Tổng cục lâm nghiệp - Hoạt động KH CN và MT

Hoạt động KH CN và MT

Hội nghị phát triển dịch vụ môi trường rừng bền vững

Hội nghị phát triển dịch vụ môi trường rừng bền vững

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại Hội nghị

Ngày 24/3/2017, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị phát triển dịch vụ môi trường rừng bền vững do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đồng chủ trì tổ chức.

Từ 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2008/NĐ-CP về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng nhằm mục đích thu hút, tiếp nhận các nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Cùng với đó, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng được ban hành tại Nghị định số 99/2010/NĐ-CP. Theo báo cáo tại Hội nghị, để triển khai chính sách, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thành lập Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng trung ương, UBND 41 tỉnh đã thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, trong đó 38 tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức. Tổng số hợp đồng ủy thác được Quỹ Trung ương và Quỹ tỉnh ký là 471 hợp đồng.

Tổng thu tiền dịch vụ môi trường rừng toàn quốc từ năm 2011 đến hết năm 2016 là 6.510,7 tỷ đồng, trong đó thu từ cơ sở sản xuất thủy điện chiếm tỷ trọng lớn (97,04%) với 6.318,4 tỷ đồng. Số tiền chi trả cho các chủ rừng là 5.024 tỷ đồng để các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức quản lý bảo vệ 5,87 triệu ha rừng, chiếm 42% tổng diện tích rừng toàn quốc. Các địa phương cũng đã được phép sử dụng gần 385 tỷ đồng để hỗ trợ cho các chủ rừng xây dựng các công trình lâm sinh phục vụ phát triển rừng, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.

Theo ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, kiêm Giám đốc Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng trung ương, từ khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, công tác quản lý, bảo vệ rừng có nhiều kết quả tích cực, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cũng như diện tích rừng bị thiệt hại trong giai đoạn 2011 – 2015 giảm lần lượt là 32,9% và 58,2 % so với giai đoạn 2006 – 2010.

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã góp phần tăng thu nhập cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng. Hiện tại, có hơn 500 ngàn hộ gia đình, cộng đồng được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng qua hình thức chi trả trực tiếp và qua nhận khoán. Bình quân chung cả nước, tiền thu từ dịch vụ môi trường rừng khoảng 2 triệu đồng/hộ/năm đã góp phần nâng cao thu nhập, giúp giảm khó khăn cho các chủ rừng, đặc biệt là các hộ gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa. Chính sách cũng được đánh giá là đã tạo nguồn thu cho các chủ rừng là tổ chức phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng với hơn 4,6 triệu ha. Số tiền này đặc biệt ý nghĩa hỗ trợ để quản lý bảo vệ rừng trong khi các Công ty lâm nghiệp dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên, các Ban quản lý rừng đang gặp khó khăn về kinh phí.

Với con số bình quân 1.200 tỷ đồng/năm thu được từ dịch vụ môi trường rừng (giai đoạn  2011 – 2015), tương đương với 22% tổng đầu tư bình quân năm của toàn xã hội cho ngành lâm nghiệp, đây thực sự là nguồn tài chính ổn định, bền vững làm giảm đầu tư ngân sách nhà nước cho ngành lâm nghiệp. Trong thời gian tới, khi Nghị định 147/2016/NĐ-CP ngày 02/11/2016 đi vào cuộc sống, số tiền này sẽ tăng lên khoảng 1.700 tỷ đồng.  

Bên cạnh những thành tựu đạt được, Hội nghị cũng chỉ ra những khó khăn, tồn tại trong quá trình tổ chức hoạt động của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng. Cụ thể, báo cáo đã chỉ ra 6 điểm tồn tại trong thực hiện chính sách. Việc thu tiền dịch vụ vẫn còn thấp hơn tiềm năng hiện có, hiện mới có 3 loại dịch vụ được quy định trong Nghị định 99 là thủy điện, nước sạch và du lịch được thực hiện trên thực tiễn nhưng mức thu còn thấp hơn nhiều so với giá trị dịch vụ môi trường do rừng tạo ra. Mức tiền dịch vụ môi trường rừng sau khi trừ chi phí quản lý, vận hành thì chỉ còn khoảng 200.000 đồng/ha/năm, thấp hơn nhiều so với mức hỗ trợ khoán quản lý bảo vệ rừng của nhà nước, thu nhập từ dịch vụ môi trường rừng hàng năm của các hộ rất thấp, chưa thể bảo đảm cuộc sống của người làm nghề rừng. Việc chi trả tiền theo từng lưu vực của từng cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng đã tạo ra sự chênh lệch lớn. Một số đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng cũng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình dẫn đến nợ đọng khoảng 50 tỷ/năm. Địa vị pháp lý của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cũng chưa rõ ràng, việc hiểu về bản chất của tiền dịch vụ môi trường rừng chưa thống nhất cũng gây khó khăn trong việc quản lý, sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường khẳng định, các kết quả trong thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 5 năm qua rất đáng ghi nhận, là hướng đi đúng trong việc tạo nguồn lực bổ sung cho ngành Lâm nghiệp thông qua sáng kiến tạo cơ chế tài chính mới. Bộ trưởng cũng cho rằng, tiềm năng từ dịch vụ môi trường rừng còn rất lớn. Trong thời gian tới, cần tính toán cụ thể để khai thác tối đa, không chỉ từ thủy điện, nước sạch, du lịch và còn các loại dịch vụ môi trường khác từ cơ sở công nghiệp có sử dụng nước mặt, cơ sở thủy sản có sử dụng nước từ rừng, các cơ sở có phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Đồng thời huy động các nguồn lực trong nước, quốc tế nhằm bảo vệ, phát triển rừng tốt nhất, nâng cao giá trị kinh tế rừng.

Tại Hội nghị, các đại biểu cũng đã kiến nghị với đại diện lãnh đạo Ủy ban Khoa học công nghệ và Môi trường của Quốc hội sớm trình Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi)./.

Văn phòng Tổng cục

Bình luận