Linh, ông Công cho biết: “Khoảng 13 giờ ngày 3-5-2016, có một chiếc xe cải tiến thường ngày vẫn qua chốt bảo vệ xin vào đập phụ.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, xe này trở ra, trên xe có 2 - 3 thanh niên, chở đầy gỗ hộp, không rõ gỗ gì, ông Đạo chạy xe máy theo sau. Từ khi chiếc xe này ra, cho đến suốt ngày hôm sau, không có chiếc nào vào xin qua đập phụ chở gỗ nữa”. Rõ ràng ông Công cho biết trái ngược với trình bày của ông Đạo.

Ông Phạm Thanh Huy (Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Tánh Linh) phân tích: “Theo quy định, khi phát hiện lâm sản khai thác trái phép, cán bộ phải báo cáo với thủ trưởng cơ quan, lập biên bản hiện trường ban đầu, thậm chí phải quay phim, chụp hình lại để sau này có cơ sở xử lý. Việc ông Đạo phát hiện gỗ do phá rừng, nhưng không lập biên bản hiện trường là sai. Hợp đồng thuê xe giữa trạm Đa Mi với ông Hưng cũng có dấu hiệu bất thường. Trong hợp đồng, ông Đạo là trạm trưởng, nhưng không ký tên mà giao ông Tâm (trạm phó) ký là không hợp lý. Cuối hợp đồng có ghi: “Hai bên cùng thống nhất và ký tên, có gì sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm” (?!). Việc này cũng mập mờ, chữ “tôi” không xác định được là ai, có dấu hiệu hợp đồng này được lập ra để... “chữa cháy”.

Ngày 27-9-2016, Hạt Kiểm lâm huyện Tánh Linh nhận kết quả giám định thiệt hại rừng do khai thác trái phép được CAH Tánh Linh chuyển đến. Kết quả cho thấy tại các tiểu khu 332B, 333, 336A và 337 do trạm Đa Mi quản lý bị thiệt hại 34,965m3, mức độ thiệt hại vượt khung xử phạt hành chính. Ngày 4-10-2016, Hạt Kiểm lâm huyện ra quyết định khởi tố vụ án liên quan việc phá rừng thuộc lâm phần RPH La Ngà, chuyển hồ sơ sang Cơ quan CSĐT CAH Tánh Linh tiếp tục điều tra, xử lý.

Tháng 10-2013, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN-PTNT) tỉnh Bình Thuận nhận được đơn tố cáo BQL RPH La Ngà không thanh toán đầy đủ chế độ tiền công đi rừng, tiền khoán công tác phí cho nhân viên bảo vệ rừng.

Ngày 21-5-2015, Sở ra kết luận: Từ năm 2010 - 2013, BQL RPH La Ngà lập hồ sơ, chứng từ chi thanh toán các khoản chi chế độ tiền công đi rừng, tiền khoán công tác phí của nhân viên tổng cộng gần 705 triệu đồng. Qua xác minh, đơn vị không chi trả kịp thời, mà giữ lại để chi các mục đích khác, như: hỗ trợ lễ, tết, khám sức khỏe cho nhân viên, ứng trước tiền công đi rừng.

Còn lại gần 355 triệu đồng, đơn vị giải trình đã chi ứng vốn trồng rừng năm 2010, chăm sóc rừng trồng năm 2011 - 2012 tại xã Bắc Ruộng (huyện Tánh Linh). Ngày 4-2-2013, đơn vị đã trả lại gần 355 triệu đồng cho nhân viên bảo vệ rừng.

Mặt khác, trong năm 2010, huyện thành lập 2 tổ truy quét chống phá rừng tại lâm phận RPH La Ngà, chi hỗ trợ cho 2 tổ này 35 triệu đồng, BQL RPH La Ngà lập phiếu chi thanh toán xong. Nhưng thực tế đơn vị chỉ chi tạm ứng cho 2 tổ 19,65 triệu đồng, phần còn lại chuyển sang chi tạm ứng cho công tác truy quét năm 2011 (?).

Sau khi thanh tra, kiểm tra, Giám đốc Sở NN-TTNT tỉnh kết luận các nội dung tố cáo là đúng sự thật, đồng thời chỉ đạo tổ chức kiểm điểm trách nhiệm của trưởng BQL và kế toán BQL RPH La Ngà. Lãnh đạo BQL RPH La Ngà phải tiếp tục chi trả số tiền còn lại cho 2 tổ truy quét chống phá rừng, chấn chỉnh công tác quản lý tài chính, nhất là các khoản tạm ứng tiền của cá nhân...

Sự việc lùm xùm về thanh toán tiền cho nhân viên chưa lắng xuống thì nhiều nhân viên cho rằng, BQL RPH La Ngà có dấu hiệu lập khống danh sách các hộ dân nhận khoán, trong vấn đề chi trả dịch vụ môi trường rừng để trục lợi. Theo đó, hầu hết người có tên trong danh sách không được nhận tiền, thậm chí nhiều người còn không biết mình có tên trong danh sách. Ngày 4-11-2015, Giám đốc Sở NN-PTNT có kết luận, khẳng định việc lập khống danh sách hộ dân khoán bảo vệ rừng để trục lợi là đúng như phản ánh. BQL RPH La Ngà không làm hết trách nhiệm, thiếu sâu sát, dẫn đến việc ông Phạm Minh Hoa lập khống danh sách 11 hộ đăng ký nhận khoán...

Ngày 18-11-2015, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Bình Thuận có quyết định, thu hồi kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng hơn 71,3 triệu đồng của BQL RPH La Ngà, do chi trả không đúng nguyên tắc. Một số nhân viên còn phản ánh, bảng hiệu gắn ở cổng BQL RPH La Ngà lấy xuống để sơn lại chỉ tốn khoảng 2 - 4 triệu đồng, nhưng lại thanh toán đến 40 triệu đồng; ông Kiều sử dụng xe công BS: 86A-0245 để phục vụ mục đích cá nhân. Ông Kiều phản bác lại rằng, phản ánh ông sử dụng xe công vào mục đích cá nhân là không đúng...

