Tổng cục lâm nghiệp - Hoạt động KH CN và MT

Hoạt động KH CN và MT

Điểm tin ngày 31/10/2014

BẢN TIN LÂM NGHIỆP

(Thứ Sáu, ngày 31 tháng 10 năm 2014)

 

PHÁT TRIỂN RỪNG

Sóc Trăng: Hồi sinh cho rừng ngập mặn

Từ mô hình đồng quản lý mà cánh rừng ngập mặn ven biển ấp Võ Thành Văn, xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng ngày càng phát triển, nguồn lợi tự nhiên từ rừng tăng lên, góp phần cải thiện cho đời sống của người dân.

Giữa cái nắng gay gắt những ngày cuối tháng 10, anh Thạch Sơn, Trưởng nhóm đồng quản lý cánh rừng ngập mặn với diện tích 300 ha vẫn cặm cụi dọn vệ sinh khu mô hình bảo vệ tôm càng xanh mang trứng.

Anh Sơn cho biết: “Kể từ khi nhóm đồng quản lý rừng ngập mặn thành lập vào tháng 9/2013, chúng tôi còn đảm nhận thêm mô hình bảo vệ tôm càng xanh nữa. Tính đến thời điểm này, chúng tôi đã đưa về môi trường tự nhiên hơn 750 con tôm càng xanh rồi. Còn cánh rừng ngập mặn với những loài cây bần, đước, vẹt ngày càng sinh trưởng tốt tươi và bãi bồi đã phát triển ra gần 500 mét so với ban đầu”.

Theo anh Sơn, kể từ khi có dự án, người dân đến với mô hình vì hiểu được rằng nếu cánh rừng không được bảo vệ thì cuộc sống mưu sinh của nhân dân nơi đây sẽ kiệt quệ trong thời gian không xa.

“Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề khai thác thủy sản tự nhiên, hầu như không ai có đất sản xuất. Những năm trước, không ít người dân khai thác theo kiểu tận diệt, phá hủy rừng bằng dao, búa, len, cuốc bới tung đất rừng, nhiều cây rừng bị bật gốc. Rồi lại dùng điện, hóa chất, dùng vợt lưới có đường kính hơn 50 cm để tận thu các loài thủy sản. Nhưng bây giờ thì khác rồi” - anh Sơn kể lại.

Nhóm đồng quản lý với 52 thành viên là những hộ dân nghèo sống tại ấp Võ Thành Văn tự nguyên tham gia theo dự án hợp tác kỹ thuật Việt - Đức “Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng” (GIZ) với mục tiêu là quản lý tốt rừng ngập mặn, khai thác bền vững tài nguyên dưới tán rừng, cung cấp lợi ích cho cộng đồng địa phương thông qua việc tiếp cận hợp lý và được đảm bảo tài nguyên thiên nhiên trong rừng phòng hộ.

Đồng thời đảm bảo việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên và bảo vệ hiệu quả các khu rừng ngập mặn góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH).

Nhóm đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển Võ Thành Văn là nhóm đồng quản lý rừng thứ 3 được thành lập tại Sóc Trăng, sau nhóm đồng quản lý rừng ngập mặn ấp Mỏ Ó, thuộc xã Trung Bình, huyện Trần Đề và nhóm đồng quản lý rừng ngập mặn ấp Âu Thọ B, thuộc xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu.

Ông Hồ Thanh Kiệt, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Cù Lao Dung, cho biết: “Đây là một mô hình rất hiệu quả vì có sự phối hợp của các ban, ngành và sự cam kết tự nguyện của cộng đồng. Chính vì vậy đã nâng cao trách nhiệm trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển bền vững”.

Đi dọc con đê quốc phòng được bao quanh là tán rừng ngập mặn đang phát triển từng ngày và chia thành nhiều khu vực: Khu phòng hộ, khu phục hồi bên trong và ngoài rừng và khu sử dụng bền vững. Theo lời anh Sơn, khu phòng hộ tuyệt đối không được khai thác và nhóm đồng quản lý tổ chức tuần tra nghiêm ngặt để ngăn ngừa người lạ vào rừng trái phép.

Còn khu vực còn lại thì chỉ có các thành viên trong nhóm được vào rừng khai thác nhưng tuân thủ những quy định như: Chỉ bắt thủy sản khi nước ròng, chỉ đánh bắt bằng tay hoặc dùng vợt có đường kính nhỏ hơn 50 cm...

Anh Sơn cho biết: “Qua thời gian, các hộ dân tuân thủ nghiêm quy định nên thủy sản tự nhiên phục hồi lại rất nhanh. Nếu thành viên nào vi phạm sẽ bị loại ra khỏi nhóm đồng quản lý. Có nghĩa là mất luôn kế sinh nhai. Do vậy, bất cứ thành viên nào cũng luôn có ý thức bảo vệ vì nhờ cánh rừng này mà cuộc sống chúng tôi không bao giờ lo thiếu cái ăn”.

Ông Hà Thanh Vô, Trưởng Ban Mặt trận Tổ quốc ấp Võ Thành Văn cũng là một trong những thành viên trong nhóm đồng quản lý rừng ngập mặn trăn trở: “Tuy người dân nơi đây đã hiểu được giá trị sống còn của việc gìn giữ, phát triển rừng ngập mặn và cánh rừng này chúng tôi xem như là tài sản lớn nhất của cộng đồng dân cư ấp. Nhưng hiện nay, việc quản lý, bảo vệ rừng và thủy sản tự nhiên còn gặp nhiều khó khăn vì rất nhiều người từ nơi khác đến khai thác theo kiểu tận diệt môi trường vẫn diễn ra”.

Theo ông Vô, từ ngày thành lập, nhóm đã phát hiện nhiều trường hợp xâm nhập, khai thác thủy sản ven bờ trái phép mà chủ yếu là người dân ở các huyện khác của tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Trà Vinh.

Trong đó, có trường hợp một nhóm lên đến hàng chục người cùng tổ chức khai thác thủy hải sản tự nhiên trái phép bằng những dụng cụ phá hủy môi trường và gây tổn hại cho những cây bần, đước, vẹt vừa mới sinh trưởng.

“Họ là những người nghèo không có tàu thuyền, nghề mưu sinh chủ yếu là đánh bắt trên bãi bồi. Ở khu vực nơi họ sinh sống đã khai thác hết rồi nên cùng nhau góp tiền thuê tàu đi khai thác nơi khác. Chúng tôi phát hiện nhưng chỉ nhắc nhở chứ không có đủ khả năng ngăn chặn.

Tuy nhiên khi báo về chính quyền địa phương hoặc lực lượng bộ đội biên phòng, kiểm tra để xử lý thì chưa kịp đến hiện trường họ đã bỏ đi mất để lại một bãi bồi tan hoang. Nếu chúng tôi có được một máy ảnh để ghi lại sau đó báo cho cơ quan chức năng có phương án xử lý nguội cũng là một giải pháp giúp cho nhóm đồng quản lý chúng tôi bảo vệ tốt được cánh rừng ngập mặn này” - ông Vô khẳng định. (Tin Tức 31/10) đầu trang—

Văn Chấn, Yên Bái: Trồng gần 3.000ha rừng

Đến cuối tháng 10, huyện Văn Chấn đã trồng được gần 3.000ha rừng; trong đó trồng rừng tập trung là 150ha, dự án lâm nghiệp xã hội trồng 2.678ha, tăng 233ha so với cùng kỳ, trồng rừng kinh tế là 39ha với giống cây xoan đào.

Huyện đã tổ chức ký hợp đồng nguyên tắc giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng với 157 nhóm hộ (bằng 1.457 hộ) bảo vệ 26.478ha (gồm 13.340ha rừng phòng hộ, 13.138ha rừng tự nhiên sản xuất). (Nông Thôn Ngày Nay 30/10, tr13) đầu trang—

BẢO VỆ RỪNG, PHÒNG CHỐNG CHÁY RỪNG & BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

Đà Nẵng: Xét xử vụ buôn lậu gỗ có cán bộ hải quan tiếp tay

30.10, TAND TP.Đà Nẵng mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử vụ án buôn lậu gỗ quy mô lớn gây chấn động dư luận, với sự tiếp tay của 3 cán bộ hải quan.

Theo đó, bị cáo Trương Huy Liệu (56 tuổi) và vợ là Trần Thị Dung (53 tuổi, cùng trú số 111 khóm Trung Chín, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị) bị truy tố về tội "buôn lậu".

Ba cán bộ ngành hải quan là Đỗ Lý Nhi (42 tuổi, trú khu phố Trung Chỉ), Lê Xuân Thành (52 tuổi, ngụ số 364 Lê Duẩn, cùng phường Đông Lương, TP.Đông Hà, Quảng Trị) và Đỗ Danh Thắng (59 tuổi, trú số 16 Lê Vĩnh Huy, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, TP.Đà Nẵng) bị truy tố về tội "thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng".

Cáo trạng cho biết ngày 21.12.2011, Đội Cảnh sát Kinh tế - Môi trường Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng phát hiện xe đầu kéo biển số 43S-5142 kéo theo rơ moóc biển số 43R-0866 chở một container gỗ cho Công ty TNHH MTV Ngọc Hưng từ Chi cục Hải quan cảng Cửa Việt đến Chi cục Hải quan cảng Đà Nẵng có dấu hiệu vi phạm trong lĩnh vực hải quan.

Công an quận Ngũ Hành Sơn đã hoàn tất hồ sơ ban đầu, chuyển cho cấp có thẩm quyền thụ lý, tiếp tục điều tra, làm rõ.

Sau đó, Cục Điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan cùng lực lượng Hải quan Đà Nẵng, Quảng Trị tiến hành kiểm tra lô hàng của Công ty Ngọc Hưng do Trương Huy Liệu làm phó giám đốc và vợ là Trần Thị Dung làm giám đốc.

Kết quả điều tra xác định bị cáo Liệu cho nhân viên lập hồ sơ, chứng từ giả để buôn lậu 614,672 m3 gỗ từ Lào trị giá hơn 63,6 tỉ đồng. Bị cáo Dung đã đồng phạm với chồng, ký các hồ sơ, giấy tờ giả mạo để hoàn tất thủ tục nhập gỗ từ Lào vào Việt Nam, sau đó bán sang Hồng Kông (Trung Quốc), thu lợi bất chính.

Việc buôn lậu gỗ của vợ chồng Liệu - Dung từ Lào qua cửa khẩu Lao Bảo được Đỗ Lý Nhi, Lê Xuân Thành, công chức Chi cục Hải quan khu thương mại Lao Bảo, Quảng Trị tiếp tay.

Trong khi đó, bị cáo Đỗ Danh Thắng là công chức Chi cục Hải quan khu công nghiệp Đà Nẵng, Cục Hải quan TP.Đà Nẵng, được giao khám xét lô hàng nhưng không thực hiện đúng trình tự, thủ tục, không làm hết trách nhiệm, để lọt sổ sách 21 container gỗ có vi phạm của Công ty Ngọc Hưng trị giá hơn 61,3 tỉ đồng.

Phiên tòa xét xử 5 bị cáo diễn ra trong hai ngày 30 và 31.10. (Thanh Niên 31/10; Tiền Phong 31/10, tr11) đầu trang—

Đắk Lắk: Tan nát rừng sinh thái Bản Đôn

Trong mấy năm qua, khu rừng sinh thái ở xã Krông Na (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) được giao cho Công ty CP Thương mại và Du lịch Bản Đôn quản lý thường xuyên bị lâm tặc xâm nhập chặt phá. Trong khi đó, đơn vị này mặc nhiên để rừng bị phá mà không biện pháp ngăn chặn.

Vào năm 2005, Công ty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk được UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho hơn 1.300ha đất rừng sinh thái ở xã Krông Na để làm khu du lịch sinh thái. Đến năm 2013, Công ty Cao su Đắk Lắk bàn giao lại diện tích rừng này cho Công ty CP Thương mại và Du lịch Bản Đôn để đơn vị này tiếp tục kinh doanh du lịch. Do kinh doanh không có hiệu quả, khu du lịch này đã ngừng hoạt động từ nhiều tháng nay và nhiều cây gỗ quý trong khu rừng sinh thái đã bị lâm tặc đột nhập đốn hạ.

Theo ghi nhận của PV vào sáng 27-10, từ cổng chính vào trung tâm khu du lịch này không một bóng người, cây cỏ mọc um tùm quanh các khu nhà. Men theo con đường bê tông và con đường lát đá xanh được xây dựng để du khách tham quan khu rừng sinh thái, chẳng mấy chốc có thể thấy nhiều cây gỗ lớn (đường kính trên 40cm) bị đốn hạ ven đường.

Tiếp tục rẽ theo các lối mòn để tiến sâu vào rừng, chứng kiến hàng chục cây căm xe, giáng hương, lim xẹt... bị đốn hạ nằm ngổn ngang. Nhiều cây gỗ bị đốn hạ từ lâu, lâm tặc đã lấy đi phần lõi, chỉ còn lại phần thân ngọn và lá nằm chỏng chơ. Nhiều cây mới bị hạ, nhựa ứa quanh gốc, thân khá tươi, lá còn xanh và lâm tặc chưa kịp chuyển gỗ đi.

Dừng chân tại một gốc cây lim khá lớn (đường kính khoảng 1,2m), người dẫn đường cho PV, chị L.T.T.V., khẳng định cây này mới bị chặt hạ khoảng 10 ngày trước. “Sau khi hạ cây, lâm tặc thường sử dụng cưa máy để xẻ gỗ thành các lóng (dài 1 - 1,5m) nhằm thuận tiện vận chuyển ra khỏi rừng bằng xe máy. Những cây lớn hơn, lâm tặc còn cẩn thận xẻ bìa ngay ở gốc, sau đó mới đưa những khối gỗ hộp vuông vắn ra ngoài”, chị V. cho hay.

Khu du lịch sinh thái Bản Đôn chỉ có con đường duy nhất để ra vào khu rừng sinh thái phải đi qua cổng chính, được lực lượng bảo vệ túc trực ngày đêm. Nhưng không hiểu sao lâm tặc vẫn vô tư vào đây chặt hạ và vận chuyển trót lọt gỗ ra khỏi rừng. Bên cạnh đó, nhiều cây gỗ bị chặt hạ ở sát đường chính, thậm chí cạnh chốt quản lý bảo vệ của đơn vị chủ rừng.

Ông Y Thông Niê Kđăm, Chủ tịch UBND xã Krông Na, cho biết: Từ năm 2011 đến nay, những cây gỗ lớn (đường kính 50 - 60cm) và có giá trị trong tại khu rừng sinh thái Bản Đôn bị lâm tặc chặt hạ hết. Nguyên nhân chính do chủ rừng buông lỏng quản lý, biến cánh rừng này thành “vô chủ”. “Chủ rừng phải chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng được tỉnh giao cho. Trong trường hợp xảy ra vụ việc nghiêm trọng, chủ rừng phải báo lên các cơ quan chức năng phối hợp để xử lý. Trong khi đó, chủ rừng lại mặc nhiên để lâm tặc hoành hành, đến khi địa phương phát hiện, báo cáo lên các cơ quan chức năng thì rừng đã bị mất quá nhiều”, ông Y Thông Niê Kđăm bức xúc.

Theo thống kê chưa đầy đủ của UBND xã Krông Na, từ năm 2013 đến nay địa phương đã phát hiện và bắt giữ 13 vụ vi phạm lâm luật. Vào tháng 6-2013, lực lượng liên ngành của huyện đã phát hiện một bãi tập kết gỗ lậu ngay tại bìa rừng sinh thái, thu giữ tang vật gồm 60 khúc gỗ tròn (dài bình quân 4m, tổng khối lượng 10m³) các loại như: chiu liu, cẩm, căm xe, cà chít…

Mở rộng điều tra, cơ quan chức năng xác định có 221 cây rừng bị triệt hạ, trong đó có 138 cây đã bị lấy đi phần gỗ, thu giữ hơn 47m³ gỗ các loại. Cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án, khởi tố 5 đối tượng (ở xã Krông Na) vì hành vi khai thác trái phép lâm sản.