Mặc dù Sở NN-PTNT đã kết luận nhiều sai phạm tại BQL RPH La Ngà, nhưng đến nay trưởng BQL này vẫn chưa bị kiểm điểm, xử lý. Ông Đạo dù để khu vực rừng do trạm Đa Mi quản lý bị tàn phá nghiêm trọng, có dấu hiệu đáng ngờ trong vụ bắt giữ 25 phách gỗ sao do lâm tặc bỏ lại, nhưng cũng không bị xử lý mà được chuyển sang làm Trưởng trạm bảo vệ rừng Tà Mỹ (cũng thuộc BQL RPH La Ngà).

Việc này gây thắc mắc, bức xúc trong lực lượng bảo vệ rừng và dư luận địa phương. Đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Bình Thuận sớm tiến hành xử lý và công khai kết quả cho người dân biết. (Công An TP. HCM 30/11) đầu trang—

Hà Nội: Chạy kêu gọi chống săn bắt, buôn bán tê tê, hổ

Thông tin từ Trung tâm Giáo dục thiên nhiên vừa cho biết, sáng 11/12, trung tâm này sẽ phối hợp với Câu lạc bộ chạy tình nguyện Red River Runners tổ chức giải chạy vì động vật hoang dã, để hưởng ứng cuộc chiến chống lại nạn săn bắt, buôn bán các loài quý hiếm.

Giải chạy năm 2016 có chủ đề “Chạy vì động vật hoang dã: Hành động chống lại sự tuyệt chủng,” nhằm nhấn mạnh sự ảnh hưởng nghiêm trọng của việc sử dụng thuốc có nguồn gốc từ các loài quý hiếm như gấu, hổ, tê giác và tê tê...

Theo thể lệ cuộc thi, giải chạy vì động vật hoang dã năm nay được tổ chức tại Ciputra Club (khu đô thị Ciputra, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội), với các cự ly 5km, 10km và đường chạy cho trẻ em.

Trước đó, năm 2015, Giải chạy Sông Hồng với khẩu hiệu “Chạy vì Tê giác” hướng tới mục đích nâng cao nhận thức về việc buôn bán trái phép sừng tê giác tại Việt Nam, cũng  đã quy tụ hơn 500 người tham dự.

Để tham gia hoạt động này, mọi công dân Việt Nam và bạn bè quốc tế có thể đăng ký (trước ngày 8/12) tại trang web www.redriverrunners.com của Câu lạc bộ chạy tình nguyện Red River Runners; đăng ký trực tiếp tại Clickspace, địa chỉ số 15, ngõ 76, đường Tô Ngọc Vân, quận Tây Hồ, Hà Nội. (Việt Nam Plus 30/11) đầu trang—

TP. HCM: Dùng xe cấp cứu chở thú quý hiếm, từ tù treo thành án nặng

Nam thanh niên cải trang ô tô của mình thành xe cấp cứu, nhiều lần vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm bị tuyên tù treo nhưng sau đó chuyển thành tù giam.

Sáng 30-11, TAND TP HCM mở phiên tòa sơ thẩm xét xử, tuyên bị cáo Nguyễn Hữu Tiến (27 tuổi, quê Nghệ An) 5 năm tù treo về tội "Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ". Tuy nhiên, do Tiến đang trong thời gian thử thách một án tù treo khác nên án treo hiện tại bị chuyển thành 5 năm tù giam.

Liên quan tới vụ án, bị cáo Võ Thị Hóa (quê Hà Tĩnh) bị tuyên 3 năm tù treo về tội "Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ".

Theo cáo trạng, ngày 11-01-2015, Tiến điều khiển xe cấp cứu có đèn ưu tiên và chữ thập đỏ, gắn biển số giả, vận chuyển 2 con beo lửa đã chết, 8 chi gấu từ Hà Tĩnh vào TP HCM. Khi đến Quốc lộ 22 (quận 12, TPHCM), Cảnh sát điều tra phòng chống tội phạm về môi trường phát hiện và bắt quả tang, thu giữ số tang vật cùng nhiều biển số xe giả khác trên xe.

Tiến khai nhận chở thuê số động vật hoang dã trên cho Võ Thị Hóa với giá 12 triệu đồng. Tính từ tháng 10-2014 đến khi bị phát hiện, Tiến đã 6 lần vận chuyển tê tê từ TP HCM về Hà Tĩnh cho Hóa. Mở rộng điều tra, lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện tại nơi ở của Hóa 30 con tê tê Java (14 con đã chết).

Trước đó, bị cáo Nguyễn Hữu Tiến bị TAND TP Móng Cái (Quảng Ninh) tuyên án 30 tháng tù treo cùng tội danh trên. (Người Lao Động 30/11) đầu trang—

Đắk Lắk: Làm giả hồ sơ biến gỗ rừng tự nhiên thành gỗ rừng trồng

Chiều 30-11, Phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Đác Lắc cho biết, đơn vị đang phối hợp với các cơ quan chức năng tiếp tục mở rộng điều tra làm rõ vụ việc Công ty TNHH sản xuất thương mại và dịch vụ Thanh Tùng ở xã Ia R’vê, huyện Ea Súp làm giả hồ sơ biến gỗ rừng tự nhiên thành gỗ rừng trồng để qua mặt các cơ quan chức năng đưa về TP Hồ Chí Minh tiêu thụ.

Trước đó, tổ công tác của Đội 5 Phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Đác Lắc đã kiểm tra và phát hiện xe container biển số 51C-786.53 do tài xế Phan Văn Tuấn sinh năm 1988, trú huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định điều khiển lưu thông trên tuyến đường từ xã Ia R’vê về trung tâm huyện Ea Súp. Lúc này trên xe chở 30 m3 gỗ từ nhóm IV đến nhóm VI đã được bóc thành ván. Mặc dù toàn bộ số gỗ này có giấy tờ nguồn gốc nhưng là giấy tờ nguồn gốc giả.

Tài xế điều khiển là Phan Văn Tuấn cho biết: Số gỗ trên của Công ty TNHH sản xuất thương mại và dịch vụ Thanh Tùng ở xã Ia R’vê thuê chở về TP Hồ Chí Minh để tiêu thụ. Hồ sơ được khai là gỗ keo rừng trồng, tuy nhiên qua kiểm tra cho thấy đây là gỗ dầu rừng tự nhiên. Đại diện Công ty Thanh Tùng cũng khai nhận, công ty chuyên thu mua gỗ rừng tự nhiên do người dân chặt phá, khai thác ở địa phương rồi đưa về xưởng bóc thành ván mỏng và làm hồ sơ giả là gỗ keo rừng trồng để đưa về TP Hồ Chí Minh tiêu thụ.

Kiểm tra xưởng sản xuất của Công ty Thanh Tùng ở thôn 2, xã Ia R’vê, lực lượng chức năng phát hiện có nhiều đống gỗ ván thành phẩm đang chờ chở đi tiêu thụ. Công ty còn dùng một số lóng gỗ keo thật chất thành đống để bên ngoài nhằm đánh lừa cơ quan chức năng.

Vụ việc đang được Phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Đác Lắc phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (Nhân Dân 30/11) đầu trang—

Phụ thuộc thị trường Trung Quốc, cá sấu Việt khó “bơi xa”

Chưa bao giờ giá cá sấu biến động mạnh như giai đoạn vừa qua. Nguyên nhân được các chuyên gia phân tích là do chúng ta đang quá phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc.

Khi nghề chăn nuôi cá sấu mới phát triển tại Việt Nam, người ta tính giá cá sấu bằng đơn vị từng chỉ vàng. Đến năm 1992, giá cá sấu con giảm dần đến gần giá trị thật, 30 USD/con, do Thái Lan khủng hoảng con giống. Sau khủng hoảng kinh tế châu Á, giá cá rớt nhanh, nhiều trại nuôi đóng cửa.

Từ năm 1997, nhiều thành phần kinh tế cùng nhảy vào, cá sấu thịt lại tăng lên, khoảng 180.000 – 200.000 đồng/kg. Đến năm 2007, số lượng nuôi tăng lên 300.000 con, giá lại rớt còn 60.000 đồng/kg. Năm 2014, giá lại bị đẩy lên cao tới mức chưa từng thấy là 230.000 đồng/kg. Nhưng hiện giá 1kg cá sấu chỉ nhỉnh hơn 1kg thịt heo, 60.000 – 70.000 đồng/kg.

Nhìn nhận mức độ trồi sụt này, ông Tôn Thất Hưng - Giám đốc Công ty TNHH Cá sấu Hoa Cà (TP.HCM) đánh giá không khác nào trò chơi tàu lượn. “Việc lên xuống thất thường thực chất không theo quy luật cung cầu của nền kinh tế thị trường” - ông Hưng cho biết.

Ông Hưng chia lịch sử phát triển ngành nuôi cá sấu ở Việt Nam thành 3 thời kỳ. Giai đoạn đầu tiên từ 1987-1997 gọi là thị trường “sơ khai lãi khủng”. Giai đoạn này, phần lớn là xuất khẩu con giống, giá cá sấu trồi sụt do thị trường hẹp, cầu cao cung thấp thì giá tăng và ngược lại. Đến giai đoạn 1998-2007, thị trường dạng mạnh được, yếu thua.

Lúc này, thương lái Trung Quốc chưa rành thị trường Việt Nam nên giao cho các đầu mối người Việt thu mua. Tình trạng cạnh tranh ép giá lẫn nhau giữa các đầu mối và giữa đầu mối với nông dân trong mỗi chuyển hàng là phổ biến.

Từ 2007 đến nay 2016, các doanh nghiệp, nông dân và các đầu mối thu mua đã mất thế chủ động hoàn toàn.

Đồng quan điểm, ông Đỗ Văn Chiến - Phó Giám đốc Công ty CP Lâm nghiệp Sài Gòn cho rằng thị trường tiêu thụ hiện nay còn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc. Thương lái Trung Quốc lợi dụng khó khăn của các hộ nuôi lẻ, số lượng ít không tìm được đầu ra để ép giá, gây bất an cho người nuôi, làm ảnh hưởng sản lượng cá những năm tiếp theo.

Ông Chiến cho rằng phải ngăn chặn không để thương lái thu mua trực tiếp trong dân và làm giá, gây ảnh hưởng đến an ninh kinh tế. Đồng thời, tái đề xuất việc thành lập Hiệp hội cá sấu để tăng cường liên kết, để người nuôi không còn lạc lõng tự bơi giữa dòng như hiện nay.

Trước đó, đề xuất này cũng từng được nêu ra nhưng vì không đủ số lượng thành viên (100 đơn vị) nên ý tưởng tạm gác. Hiện không ít doanh nghiệp đề nghị nên đổi tên thành Hiệp hội bò sát hoặc chỉ lập riêng hiệp hội tại TP.HCM.

Ông Hưng thì lại đề nghị thành lập mô hình một doanh nghiệp chăn nuôi cá sấu trung tâm, hoạt động theo mô hình hợp tác xã. Trong đó doanh nghiệp trung tâm (tập hợp từ hộ nuôi hoặc doanh nghiệp) hoạt động theo điều lệ, đảm bảo việc bao tiêu và bán sản phẩm của thành viên với giá công khai và hợp lý.

“Tránh lệ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc là điều tốt nhưng chất lượng hàng xuất khẩu chưa cao do quy trình chăn nuôi ở ta chưa đảm bảo” - ông Ngô Ngọc Ánh - Giám đốc Công ty Xuất khẩu Ngô Võ phản biện. Theo ông Ánh, Việt Nam còn nuôi theo cách thức hộ gia đình, chuồng trại nuôi hiện tại chưa đảm bảo vệ sinh an toàn, chất lượng da thuộc chưa đảm bảo. 