Theo ông Bùi Văn Khang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn, UBND huyện Buôn Đôn đã thành lập đoàn liên ngành, phối hợp với lực lượng công an, dân quân tự vệ xã Krông Na tuần tra, phát hiện và xử phạt các đối tượng lâm tặc, thu giữ nhiều tang vật liên quan. Mới đây, vào giữa tháng 10 vừa qua, Hạt Kiểm lâm huyện đã phát hiện và thu giữ 5 xe máy chế của các đối tượng khai thác lâm sản trái phép.

 “Trước mắt, lực lượng kiểm lâm đang phối hợp với các ban ngành của huyện cắt cử người canh giữ, bảo vệ ngày đêm trong khu rừng sinh thái. Sau đó, chúng tôi sẽ tham mưu lên UBND huyện để huyện kiến nghị lên UBND tỉnh xem xét, đánh giá lại năng lực của đơn vị chủ rừng. Nếu đơn vị chủ rừng hoạt động không có hiệu quả, không quản lý bảo vệ diện tích rừng được giao, đề nghị UBND tỉnh thu hồi diện tích này và giao cho đơn vị khác”, ông Khang cho hay. (Sài Gòn Giải Phóng 31/10, tr6) đầu trang—

Nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2014 - 2020 với mục tiêu chung là củng cố tổ chức, nâng cao năng lực cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng từ Trung ương đến địa phương.

Đặc biệt là nâng cao năng lực của lực lượng chuyên ngành để có đủ khả năng kiểm soát cháy rừng, giảm nguy cơ cháy rừng, chữa cháy rừng kịp thời, có hiệu quả, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra.

Đề án đặt ra mục tiêu cụ thể là nâng cao khả năng cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng; tổ chức phát hiện sớm và thông báo kịp thời, chính xác điểm cháy rừng thông qua tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám; tăng cường, củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên ngành từ trung ương đến địa phương.

Đồng thời, tăng cường đầu tư phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp, ưu tiên xây dựng lực lượng chữa cháy rừng đủ mạnh để ứng phó với thảm họa cháy rừng cấp quốc gia.

Theo đó, Đề án sẽ tiến hành nâng cấp hệ thống cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng tại Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp) và kết nối thành hệ thống đến từng địa phương, nâng cấp hệ thống phát hiện sớm lửa rừng, bao gồm xác định điểm cháy trên diện rộng (bằng ảnh viễn thám) đặt tại Cục Kiểm lâm và tại các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy cao (bằng hệ thống quan sát quang học).

Cùng với đó  là củng cố, kiện toàn tổ chức cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên ngành của Kiểm lâm; đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho cán bộ quản lý, kỹ thuật; cán bộ phụ trách công tác phòng cháy, chữa cháy rừng của chính quyền các cấp, các ngành có liên quan; xây dựng mô hình quản lý lửa rừng thống nhất và hiệu quả...

Theo số liệu công bố mới đây của Tổng cục Thống kê, diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng 10 khoảng 62 ha, gấp 3 lần cùng kỳ năm 2013, trong đó diện tích rừng bị cháy là 41 ha (Bình Định 25 ha; Hà Tĩnh 7 ha; Quảng Bình 3 ha); diện tích rừng bị chặt phá là 21 ha.

Tính chung 10 tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 3.775 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 3.103 ha; diện tích rừng bị chặt phá là 672 ha. (Chính Phủ 30/10) đầu trang—

6 năm triển khai Luật Đa dạng sinh học: Nhựa sống cho công tác bảo tồn

Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) 2008 được ban hành đã tạo một hành lang pháp lý thống nhất điều chỉnh việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, đáp ứng được nhu cầu cấp bách của hoạt động bảo tồn hiện nay và trong tương lai.

Phải khẳng định rằng, Luật ĐDSH 2008 được ban hành đã thể hiện sự nhận thức đúng đắn tầm quan trọng và sự cần thiết trong việc điều chỉnh thực trạng bảo tồn ĐDSH hiện nay của Việt Nam. Một hành lang pháp lý được xây dựng góp phần hệ thống hoá các quy định rải rác trước đó cũng như bổ sung thêm những nội dung mới nhằm điều chỉnh đầy đủ và thực thi có hiệu quả pháp luật bảo tồn ĐDSH - một trong những phương thức bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên.

Qua 6 năm kể từ khi có hiệu lực, Luật ĐDSH đã tiếp thêm nhựa sống cho công tác quản lý bảo tồn ĐDSH trong các hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước, vùng biển của Việt Nam với một số thành tích đáng khích lệ, chẳng hạn đã thu thập nhiều tư liệu bổ sung, đánh giá hiện trạng ĐDSH ở 164 khu rừng đặc dụng làm cơ sở cho việc đề xuất trong chiến lược rà soát, quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý, tổ chức bảo tồn các vườn quốc gia (VQG), các khu bảo tồn thiên nhiên.

Ở một số địa phương đã xây dựng các tiêu chí cụ thể xác định loài và chế độ quản lý bảo vệ thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 37 Luật ĐDSH).

Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến ĐDSH như: Công ước Liên hợp quốc về đa dạng sinh học (UNCBD), Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (RAMSAR), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật bị đe dọa tuyệt chủng (CITES), Nghị định thư về an toàn sinh học (CARTAGENA)… Nhiều cam kết quốc tế đã được luật hóa trong Luật ĐDSH năm 2008.

Có thể thấy rằng, những nội dung nội luật hoá quan trọng nhất là các nội dung trong Công ước của Liên hợp quốc về ĐDSH như: Quy định rõ và đầy đủ về nội dung và trình tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo tồn ĐDSH cấp cả nước và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quy định rõ và đầy đủ về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật, bao gồm bảo vệ loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và phát triển bền vững các loài sinh vật; quy định về trách nhiệm quản lý nguồn gen và quản lý các hoạt động liên quan đến nguồn gen,…

Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen là một nội dung hoàn toàn mới đối với hệ thống pháp luật Việt Nam từ trước đến nay. Theo GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh, Hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Việt Nam, Luật ĐDSH đã đề xuất cơ chế quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích có được từ nguồn gen ở Việt Nam. Điều đó thể hiện sự nghiêm túc của Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu thứ ba của Công ước ĐDSH, đó là chia sẻ một cách công bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn gen.

Theo đánh giá của các chuyên gia, nội dung tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích trong Luật ĐDSH 2008 và Nghị định 65/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ĐDSH đã thể hiện tương đối đầy đủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Đây là một nỗ lực lớn đối với quá trình hội nhập quốc tế, trong bối cảnh các bên vẫn đang trong quá trình thương lượng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh.

Mặc dù là mới và khó nhưng trong thời gian qua, Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường) cũng đã vận dụng các điều khoản trong Luật ĐDSH để tiến hành thử nghiệm ở một số VQG, khu bảo tồn như Bạch Mã, Ba Vì, Cát Bà, Côn Đảo, Bidoup Núi Bà, Vân Long...

Qua đó, cộng đồng sống xung quanh các khu bảo tồn thiên nhiên được cải thiện chất lượng cuộc sống bằng các sinh kế, tăng việc làm thông qua hoạt động bảo tồn ĐDSH. Đây là giải pháp tạo sự đồng thuận, nhất trí tham gia của cộng đồng trong chiến lược bảo tồn ĐDSH.

Vấn đề bảo tồn và phát triển ĐDSH đã được thống nhất trong một hành lang pháp lý chung là Luật ĐDSH năm 2008. Tuy nhiên, vẫn có các văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh vấn đề này, đơn cử như Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Thủy sản năm 2003… và trong mối tương quan với các văn bản này, Luật ĐDSH được xem là luật khung.

Trong khi đó, một điều có thể nhận thấy là Việt Nam vẫn còn thiếu các văn bản pháp luật liên ngành giữa các Bộ, ngành để điều chỉnh cơ chế phối hợp trong hoạt động bảo tồn ĐDSH. Đây là một hạn chế bởi Luật ĐDSH chỉ là luật khung, còn việc điều chỉnh cụ thể lại là các văn bản chuyên ngành, do đó, việc thiếu sót những văn bản liên ngành sẽ gây khó khăn trong sự kết hợp giữa các ngành trong hoạt động này, dẫn đến một hậu quả là hiệu quả của hoạt động bảo tồn ĐDSH không đạt được như ý muốn, tách riêng, nhỏ lẻ giữa các ngành, thiếu tính gắn kết và đồng bộ,…

ĐDSH là một đối tượng đặc biệt, cần có sự phối hợp giữa các ngành, các thành phần của xã hội thì mới mong có được kết quả bảo tồn và phát triển như mong muốn. (Tài Nguyên & Môi Trường 30/10, tr6) đầu trang—

Rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa bị tàn phá do đâu?

Ngay sau khi cơ quan chức năng phát hiện, tịch thu hàng trăm phách gỗ quý (kiền kiền, gõ), với tổng khối lượng hơn 33m3 do “lâm tặc” khai thác trái phép cất giấu tại rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa (Đà Nẵng), UBND TP Đà Nẵng yêu cầu Sở NN&PTNT phối hợp cơ quan liên quan xác minh làm rõ, đồng thời tiến hành khởi tố vụ án phá rừng nghiêm trọng này.

Bởi vì, đây là vụ số lượng gỗ quý bị chặt hạ nhiều nhất kể từ trước đến nay trên lâm phận Đà Nẵng… Từ  ngày 17/10 đến nay, Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng phối hợp với Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa liêp tiếp mở các đợt kiểm tra, kiểm soát quy mô lớn tại khu vực giáp ranh với huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.

Qua đó, đã xác minh 66 phách gỗ kiền kiền (14,366m3) tại khoảnh 5, tiểu khu 37 rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa do “lâm tặc” khai thác tại tiểu khu 33, cách đó 5-6 cây số, vận chuyển về  cất giấu sát đường cúp, chờ ôtô đến chở về xuôi tiêu thụ.

Thủ đoạn vận chuyển gỗ trong rừng của “lâm tặc” là trượt theo đường máng xuống thượng nguồn sông Nam, xuôi theo dòng sông này, đến tiểu khu 37, sử dụng tời chạy bằng máy nổ kéo lên đưa đi cất giấu. Tại khoảnh 1,2 tiểu khu 33, lực lượng chức năng phát hiện 38 cây kiền kiền, đường kính từ 35-76cm bị chặt hạ, trơ gốc, gỗ đã chuyển đi hết. Ngoài ra, khá nhiều cây gỗ to không phải kiền kiền tại tiểu khu 37 cũng bị đốn hạ không thương tiếc.

Có thể nói, “lâm tặc” đã làm mưa làm gió tại khu vực giàu tài nguyên lâm sản nhất của rừng Đà Nẵng. Hành vi phá rừng của chúng rất chuyên nghiệp. Theo nhận định của lực lượng Kiểm lâm và bảo vệ rừng Đà Nẵng, những kẻ phá rừng là người địa phương khác đến, lập lán trại ở lại trong rừng nhiều ngày, chuyên săn tìm gỗ quý, sử dụng cưa lốc đốn hạ, xẻ thành phách.

Chúng câu kết với người bản địa, thuê họ vận chuyển gỗ đến nơi tập kết, cất giấu. Số gỗ này bán sang tay cho nậu gỗ, thường là các “đại gia” gỗ ở Đà Nẵng và Quảng Nam. Sau khi có số lượng lớn gỗ quý, nậu gỗ thuê xe ôtô vào rừng chở về xuôi tiêu thụ. Không loại trừ khả năng, để đưa gỗ đi trót lọt, đối tượng này mua chuộc bảo vệ rừng và  Kiểm lâm địa bàn.

Từ vụ phá rừng nghiêm trọng này, công tác quản lý bảo vệ khu vực giàu tài nguyên lâm sản nhất của rừng Đà Nẵng còn quá nhiều bất cập. Trong đó, bất cập nổi cộm nhất là bố trí lực lượng Kiểm lâm và bảo vệ rừng không hợp lý. Với 4.756ha rừng nguyên sinh có 27km đường ranh giới tiếp giáp địa phận huyện Đông Giang (Quảng Nam), song chỉ có 2 kiểm lâm địa bàn và 5 cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng.

Bất cập thứ 2 là Trạm Cà Nhông đơn lẻ giữa rừng sâu, cách Làng Láy của xã Tư, huyện Đông Giang 7km đường rừng, không hề nhận được sự hỗ trợ từ lực lượng các địa phương của Đà Nẵng trong đối phó với “lâm tặc”. Lực lượng ít, trang bị thô sơ, trong khi “lâm tặc” đều là những kẻ liều lĩnh và hung hãn, sẵn sàng tấn công chống trả mỗi khi hành vi phá rừng và vận chuyển lâm sản của chúng bị ngăn cản. Chưa hết, nơi trạm này đứng chân không có sóng điện thoại, việc báo cáo tình hình về ban và nhận sự chỉ đạo từ lãnh đạo cơ quan xem như… bó tay.

Từ trước đến nay, hoạt động của Trạm Cà Nhông chủ yếu dựa trên tinh thần tự giác của cán bộ, nhân viên. Có chăng, lãnh đạo cơ quan mỗi năm đến kiểm tra, động viên một vài lần, thường là dịp tổng kết cuối năm. Nói đúng hơn, nhiệm vụ bảo vệ rừng tại điểm nóng vùng giáp ranh này, các cơ quan chức năng ở Đà Nẵng đã “khoán trắng” cho 7 cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng và kiểm lâm địa bàn…  

Thời gian 2 năm trở lại đây, từ khi Hạt Kiểm lâm Rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa thành lập, 2 kiểm lâm địa bàn được tăng cường cho khu vực rừng giáp ranh. Đúng ra lực lượng này có cơ ngơi riêng, nhưng do không có nhà cửa, nên họ đành ăn ở sinh hoạt và thực hiện nhiệm vụ chung với Trạm Cà Nhông.

Thực trạng này chẳng khác nào “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, bởi Kiểm lâm có nhiệm vụ thực thi pháp luật Nhà nước trên lĩnh vực rừng, thường xuyên giám sát, kiểm tra, xử lý các sai phạm của chủ rừng. Thế nhưng cả kiểm lâm và chủ rừng ăn ngủ một chỗ, làm việc với nhau, thử hỏi có xử lý nổi vụ việc khi rừng bị xâm hại. Nói đúng hơn, cơ quan chức năng đã quá chậm trễ trong việc hình thành tại khu vực giáp ranh này một trạm kiểm lâm đủ mạnh.

Ai cũng biết, những kẻ phá rừng rất manh động và liều lĩnh khi hành vi xâm phạm rừng của chúng bị ngăn cản, nhất là lúc gỗ chúng khai thác bị tịch thu. Đã không ít lần lực lượng bảo vệ rừng bị “lâm tặc” qua mặt, coi thường, hoặc tấn công hành hung.

Anh Nguyễn Văn Ấn (29 tuổi), nhân viên bảo vệ rừng, kể: Cách đây không lâu, trong một chuyến 3 người, do ông Trần Văn Ba (Trạm trưởng) làm tổ trưởng, tuần tra vào rừng. Trên đường đi, phát hiện 6 người đàn ông, ai nấy đều to con và rất ngầu, đang vác gỗ đi ngược chiều.

Cả tổ ập đến hòng bắt giữ người và tang vật quả tang. Bị bất ngờ, cả 6 người vứt gỗ xuống và lẩn nhanh vào rừng. Tuy vậy, chỉ ít phút sau, khi biết bảo vệ rừng chỉ 3 người, không có vũ khí, họ đã dùng đá và cây tấn công lại. Biết không thể chống đỡ nổi 6 “lâm tặc” hung hãn, 3 bảo vệ rừng đành rút lui để bảo toàn tính mạng.