Ông Ánh kể, công ty ông mỗi năm chỉ xuất khẩu 40 – 50 con sang thị trường Nga. Số lượng tuy ít nhưng khi chất lượng đảm bảo từ lô đầu tiên tới cuối cùng, cái lợi nông dân thu về lớn hơn nhiều.

Theo ông Trần Tấn Quý - Phó Giám đốc Sở NNPTNT TP.HCM, tình hình chăn nuôi, sản xuất và kinh doanh cá sấu tại TP.HCM không bị ảnh hưởng nặng như các địa phương khác. Đây vẫn là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nhất là ở những vùng đất nhiễm phèn, trồng lúa không đạt giá trị cao. (Dân Việt 30/11) đầu trang—

 Lài Cai: Toàn tỉnh có hơn 150.000 ha rừng có nguy cơ cháy cao

Theo điều tra, thống kê của Chi cục Kiểm lâm, toàn tỉnh hiện có 121 vùng trọng điểm với diện tích 153.975 ha rừng dễ cháy.

Trong đó, rừng tự nhiên là 118.758 ha, rừng trồng 40.260 ha  (gồm  các loài cây sa mộc, quế, bồ đề, mỡ…), diện tích cây bụi 55.465 ha. Một số địa phương có diện tích rừng lớn nằm trong vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao như: Bát Xát 33.422 ha, Văn Bàn 32.367 ha, Bắc Hà  23.935 ha, Bảo Yên 17.809 ha, Sa Pa 17.390 ha...

Lào Cai có 7 tháng nắng nóng, khô hanh có nguy cơ cháy rừng (từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau), trong đó có 4 tháng nguy cơ cháy rừng luôn ở cấp cao (từ tháng 1 đến tháng 4).

Trước diễn biến phức tạp của thời tiết, nhằm nâng cao tính chủ động trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với các địa phương yêu cầu các đơn vị liên quan, chủ rừng trên địa bàn thực hiện nghiêm hoạt động của các tổ bảo vệ rừng, phòng, chống cháy rừng đến các thôn, bản; tổ chức kiểm tra, sửa chữa bảo dưỡng các dụng cụ và công trình phòng cháy; bố trí lực lượng thường trực phòng, chống cháy rừng tại các trạm, chốt 24/24 giờ; chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống cháy rừng, đảm bảo luôn sẵn sàng chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra. (Báo Lào Cai 30/11) đầu trang—

SỬ DỤNG RỪNG

Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Cách làm hay ở Sơn La

Những năm qua, chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh Sơn La không chỉ góp phần tạo thu nhập ổn định cho người dân, mà còn được sử dụng hiệu quả để xây dựng 1.728 công trình nông thôn như nhà văn hóa, trường học, đường giao thông, công trình nước sạch vệ sinh môi trường..., góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là tại những xã nghèo vùng sâu, vùng xa.

Được triển khai từ năm 2009, 8 năm qua, chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Sơn La đã thực sự đi vào cuộc sống, tạo nguồn động lực về tài chính trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Ông Lương Thái Hùng, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Sơn La cho biết: Thành công lớn nhất của chính sách là tác động đến nhận thức của người dân về công tác bảo vệ, phát triển rừng. Từ khi thực hiện chính sách, người dân đã nhận thức rõ hơn về quyền lợi, trách nhiệm của mình nên đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng.

Chính quyền cơ sở thực sự vào cuộc, từ công tác vận động tuyên truyền, tổ chức, điều hành quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, phòng chống chữa cháy rừng ở cơ sở tốt hơn, ý thức người dân trong công tác bảo vệ rừng ngày càng được nâng cao.

Tình hình phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh giảm đáng kể về số vụ và mức độ thiệt hại. Năm 2015 giảm 685 vụ so với năm 2009.

Bên cạnh đó, chính sách đã tạo nguồn tài chính lớn, ổn định cho công tác bảo vệ, phát triển rừng. Qua 8 năm thực hiện, tổng số tiền thu ủy thác từ các đơn vị sử dụng chi trả DVMTR để chi trả cho các chủ rừng hàng năm khoảng 100 tỷ đồng, gần gấp 2 đến 3 lần nguồn vốn ngân sách đầu tư cho chương trình bảo vệ, phát triển rừng của tỉnh hàng năm.

Từ nguồn vốn này, đã giúp giải quyết được khó khăn về kinh phí bảo vệ và phát triển rừng cho các chủ rừng là tổ chức nhà nước, đặc biệt là các công ty TNHH Nhà nước MTV lâm nghiệp và các Ban quản lý Bảo vệ rừng, trong bối cảnh Nhà nước có chủ trương đóng cửa rừng toàn quốc.

Về kết quả cụ thể, trong giai đoạn 2011-2015, tổng nguồn thu tiền ủy thác chi trả DVMTR đạt hơn 437 tỷ đồng; đã giải ngân được trên 388 tỷ đồng trên tổng số 403 tỷ đồng kinh phí phải chi trả cho các chủ rừng, đạt 96,4% kế hoạch. Năm 2016, đã chi trả hơn 114 tỷ đồng cho gần 47.000 chủ rừng, với diện tích 609.483ha trên địa bàn 12 huyện, thành phố.

Đồng thời, Quỹ đã chuyển hơn 14 tỷ đồng cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh để thực hiện 9 phương án trồng rừng thay thế bằng hình thức nộp tiền vào Quỹ.

Tiền chi trả DVMTR cùng với các thu nhập khác từ rừng và việc rừng được bảo vệ tốt hơn đã góp phần tạo thêm việc làm, cải thiện sinh kế cho người dân. Thu nhập từ DVMTR không ngừng tăng lên theo từng năm, do đơn giá chi trả ngày càng cao, đặc biệt là tại lưu vực Sông Đà năm 2015 là 269.000 đồng/ha, tăng 244% so với đơn giá 110.000 đồng/ha/năm 2011-2012.

Đặc biệt, để sử dụng hiệu quả từ tiền DVMTR, từ năm 2014, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng đã tham mưu cho UBND tỉnh Sơn La tuyên truyền, vận động gom các chủ rừng có diện tích nhỏ lẻ thành quản lý theo cộng đồng. Tiếp đó, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quyết định hướng dẫn cơ chế quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR cho các chủ rừng là cộng đồng thôn, bản.

Theo đó, dành khoảng 40% số tiền chi trả dành cho tổ đội quản lý bảo vệ rừng như trang bị quần áo bảo hộ, giày, mũ, dụng cụ PCCCR, mua cây giống trồng rừng… 60% dùng chung cho cộng đồng để xây dựng các tiêu chí nông thôn mới như đường giao thông, nhà văn hóa, vệ sinh môi trường nông thôn, nước sạch… đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngày của nhân dân.

Kết quả, thay vì huy động đóng góp của người dân, các cộng đồng quyết định cùng nhau bảo vệ rừng và sử dụng một phần số tiền chi trả DVMTR này xây dựng trên 1.728 công trình nông thôn, với tổng số tiền trên 37,32 tỷ đồng. Riêng 9 tháng đầu năm 2016, tiền DVMTR được đầu tư hỗ trợ 689 công trình nông thôn, với tổng kinh phí 12,668 tỷ đồng. Từ khi có đường bê tông đã giúp người dân tiêu thụ nông sản dễ hơn, thu nhập cao hơn, đời sống người dân được cải thiện, giảm được áp lực phá rừng.

“Hiệu quả tích cực là thế, nhưng thu nhập của người dân làm nghề rừng trên địa bàn tỉnh vẫn đạt rất thấp, chưa đảm bảo cho người dân thu nhập và sống được bằng nghề rừng” – ông Lương Thái Hùng cho biết.

Hiện nay, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Sơn La mới chỉ có 2 nguồn thu theo quy định từ các nhà máy thủy điện và nhà máy sản xuất nước sinh hoạt, với khoảng 100-120 tỷ đồng/năm, chia cho hơn 600.000ha rừng trên toàn tỉnh thì đơn giá còn thấp, dẫn tới người dân được hưởng lợi từ rừng chưa có đủ nguồn thu nhập tự nuôi sống mình.

Bên cạnh đó, mức chi trả chênh lệch lớn giữa các lưu vực trên địa bàn tỉnh làm cho thu nhập người dân làm rừng có sự chênh lệch lớn. Trong khi các chủ rừng thuộc lưu vực Sông Đà được chi trả DVMTR năm 2015 với đơn giá 269.000 đồng/ha/năm, thì lưu vực Sông Mã chi trả 38.800 đồng/ha/năm, gây tâm lý thắc mắc, so bì giữa những người dân tham gia bảo vệ rừng, nhất là các chủ rừng tại lưu vực Sông Mã.

Nhận thức của một số đơn vị sử dụng DVMTR, nhất là các công ty sản xuất kinh doanh thủy điện chưa cao nên chưa thực hiện nghĩa vụ nộp tiền DVMTR từ năm 2011-2016 về Quỹ với số tiền trên 13 tỷ, gây ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách trên địa bàn tỉnh.

Sau kết quả kiểm kê rừng toàn tỉnh, diện tích rừng, chủ rừng đủ điều kiện được chi trả DVMTR giảm so với kết quả chi trả DVMTR nguồn năm 2015, ảnh hưởng đến công tác chi trả cũng như quản lý, bảo vệ rừng của các chủ rừng trên toàn tỉnh.

Trong năm 2017, để tạo thêm nguồn thu, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Sơn La sẽ tập trung tham mưu xây dựng, tổ chức triển khai thực hiện dự án nghiên cứu, đề xuất đối tượng phải chi trả, mức chi trả, phương thức chi trả với các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước; Dự án nghiên cứu thí điểm mức thu với các cơ sở nuôi trồng thủy sản tại hồ Thủy điện Sơn La làm cơ sở để ban hành mức thu với nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh; Triển khai điều tra thống kê với các đối tượng kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR…

Nếu thực hiện được các dự án trên, sẽ tạo thêm nguồn lực rất lớn, góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân Sơn La từ rừng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 30/11) đầu trang—

Cần Thơ: Khôi phục rừng ngập mặn thông qua mô hình nuôi tôm bền vững

Ngày 29/11, tại TP Cần Thơ đã khởi động giai đoạn II dự án “Khôi phục rừng ngập mặn thông qua mô hình nuôi tôm bền vững” tại Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre; sau thành công của giai đoạn I ở Cà Mau.

Dự án là sáng kiến khôi phục rừng ngập mặn thông qua xúc tiến chứng nhận tôm hữu cơ cho mô hình tôm - rừng, thích ứng với biến đổi khí hậu, được Bộ Môi trường, Bảo tồn thiên nhiên, Xây dựng và An toàn hạt nhân (Đức) hỗ trợ.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, ông Lê Văn Sử cho biết giai đoạn I (2013-2016) triển khai ở rừng ngập mặn Đất Mũi đã thành công nhiều mặt. Đó là hiện thực hóa được khái niệm nuôi tôm có trách nhiệm, thông qua xây dựng chuỗi liên kết giữa ban quản lý rừng với hộ nuôi tôm và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, vừa có tôm sinh thái vừa bảo vệ được rừng. Qua đó, nâng cao năng lực của các thành phần tham gia chuỗi, cải thiện sinh kế người dân, quy hoạch phát triển rừng bền vững.

Dự án do Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) triển khai. Điểm mấu chốt của sáng kiến: Người nuôi tôm đảm bảo 50% diện tích được trồng rừng. Khi đó, tôm được cấp chứng nhận sinh thái (Naturland), được doanh nghiệp mua giá ổn định và doanh nghiệp còn trả cho các hộ dân dịch vụ môi trường rừng 500.000 đồng/ha.