Yếu tố không kém phần quan trọng tác động tiêu cực đến kết quả quản lý bảo vệ rừng đó là nơi ăn ở và đời sống sinh hoạt của lực lượng bảo vệ rừng ít được quan tâm đúng mức. Ngay như cơ ngơi Trạm Quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông, xây dựng hơn 20 năm, nay xuống cấp nghiêm trọng vẫn chưa được nâng cấp, xây mới. Điện để sinh hoạt mới có cách đây hơn 1 năm, nhờ sử dụng năng lượng mặt trời. Cùng theo đó, lương, phụ cấp cho bảo vệ rừng tại vùng xa xôi này cũng khá thấp…

Các giải pháp kiên quyết, triệt để đã được cơ quan chức năng ở Đà Nẵng triển khai rất khẩn trương nhằm bảo vệ an toàn rừng đặc dụng khu vực giáp ranh với Quảng Nam. Trước mắt, 7 cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng và kiểm lâm địa bàn tại Trạm Cà Nhông đã bị đình chỉ công tác, viết tường trình toàn bộ vụ phá rừng vừa qua.

Ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Đà Nẵng cho hay: Để bảo vệ an toàn rừng đặc dụng khu vực giáp ranh, phải xây dựng tại đó lực lượng đủ về quân số, mạnh về ý chí tinh thần. Ngoài lực lượng thường trực tại đây, Sở chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm và Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa thường xuyên tổ chức các đợt tuần tra, truy quét lâm tặc quy mô lớn, kịp thời phát hiện ngăn chặn hành vi phá rừng.

Về lâu dài, sẽ xây mới Trạm Quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông trên lâm phận Đà Nẵng và phối hợp chặt chẽ hơn với lực lượng chức năng của tỉnh Quảng Nam trong việc bảo vệ rừng giáp ranh… (Công An Nhân Dân 30/10, tr7) đầu trang—

Kỷ luật nhiều cán bộ để mất rừng

30-10, ông Phạm Ngọc Sự, Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa (TP Đà Nẵng), cho biết đã ra quyết định kỷ luật đối với 3/5 cán bộ tại Trạm Quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông (thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa) do không hoàn thành nhiệm vụ, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ rừng.

Nặng nhất là ông Hồ Tấn Hai, phụ trách trạm Cà Nhông, bị kỷ luật cách chức; 2 người khác phụ trách tiểu khu nhưng để mất rừng là ông Thủy Trọng Ngọc - phó trạm Cà Nhông - bị kỷ luật cảnh cáo và nhân viên Nguyễn Văn Ấn bị kỷ luật khiển trách. Hai nhân viên còn lại không để mất rừng nơi mình quản lý nên không bị kỷ luật. “Nếu cơ quan chức năng kết luận có tiếp tay cho lâm tặc thì chúng tôi sẽ tiếp tục xử lý và những người này sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật” - ông Sự nói.

Về trách nhiệm của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng, cho biết đơn vị này cũng đã xử lý kỷ luật đối với các cán bộ sai phạm. Tuy nhiên, do chưa nhận được báo cáo chính thức nên không thể cung cấp thông tin. Chúng tôi đã liên hệ với ông Đặng Phương Trung, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, để nắm thêm thông tin về việc xử lý cán bộ nhưng ông Trung không phản hồi.

Liên quan đến việc để mất tang vật của vụ phá rừng, ông Nguyễn Thanh Tuấn, Hạt phó Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, khẳng định số gỗ tang vật đã bị lấy trộm. Theo ông Tuấn, sau khi được giao nhiệm vụ vận chuyển 66 phách gỗ được phát hiện vào ngày 6-10, đơn vị đã vận chuyển toàn bộ số gỗ này về Trạm Kiểm lâm Dốc Kiềng (huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam).

Đến đêm 11-10, việc vận chuyển mới hoàn tất. Tuy nhiên, do chủ quan và quá mệt nên đơn vị đã để gỗ sát đường chờ trời sáng rồi vận chuyển vào bên trong. Sáng 12-10, khi kiểm đếm lại số lượng gỗ để bàn giao cho kiểm lâm huyện Đông Giang thì phát hiện 2 phách gỗ “không cánh mà bay”.

“Có 4-5 cán bộ của Dốc Kiềng và 4 người của hạt nhưng đêm đó trời mưa, anh em đi cả ngày quá mệt và chủ quan nên nằm ở phòng bảo vệ gần cổng trực. Lợi dụng đêm tối, các đối tượng đã vào lấy gỗ. Chúng tôi đã báo cáo cấp trên và đang chờ chỉ đạo xử lý” - ông Tuấn giải thích và cho biết rất khó tìm lại tang vật.

Nhận định về nghi vấn cán bộ trạm Cà Nhông tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, ông Phạm Ngọc Sự cho rằng chính quyền huyện Đông Giang đã quá vội vàng khi đưa ra cáo buộc mà không có cơ sở.

“Nêu ý kiến chủ quan không khéo lại oan sai cho người khác. Họ nói thế chứ không có cơ sở, có cơ sở thì họ đã chứng minh rồi. Không nên vội vàng kết luận anh em có tiếp tay hay không. Nó liên quan đến vận mệnh của con người. Anh em đã từng vào sinh ra tử ở chiến trường Campuchia về nên phải thận trọng. Bữa sau điều tra nếu không có chuyện đó thì chắc chắn chúng tôi sẽ yêu cầu họ đính chính” - ông Sự nói.

Trước đó, trong buổi làm việc với lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Nam, lãnh đạo huyện Đông Giang cho rằng trạm Cà Nhông không bảo vệ mà đã tiếp tay cho lâm tặc phá rừng. Ngoài ra, trạm này còn nhiều lần cản trở hoạt động truy quét vàng tặc, lâm tặc của phía Đông Giang nên đã yêu cầu khẩn cấp di dời trạm ra khỏi địa phận huyện.

Thực tế, những nghi vấn của chính quyền huyện Đông Giang không phải không có cơ sở bởi lẽ địa điểm phát hiện 66 phách gỗ vào ngày 6-10 nằm ngay cạnh con đường đi ngang qua Trạm Quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông. Từ trạm này, con đường đến nơi cất giấu bãi gỗ lậu được “khai phá” khá hoàn chỉnh, xe tải có thể vào đến tận nơi.

Theo tìm hiểu của PV, các tuyến đường ngang dọc trong địa bàn rừng giáp ranh ở xã Tư, huyện Đông Giang vốn được Xí nghiệp Lâm nghiệp 2 khai thác gỗ vào giai đoạn trước năm 1993. Tuy nhiên, từ khi đóng cửa rừng đến nay, những con đường cũ trở thành tuyến đường chuyên chở gỗ lậu tuồn ra khỏi địa bàn. Đi dọc vào sâu trong khu vực gỗ lậu được phát hiện, có nhiều đoạn đường được mở rộng, cải tạo, xẻ thành “xương cá” rải ra khắp nơi.

Ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Đà Nẵng, cho biết thông tin trên tại cuộc họp báo quý III/2014 do UBND TP Đà Nẵng tổ chức ngày 30-10.

Theo ông Phương, về việc phát hiện hơn 42 m3 gỗ trong lâm phận rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Phùng Tấn Viết đã yêu cầu các ngành chức năng nhanh chóng xác minh, điều tra làm rõ thông tin cho rằng lực lượng kiểm lâm Trạm Quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông tiếp tay cho lâm tặc phá rừng. Hạn cuối là ngày 5-11 phải báo cáo kết quả vụ việc cho UBND TP Đà Nẵng.  (Người Lao Động 31/10, tr5) đầu trang—

Bình Thuận: Nổ súng trấn áp kẻ tình nghi, kiểm lâm bị dân vây ráp

Tin từ Bộ Công an cho biết, trên địa bàn xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh vừa xảy ra vụ việc 2 kiểm lâm bị một đối tượng tình nghi vận chuyển trái phép động vật hoang dã hành hung.

Khi kiểm lâm nổ súng trấn áp thì người dân cùng người nhà đối tượng đã chạy đến bao vây lực lượng chức năng.

Cụ thể, ngày 27/10, Tổ công tác kiểm lâm xã Đồng Kho do ông Trần Thanh Hải làm Tổ trưởng phát hiện Võ Văn Bằng (SN 1978, trú tại thôn Đồng Kho) điều khiển xe mô tô đi theo hướng La Ngâu - Đồng Kho, trên xe có một túi xách nghi có chứa động vật hoang dã. 

Tổ công tác phát tín hiệu dừng xe nhưng Bằng không chấp hành. Đối tượng liền bỏ chạy vào nhà một người dân ở xã Đồng Kho và đem túi xách đi giấu. Khi ông Trần Thanh Hải và Nguyễn Văn Châu (thuộc Tổ công tác) chạy vào định kiểm tra túi xách của Bằng thì Bằng dùng tay, chân đánh ông Hải và Châu. 

Trước thái độ hung hăng của Bằng, ông Châu yêu cầu "không được chống cự, nếu chống cự thì sẽ bắn" nhưng đối tượng vẫn tiếp tục dùng tay, chân và gậy tre đánh lại. Lúc này, ông Châu đã dùng súng bắn đạn cao su bắn 2 phát vào Bằng. 

Khi đó, người dân xung quanh và người nhà của Bằng nghe tiếng súng nổ đã chạy đến bao vây 2 kiểm lâm và giật túi xách đưa đi tẩu tán. Vụ việc đang được Công an huyện Tánh Linh tiếp tục điều tra, làm rõ. (VTC News 30/10) đầu trang—

Bình Định: Giữ bình yên cho những cánh rừng giáp ranh

Huyện Vĩnh Thạnh và huyện K’Bang (tỉnh Gia Lai) có chung đường ranh giới dài gần 60 km, dọc theo các xã: Vĩnh Sơn, Vĩnh Hảo (huyện Vĩnh Thạnh) và xã Sơn Lang, Sơ Pai, Đắk Smar, Nghĩa An (huyện K’Bang).

Nhờ 2 huyện tích cực phối hợp quản lý bảo vệ rừng (BVR) khu vực giáp ranh, tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV-PTR) đã được hạn chế khá nhiều.

Vùng giáp ranh có địa hình phức tạp, hiểm trở, là nơi tập trung chủ yếu rừng tự nhiên với trữ lượng giàu và trung bình, gồm nhiều loại gỗ quý hiếm và có giá trị kinh tế cao. Dọc tuyến giáp ranh có nhiều đường mòn ra vào rừng, các đối tượng “lâm tặc” dễ xâm nhập để phá rừng, khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản và động vật hoang dã, làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng và an ninh, trật tự địa phương vùng giáp ranh.

Ông Lê Văn Đẩu, Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Thạnh, cho biết: Thời gian qua, hai huyện thường xuyên chỉ đạo các lực lượng phối hợp kiểm tra, truy quét khu vực giáp ranh nên đã hạn chế đáng kể tình trạng phá rừng, khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản. Tuy nhiên, diễn biến tình hình vùng giáp ranh còn nhiều phức tạp, đối tượng vi phạm dùng nhiều thủ đoạn rất tinh vi, cấu kết với một số người địa phương theo dõi, cảnh giới, thông tin khi có lực lượng chức năng kiểm tra truy quét, gây rất nhiều khó khăn cho công tác BVR.

Theo Hạt Kiểm lâm (HKL) huyện Vĩnh Thạnh, từ tháng 9.2013 đến nay, qua công tác tuần tra, kiểm soát, hai bên - Vĩnh Thạnh và K’Bang đã phát hiện nhiều vụ vi phạm Luật BV-PTR. Tại địa bàn Vĩnh Thạnh, qua 45 đợt kiểm tra, truy quét tại các khu vực giáp ranh, lực lượng liên ngành, chủ rừng và các địa phương đã phát hiện và xử lý 37 vụ vi phạm Luật BV-PTR.

Trong đó, 14 vụ phá rừng trái pháp luật, diện tích thiệt hại gần 22.000 m2 (chủ yếu ở địa bàn xã Vĩnh Sơn); 23 vụ vi phạm khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; tịch thu 55 m3 gỗ các loại, xử phạt và thu nộp ngân sách gần 2,6 tỉ đồng.

Trong khi đó, HKL K’Bang phối hợp với HKL Vĩnh Thạnh tổ chức kiểm tra, truy quét vùng giáp ranh tại các tiểu khu: 54, 61, 115,118 thuộc xã Sơ Pai; tiểu khu 52, lòng hồ B (xã Sơn Lang); tiểu khu 151, 152 (xã Nghĩa An). Qua đó, phát hiện, xử lý 6 vụ vi phạm Luật BV-PTR, tịch thu gần 23 m3 gỗ tròn, gỗ xẻ các loại, đang củng cố hồ sơ xử lý theo quy định pháp luật.

Trước những diễn biến phức tạp về tình trạng khai thác gỗ trái phép khu vực giáp ranh, nhất là tuyến giáp ranh với huyện K’Bang, UBND huyện Vĩnh Thạnh và UBND huyện K’Bang đã chỉ đạo UBND các xã vùng giáp ranh, các đơn vị chủ rừng, các lực lượng chức năng nắm thông tin, tổ chức truy quét, xác minh đối tượng vi phạm trên địa bàn để xử lý.

UBND hai huyện đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương, các chủ rừng, các hội-đoàn thể phối hợp tuyên truyền, vận động người dân, nhất là các hộ dân sống gần rừng, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong việc BVR, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).

Theo ông Nguyễn Quang Vinh, Hạt trưởng HKL Vĩnh Thạnh: Từ tháng 9.2013 đến nay, Hạt đã tổ chức 48 đợt tuyên truyền BVR, PCCCR ở các cụm dân cư, thôn, xã vùng giáp ranh, thu hút khoảng 2.500 lượt người tham gia. HKL, BQL rừng phòng hộ kết nghĩa với các thôn, xã giáp ranh để giúp đỡ bà con miền núi phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, hạn chế tác động tiêu cực vào rừng; tổ chức ký cam kết BVR cho 260 hộ dân sống gần rừng và ven rừng.

Trên địa bàn huyện K’Bang, HKL huyện đã tổ chức 22 đợt tuyên truyền pháp luật BV-PTR, PCCCR ở các xã vùng giáp ranh; có 790 lượt người tham gia đăng ký BVR, tố giác tội phạm phá rừng; ký cam kết an toàn lửa rừng với 470 hộ dân có nhà ở, nương rẫy sản xuất gần khu vực giáp ranh.

Công tác quản lý, BVR tại vùng giáp ranh trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh và huyện K’Bang luôn được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, chính quyền hai huyện. HKL hai huyện thực hiện chức năng tham mưu và là lực lượng nòng cốt trong công tác quản lý, BVR, PCCCR. Các ban chỉ huy BVR thường xuyên được củng cố, kiện toàn từ huyện đến xã và các chủ rừng; các xã giáp ranh thành lập các tổ BVR với sự tham gia của kiểm lâm địa bàn, lực lượng chuyên trách BVR của các công ty, BQL rừng và lực lượng địa phương cùng với người dân tham gia, nhất là các hộ dân nhận khoán BVR.

Để đảm bảo tình hình an ninh, chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn vùng giáp ranh, UBND hai huyện đã chỉ đạo HKL chủ trì phối hợp với các ngành chức năng của huyện, UBND các xã, các đơn vị chủ rừng vùng giáp ranh thực hiện nghiêm túc kế hoạch phối hợp của 2 huyện, thường xuyên trao đổi thông tin, nắm bắt tình hình địa bàn, đồng thời tăng cường các biện pháp kiểm tra, truy quét tại các vùng rừng trọng điểm và các tuyến giáp ranh.

Đoàn kiểm tra liên ngành của mỗi huyện thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát lâm sản trên tuyến đường nối liền hai huyện mà “lâm tặc” thường vận chuyển gỗ trái phép như: khu vực đầu nguồn Suối Xem thuộc xã Vĩnh Hảo qua địa phận xã Nghĩa An đi về hướng thị xã An Khê; khu vực đầu nguồn sông Côn và tuyến giáp ranh giữa hồ A và hồ B thủy điện Vĩnh Sơn...

Nhìn chung, qua tổ chức thực hiện công tác phối hợp giữa các ngành chức năng của hai huyện, tình hình quản lý BVR vùng giáp ranh thời gian qua khá ổn định, những vụ việc vi phạm đã được phát hiện, xử lý kịp thời, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tuyến núi được giữ vững. (Bảo Vệ Pháp Luật 30/10) đầu trang—

Chung tay bảo vệ động vật hoang dã

Nạn buôn bán động vật hoang dã trái phép là hoạt động tội phạm có tổ chức lớn đứng thứ tư trên thế giới sau buôn bán vũ khí, ma tuý, buôn bán người.   