Tiến sỹ Andrew Wyatt, Quản lý khu vực ĐBSCL của IUCN cho biết, thích ứng với biến đổi khí hậu nước biển dâng chỉ có hiệu quả khi dựa vào hệ sinh thái. Ở ĐBSCL, đó là hệ sinh thái rừng ngập mặn. Bởi kinh nghiệm ở các nước giàu cho thấy, xây dựng đê bê tông vẫn không vững chắc vì không thể xây cao mãi, không cho phép cả kỹ thuật lẫn điều kiện kinh tế. Nhưng khi bảo tồn được rừng ngập mặn cùng hệ sinh thái thì thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ bền vững, cây rừng có khả năng giữ phù sa để nâng cao đất lên mỗi năm 25cm và sinh kế của người dân ổn định.

Quản lý dự án, Tiến sỹ Nguyễn Thị Bích Thủy giới thiệu kết quả giai đoạn I ở Cà Mau, gần 800 hộ đạt chứng chỉ Naturland được Tập đoàn Thủy sản Minh Phú mua tôm giá cao. Hơn 200 hộ dân được trả dịch vụ môi trường rừng tổng cộng 300 triệu đồng. Có 80ha rừng ngập mặn nằm trong diện tích vuông nuôi tôm của 402 hộ dân được trồng thêm để đạt tỉ lệ 50% rừng theo quy định của Naturland. Bên cạnh, 12.600ha rừng được bảo vệ không bị chặt phá và 1.000 hộ dân được hỗ trợ xây dựng nhà vệ sinh hợp tiêu chuẩn chứng nhận và nông thôn mới.

Nghiên cứu phân tích do Viện Công nghệ vũ trụ của Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam thực hiện, sử dụng ảnh vệ tinh SPOT, cho thấy tỷ lệ diện tích phủ rừng tăng từ 39% năm 2013 lên 44% năm 2015. Phần lớn diện tích này là rừng ngập mặn non và thưa đã trở thành rừng ngập mặn trưởng thành và dày, kết quả của việc bảo vệ hiệu quả hơn. Các hộ tham gia dự án đã trồng rừng để đạt mức ít nhất 40% và họ đã ký hợp đồng với ban quản lý rừng tiếp tục trồng để nâng lên lên 50% trong 5 năm.

Nhiều đại biểu còn đánh giá cao thành công của dự án ở chỗ, chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp cho người bảo vệ rừng. Kết quả giai đoạn I của dự án làm cơ sở cho UBND tỉnh Cà Mau ra quyết định số 111, ngày 22/1/2016, thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp cho người bảo vệ rừng từ doanh nghiệp mua tôm, là có ý nghĩa rất lớn. (Nông Nghiệp Việt Nam 01/12) đầu trang—.

Quảng Trị: Chú trọng công nghiệp chế biến gỗ từ rừng trồng

Nhu cầu về gỗ ở thị trường trong và ngoài nước ngày càng tăng, thấy rõ điều này, tỉnh Quảng Trị đã chỉ đạo các địa phương khai thác lợi thế, tích cực trồng rừng theo hướng thâm canh.

Đồng thời các doanh nghiệp chế biến gỗ có phương án đổi mới, đầu tư dây chuyền, thiết bị công nghệ hiện đại, chế biến sâu để nâng cao hiệu quả kinh tế.

Nhờ tích cực trồng, chăm sóc bảo vệ rừng nên mấy năm trở lại đây, huyện Cam Lộ khai thác khoảng 50 ngàn tấn gỗ rừng trồng, thu nhập từ sản phẩm rừng được 50 tỷ đồng. Có được điều đó là nhờ các xã đã tiến hành giao đất, giao rừng cho hộ gia đình ở 3 xã Cam Chính, Cam Nghĩa và Cam Thành với diện tích 732 ha, trong đó đã từng bước  thực hiện phát triển rừng bền vững và đã có gần 300 ha được cấp chứng chỉ rừng.

Thực tế cho thấy, người dân đã nhận thức lợi ích của việc trồng rừng gỗ lớn, tuy nhiên khó khăn lớn nhất là thiếu vốn để đầu tư thâm canh vì phải trồng thời gian dài hơn trước đây 2 đến 3 năm. Do vậy, rất cần sự hỗ trợ của các cấp, các ngành, nhất là các nhà máy, cơ sở thu mua, chế biến gỗ.

Toàn tỉnh Quảng Trị hiện có hơn 242 ngàn ha rừng, trong đó hơn 103 ngàn ha rừng trồng. Nhận thấy đây là nguồn nguyên liệu dồi dào, thời gian qua, nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất gỗ đã hình thành và hàng năm thu mua, chế biến khoảng 450 ngàn m3 gỗ thành phẩm, tương đương khoảng 700 ngàn m3 gỗ nguyên liệu, đem lại doanh thu trên 7 ngàn tỷ đồng, giải quyết việc làm cho trên 3 ngàn lao động với thu nhập bình quân 5 triệu đồng/người/tháng.

Tuy nhiên, do chưa ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng cả trên đất trồng mới và những vùng tái canh theo điều kiện cụ thể của địa phương nên chất lượng gỗ thấp và các nhà máy chủ yếu chế biến thô, dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao.

Trước tình hình đó, những năm gần đây, tỉnh đã chỉ đạo quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu tập trung phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ. Trong đó, quan tâm tạo điều kiện cho các công ty lâm nghiệp, đặc biệt là các nhóm hộ trồng rừng quy mô nhỏ được tiếp cận với biện pháp quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng trồng. Đây là bước đi rất mới đối với ngành lâm nghiệp, ngoài mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế còn góp phần rất lớn vào việc bảo vệ môi trường sinh thái.

Cho đến nay toàn tỉnh có hơn 21 ngàn ha rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC, trong đó công ty lâm nghiệp 19598 ha, các nhóm hộ hơn 1367 ha và mục tiêu đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh có khoảng 42 ngàn ha rừng trồng sản xuất được cấp chứng chỉ. Mặt khác chỉ đạo các nhà máy, các cơ sở cam kết hỗ trợ và bao tiêu sản phẩm.