Đó là chia sẻ của TS Hans Dieter Stell - Tổng lãnh sự lãnh sự quán CHLB Đức tại TP.HCM ở buổi Gala bảo vệ động vật hoang dã diễn ra chiều 30-10. 

Theo ông Hans Dieter Stell, để giải quyết triệt để phải giải quyết trên toàn bộ đường dây buôn bán, từ nơi cung cấp, trung chuyển đến nơi tiêu thụ. 

Ông cũng cho rằng phải thay đổi thói quen sai lầm của người sử dụng, phải có nhiều chiến dịch truyền thông để tuyên truyền, giáo dục đến nhiều tầng lớp nhân dân về việc nói không với động vật hoang dã.

Tại Gala, TS Phạm Anh Cường - Cục trưởng cục bảo tồn đa dạng sinh học - cho biết trong thời gian qua các cơ quan chính phủ, các tổ chức quốc tế đã nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học nhưng chỉ phần nào hạn chế được tốc độ suy thoái của đa dạng sinh học.

Một trong các nguyên nhân, theo ông Cường, là nạn săn bắn, buôn bán, tiêu thụ trái phép động vật hoang dã đang phát triển mạnh ở VN khiến các loài quý hiếm như tê giác, bò xám, hổ… đang bên bờ tuyệt chủng.

Để ngăn chặn và chấm dứt vấn nạn này cần có sự vào cuộc của các cơ quan lập pháp với việc hoàn thiện quy định pháp luật, các cơ quan chức năng thực thi pháp luật nghiêm minh, sự ủng hộ của mỗi người dân và toàn xã hội.

Gala do Ban Tuyên giáo trung ương cơ quan đại diện tại TP.HCM, Cục bảo tồn đa dạng sinh học, Bộ Tài nguyên môi trường, Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS), Trung tâm giáo dục thiên nhiên ENV tổ chức tại TP.HCM.

Các hoạt động diễn ra tại Gala như triển lãm tranh của hoạ sĩ Đào Văn Hoàng và nhiếp ảnh gia Tăng A Pẩu về động vật hoang dã, trò chuyện với đại diện các cơ quan thực thi pháp luật về vấn nạn săn bắn, buôn bán động vật hoang dã và nghe ca sĩ Hồng Nhung chia sẻ về chuyến đi Nam Phi tìm hiểu về nạn săn bắn tê giác. (Tuổi Trẻ 31/10; Thanh Niên 31/10) đầu trang—

Nhức nhối tuyến đường buôn bán động vật hoang dã Campuchia - TP.HCM

Theo thống kê, hiện nay có gần 10 tuyến đường buôn bán, trung chuyển động vật hoang dã từ Campuchia về TP.HCM.

Đây là con số đáng báo động từ kết quả điều tra vừa được công bố của Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã WCS. Theo Cục Cảnh sát Môi trường C49B, trong hai năm qua, tất cả các đợt truy quét nạn buôn bán động vật hoang dã đều liên quan đến TP.HCM.

Hiện ở Việt Nam, loài hổ hoang dã chỉ còn vài chục cá thể, trong khi tê giác một sừng cuối cùng đã chết. (VTV 30/10) đầu trang—

Cần Thơ: Vườn cò Bằng Lăng - đặc trưng của cảnh sắc thiên nhiên Nam Bộ

Là một điểm đến thú vị trong các tour du lịch sinh thái ở Cần Thơ, vườn cò Bằng Lăng cần được quan tâm bảo tồn và quản lý tốt để không bị tan rã.

Vườn cò Bằng Lăng (phường Thuận An, quận Thốt Nốt) thu hút được khá đông du khách, nhất là du khách nước ngoài đến tham quan, ngắm cảnh thiên nhiên và sinh hoạt của các loài chim nơi đây.

Vườn cò Bằng Lăng có từ khoảng đầu những năm 1980, với ban đầu chỉ có lác đác cò về sinh sống, sau đó càng ngày càng đông lên. Cò ở đây gồm nhiều loài như: cò cá, cò ruồi, cò sen, cò quắm, cò rằn, cò rán, cò ma, cò bông, cò xanh… và những loài chim khác như cồng cộc, bồ nông, bìm bịp, bạc má, diệc, vạc, điên điển, cuốc…

Gần đây, sự biến động của môi trường tự nhiên và nạn đánh bắt vô tội vạ khiến số lượng chim cò của vườn cò Bằng Lăng bị sụt giảm. Những người săn bắt dùng lưới căng, gài bẫy, cắm câu, mỗi ngày bắt hàng trăm con chim cò các loại.

Bên cạnh đó, do thiếu kinh phí đầu tư nên việc đào mương nuôi cá tép làm thức ăn cho cò ngày càng khó khăn, từ đó đàn cò không tăng về số lượng mặc dù hằng năm cò đẻ trứng, nở con rất nhiều.

Thiên nhiên đã ưu đãi ban cho con người cảnh quan tuyệt vời này. Nếu trong tương lai, vườn cò Bằng Lăng tan rã thì thật sự là điều đáng tiếc. Nhiều khách tham quan mong muốn vườn cò Bằng Lăng được ngành du lịch hoặc một tổ chức bảo vệ động vật hoang dã đầu tư thành khu bảo tồn các loài chim, hạn chế tối đa các tác động tiêu cực đối với khu vực vườn chim.

Làm sao để kết hợp giữa du lịch với ý thức bảo tồn, không nên xem đây là nơi tham quan đơn thuần để bán vé thu tiền vào cổng là xong. (VOV 30/10) đầu trang—

Biến đổi khí hậu tác động đến hệ sinh thái tỉnh Quảng Ninh

Theo dự báo, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt khí thải nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,8 - 6,4 độ C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%, băng ở hai cực và các núi cao sẽ tan rã nhiều hơn, nước biển sẽ dâng lên khoảng 70 - 100 cm và tất nhiên sẽ kéo theo nhiều biến đổi về khí hậu, thiên tai.

Tại vùng biển Quảng Ninh của Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy, trong thời gian tới, tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với các hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học tại đây sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, có thể làm thay đổi hoặc biến mất các hệ sinh thái đặc thù tại địa phương. Hiện tại, nhiều hệ sinh thái đang bị xâm hại và đa dạng sinh học đã bị suy giảm đáng kể (giảm về diện tích các vùng sinh thái tự nhiên, số loài, mật độ loài)…

Một số nghiên cứu cho thấy nguy cơ nữa ở khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và nhiều lưu vực gần cửa biển đang bị tác động rất rõ rệt khi nhiệt độ tăng lên. Hàm lượng oxy trong nước giảm mạnh vào ban đêm do sự tiêu thụ quá mức của các loài thực vật thủy sinh, hoặc quá trình phân hợp chất hữu cơ, làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của loài sinh vật.

Quảng Ninh có rất nhiều gỗ quý như: trai, vấp, gụ, kim giao, sến, trầm hương, lát… và các loài cây bụi ưa ánh sáng như: bồ bồ, nhân trần dạ cẩm, dùm dùm, kim quy, chân kim... chủ yếu nằm ở các đỉnh núi cao như Yên Tử, Đồng Sơn - Kỳ Thượng. Tuy nhiên, hiện nay thực vật và một số loài đặc hữu chỉ còn tập trung ở một số tiểu khu rừng Uông Bí, Hoành Bồ, Vân Đồn, Cẩm Phả và Ba Chẽ, nhưng đang có nguy cơ bị chặt phá.

Về động vật, các loài thú hoang dã thường gặp: bộ dơi muỗi, dơi quả, dơi quạ, họ Sóc (sóc bọng đỏ, sóc chuột…), họ Chuột (chuột nhà, chuột hoãng, chuột rừng), họ Cầy (cầy giông, cầy hương, cầy danh…), các loài thú lớn (lợn rừng, hoẵng, dê núi…), trong bộ khỉ hầu chỉ còn có khỉ vàng, khỉ cộc, còn các họ vượn, họ culi đang trở nên rất hiếm do nạn khai thác trộm.

Một số sinh cảnh rừng nguyên sinh còn sót lại ở phía bắc huyện Hoành Bồ, vùng cao, vùng sâu của cánh cung Đông Triều - Yên Tử phần nào còn giữ được tính chất nguyên sinh, có các loài nguy cấp, quý, hiếm như: hổ, các loài bò sát, đại bàng đất...

Đây cũng là nơi lưu giữ nhiều giống gen quý hiếm của cả nước. Tuy nhiên, về lâu dài nhiệt độ tăng cao, hạn hán, lũ lụt và sự can thiệp “thô bạo” của con người đang đe dọa đến nơi ở, thức ăn của nhiều loài. (Tuổi Trẻ 31/10) đầu trang—

Bò tót - tiếng kêu bên bờ vực (Kỳ 3)

Con sông Mã Đà chia đôi những cánh rừng giữa Đồng Nai và Bình Phước - vùng sinh cảnh lớn nhất của bò tót cả nước - gần 10 năm nay nước bỗng đổi màu, từ trong xanh sang đỏ quạch phù sa.

Ngày nước Mã Đà đổi màu cũng là mốc thời gian bắt đầu cho sự “đổi đời” của những bầy bò tót. Nước sông đổi màu thì liên quan gì đến sự tồn vong của những bầy bò? Trả lời cho thắc mắc ấy, anh Nguyễn Hoàng Hảo - hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai - đã dẫn PV băng rừng ra sát mé sông Mã Đà.

Bên này sông thuộc huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) là những tán rừng tự nhiên tươi tốt. Nhưng chỉ cách con sông vài chục mét, bờ bên kia thuộc Đồng Phú (Bình Phước) rừng tự nhiên đã bị hóa kiếp từ lâu. Thay vào đó là những vạt cao su giữa bạt ngàn đất đỏ bị cày xới, theo nước mưa làm đỏ quạch dòng sông.

“Trước đây rừng Đồng Nai, Bình Phước liền khoảnh, bò tót cứ thế vượt sông Mã Đà qua lại, sống yên lành trong một vùng sinh cảnh rộng lớn. Nhưng nay thì cao su ngăn lối, không con bò nào vượt sông được nữa. Mười mấy con cũng “kẹt” lại phía Bình Phước...” - anh Hảo kể về hoàn cảnh “ly tán” của bò tót Mã Đà.

Để tận mắt chứng kiến mái nhà không còn nguyên vẹn của bò tót Mã Đà, từ trạm Rang Rang PV đã vượt sông Mã Đà sang bờ phía Bình Phước. Trái với sự thâm u của rừng bên bờ sông phía Đồng Nai, bờ sông bên phía Bình Phước là cảnh nhộn nhịp với hàng ngàn hecta cao su đã cho mủ.

Rừng không bị phá trụi hẳn mà phá theo kiểu da beo, cứ đi vài trăm mét cao su lại gặp một khoảnh rừng nằm trơ trọi, rồi lại nối tiếp với khoảnh cao su khác. Xe ủi, xe ben nhộn nhịp làm một con đường bêtông nhựa rộng 8m, xuyên qua các tiểu khu của rừng Đồng Phú đến sát bờ sông, phục vụ cho việc vận chuyển cao su.

Anh Phạm Văn Chính, trạm trưởng chốt kiểm lâm liên xã Tân Hòa - Tân Lợi, chỉ biết cười buồn: “Rừng không liền khoảnh nên bò tót dù sợ người cũng phải ra cả rẫy cao su kiếm ăn. Chốt kiểm lâm giờ cũng nằm lọt giữa rừng cao su rồi...”.

Theo chân các kiểm lâm ở đây, PV leo lên đỉnh đồi Xương Rồng, nơi được xem là lãnh địa của bò tót Đồng Phú một thời, nhưng bây giờ không còn nữa. Từ trên đỉnh đồi, phóng tầm mắt ra bốn hướng mới thấy mái nhà của bò tót Đồng Phú đã bị băm nát thành hàng trăm khoảnh, vây bọc bởi những lô cao su đã khép tán.

Anh Chính ngậm ngùi chỉ vào con suối duy nhất để bầy bò tót uống nước tại tiểu khu 377 bây giờ đã bị ngăn lại thành hồ chứa nhân tạo để tưới cao su. Và cũng ở gần vị trí này đã có hai con bò tót, một đã trưởng thành, một bê con bị sát hại trong những năm trước...

Câu chuyện đau buồn của bò tót Đồng Phú được ông Nguyễn Văn Cao - hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đồng Phú - đưa ra dấu mốc từ năm 2006, khi lần lượt hơn 3.000 ha rừng Đồng Phú bị ủi trống để trồng cao su khiến bò tót bị thu hẹp đất sống. Những khoảnh rừng còn lại cũng không còn liền lạc nên bò tót ngày càng bị cô lập.

“Tốt nhất là ngưng lại các dự án chuyển đổi rừng và lập khu bảo tồn thì có kinh phí và cơ chế để xây lại “mái nhà” cho đàn bò tót và những loài thú quý hiếm khác” - ông Nguyễn Văn Cao mong muốn, dù biết đó là điều rất khó khả thi.

Chỉ lên tấm bản đồ phân bố rừng miền Đông, ông Trần Văn Mùi - giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai - nói đầy tiếc nuối: “Những cánh rừng cũng có số phận khác nhau, hồi xưa liền lạc một dải, vậy mà giờ mỗi tỉnh quản lý mỗi kiểu nên tanh bành hết, số phận bò tót cũng từ đó lao đao theo”.

Theo chỉ dẫn của ông Mùi, PV đã dành nhiều ngày để đi lại con đường mà khi xưa từng là “vương quốc” của bò tót miền Đông. Con đường ấy kéo dài từ tả ngạn sông Mã Đà, phía Tân Uyên (Bình Dương), Đồng Phú, Bù Đăng (Bình Phước) rồi kéo dài hàng trăm cây số qua Vĩnh Cửu, Tân Phú (Đồng Nai) lên tận rừng Cát Lộc (Cát Tiên - Lâm Đồng).

Nhưng “vương quốc” ấy nay đã lụi tàn. Phía tả ngạn Mã Đà rừng đã bị tàn phá làm cao su. May mắn là từ Vĩnh Cửu kéo dài đến Tân Phú (Đồng Nai) vẫn còn những cánh rừng rộng lớn cho bò tót.

Nhưng ngay trong phạm vi Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, rừng Cát Lộc thuộc địa phận Lâm Đồng cũng đã bị lâm tặc phá nát, tách rời rừng Cát Lộc ra khỏi rừng Cát Tiên. “Đó là giới hạn cuối cùng rồi, thêm một vùng rừng bị chia cắt thì coi như mái nhà của bò tót cũng sụm luôn” - ông Mùi lo lắng.

Chia sẻ sự lo lắng này, ông Trần Văn Bình - hạt phó Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Nam Cát Tiên - cũng nói dù rừng Nam Cát Tiên là một trong những vùng rừng còn nhiều bò tót nhất cả nước, với diện tích rừng nguyên sinh đủ rộng cho nhiều bầy bò sinh sống nhưng cũng đứng trước nhiều nguy cơ.

Vì “rừng đệm thì không còn nữa, bò mò ra xa là gặp nguy hiểm ngay” - ông Bình vừa nói vừa chỉ tay lên bản đồ, nơi những cánh rừng đệm xung quanh từ phía Bình Phước, Bình Dương, Lâm Đồng đều đã bị tàn phá nặng nề.

Theo ông Bình, những vùng rừng đệm này nằm ngoài quyền quản lý của Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, nhưng lại có ý nghĩa sống còn cho bò tót Nam Cát Tiên. Bởi rừng đệm như một hàng rào bảo vệ từ xa cho bò tót và các loài thú quý hiếm khác, mất rừng đệm thì lớp bảo vệ từ xa ấy không còn.

“Anh em kiểm lâm mỗi trạm chỉ 6-7 người, nói thật là không thể gác cửa hết hiểm nguy cho căn nhà của bò tót, dù có gắng hết sức” - ông Bình nói.

Câu chuyện càng trở nên xót xa và bất ngờ hơn khi từ rừng Đồng Phú trở về, PV đã tìm lại được báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước năm 2011.