Thực tế cho thấy, hiện nay, những đòi hỏi về nguồn gốc, xuất xứ của gỗ, tính hợp pháp của gỗ ngày càng được các quốc gia trên thế giới và thị trường quan tâm.

Vì vậy, cùng với việc mở rộng diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC, các doanh nghiệp chế biến gỗ cần đầu tư máy móc, dây chuyền công nghệ hiện đại để chế biến sâu, đảm bảo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, có như thế mới mang lại hiệu quả kinh tế cao và góp phần tăng thu nhập cho người trồng rừng theo hướng thâm canh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Trị 29/11) đầu trang—

TP. HCM: Cây xanh đô thị cũng cần “nghỉ hưu”

 Đó là đề xuất nhằm hạn chế những vụ cây xanh gãy đổ được các chuyên gia đặt ra tại hội thảo khoa học “An toàn cây xanh đô thị trên địa bàn TP.HCM”, do Sở GTVT và ĐH Nông lâm TP.HCM tổ chức sáng 29-11.

Sở GTVT cho biết hiện lượng cây xanh đô thị do sở quản lý là hơn 130.000 cây với khoảng 180 loài, chủ yếu được trồng trong các công viên và dọc các đường phố.

Trong đó có gần 7.000 cây thuộc phân loại 3 (loại cổ thụ, cao trên 12m, đường kính từ 0,5m trở lên) thuộc các loài dầu, sao đen, sọ khỉ, lim sét, me tây... phân bố nhiều ở các quận trung tâm 1, 3, 5, 10, 11.

Theo Sở GTVT, tuy có tác dụng tạo bóng mát và cảnh quan đô thị nhưng những cây xanh loại cổ thụ phần lớn già cỗi nên tiềm ẩn nguy cơ gãy, đổ khi có mưa bão, nhất là trong điều kiện thời tiết bất thường như hiện nay.

Số liệu thống kê cho thấy mấy năm qua số vụ cây gãy, đổ có tăng lên. Năm 2013 cả TP xảy ra 158 vụ cây gãy, đổ. Hai năm sau đó mỗi năm có gần 200 vụ và 10 tháng đầu năm 2016 số vụ cây ngã, đổ đã vọt lên 216 vụ, chưa kể gần 600 vụ cây gãy nhánh, cành.

Thiệt hại về người và tài sản từ các sự cố do cây xanh ngã, đổ cũng tăng theo từng năm. Nếu năm 2013 các vụ cây ngã chỉ làm bị thương 2 người thì năm 2014 đã có 1 người chết và 10 người bị thương; năm 2015 có 1 người chết và 12 người bị thương.

Đặc biệt, trong 10 tháng đầu năm 2016, đã có tới 2 người thiệt mạng và 9 người bị thương do các vụ cây ngã, đổ.

Đáng lưu ý là các vụ cây xanh ngã, gãy, đổ xảy ra tập trung ở các quận trung tâm TP và nhiều nhất là khu vực quận 1 với hơn 100 vụ (từ năm 2013 đến tháng 10-2016).

Ông Nguyễn Khắc Dũng - trưởng phòng quản lý cây xanh, Sở GTVT - cho biết tác động của biến đổi khí hậu, mưa to kèm dông lốc cục bộ khiến tình trạng cây xanh gãy, đổ ngày càng phổ biến.

Ngoài ra, nhiều nhà cao tầng mọc lên làm thay đổi hướng gió, tạo hiệu ứng đường hầm (gió luồn theo khoảng không giữa các tòa nhà) khiến cây xanh dễ bị gãy cành, tét nhánh. Một số loài cây có rễ ăn ngang như sọ khỉ, phượng vĩ không còn phù hợp với không gian hẹp ở đô thị.

Mặt khác, theo Sở GTVT, việc cây xanh gãy, đổ còn có nguyên nhân chủ quan do công tác quy hoạch hạ tầng chưa đồng bộ, việc thi công các công trình trên vỉa hè khiến hệ thống rễ của cây bị xâm hại, không đủ sức trụ khi có gió lớn. (Tuổi Trẻ 30/11) đầu trang—

TP. HCM: Bàn cách tránh họa từ cây xanh

Sáng 29-11, Sở Giao thông Vận tải (GTVT) TP HCM phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm TP tổ chức hội thảo về an toàn cây xanh trên địa bàn TP HCM.

Ông Nguyễn Khắc Dũng - Trưởng Phòng Quản lý Công viên cây xanh, Sở GTVT - cho biết đơn vị này đang quản lý hơn 130.000 cây xanh, gồm khoảng 180 loài, trong đó có hơn 122.000 cây xanh đường phố (5.730 cây loại 3, cổ thụ). Xét về phương diện an toàn, các cây loại 3, cổ thụ có nguy cơ mất an toàn khi đã sống được nhiều năm như ngã khi mưa, giông, lốc.

Trong quá trình phát triển đô thị, các công trình cao ốc, đường sá, hạ tầng kỹ thuật xây dựng ngày càng nhiều và khí hậu thay đổi đã ảnh hưởng lớn đến hệ thống cây xanh. Hệ rễ cây đang bị tác động tiêu cực bởi các công trình kỹ thuật, vỉa hè và cả mực nước ngầm suy giảm và ô nhiễm. Từ năm 2013 đến nay, các sự cố về cây xanh đã làm chết 4 người, bị thương 33 người.

PGS-TS Nguyễn Du Sanh, Chủ tịch Hội Hoa lan Cây cảnh TP, phân tích cây xanh cũng có tuổi và cần được đốn hạ để bảo đảm an toàn cho người đi đường. Cùng một loài, cây xanh đô thị có tuổi thọ thấp hơn cây xanh sống trong tự nhiên. Cây xanh đô thị khi trồng đã bị cắt rễ cọc, loại rễ giúp cây đứng thẳng. Bên cạnh đó, khi trồng vì mục đích cảnh quan, khoảng cách giữa các cây, cắt tỉa cành cũng không phù hợp sự phát triển cân đối của cây.