Trong đó cho biết trong số hơn 3.500ha của chín dự án trồng cao su tại vùng sinh cảnh của bò tót tại Đồng Phú thì có đến 6 dự án trên diện tích hơn 3.200ha vào thời điểm được cấp phép (năm 2011), không có báo cáo tác động môi trường, không đề cập gì đến sự tồn tại của bò tót.

Cùng thời gian năm 2011, các nhà khoa học của Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam và Viện Sinh học nhiệt đới khi thực hiện công trình khảo sát về vùng sinh cảnh của bò tót tại huyện Đồng Phú.

Thêm một lần nữa bất ngờ khi phát hiện UBND tỉnh Bình Phước từng cấp phép cho khai thác đá tại đồi Xương Rồng, nhưng trong báo cáo tác động môi trường không nhắc gì đến bò tót.

Công trình khảo sát ghi rõ: “Các báo cáo không hề quan tâm đến sự tồn tại của bầy bò tót tại khu vực đồi này hay nói chính xác chỉ là thủ tục hành chính, không hề có dữ liệu khảo sát đa dạng sinh học”. (Tuổi Trẻ 30/10, tr10) đầu trang—

Nghệ An: Bất an vì rắn lục đuôi đỏ hoành hành

Gần 1 tháng nay, tại xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn (Nghệ An) xuất hiện hàng loạt cá thể rắn lục đuôi đỏ. Rắn ở vườn cây, bờ rào đến cả sân nhà, thậm chí bò vào nhà để tấn công, làm cho người dân hết sức lo lắng.

Theo người dân thì từ trước tới nay, việc rắn lục đuôi đỏ vẫn xuất hiện nhưng số lượng chỉ đến vài cá thể, nhưng lần này số lượng rất nhiều và hung dữ. Rắn lục xuất hiện liên tiếp, lúc ở bụi cỏ trong vườn, lúc trên bờ rào, thậm chí rắn bò vào cả trong nhà.

Theo mô tả, loại rắn lục xuất hiện nhiều bất thường trong thời gian qua có thân màu xanh dài chừng 60cm, đuôi đỏ. Đỉnh điểm cho sự hung dữ của loại rắn này là đã tấn công vào 6 thành viên của gia đình anh Hà Văn Nhàn (SN 1972) trú tại xóm 1.

Anh Nhàn cho biết: "Ngày 3-10, rắn lục đuôi đỏ tấn công vợ anh là chị Hiền khi chị ngồi nghỉ trong lúc đi làm đồng. Hai ngày sau đó, chính bản thân anh cũng bị rắn cắn, rồi liên tiếp những ngày sau đó, 4 đứa con của anh đều bị rắn cắn, may mắn là do được đưa đi viện kịp thời nên tất cả các thành viên của gia đình đều thoát nạn”. 

Xóm trưởng xóm 1, ông Hà Văn Cường cho biết, hiện tình trạng này vẫn đang diễn ra nhưng không có biện pháp nào để ngăn chặn. Ông Cường rùng mình khi nhớ lại cảnh rắn bò bên bờ rào. Theo ông Cường, rắn đã phát triển thành từng ổ với số lượng rất nhiều. Sợ nhất vẫn là trẻ em, người lớn còn biết đánh chết hoặc tránh đi, còn trẻ em mà bị rắn tấn công thì rất nguy hiểm. Theo người dân địa phương, năm 2013 rắn đã cắn chết 2 em nhỏ ở địa bàn. 

Trao đổi với PV, ông Đặng Văn Việt - Chủ tịch UBND xã Khánh Sơn cũng xác nhận thông tin trên. Theo ông Việt, thống kê từ 4 xóm, người dân đã phát hiện, đập chết ít nhất 40 con rắn lục đuôi đỏ bò vào vườn, nhà dân. 

Trước tình trạng rắn lục đuôi đỏ xuất hiện nhiều trên địa bàn xã Khánh Sơn và một số xã lân cận, sáng 28-10, UBND huyện Nam Đàn (Nghệ An) đã cho lập đoàn công tác, chỉ đạo khẩn trương xử lý tình trạng rắn lục đuôi đỏ.

Theo ông Lê Mạnh Hùng, chuyên viên phòng y tế huyện Nam Đàn cho biết, ngày 27-10, đoàn công tác của phòng y tế huyện đã trực tiếp xác minh. Kết quả, hiện tượng rắn lục đuôi đỏ xuất hiện trong vườn, nhà dân là có thật. Chỉ trong thời gian ngắn, người dân đã phát hiện, đập chết hàng chục con rắn lục đuôi đỏ cực độc.

Ông Lê Mạnh Hùng cho biết thêm, hiện vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân rắn lục xuất hiện nhiều bất thường. Trước đây ở các xã miền núi thỉnh thoảng vẫn bắt gặp rắn lục ở trên đồi. Có thể do điều kiện thời tiết thuận lợi nên loài rắn này sinh sôi mạnh. Còn theo ông Võ Trọng Cường - Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Nam Đàn cho biết, đơn vị cũng đang kiểm tra tình hình, phối hợp với chính quyền chức năng để xử lý. 

Để diệt rắn lục đuôi đỏ, UBND xã Khánh Sơn đã phát động phong trào toàn dân tham gia diệt rắn lục trong 10 ngày. Bắt đầu từ ngày 29-10, người dân nếu phát hiện rắn lục đuôi đỏ mang đến UBND xã sẽ được trả 20.000 đồng/con. (Đại Đoàn Kết 30/10, tr11; Lao Động 31/10) đầu trang—

Sơn La: Quy hoạch khu bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với BĐKH

Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La đã thông qua Nghị quyết về Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2020 và những năm tiếp theo, nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng.

Sơn La duy trì và bảo vệ 4 khu bảo tồn hiện có gồm Copia thuộc địa bàn huyện Thuận Châu (6.311ha), rừng Sốp Cộp (18.020ha) thuộc hai huyện biên giới Sốp Cộp và Sông Mã, rừng Tà Xùa (16.553ha) thuộc huyện Bắc Yên, rừng Xuân Nha (18.116ha) thuộc huyện Vân Hồ.

Tỉnh xây dựng thêm khu bảo tồn mới ở huyện Mường La (khoảng 20.000ha) và một khu bảo vệ cảnh quan văn hóa – lịch sử – môi trường (247ha), khu rừng mang tên Rừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại bản Nhọt, xã Gia Phù, huyện Phù Yên.

Rừng bảo tồn Mường La thuộc ba xã Ngọc Chiến, Nặm Păm và Hua Trai có tính đa dạng sinh học cao. Đặc biệt, tại khu rừng này còn có 20-30 cá thể vượn đen tuyền, loài vượn đang bị đe dọa tuyệt chủng cao, hiện chỉ có ở Việt Nam và Trung Quốc. Đây còn là nơi cư trú của các quần thể voọc xám, niệc cổ hung, gà lôi hồng tía và beo lửa.

Tuy nhiên, tình trạng khai thác lâm sản, phá rừng trồng thảo quả, phát triển thủy điện hay thu hái lâm sản phụ đã ảnh hưởng và tác động tới cảnh quan, sinh cảnh các loài hoang dã…

Việc thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Mường La sẽ góp phần vào bảo vệ và phát triển quần thể vượn đen tuyền tại Khu bảo tồn loài, bảo tồn và phát triển sinh cảnh Mù Cang Chải (tỉnh Yên Bái), giáp với rừng phòng hộ đầu nguồn Mường La.

Việc quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học không chỉ tăng sự đa dạng sinh thái mà còn góp phần chống lại sự biến đổi của khí hậu, phòng hộ bền vững và trữ nước cho hai hồ thủy điện Sơn La và hồ thủy điện Hòa Bình lớn nhất cả nước. (Tài Nguyên & Môi Trường 29/10) đầu trang—

Lai Châu: Chủ động ứng phó với cháy rừng

Nhằm hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả do cháy rừng gây ra, ngày 29/10, Ban Chỉ đạo diễn tập ứng phó cháy rừng, tìm kiếm cứu nạn thành phố Lai Châu tổ chức Cuộc diễn tập ứng phó cháy rừng, tìm kiếm cứu nạn tại xã San Thàng.

San Thàng là địa phương có diện tích rừng lớn nhất thành phố 120,73ha. Tiếp giáp với các xã: Sùng Phài (huyện Tam Đường), xã Giang Ma, Tả Lèng, Thèn Sin, Bản Giang huyện Tam Đường. Đây là những địa phương đã từng xảy ra cháy rừng vào mùa cao điểm. Bên cạnh đó, mới bước vào đầu mùa khô năm nay xã đã xảy ra 6 vụ cháy thảm cỏ, nguyên nhân chủ yếu do con người gây ra.

Nhận thức trách nhiệm về quản lý bảo vệ rừng của cấp ủy chi bộ, trưởng bản, chủ rừng và một bộ phận đồng bào sống ven rừng chưa đầy đủ, sự phối hợp các lực lượng chưa thường xuyên, bởi vậy Ban Chỉ đạo diễn tập ứng phó cháy rừng, tìm kiếm cứu nạn thành phố Lai Châu đã chọn San Thàng là xã điểm để tổ chức nhằm nâng cao nhận thức cho Nhân dân trong việc chủ động phòng chống cháy rừng, bảo vệ rừng (PCCCR-BVR).

Hội trường trụ sở UBND xã San Thàng đã trở nên đông đúc, tấp nập hơn so với ngày thường với sự góp mặt của đông đảo Nhân dân trong xã. Cuộc diễn tập bắt đầu với 2 giai đoạn: Tổ chức chuẩn bị PCCCR-BVR và thực hành ứng phó với tình huống chữa cháy rừng tìm kiếm cứu nạn.

Ban Chỉ huy PCCCR – BVR xã San Thàng mở 2 cuộc họp quán triệt các chỉ thị, công điện của UBND thành phố, nghiên cứu đánh giá tình hình khí hậu, thời tiết, tình hình cháy rừng trên địa bàn, triển khai một số công việc cần làm ngay; tổ chức hiệp đồng PCCC khắc phục hậu quả cháy rừng tới các ban, ngành, đoàn thể, các bản trong xã và diễn tập thực binh tại bản San Thàng 1.

Với tình huống giả định: Do thời tiết nắng nóng hanh khô kéo dài, một số hộ dân đốt nương làm rẫy do sơ xuất không kiểm soát được ngọn lửa gây cháy lan sang khu vực rừng phòng hộ thuộc địa bàn bản San Thàng 1, xã San Thàng. Khi nhận được tin báo của Nhân dân, trưởng bản San Thàng 1 đã nhanh chóng báo động, huy động Nhân dân, lực lượng, phương tiện tại chỗ của bản ra dập lửa chữa cháy rừng. Song do lực lưởng mỏng, phương tiện chữa cháy thô sơ nên công tác chữa cháy gặp nhiều khó khăn. Trưởng bản báo cáo Ban Chỉ huy PCCCR – BVR xã xin tăng cường lực lượng.

Nhận được báo cáo của trưởng bản, Ban Chỉ huy PCCCR – BVR xã đã nhanh chóng triển khai huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy của xã, nòng cốt là quân sự, kiểm lâm, công an và một số bản lân cận xuống ngay khu vực xảy ra đám cháy để tổ chức chữa cháy, phát đường băng cản lửa, ngăn chặn không cho đám cháy lan sang khu vực rừng lân cận, cán bộ y tế khẩn trương sơ cứu ban đầu cho 2 dân quân xã bị thương đồng thời báo cáo lên Ban chỉ đạo PCCCR – BVR của thành phố xin ý kiến chỉ đạo.

Với tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn thể Nhân dân địa phương cùng với phương án chữa cháy linh hoạt, kiên quyết, hiệu quả của Ban Chỉ huy PCCCR – BVR xã sau 1 thời gian ngắn đám cháy đã được khống chế, ngăn chặn và dập tắt hoàn toàn.

Rời khu vực diễn tập thực binh, ông Hò Văn Xiềng - nông dân bản San Thàng 1 chia sẻ: “Qua buổi diễn tập tôi đã rút ra được kinh nghiệm quý báu đó là khi phát hiện cháy rừng cần phải ngưng ngay công việc đồng ánh, gia đình, thông báo để mọi người xung quanh biết đồng thời cơ động về báo cáo tình hình với trưởng bản huy động nhân lực, phương tiện tham gia chữa cháy”.

Bà Vũ Thị Ngọc - Phó Chủ tịch UBND thành phố, Trưởng Ban Chỉ đạo diễn tập ứng phó cháy rừng, tìm kiếm cứu nạn thành phố nói: “Trong cuộc diễn tập này, Ban Chỉ huy PCCCR – BVR xã San Thàng, các ban, ngành, đoàn thể, Nhân dân địa phương đã thực hiện đầy đủ nội dung các bước, đúng theo lịch điều hành diễn tập, xác định và nâng cao trách nhiệm của từng tập thể cá nhân, từ cấp ủy Đảng, chính quyền đến các ban, ngành, đoàn thể xã đặc biệt là khối quân sự nông lâm và công an xã đối với nhiệm vụ ứng phó PCCCR tìm kiếm cứu nạn.

Nâng cao khả năng lãnh đạo chỉ đạo điều hành của đội ngũ cán bộ chủ chốt, sức cơ động của lực lượng dân quân và các tầng lớp Nhân dân trong nhiệm vụ ứng phó PCCCR tìm kiếm cứu nạn. Ban Chỉ đạo diễn tập ứng phó cháy rừng, tìm kiếm cứu nạn thành phố đánh giá cuộc diễn tập đạt được mục đích, yêu cầu đề ra với 8,5 điểm, xếp loại Giỏi”.

Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh, mùa khô năm 2014-2015 có thể đến sớm và kéo dài hơn mọi năm, nắng hạn, khô hanh kết hợp với gió lào làm cho nguy cơ cháy rừng luôn tiềm ẩn ở nhiều khu vực trên địa bàn tỉnh. Đối với xã San Thàng có các điểm: San Thàng 1, Lò Suối Tủng, Lùng Than, Chin Chu Chải dễ xảy ra cháy rừng. Vì vậy, cuộc diễn tập là cơ sở để các xã, phường trên địa bàn thành phố rút kinh nghiệm, tiến hành điều chỉnh bổ sung hoàn thiện các phương án ứng phó phù hợp với thực tế của địa phương.

Nhân dịp này, UBND xã San Thàng đã tặng Giấy khen cho 1 tập thể,  4 cá nhân có thành tích xuất sắc trong diễn tập PCCCR- BVR năm 2014. (Báo Lai Châu 30/10) đầu trang—

Tuyên Quang: Chủ động phòng chống cháy rừng trong mùa khô

Đã bắt đầu bước vào mùa khô hanh. Mùa khô năm nay được dự báo sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ xảy ra các vụ cháy rừng.

Để chủ động trong việc phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu cho UBND các huyện, thành phố kiện toàn Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, Ban chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng cấp xã và các chủ rừng.

Lực lượng kiểm lâm huấn luyện nghiệp vụ, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho các chủ rừng và lực lượng tham gia chữa cháy rừng ở địa phương. Chi cục xác định, những vùng có nguy cơ cháy cao, vào thời gian cao điểm tổ chức cán bộ trực 24/24 giờ để theo dõi, tiếp nhận thông tin cháy rừng, chủ động về lực lượng và phương tiện để sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra; tiếp tục hoàn thiện quy chế phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội trong công tác PCCCR và bảo vệ rừng. 

Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu được ngành kiểm lâm cũng như các cấp chính quyền, địa phương trong tỉnh quan tâm thực hiện. Từ đầu năm đến nay, Chi cục Kiểm lâm và Hạt kiểm lâm các huyện, thành phố đã triển khai được 892 buổi tuyên truyền về công tác bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời tổ chức nhiều hội nghị  về công tác PCCCR tại các xã có rừng…

Đến nay mỗi thôn, bản trên địa bàn tỉnh đều đã thành lập tổ phòng cháy chữa cháy rừng tại chỗ, có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tại những khu vực rừng có nguy cơ cháy cao trong mùa nắng nóng nhằm kịp thời phát hiện cháy và xử lý kịp thời. 

Huyện Lâm Bình có hơn 62.000 ha đất có rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên gần 58.000 ha và trên 4.000 ha rừng trồng. Phần lớn diện tích rừng của địa phương này đều ở nơi địa hình phức tạp, hiểm trở nên việc huy động các phương tiện, nhân lực chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra rất khó khăn.

Vì vậy, huyện Lâm Bình đã tích cực chỉ đạo công tác PCCCR, đề ra các phương án cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng và PCCCR nhằm giảm thiểu thấp nhất thiệt hại về rừng do cháy rừng gây ra. 

Ông Hoàng Văn Kiên, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Bình cho biết: Với mục tiêu bảo vệ rừng tận gốc, đơn vị đã chỉ đạo các trạm kiểm lâm, kiểm lâm địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về PCCCR cho người dân bằng nhiều hình thức như lồng ghép với các cuộc họp thôn, bản, tuyên truyền trực tiếp đến những hộ sống gần rừng… đồng thời, đã xây dựng phương án PCCCR cấp huyện, cấp xã ngay từ đầu năm với phương châm 4 tại chỗ là “lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ” và 4 sẵn sàng là “chỉ huy sẵn sàng, lực lượng sẵn sàng, phương tiện hậu cần sẵn sàng, thông tin liên lạc sẵn sàng”.

Cùng với đó, những diện tích đất rừng phòng hộ đã được Ban Quản lý rừng phòng hộ Lâm Bình ký hợp đồng giao khoán cho các hộ dân để có những chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời bà con các biện pháp phòng chống cháy rừng một cách có hiệu quả.

Chiêm Hóa là huyện có diện tích rừng lớn của tỉnh. Từ cuối tháng 9 huyện đã kiện toàn lại các ban chỉ đạo PCCCR, các tổ, đội chữa cháy; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa 3 lực lượng là kiểm lâm, công an, quân đội về công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR, tổ chức trực, tuần tra rừng 24/24h với quy mô sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ theo phương châm 4 tại chỗ.

UBND huyện đã chỉ đạo các xã trên địa bàn kiểm tra các diện tích rừng có nguy cơ cháy cao nhằm hướng dẫn các chủ rừng về công tác vệ sinh, chăm sóc rừng trồng và mang các vật liệu dễ cháy ra khỏi phạm vi rừng.

Đặc biệt tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức trong cộng đồng dân cư, các cơ quan, trường học trên địa bàn để mọi người nhận thức rõ công tác PCCCR là góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời duy trì tổ chức ký cam kết không vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng với các hộ dân sống gần rừng. 

Cùng với Lâm Bình, Chiêm Hóa tất cả các địa phương khác trên địa bàn toàn tỉnh cũng đều có sự chuẩn bị tốt cho công tác phòng cháy rừng, sẵn sàng ứng phó với mùa khô năm nay nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng xảy ra. (Báo Tuyên Quang 29/10) đầu trang—

Quảng Nam: Xưởng cưa "bắt tay" với lâm tặc

Vụ phá rừng ở vùng giáp ranh Quảng Nam - Đà Nẵng đang điều tra chưa kết thúc, thì cuối tuần qua, ngành chức năng đã phát hiện hơn 26m3 gỗ cất giấu ở sát trung tâm huyện Nam Trà My.

Lực lượng chức năng vừa bất ngờ phục kích, phát hiện và tịch thu hơn 26m3 gỗ đang tập kết về địa bàn xã Trà Mai (Nam Trà My). Phần lớn số gỗ trên đã đưa ra khỏi rừng, đang cất giấu và chuẩn bị tiêu thụ tại các xưởng cưa gần trung tâm hành chính huyện Nam Trà My.

Con đường gỗ lậu chui về đây đã qua mặt được lực lượng “gác cổng rừng”. Tiết lộ từ người dân địa phương, thời gian gần đây các xưởng cưa đã móc nối với lâm tặc tiêu thụ gỗ bất hợp pháp. Lợi nhuận lớn từ kinh doanh, chế biến gỗ lậu nên các xưởng cưa đua nhau mọc lên ở xã Trà Mai.

Ttranh thủ những ngày nghỉ cuối tuần qua, Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy số 1 đã đến kiểm tra cơ sở mộc của ông Nguyễn Quốc Oanh (thôn 1, xã Trà Mai).

Lâu nay, người dân cho rằng cơ sở này đã tiêu thụ gỗ lậu, qua mặt dễ dàng các cơ quan chức năng. Tại hiện trường, lực lượng kiểm lâm phát hiện 137 thanh gỗ, phách gỗ với khối lượng hơn 6,3m3 và 347 sản phẩm gỗ với các chủng loại huỳnh đàn, sao đen, giổi, xoan mộc, xoan đào, chò… đều không có hồ sơ lâm sản.

Lần theo dấu vết ở khu đất trống sát cơ sở mộc này, lực lượng chức năng đã phát hiện gần 9,3m3 gỗ đã xẻ, cưa thuộc các nhóm I và VI đã chôn dưới lòng đất và giấu trong bụi rậm cây. Toàn bộ số gỗ trên đều vô chủ và không có nguồn gốc hợp pháp.

Tiếp tục kiểm tra cơ sở mộc của ông Trần Văn Tân (thôn 1, xã Trà Mai), chủ kinh doanh đã không chứng minh được hồ sơ pháp lý của 101 thanh, phách gỗ (gần 6,6m3) với nhiều gỗ thuộc nhóm I. Ông Tân thừa nhận chỉ mua với số lượng nhỏ (0,9m3), còn lại là người dân địa phương đem đến gia công.

Tương tự, các cơ sở chế biến gỗ của ông Nguyễn Hồng Hà, Võ Quang Minh cũng đều chứa chấp, tiêu thụ gỗ lậu. Ông Lê Viết Mai – Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 xác nhận, qua kiểm tra, đơn vị đã tạm giữ hơn 382 thanh, phách gỗ và 347 sản phẩm gỗ trái phép với khối lượng 26m3 tại 5 cơ sở mộc, địa điểm cất giấu.

Kiểm tra các xưởng mộc trên địa bàn thôn 1 (xã Trà Mai), lực lượng kiểm lâm đều phát hiện phần lớn các cơ sở này nhận gia công, tiêu thụ gỗ bất hợp pháp. Lâu nay, người dân ở Nam Trà My tỏ ra nghi ngờ về nguồn gốc gỗ bất hợp pháp tuồn về các xưởng mộc và đặt dâu hỏi tại sao lâm tặc lại ngang nhiên cất giấu gỗ gần trung tâm hành chính huyện?

Và tại sao kiểm lâm cơ động của tỉnh phát hiện còn Hạt Kiểm lâm huyện Nam Trà My thì không nắm thông tin? PV tìm hiểu, sau khi biết ngành kiểm lâm quyết liệt kiểm tra, truy tìm nguồn gốc gỗ lậu, hàng chục xưởng mộc khác lợi dụng ban đêm đã gấp rút đưa gỗ đi cất giấu ở nhiều địa điểm nhằm đối phó.

Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Nam Trà My – ông Nguyễn Văn Trị cho biết: “Khó quy hết trách nhiệm cho kiểm lâm huyện được. Trên địa bàn huyện có ban quản lý rừng phòng hộ. Gỗ khai thác ở rừng do họ quản lý mà không biết thì kiểm lâm chúng tôi làm sao biết được. Nếu dân biết, báo cho kiểm lâm, kiểm lâm không làm thì kiểm lâm sẽ chịu trách nhiệm”.

Hiện nay, Nam Trà My quản lý và bảo vệ hơn 80 nghìn héc ra rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Nhiều năm qua, tình trạng phá rừng khu vực giáp ranh, sát với lòng hồ thủy điện rất nghiêm trọng. Trước đây, sau khi triệt hạ rừng, cưa xẻ thành từng tấm gỗ, các đường dây buôn bán, vận chuyển gỗ lậu lén lút đưa về đồng bằng tiêu thụ.

Tuy nhiên, theo điều tra của phóng viên, trên địa bàn huyện Nam Trà My cũng như các địa phương miền núi, gần đây lâm tặc ít đưa gỗ nguyên khối về đồng bằng mà bán cho các cơ sở chế biến gỗ đóng thành sản phẩm, rồi hợp thức hóa đem tiêu thụ khắp nơi.

Lợi dụng sự buông lỏng quản lý của kiểm lâm địa bàn, với “chiêu bài” trên, nhiều khối lượng gỗ bất minh đã được hợp thức hóa dễ dàng. Mặt khác, sự móc nối giữa lâm tặc và các xưởng mộc rất tinh vi nên ngành chức năng rất khó phát hiện. Thực tế, dư luận địa phương cho rằng, các xưởng cưa sở dĩ tồn tại và lén lút lấn sang hoạt động trá hình là nhờ các khoản “bôi trơn” hằng tháng, được ai đó bật đèn xanh.

Ông Phan Tuấn – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh khẳng định, ngành đã đề nghị cơ quan chức năng điều tra vụ việc, đồng thời sẽ mở rộng truy quét trên phạm vi rộng, kiểm tra ráo riết và siết chặt các xưởng mộc.

Các xưởng cưa bắt tay với lâm tặc tiêu thụ gỗ lậu là hình thức phá rừng dù không có gì mới nhưng thực sự gióng lên hồi chuông báo động vào thời điểm “đóng cửa rừng” như hiện nay. (Báo Quảng Nam 30/10) đầu trang—

Bình Thuận: Nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng ở Bắc Bình

Công tác giao khoán quản lý, bảo vệ rừng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại huyện Bắc Bình đến nay vẫn tiếp tục duy trì và đem lại hiệu quả.

Hiện có 686 hộ tham gia nhận khoán quản lý, bảo vệ 27.275 ha rừng với mức kinh phí được địa phương điều chỉnh tăng từ 100.000 đồng lên 200.000 đồng/ha/năm.

Bình quân mỗi hộ nhận khoán khoảng 40 ha rừng, thì hàng năm các hộ có thêm thu nhập 8 triệu đồng (số tiền khá cao so mức thu nhập bình quân đầu người của đối tượng này hiện chỉ là 14,1 triệu đồng/năm). (Báo Bình Thuận 30/10) đầu trang—

SỬ DỤNG RỪNG

Việc thu phí dịch vụ môi trường rừng: Các chủ thủy điện nhỏ kêu bị “ép”

Sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ, Nhà nước đã thu được 3.329 tỷ đồng. Nguồn tiền này đã đóng góp lớn vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Tuy nhiên, trong quá trình thu phí đã xảy ra tình trạng nhiều nhà máy thủy điện có công suất dưới 30 MW trì hoãn việc nộp phí dịch vụ môi trường rừng. Các doanh nghiệp cho rằng, việc thu phí dịch vụ môi trường rừng khi chưa tính vào giá bán điện là gây khó khăn cho các thủy điện vừa và nhỏ.

Nghị định 99/2010/NĐ-CP được ban hành nhằm mục đích ngăn chặn suy thoái rừng, bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng… Chính sách này đã tạo lập một nguồn lực tài chính mới, ổn định cho công tác quản lý bảo vệ rừng, góp phần nâng cao đời sống người dân gắn bó với rừng.

Nghị định được áp dụng từ 1/1/2011, nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp không nộp phí vì không đồng tình với cách thu phí hiện nay. Có địa phương không thu phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cho các thủy điện vừa và nhỏ năm 2011, 2012.

Nhưng có địa phương như tỉnh Lào Cai kiên quyết thu phí của các thủy điện. Thậm chí, các doanh nghiệp thủy điện vừa và nhỏ đang đứng trước nguy cơ bị tước giấy phép hoạt động điện lực do không nộp phí.

Bà Lương Thị Lợi, Giám đốc Công ty Cổ phần Linh Linh (có Nhà máy Thủy điện Nậm Khóa 3 ở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai) cho biết: “Điều 5.4 Nghị định 99/2010/NĐ-CP quy định, tiền chi trả DVMTR là một yếu tố trong giá thành sản phẩm có sử dụng DVMTR và không thay thế thuế tài nguyên hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật. Theo Quyết định số 18/2008/QĐ-BCT biểu giá chi phí tránh được ban hành hàng năm, thì giá thành sản phẩm chưa bao gồm tiền chi trả DVMTR”.

Năm 2013, Cục Điều tiết điện lực, Bộ Công thương mới tính phí DVMTR và thuế tài nguyên nước vào giá bán điện. Nhưng, thời gian trước đó là năm 2011, 2012 quy định này chưa được áp dụng nên các nhà máy thủy điện không có nguồn để nộp phí. Đó chính là lý do doanh nghiệp muốn kiến nghị đến cơ quan chức năng để được giải quyết, xem xét lại việc thu phí của năm 2011, 2012.

Nắm được những khó khăn của doanh nghiệp và hiểu rõ trong hai năm 2011, 2012 phí DVMTR chưa được tính vào giá bán điện nên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) và Bộ Công thương cùng đề xuất miễn phí DVMTR cho các nhà máy thủy điện có công suất từ 30 MW trở xuống. 

Trong Công văn số 3759/BNN-TCLN ngày 1/11/2012, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) đề nghị Bộ Công thương ban hành quyết định thay thế, bổ sung hoặc sửa đổi Quyết định 18/2008/QĐ-BTC theo hướng tính toán đầy đủ chi phí DVMTR vào phụ lục Biểu giá chi phí tránh được; đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn Tập đoàn Điện lực Việt Nam đưa chi phí DVMTR vào giá mua điện trong các hợp đồng mua bán điện với các nhà máy sản xuất thủy điện vừa và nhỏ bán điện cho EVN.

Ngày 3/12/2012, Bộ Công thương cũng đã có Văn bản số 11670 khẳng định biểu giá chi phí tránh được ban hành từ năm 2009 đến năm 2012 không tính đến chi phí DVMTR và đề nghị: “Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, hướng dẫn việc miễn tiền phải trả chi phí DVMTR nhằm tháo gỡ khó khăn cho các nhà máy thủy điện nhỏ”.

Ngoài khẳng định việc thu phí DVMTR trong 2 năm 2011, 2012 khi chưa tính vào giá bán điện gây khó khăn cho các thủy điện nhỏ, Chi hội Các doanh nghiệp kinh doanh thủy điện ở tỉnh Lào Cai còn cho rằng: “Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Lào Cai được thành lập tháng 7/2012, đến cuối năm 2012 mới triển khai ký hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR đối với các nhà máy thủy điện. Việc truy thu phí dịch vụ trước khi thành lập quỹ là vô lý”.

Mặc dù Bộ Công thương và Bộ NN&PTNT đã khẳng định phí DVMTR năm 2011, 2012 chưa được tính vào giá bán điện, nhưng hai Bộ này lại đùn đẩy trách nhiệm cho nhau “nghiên cứu, hướng dẫn việc miễn trả tiền” mà không đưa ra hướng giải quyết cụ thể. Các nhà máy thủy điện có công suất dưới 30 MW tại Lào Cai, Hà Giang… đã nhiều lần kiến nghị lên UBND các tỉnh, Bộ Công thương, Bộ NN&PTNT, Cục Điều tiết điện lực… tính bổ sung phí DVMTR năm 2011, 2012 vào giá điện để có nguồn nộp phí DVMTR nhưng không được giải quyết.

Ngoài ra, các nhà máy thủy điện nhỏ còn có thêm một phản ứng trước việc tăng thuế tài nguyên. “Theo Quyết định 18 thì hằng năm các nhà máy thủy điện nhỏ sẽ được tăng giá bán theo thị trường, nhưng năm 2014 đã không được tăng giá bán điện mà ngược lại, thuế tài nguyên đang từ 2% tăng lên 4% là không hợp lý” - bà Lương Thị Lợi nói.

Mới đây, Cục Điều tiết điện lực, Bộ Công thương đã ra văn bản yêu cầu các doanh nghiệp nộp phí DVMTR, nếu không sẽ thu hồi giấy phép hoạt động điện lực.

Khai thác rừng thì phải có trách nhiệm bảo vệ rừng, đó là điều đương nhiên nhưng cơ quan chức năng cũng phải đưa ra các quy định về thu phí đồng bộ, hợp lý, hài hòa lợi ích và trách nhiệm của doanh nghiệp.