Ông Nguyễn Trịnh Kiểm, Chánh Văn phòng Hiệp hội Công viên cây xanh Việt Nam, cho rằng vấn đề an toàn cây xanh đô thị đã được nói nhiều từ các năm trước, giờ đề cập đã quá muộn và đơn vị quản lý phải có những giải pháp để thực hiện ngay.

Qua kiểm tra, hệ rễ của cây đã bị mục ruỗng, không thể bám vào đất cho cây đứng vững. Sở GTVT cần lập ngay 1 ban để đánh giá cây nào cần đốn hạ, cây nào cần bứng dưỡng. Theo ông Kiểm, những cây cần xử lý đầu tiên thuộc các loại như dầu, sao, sọ khỉ, lim xẹt… để bảo đảm an toàn cho người dân. Song song với việc đốn hạ, cần bảo tồn theo dạng cá thể, quần thể hoặc từng tuyến đường theo chế độ chăm sóc đặc biệt.

PGS-TS Viên Ngọc Nam (Trường Đại học Nông Lâm TP) đặt vấn đề áp dụng công nghệ thông tin trong công tác trồng, chăm sóc, thay thế cây bị sâu bệnh. Qua áp dụng thử nghiệm công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) đối với cây xanh trong khuôn viên trường và trên đường Phạm Văn Đồng, ông Nam đánh giá việc áp dụng công nghệ không khó, ngành quản lý cây xanh có thể thực hiện được.

Theo đó, nhóm nghiên cứu tải ảnh viễn thám có độ phân giải cao để xác định ranh giới khu vực nghiên cứu và cài vào điện thoại thông minh. Tiếp theo cài phần mềm Locus Map đo đếm từng vị trí cây xanh để xác định tọa độ và ghi chép chỉ số cây. Phương pháp này sử dụng phần mềm miễn phí, phổ thông và kỹ thuật đơn giản nhưng sử dụng lâu dài, nhanh chóng. (Người Lao Động 30/11) đầu trang—

 THÔNG TIN KHÁC        

 Malaysia: Bắt sống trăn khổng lồ nặng 100kg nuốt chửng con dê

Một trăn dài 6m, nặng khoảng 100kg đã bị bắt sau khi nuốt chửng một con dê ở Kampung Luar, Siong, Baling, bang Kedah, Malaysia đêm 28/11.

Sỹ quan Lực lượng Phòng vệ dân sự khu vực Baling, ông Mohd Faizol Ab Aziz cho biết con trăn khổng lồ này được người dân phát hiện tại khu vực đầm lầy cách nhà ở của dân làng khoảng 100m.

“Một nhóm 7 người đã được triển khai tới hiện trường sau khi nhận được một cuộc gọi báo về việc phát hiện con trăn, trước đó đã nuốt một con dê của người dân trong làng,” ông Aziz nói.

Sau khi đến tại hiện trường, khoảng 15 phút sau nhóm phát hiện con trăn trong khu vực đầm lầy và rậm rạp.

“Những nỗ lực để bắt con trăn mất khoảng một giờ do môi trường xung quanh tối và mặt đất mềm ở khu vực đầm lầy,” ông nói.

Ông cũng cho biết con trăn sẽ được bàn giao cho Cục Động vật Hoang dã Quốc gia ở Baling. (Việt Nam Plus 30/11) đầu trang—

Mỹ: ​Cháy rừng dữ dội, 7 người chết

Ngày 30-11 (giờ địa phương), lực lượng tìm kiếm và cứu hộ Mỹ tiếp tục tìm kiếm nạn nhân vụ cháy rừng tồi tệ ở bang Tennessee, trong bối cảnh số người chết do cháy rừng đã tăng lên 7 người.

Các quan chức cho biết ít nhất 53 người bị thương và đã được đưa đến bệnh viện điều trị, mặc dù tình trạng của họ không được tiết lộ.

Đến nay, ước tính có hơn 700 nhà dân và cơ sở kinh doanh bị lửa phá hủy hoặc làm hư hỏng, với gần một nửa trong số này nằm ở thành phố Gatlinburg.

Sĩ quan cảnh sát Cassius Cash chiều 30-11 (giờ địa phương) nhận định đám cháy rừng "có khả năng do con người gây ra".

Đám cháy bắt nguồn từ công viên quốc gia Great Smoky Mountains, bang Tennessee hôm 28-11 (giờ địa phương) và lan nhanh ra các khu vực xung quanh, buộc hơn 14.000 người phải sơ tán chỉ riêng ở thành phố Gatlinburg.

Nhiều người dân thành phố Pigeon Forge gần đó và những nơi khác trong Quận Sevier cũng được sơ tán. 

Linda Monholland - một người dân sơ tán, cho Washington Post biết tình hình đám cháy khi ấy "giống như ở địa ngục". "Tôi không muốn nhìn thấy thứ giống như thế một lần nữa trong đời, mãi mãi", Monholland nói. 

Các quan chức ở Gatlinburg hi vọng sẽ cho phép người dân quay trở lại nhà họ vào ngày 2-12, nhưng hiện tại lệnh sơ tán bắt buộc vẫn còn hiệu lực.

Gatlinburg và Pigeon Forge là những điểm đến du lịch nổi tiếng. Theo BBC, thị trưởng Gatlinburg, ông Mike Werner, đã kêu gọi du khách hỗ trợ cho khu vực bằng cách đến thăm các thắng cảnh ở đây, trong đó có có Công viên quốc gia dãy Great Smoky - thu hút hơn 11 triệu người đến thăm mỗi năm.

"Chúng tôi đang ổn - đó là thông điệp của chúng tôi", ông Werner nói. "Nếu bạn thực sự muốn làm điều gì đó cho Gatlinburg... hãy trở lại và ghé thăm chúng tôi". (Tuổi Trẻ 01/12) đầu trang—./.

 

 

Bình luận