Trước những bất hợp lý trên, các Bộ, ngành chức năng cần có hướng giải quyết cho doanh nghiệp sản xuất thủy điện có công suất dưới 30 MW, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp sản suất, kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ một cách nghiêm túc, công bằng. (Công An Nhân Dân 30/10, tr4) đầu trang—

Cao Bằng: Phát huy hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Với phương châm “lấy rừng nuôi rừng”, hỗ trợ cho những người đang bảo vệ, duy trì hệ sinh thái rừng, Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là một bước ngoặt chính sách đối với nghề rừng cho các địa phương có thế mạnh về rừng, trong đó có tỉnh.

Toàn tỉnh hiện có hơn 300.000 ha rừng, trong đó, hơn 93.000 ha rừng có cung ứng DVMTR. Sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, tỉnh ta đã chi trả từ nguồn vốn ủy thác của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam cho 29/33 xã thuộc địa bàn các huyện: Bảo Lạc, Bảo Lâm, Nguyên Bình nằm trong lưu vực của các nhà máy thủy điện Tuyên Quang và Chiêm Hóa.

3 huyện trên đã phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm rà soát, xác định diện tích rừng đến từng chủ rừng để chi trả DVMTR từ năm 2011 -  2013, từ đó, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng xác định diện tích rừng cung ứng DVMTR.

Với tổng số tiền hơn 14 tỷ 285 triệu đồng nguồn vốn ủy thác Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam điều phối, trong đó, kinh phí chi trả cho chủ rừng 12 tỷ 70 triệu đồng, đã chi cho các chủ rừng là hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng xóm hơn 7 tỷ 424 triệu đồng. Qua kết quả nghiệm thu của các hạt kiểm lâm, Chi cục Lâm nghiệp, diện tích rừng đã được nghiệm thu là 92.088,17/93.184 ha (còn 1.095,83 ha sẽ rà soát, nghiệm thu trong năm 2014). Đã có 4.611 hộ, 439 nhóm hộ, 268 cộng đồng xóm được chi trả.

Mặc dù thời gian qua, tỉnh mới chỉ chi trả DVMTR từ nguồn vốn ủy thác, chưa thực hiện được việc thu tiền DVMTR của các cơ sở sản xuất, kinh doanh có sử dụng DVMTR đang hoạt động trên địa bàn tỉnh (các cơ sở sản xuất thủy điện, cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch…), song bước đầu đã đem lại hiệu quả tích cực, tạo tiền đề thực hiện tốt việc huy động các nguồn lực xã hội, góp phần đẩy mạnh công tác bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời, tăng thêm thu nhập cho người có cung ứng DVMTR. 100% hộ là chủ rừng tại 33 xã của 3 huyện trên đã đăng ký cam kết bảo vệ rừng.

Ông Mã Xuân Hoàn, Chủ tịch UBND xã Huy Giáp (Bảo Lạc) cho biết: Sau khi được chi trả tiền DVMTR, người dân có ý thức hơn trong công tác bảo vệ rừng, hạn chế đáng kể việc phá rừng. Xã xây dựng phương án bảo vệ rừng và triển khai kế hoạch bảo vệ rừng tới từng thôn xóm, hộ gia đình, đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới người dân.

Chính sách chi trả DVMTR tạo ra nguồn tài chính bền vững cho bảo vệ và phát triển rừng, góp phần cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, cuộc sống chủ yếu dựa vào rừng. Tuy nhiên, mức chi trả trên địa bàn tỉnh còn thấp, bình quân 38 nghìn đồng/ha/năm.

Là địa phương đã và đang phát triển về thủy điện, đây sẽ là nguồn thu tiền DVMTR chủ yếu, nên thời gian tới, tỉnh tập trung thu và truy thu đối với các đơn vị thủy điện. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 12 nhà máy thủy điện nhỏ thuộc 8 chủ đầu tư, nằm trên địa bàn 8 huyện. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã ký hợp đồng với 6/8 đơn vị chủ đầu tư về chi trả DVMTR (truy thu từ năm 2011), nhìn chung, các đơn vị ủng hộ chủ trương này. Tuy nhiên, do các đơn vị chưa hạch toán được kinh phí nên đề nghị trả tiền DVMTR năm 2011 - 2012 vào các năm sau.

Ông Đàm Trung Kỳ, Giám đốc Công ty cổ phần Khoáng sản và Luyện kim Cao Bằng, cho rằng: Công ty có 4 nhà máy thủy điện phục vụ việc sản xuất của đơn vị, không bán điện ra ngoài - đây là một chính sách đúng đắn của Nhà nước nên doanh nghiệp vẫn nghiêm túc thực hiện, nhưng do thời gian qua, Công ty gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh nên Nhà nước cần có chính sách phù hợp để giúp tháo gỡ khó khăn cho Công ty trong việc chi trả DVMTR năm 2011 và 2012.   

Khó khăn hiện nay là sau khi ký hợp đồng, công tác xác định diện tích rừng đối với từng chủ rừng thuộc lưu vực của 12 nhà máy thủy điện, do lưu vực nằm rải rác ở nhiều địa bàn. Bên cạnh đó, còn 25 UBND xã (tổ chức không phải chủ rừng nhưng được giao quản lý, bảo vệ) với diện tích hơn 14.000 ha chưa được chi trả, cần thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt mới tiến hành chi trả trong năm 2014. Trong đó, một số địa bàn có diện tích khá lớn như các xã: Đức Hạnh (Bảo Lâm) hơn 2.000 ha; Cô Ba, Đình Phùng, Huy Giáp (Bảo Lạc) mỗi xã hơn 1.000 ha.

Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do đây là chính sách mới lần đầu được triển khai nên công tác tuyên truyền chủ yếu lồng ghép theo các chương trình, dự án; chưa xây dựng được đề án chi trả để huy động nguồn vốn ủy thác đối với lưu vực các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch, thủy điện…,công tác giải ngân đến các chủ rừng chậm do việc xác định diện tích rừng đến từng chủ rừng khó khăn…

Vì vậy, cần tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó, theo bà Hoàng Thị Duyên, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp, UBND tỉnh cần tiếp tục chỉ đạo các sở, ngành và các đơn vị liên quan phối hợp chặt chẽ để chính sách chi trả DVMTR thực sự đi vào cuộc sống. (Báo Cao Bằng 30/10) đầu trang—

Bình Phước: Tuyên truyền lưu động về chính sách chi trả DVMTR

Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh vừa phối hợp Phòng tuyên truyền lưu động vườn quốc gia Bù Gia Mập tổ chức tuyên truyền lưu động tại 3 xã (Phú Nghĩa, Đắk Ơ, Bù Gia Mập) của huyện Bù Gia Mập về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Xe tuyên truyền lưu động đã đi dọc các tuyến đường trung tâm các xã và các thôn, ấp, khu vực đông dân cư để phát loa tuyên truyền cho người dân nâng cao nhận thức về ý nghĩa, trách nhiệm, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng khi họ được hưởng nguồn tiền từ phí dịch vụ môi trường rừng.

Cùng với đó là các nội dung tuyên truyền về thể chế pháp lý, mục tiêu thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; một số nội dung cơ bản của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định tại Nghị định số 99 ngày 24/9/2010 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành… (Binhphuoc.gov.vn 30/10) đầu trang—.

Phù Cát, Bình Định: Vô tư bán... đất lâm nghiệp

Một số hộ dân ở xã Cát Trinh, huyện Phù Cát (Bình Định) tự ý bán đất lâm nghiệp cho các công ty để phục vụ việc nâng nền, san lấp mặt bằng tại những công trình giao thông, xây dựng đang triển khai tại địa phương này.

Theo phản ánh của nhiều người dân ở xã Cát Trinh: Những tháng gần đây, tại khu vực vườn đào thuộc thôn Phú Kim, xã Cát Trinh xảy ra tình trạng một số chủ đất tự ý bán một phần diện tích đất lâm nghiệp đã được Nhà nước giao cho các công ty, doanh nghiệp khai thác làm đất vật liệu phục vụ việc san lấp mặt bằng, nâng nền những công trình xây dựng, các tuyến đường giao thông đang triển khai thi công tại địa phương. 

Việc làm này không những trái quy định của pháp luật mà còn gây khó chịu, bức xúc cho nhiều hộ gia đình ở gần khu vực khai thác đất cũng như những hộ có đất lâm nghiệp nằm liền kề. 

Ảnh hưởng rõ nhất đó là trong quá trình khai thác, xe chở đất gây ra cảnh bụi bặm, mất an toàn giao thông. Đã từng có thời điểm vì quá bức xúc nên nhiều người dân địa phương đứng ra chặn đường, ngăn cản xe chở đất hoạt động, ảnh hưởng không tốt đến an ninh - trật tự địa phương. Ngoài ra, việc khai thác đất làm nhiều diện tích đất lâm nghiệp nằm liền kề có nguy cơ sạt lở, ảnh hưởng đến hoạt động canh tác, sản xuất khiến nhiều chủ đất luôn thấp thỏm, lo lắng…

Những ngày trung tuần tháng 10 vừa qua, PV tìm về khu vực vườn đào thôn Phú Kim để “mục sở thị” và kiểm chứng thông tin người dân cung cấp. Thời điểm này, các công ty, doanh nghiệp đã ngưng khai thác đất; dấu tích còn lại chỉ là những khoảnh đất lâm nghiệp rộng hàng trăm mét vuông bị đào bới, tạo ra các hầm, hố có độ sâu từ 2 - 3m so với mặt bằng nơi đây. 

Theo một số người dân địa phương: Cách đây khoảng 4 - 5 tháng, hoạt động khai thác đất diễn ra khá rầm rộ, mỗi ngày đều có số lượng lớn máy đào tới múc đất; còn xe ben, xe tải thì nối đuôi nhau chở đất đi nơi khác. Chừng 1 - 2 tháng trở lại đây, không hiểu sao các đơn vị khai thác đất ngưng hoạt động, rút xe đào, xe tải đi nơi khác, nhờ đó khu vực vườn đào mới trở nên yên ắng như thời điểm giữa tháng 10/2014.

Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân, Chủ tịch UBND xã Cát Trinh cho biết: Sau khi nhận được phản ánh của người dân, cách đây khoảng 2 tháng, lãnh đạo UBND huyện Phù Cát cùng các phòng, ban liên quan của huyện và đại diện UBND xã Cát Trinh tới hiện trường kiểm tra, đề nghị người dân và các doanh nghiệp ngừng hoạt động mua - bán, khai thác trái phép đất lâm nghiệp. Sau khi kiểm tra, UBND huyện Phù Cát chỉ đạo UBND xã làm việc với các chủ đất thực hiện hành vi bán đất để có hình thức xử lý theo đúng quy định pháp luật.

“Do địa phương đang tập trung giải quyết dứt điểm Dự án VLAP và Dự án kênh tưới Văn Phong (đoạn đi qua địa bàn xã Cát Trinh - PV) nên chưa mời các hộ dân tới làm việc cụ thể, do đó chưa thể thống kê chính xác có bao nhiêu diện tích đất lâm nghiệp đã bị mua - bán trái phép. Thời gian tới, chúng tôi sẽ mời các hộ có hành vi bán đất lâm nghiệp làm việc để tuyên truyền cho họ hiểu việc làm đó là không đúng; đồng thời sẽ có hình thức xử lý phù hợp với mức độ vi phạm và theo đúng quy định của pháp luật” - bà Vân cho biết thêm.

Hy vọng rằng, UBND xã Cát Trinh và ngành chức năng có liên quan của huyện Phù Cát sớm đưa ra biện pháp xử lý để ngăn chặn triệt để tình trạng một số người dân do thiếu hiểu biết mà tự ý bán đất lâm nghiệp; tránh xử lý theo kiểu “đánh trống bỏ dùi”.

Bởi như vậy, việc người dân tiếp tục thực hiện hành vi bán đất lâm nghiệp rất có thể sẽ tái diễn, nhất là trong tình trạng khan hiếm đất vật liệu phục vụ các công trình xây dựng, giao thông trên địa bàn huyện Phù Cát như hiện nay. (Pháp Luật VN 30/10, tr15) đầu trang—

Bình Phước: Ban phát đất rừng cho quan chức - “Tôi ký chỉ để hợp thức hóa”

Ông Nguyễn Văn Trăm - chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước đã trả lời như trên khi được hỏi về vụ cán bộ, vợ con lãnh đạo sở ngành Bình Phước được ban phát đất rừng trồng cao su.

Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Nguyễn Văn Trăm trao đổi với PV: Trước đây quỹ đất còn rộng rãi thì có một thời gian ngắn lúc trước đúng là có việc giao đất cho cá nhân, nhưng nay đã dừng hết rồi. Từ khi tôi làm chủ tịch UBND tỉnh tới nay (bắt đầu từ ngày 5-4-2013) chưa hạ bút ký cho ai một mét đất nào.

Tôi cũng chưa bao giờ đề nghị với thường trực UBND tỉnh, thường vụ tỉnh ủy ký giao cho cá nhân này, doanh nghiệp kia đất này đất khác. Chưa bao giờ có. Tôi ngủ rất sâu việc này. Có chăng do giấy hết hạn, đổi giấy thì có ký. Còn ký giao đất cho cá nhân thì chưa có.

Về câu hỏi: Vậy những quyết định do ông ký tháng 10-2014 mới đây thu hồi đất rừng để cho một số cán bộ như trường hợp ông Lê Hoàng Thanh - viện trưởng Viện KSND tỉnh 8ha, ông Võ Ngọc Vinh - trưởng phòng tổ chức hành chính UBND tỉnh 9,7ha hay trường hợp vợ của giám đốc Sở TN-MT, vợ các lãnh đạo Sở NN&PTNT mỗi người 6-9ha...?

Ông Trăm nói: Cái này để coi lại chứ tôi chưa thò bút ký, để phải coi lại cụ thể... À, cái này trước khi ký tôi có hỏi hết... Có cơ sở của nó hồi trước. Lúc ký tôi có hỏi cơ quan tham mưu bên dưới tại sao họ giải thích cái này có từ lâu rồi, có một cọc văn bản pháp lý phía sau thì tôi mới ký, nếu không tôi không ký.

Lúc trước từ thời anh Nguyễn Tấn Hưng, anh Trương Tấn Thiệu làm chủ tịch UBND tỉnh có quyết nghị của thường trực tỉnh ủy cho cán bộ thuê đất.

Ví dụ danh sách có khoảng 30 gia đình thì trước đây mới có 20 gia đình làm giấy tờ. Những hộ còn sót lại chưa làm giấy, sau này bên dưới họ trình lên có xác nhận từ xã, huyện, sở nông nghiệp, sở tài nguyên thẩm định rồi trình lên, nói là ngày xưa còn sót ký bổ sung để làm giấy tôi mới ký.

Có mặt phóng viên ở đây, tôi nói thật là tôi rất bình thản. Tôi chưa ký cho ai một mét đất nào, chưa ký cho doanh nghiệp nào, cũng chưa ký cho một miếng cây miếng củi nào qua biên giới. Tôi rất bình thản về việc này.

Còn những cái quyết định vừa đưa ra, mới nhìn tôi cũng bất ngờ nhưng cái này đã có quyết nghị từ 5-7 năm rồi, là người ta làm bổ sung giấy tờ để hợp lý hóa. Ký cái này là có và tôi chịu trách nhiệm.

Tôi không ký cũng chẳng ai ký và ký là để thực hiện chủ trương từ trước. Khi ký tôi cũng không biết những người này ở đâu, chỉ có danh sách còn con người tôi cũng không biết mặt...

Tôi không sợ cái này, vì nó hợp hiến hợp pháp. Cái gì cũng sợ hết thì không làm được việc. Nếu giờ ký mới cho ai 1-2ha thì tôi không dám ký. Ký là mất chức liền.

Còn những quyết định vừa rồi là thủ tục để hợp thức hóa, còn chủ trương có từ trước rồi, sai sót chưa làm sổ nên giờ làm. Tôi ký xong cũng không ai tới nhận sổ trực tiếp, không biết ai. Thấy căn cứ pháp lý rõ ràng “hai năm rõ mười” thì tôi ký thôi.

Giờ văn bản đưa lên chủ tịch UBND tỉnh có tới bốn “cổng gác”, cổng gác sở NN&PTNT, sở tài nguyên trình lên rồi mới đưa qua chánh văn phòng, phó chánh văn phòng UBND tỉnh, rồi trợ lý của tôi... Qua bốn tầng lớp “gác” như vậy khó có sai sót được.

Cũng có thể họ có trong danh sách chung vì văn phòng ủy ban hồi xưa hầu hết đều có, lúc đó đất còn rộng rãi... Hồi nãy tôi đã nói các quyết định có căn cứ pháp lý rõ ràng như vậy, nhưng tôi sẽ yêu cầu văn phòng và các sở tham mưu rằng việc báo chí đặt vấn đề như vậy để họ giải thích...

Giờ đã có quy hoạch như thế, muốn chuyển đổi 1ha rừng cũng phải qua Bộ NN&PTNT thẩm định rồi trình Thủ tướng chứ không phải ai tự quyết xuống làm cũng được. Giờ quy định ngày càng chặt chẽ, trước kia phá rừng nhiều nhưng giờ có quản lý từ tỉnh đến xã, ai sai phạm là bị kỷ luật liền...

Trong khi diện tích đất rừng tự nhiên ngày càng giảm, nhưng tỉnh Bình Phước đang tiếp tục xin chuyển đổi đất rừng để trồng cao su. Theo báo cáo của UBND tỉnh Bình Phước, toàn tỉnh hiện có 17 dự án chuyển đổi đất rừng sang trồng cao su với tổng diện tích rừng bị chuyển đổi là 9.160ha.

Vào tháng 1-2014, Bộ NN&PTNT rà soát và trình Chính phủ đồng ý cho chuyển đổi sáu dự án với diện tích 3.033ha. Các dự án còn lại, Bình Phước đang hoàn thiện thủ tục để trình Bộ NN&PTNT và Chính phủ cho phép chuyển đổi.

Trong đó, có 2.000ha đất rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết dự kiến được giao cho Công ty TNHH một thành viên cao su Sông Bé để trồng cao su... Điều đáng nói là đất rừng sau khi được chuyển đổi trồng cao su của công ty này đã nhiều lần được UBND tỉnh thu hồi giao cho một số cán bộ.

Thậm chí lãnh đạo công ty này còn từng “phù phép” để chuyển đất của công ty nhà nước cho doanh nghiệp “sân sau” của gia đình mình thuê và bị Thanh tra Chính phủ kết luận là sai phạm.

Trước việc chuyển đổi nhanh chóng như vậy đã khiến diện tích rừng tự nhiên tại Bình Phước giảm nghiêm trọng.

Theo số liệu tổng hợp của Tuổi Trẻ, nếu như năm 2002 Bình Phước có tới 127.800ha rừng tự nhiên thì hơn 10 năm sau, vào năm 2013 chỉ còn 58.600ha (giảm hơn một nửa).

PV cũng tìm gặp những cán bộ được chia đất, nhiều cán bộ thừa nhận việc “ban phát” đất cho một số cán bộ lãnh đạo, người nhà lãnh đạo dễ gây so bì, nghi kỵ giữa các cán bộ và tạo dư luận không tốt trong nhân dân.

Trao đổi với PV, ông Lê Văn Tánh - quyền chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước - cho biết: “Tôi được cho thuê hơn 6ha. Chủ trương của tỉnh trong thời gian mới trồng cao su Nhà nước chưa thu tiền, tới thời kỳ thu hoạch có thu nhập từ cây trồng sẽ bắt đầu thu tiền thuê đất. Hồi mới được cho thuê đất, chúng tôi háo hức lắm, ráng theo chăm sóc.

Nhưng nói thật, với giá cao su hiện nay nếu đưa vào cạo mủ chúng tôi sẽ lỗ. Cao su người ta năm năm đã thu hoạch nhưng mình đã để năm thứ sáu sang năm sau là năm thứ bảy, Nhà nước đã bắt đầu thu tiền thuê đất nhưng tôi cũng không biết có nên cạo mủ hay không vì càng cạo sẽ càng lỗ” - ông Tánh nói.

PV đặt câu hỏi vì sao UBND tỉnh cho thuê đất nhưng ông không đứng tên lại để cho vợ đứng tên, ông Tánh giải thích: “Tại vì là người nhà nên cho đứng tên để mấy bả ở nhà sản xuất, mình làm nhà nước nên phải làm vậy. Kê khai tài sản từ năm 2008 đến nay, tôi đều có kê khai 6ha cao su với nguồn gốc đất là tỉnh cho thuê”.

Còn ông Nguyễn Phú Quới, giám đốc Sở Tài nguyên - môi trường tỉnh Bình Phước, cho rằng: “UBND tỉnh Bình Phước có chủ trương cho cán bộ công chức mỗi người có nhu cầu không quá 10 ha, nhưng không có đất nên có cán bộ chỉ có 4-5 ha. Chủ trương của tỉnh cho thuê, Sở NNPT&NT lập tờ trình, Sở TN-MT căn cứ trên hồ sơ làm thủ tục để cho thuê”.

Trả lời câu hỏi có dư luận vợ giám đốc Sở TN-MT được nhận hàng trăm hecta đất, ông Quới nói ngay: “Không có chuyện UBND tỉnh cho cá nhân nhà tôi thuê hàng trăm hecta đất. Mỗi cán bộ được thuê không quá 10ha, số lượng hàng trăm hecta đó có thể là tổng diện tích đất thuê của cả chục người. Mặc dù chủ trương cho thuê 10ha/người, nhưng bà xã tôi cũng chỉ được thuê 6,6ha”.

Về việc người dân bức xúc khi chỉ có một số cán bộ được thuê đất, ông Quới phân trần: “Hồi trước tỉnh cho thuê đất nhiều cán bộ không chịu làm, thậm chí một số người trả lại, sau đó cao su có giá lại xin thuê nhưng còn đất đâu?! Trước đây, ông nào có nhu cầu thuê đất lập vườn, làm đơn cá nhân xin thuê chứ không lập danh sách gì...”.

Một cán bộ sở thừa nhận việc cho cán bộ thuê đất ở Bình Phước là do các cán bộ “rỉ tai” nhau rồi làm đơn gửi lên lãnh đạo, mỗi người tự làm đơn riêng chứ không có thông báo, danh sách gì cả. “Việc xét cho thuê đất chủ yếu dựa trên “tình nghĩa” thôi!” - vị cán bộ này nói. (Tuổi Trẻ 30/10, tr5) đầu trang—

Đảm bảo tính hợp pháp của sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu sang EU

Việt Nam và Liên minh châu Âu vừa tiến hành phiên họp cấp kỹ thuật lần thứ 8 và phiên đàm phán cấp cao lần thứ 4 về Hiệp định Đối tác Tự nguyện về Thực thi lâm luật, Quản trị và Thương mại lâm sản (VPA/FLEGT).

Trong phiên đàm phán cấp cao lần thứ 4, hai bên đã thống nhất lộ trình cho giai đoạn còn lại với mục tiêu kết thúc đàm phán Hiệp định vào cuối năm 2015.

Khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cam kết sẽ áp dụng một hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp và cấp phép FLEGT chứng nhận tính hợp pháp của gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường EU.

Gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam được cấp phép FLEGT không phải giải trình khai báo nguồn gốc gỗ theo Quy chế gỗ của EU (Qui chế EUTR 995). (Công An Nhân Dân 31/10) đầu trang—

Đồ gỗ Việt tìm cách đứng vững trên sân nhà

Thách thức lớn đối với doanh nghiệp đồ gỗ trong nước từ cuối năm 2015 là việc hàng hóa nhập khẩu từ ASEAN sẽ có thuế suất 0%.

Trao đổi với báo chí trong buổi họp báo giới thiệu Hội chợ Đồ gỗ và trang trí nội thất Việt Nam (VIFA 2014) vào sáng 30-10, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch thường trực Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM cho biết đến cuối năm 2015, khi cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) ra đời, hàng hóa các nước từ ASEAN nhập vào Việt Nam sẽ có thuế suất 0%, chi phí hàng nhập khẩu sẽ giảm.

Đây là thách thức đối với doanh nghiệp sản xuất nói chung và doanh nghiệp đồ gỗ nói riêng của Vệt Nam trên chính sân nhà mình.

Ông Hạnh phân tích, trong ngành đồ gỗ tại ASEAN, chỉ có hai nước có khả năng trở thành “đối thủ” của Việt Nam ngay trên sân nhà là Thái Lan và Malaysia vì họ đã có sẵn các nhà máy chế biến gỗ tại nước ta. Trong khi đó, Thái Lan đã lên kế hoạch thâu tóm những siêu thị, đại lý phân phối sản phẩm nên họ có khả năng vừa sản xuất vừa bán được hàng của mình ngay tại thị trường Việt Nam.

Một thách thức khác đến từ Trung Quốc, khi từng có một thời tại thị trường phía Bắc ngập tràn đồ gỗ Trung Quốc. Tuy nhiên, ông Hạnh cho hay, dựa trên tình hình sáu tháng đầu năm, dự báo cả năm 2014, đồ gỗ nhập khẩu chiếm khoảng 20% thị trường trong nước, trong đó hàng nhập từ Trung Quốc giảm rõ rệt. “Đây là tín hiệu đáng mừng khi những năm trước, con số này là 30-40%”, ông Hạnh nói.

Tuy vậy, theo ông Hạnh, một thách thức khác đến từ Trung Quốc liên quan đến nguồn nguyên liệu cho ngành đồ gỗ. Hiện tại, gỗ rừng tại Việt Nam chỉ đủ đáp ứng 50% nguyên liệu cho sản xuất.

Tuy nhiên, năm 2013, Việt Nam khai thác được 15 triệu mét khối gỗ tràm thì lại bán đến 10 triệu mét khối cho Trung Quốc và một số thị trường khác như Nhật Bản, Hồng Kông... Trung Quốc dùng gỗ này để làm ra sản phẩm và xuất khẩu sang nước ta với giá bán được đội lên nhiều lần.

Theo thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong tháng 10-2014, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam ước đạt 528 triệu đô la Mỹ, nâng giá trị xuất khẩu trong 10 tháng đầu năm đạt 4,98 tỉ đô la Mỹ, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2013.

Theo dự kiến, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và đồ gỗ của Việt Nam có thể đạt 6,3 – 6,5 tỉ đô la Mỹ  trong cả năm 2014. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 30/10) đầu trang—

Sức mua đồ gỗ còn yếu

Hội chợ Đồ gỗ và Trang trí nội thất Việt Nam 2014 - Vifa Home 2014, với chủ đề “Đồ gỗ Việt - Giữ vững sân nhà - Không phụ thuộc hàng nhập”, sẽ được tổ chức tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Tân Bình, TP HCM, từ ngày 6 đến 9-11.

Hội chợ có 474 gian hàng của 115 doanh nghiệp đồ gỗ, trang trí nội thất, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ hỗ trợ. Theo ban tổ chức hội chợ, tình hình kinh tế vẫn chưa hồi phục hoàn toàn, các doanh nghiệp đồ gỗ nội thất vẫn đang gặp nhiều khó khăn.

Theo doanh nghiệp, sự khó khăn không nằm ở khâu đầu tư, công nghệ, nguyên vật liệu sản xuất, mẫu mã, chất lượng sản phẩm mà do sức mua thị trường kém. Nhiều người tiêu dùng chưa quen với thương hiệu đồ gỗ của Việt Nam, chưa nhận diện được chất lượng sản phẩm. (Người Lao Động 31/10, tr8) đầu trang—

Hà Nội: Cháy xưởng gỗ trên phố Đại Từ

Chiều 30-10, một xưởng gỗ trong khu đất của Công ty lâm sản Giáp Bát - Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam (32 phố Đại Từ, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai) bốc cháy dữ dội.

Sau khi nhận được thông tin, lực lượng cảnh sát PCCC đã điều động 10 xe chữa cháy, gần 100 chiến sĩ đến để ứng cứu dập lửa. Bộ Tư lệnh thủ đô cũng đã đưa xe đến hỗ trợ công tác khống chế ngọn lửa. Tuy nhiên, công tác cứu hỏa gặp nhiều khó khăn do ngọn lửa lớn, lại bắt vào nhiều đồ vật dễ cháy nên lan nhanh.

Đến 15 giờ 45 phút, đám cháy đã làm sập một phần xưởng gỗ và có nguy cơ lan sang các xưởng bên cạnh. Khoảng 16 giờ 30 phút, ngọn lửa cơ bản được khống chế, không bị cháy lan sang những nhà lân cận.

Tuy nhiên, bên trong xưởng gỗ vẫn cháy âm ỉ, khói bốc lên nghi ngút. Vụ cháy không gây thiệt hại về người nhưng khu nhà xưởng đã bị ngọn lửa thiêu rụi. Lực lượng chức năng đang điều tra làm rõ nguyên nhân vụ cháy. (Kinh Tế & Đô Thị 31/10; Nhân Dân 31/10) đầu trang—

Cà Mau: Khai thác hơn 3000ha rừng

Sở NNPTNT tỉnh Cà Mau cho biết, từ đầu năm đến nay các đơn vị trong tỉnh gồm công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ, Nông trường 414, Ban quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng, Đất Mũi… đã khai thác hơn 3000ha rừng, đạt tổng sản lượng 247.009m3 gỗ.

Trong đó 2.363ha  rừng tràm, sản lượng 195.145m3 gỗ, rừng đước 709ha với 51.864. (Nông Nghiệp Việt Nam 31/10, tr13) đầu trang—

THÔNG TIN KHÁC        

Tổng thống Putin thả hổ làm loạn Trung Quốc

Theo hãng tin Tân Hoa Xã vào hôm thứ Năm, một cư dân của tỉnh Hắc Long Giang đã phát hiện con hổ trong trang trại của ông và cho rằng nó đã vồ và tha một con bê của ông một ngày trước đó.

Jiang Guangshun, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu động vật thuộc Cục Lâm nghiệp Trung Quốc, nói rằng phân tích các dấu hiệu về bắp chân và dấu chân để lại, các nhà nghiên cứu tin rằng nó là một động vật ăn thịt lớn ở vùng Siberia.

Trước đó, vào đầu tháng, Tân Hoa Xã cho biết “Kuzya”- một trong ba con hổ được gắn thiết bị theo dõi mà Tổng thông Putin đã thả vào tháng trước đang di chuyển về phía Trung Quốc. Các chuyên gia về hổ ở Siberia đã tiến hành theo dõi các khu rừng ở phía đông bắc Hắc Long Giang sau khi lông, phân và nhiều dấu hiệu khác được cho là của Kuzya đã được phát hiện trong khu vực núi Hinggan.

“Con hổ đã được huấn luyện đặc biệt trước khi được thả, nó sẽ giữ khoảng cách với con người. Đồng thời, trong khu vực nó đang sống có đầy đủ các loại thực phẩm cần thiết như lợn hay thỏ hoang, nên khả năng nó tấn công những con bê trong các trang trại là rất ít” ông Jiang cho hay.

Ông cũng nói thêm, các nhân viên của ông đã gỡ bỏ các loại bẫy trong khu vực và gắn hơn 60 máy ảnh để theo dõi các hoạt động của Kuzya.

Tổng thống Nga Putin thường gây sự chú ý với cộng đồng quốc tế bằng các hoạt động bảo vệ môi trường cũng như các động vật quý hiếm. Năm 2012, ông chuyển một đàn sếu Siberia đang bị đe dọa ở Microlite từ một sân chim ở Yamal đến Trung Á, sau đó, vào năm 2013, ông bắt tay với một con hải mã trong một tua du lịch ở phía Đông nước Nga.

Hổ Siberia - một trong những loài động vật hiếm nhất thế giới - chủ yếu tồn tại ở miền đông nước Nga, miền Bắc bán đảo Triều Tiên và đông bắc Trung Quốc. Có khoảng 500 cá thể trong số chúng được cho là đang sống trong tự nhiên. Tuy nhiên, nạn săn bắt hổ trái phép tại Trung Quốc đang làm giảm số lượng của chúng ở khu vực này... (Một Thế Giới 31/10) đầu trang—./.

 

 

                                                                                             

Bình luận